1. Tầm quan trọng của vấn đề; Như chúng ta biết thế giới đã bước sang thế kỷ 21 cùng với sự phát triển sâu rộng của khoa học kĩ thuật và công nghệ. Trước bối cảnh thế giới đang tiến gần đến một nền kinh tế trong phạm vi toàn cầu, sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin. Việt Nam cũng trên đà phát triển và xem giáo dục là công cụ mạnh nhất để theo kịp với các nước phát triển trên thế giới. Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại hội Đảng và nhiều văn kiện khác của nhà nước, của Bộ Giáo dục Đào tạo đều nhấn manh việc đổi mới phương pháp là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cấp học và bậc học ở nước ta, nhằm đào tạo những con người tích cực, tự giác, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 của ban chấp hành trung ương khóa VIII về những giải pháp chủ yếu trong giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh , ....”. 2. Tóm tắt những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu: Năm học 2012 – 2013 là năm học tiếp tục thực hiện chủ trương của ngành Giáo dục Đào tạo là: Phải thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy từ phương pháp dạy học cũ, thụ động sang phương pháp giảng dạy tích cực – chủ động, sáng tạo theo hướng “Phát huy trí lực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm”. Cũng như hết thẩy các thầy cô giáo khác và nhóm giáo viên dạy Vật lý trường PTDTBTTHCS Quảng Sơn, tôi cũng đã trăn trở, tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của ngành giáo dục đề ra bởi chúng ta đều biết phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức tới học sinh đạt hiệu quả tốt nhất. Phương pháp giảng dạy phù hợp, khoa học sẽ là con đường giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả, phát huy trí lực của người học. Mỗi cấp học, mỗi bộ môn đều phải có một phương pháp giảng dạy phù hợp và phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện và đây cũng chính là một trong những yếu tố, động lực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh hiện nay. 3. Lí do chọn đề tài: Trước yêu cầu cấp bách trên, giáo viên bậc trung học cơ sở nó luôn học hỏi tìm ra các biện pháp giảng dạy tốt nhất giúp học sinh tham gia một cách tích cực chủ động vào học tập phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh. Từ đó học sinh thấy thích được học bộ môn Vật lý và ham muốn khám phá tri thức nhân loại. Khối lớp 9 các em đã được làm quen với phương pháp đổi mới trong dạy học, đó là điều kiện rất thuận lợi để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Trong chuyên đề này tôi muốn đề cập đến việc sử dụng thí nghiệm phần Quang học 9 như thế nào trong giảng dạy Vật lý để giờ học có hiệu quả hơn? 4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài: Từ những suy nghĩ trên tôi đã nghiên cứu trao đổi với các nhóm bộ môn cũng như với giáo viên dạy bộ môn Vật lý về vấn đề khai thác sử dụng có hiệu quả các thiết bị thí nghiệm phần quang học lớp 9 vào các giờ học sao cho tiết dạy đạt mục tiêu đã đề ra.
Trang 1I ) TÊN ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ THIẾT BỊ DẠY HỌC PHẦN QUANG HỌC LỚP 9
Ở TRƯỜNG PTDTBT – THCS QUẢNG SƠN”
II ) ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Tầm quan trọng của vấn đề;
Như chúng ta biết thế giới đã bước sang thế kỷ 21 cùng với sự phát triển sâu rộngcủa khoa học kĩ thuật và công nghệ Trước bối cảnh thế giới đang tiến gần đến một nềnkinh tế trong phạm vi toàn cầu, sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin Việt Namcũng trên đà phát triển và xem giáo dục là công cụ mạnh nhất để theo kịp với các nướcphát triển trên thế giới
Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại hội Đảng và nhiều văn kiện khác của
nhà nước, của Bộ Giáo dục- Đào tạo đều nhấn manh việc đổi mới phương pháp là một
nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cấp học và bậc học ở nước ta, nhằm đào tạo nhữngcon người tích cực, tự giác, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề, vận dụngkiến thức vào cuộc sống Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 của ban chấp hành trung ương
khóa VIII về những giải pháp chủ yếu trong giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh , ”.
2 Tóm tắt những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu:
Năm học 2012 – 2013 là năm học tiếp tục thực hiện chủ trương của ngành Giáodục Đào tạo là: Phải thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy từ phương pháp dạy học
cũ, thụ động sang phương pháp giảng dạy tích cực – chủ động, sáng tạo theo hướng
“Phát huy trí lực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm” Cũng như hết thẩy các thầy
cô giáo khác và nhóm giáo viên dạy Vật lý trường PTDTBT-THCS Quảng Sơn, tôi cũng
Trang 2đã trăn trở, tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêucầu của ngành giáo dục đề ra bởi chúng ta đều biết phương pháp giảng dạy là một trongnhững yếu tố cơ bản và quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức tới học sinh đạt hiệu quảtốt nhất Phương pháp giảng dạy phù hợp, khoa học sẽ là con đường giúp học sinh tiếpthu kiến thức một cách hiệu quả, phát huy trí lực của người học Mỗi cấp học, mỗi bộmôn đều phải có một phương pháp giảng dạy phù hợp và phải không ngừng đổi mới,hoàn thiện và đây cũng chính là một trong những yếu tố, động lực nhằm không ngừngnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh hiện nay
3 Lí do chọn đề tài:
Trước yêu cầu cấp bách trên, giáo viên bậc trung học cơ sở nó luôn học hỏi tìm racác biện pháp giảng dạy tốt nhất giúp học sinh tham gia một cách tích cực chủ động vàohọc tập phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh Từ đó học sinh thấy thích đượchọc bộ môn Vật lý và ham muốn khám phá tri thức nhân loại Khối lớp 9 các em đãđược làm quen với phương pháp đổi mới trong dạy học, đó là điều kiện rất thuận lợi để
có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh Trongchuyên đề này tôi muốn đề cập đến việc sử dụng thí nghiệm phần Quang học 9 như thếnào trong giảng dạy Vật lý để giờ học có hiệu quả hơn?
4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Từ những suy nghĩ trên tôi đã nghiên cứu trao đổi với các nhóm bộ môn cũng nhưvới giáo viên dạy bộ môn Vật lý về vấn đề khai thác sử dụng có hiệu quả các thiết bị thínghiệm phần quang học lớp 9 vào các giờ học sao cho tiết dạy đạt mục tiêu đã đề ra
III) CƠ SỞ LÝ LUẬN
Quy luật của quá trình dạy học là từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng,song quá trình nhận thức đó đạt hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc vào phương phápgiảng dạy của thầy và quá trình tiếp thu kiến thức của trò
Trang 3Vật lý là một trong những môn học có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực chủđộng sáng tạo của học sinh, trong đó sách giáo khoa là một trong những phương tiện thểhiện phương pháp dạy học tích cực Trong chương trình vật lý 6,7,8 học sinh đã nhiềulần tập đưa ra “Dự đoán” và được giáo viên hướng dẫn làm thí nghiệm để kiểm tra tínhđúng đắn của dự đoán Đến lớp 9 phương pháp nghiên cứu đó cần được phát triển vànâng cao hơn cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán khác nhau vềcùng một hiện tượng và tự lực đề xuất các phương án làm thí nghiệm để kiểm tra dựđoán Đặc biệt trong chương trình vật lý 9 có sử dụng nhiều đến phương pháp thựcnghiệm, tiếp tục rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm thí nghiệm và từ thí nghiệm rút rakiến thức của bài học Bên cạnh việc áp dụng phương pháp thực nghiệm cần phải sửdụng phương pháp suy luận lôgic mới có thể rút ra kết luận khoa học Chẳng hạn nhưcăn cứ vào quan sát thí nghiệm, rút ra được các dạng giống nhau cho nhiều trường hợp,dạng đặc biệt của một trường hợp , xác định mối quan hệ định lượng giữa các hiệntượng, xử lí sự chênh lệch giữa các số liệu áp dụng luận 3 đoạn để suy ra hệ quả
IV ) CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trước đây trong khi giảng dạy các môn học giáo viên chỉ chú trọng đến khối lượngkiến thức cần truyền đạt mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu mang tính đặcthù của từng môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm thế nhưng tình trạng phổ biếnhiện nay vẫn là :
- Hầu hết các bài dạy chưa có đủ dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho học sinh
- Kĩ năng làm thí nghiệm của học sinh còn hạn chế
- Dụng cụ thí nghiệm còn thiếu hoặc không đồng bộ, chất lượng kém
- Trường chưa có cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm được đào tạo có chuyênmôn
Về cơ bản việc sử dụng thí nghiệm Vật lí ở trường trung học cơ sở vẫn còn hạnchế , chưa phát huy hết được tính độc lập sáng tạo của học sinh Trong khi đó lượng
Trang 4kiến thức trong sách giáo khoa luôn được bổ sung chỉnh lí cho kịp với sự phát triển củathời đại
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng của bộ môn chưa được tốt Do đótrong 4 giải pháp đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở trường trung học cơ sở thì giải
pháp “ Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm trên lớp là giải pháp được
đặt lên hàng đầu” (Theo tài liệu “Đổi mới phương phát dạy học” của tác giả Trần
Kiều )
Chú trọng việc sử dụng đồ dùng dạy học và dụng cụ thí nghiệm ở tất cả các tiếtvật lý Các tiết vật lý, thí nghiệm, Thầy cần tạo điều kiện để các em học sinh được tựtay làm thí nghiệm, tự mình quan sát, đo đạc và rút ra nhận xét, kết luận (tức là được trảinghiệm trong thực tế) các em học sinh học tập hứng thú hơn phát huy được tính năngđộng sáng tạo của các em, kết quả học tập đạt cao hơn rất nhiều
Trong chương trình Vật lí 9 với đề tài Quang học, các phần này hầu như bài nàocũng có thí nghiệm Phần lớn các thí nghiệm, mô hình vừa có vai trò là nguồn thôngtin, vừa là phương tiện để học sinh khai thác, tìm kiếm, phát hiện kiến thức , phát triển
kĩ năng cũng như giải quyết vấn đề đặt ra
Để khai thác các thí nghiệm làm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của họcsinh một cách cao nhất cần có một số biện pháp sau:
V) NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, các tri thức vật lí là sự khái quát hoá các kếtquả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng diễn ra trong đời sống Dựa trên các thínghiệm học sinh thực hiện được các thao tác tư duy để tiếp thu tri thức mới Bài học cóthí nghiệm kích thích óc tò mò khám phá khoa học, ham hiểu biết, rèn luyện óc độc lậpsuy nghĩ và tư duy sáng tạo cho học sinh
Trang 5Sau đây tôi xin được chia sẻ một số kinh nghiệm cũng như được trao đổi với cácđồng nghiệp về biện pháp tổ chức học sinh tiếp thu kiến thức và đặc biệt là việc làm thínghiệm để đạt hiệu quả trong bài học:
+ Giáo viên cần tìm hiểu trước:
- Thế nào là thấu kính mỏng: Nó là khối trong suốt giới hạn bởi hai mặt cong, thường làhai mặt cầu, một trong hai mặt có thể là mặt phẳng, khoảng cách hai đỉnh hai chỏm cầurất nhỏ so với bán kính của hai mặt cầu
- Quy luật về đường truyền của tia sáng qua thấu kính và sự tạo ảnh của một vật bởi thấukính càng đúng, dễ quan sát khi ta chọn thấu kính có bề dày phần giữa càng mỏng
- Cần biết chương trình Quang học lớp 9 không yêu cầu xét đến trục phụ và tiêu điểmphụ Trong các bài, khi nói đến tiêu điểm của thấu kính cần hiểu đó là tiêu điểm chính
HS chỉ cần biết mỗi thấu kính có hai tiêu điểm nằm trên trục chính về hai phía thấu kính,cách đều quang tâm O Chính vì thế, nên không vẽ được đường truyền của các tia sángbất kì qua thấu kính mà chỉ yêu cầu vẽ được đường truyền của ba tia sáng đặc biệt quathấu kính:(Tia tới song song với trục chính cho tia ló đi qua tiêu điểm Tia tới quang tâm
Trang 6tiếp tục truyền thẳng không đổi hướng Tia tới qua tiêu điểm cho tia ló song song vớitrục chính Khi dựng ảnh chỉ dùng hai trong ba tia đặc biệt này.
+ Từ đó giáo viên hình thành được phương pháp giảng, sử dụng thiết bị để làm thínghiệm:
- Với học sinh lớp 9, chỉ cần nhận biết thấu kính qua việc quan sát hình dạng bên ngoài
và quan sát đường truyền của chùm tia sáng song song nhau và song song với trục chính( vuông góc với bề mặt thấu kính) khi giáo viên làm thí nghiệm chứng minh trên bảng
- Trong điều kiện thực tế ở trường, không có phòng học đạt yêu cầu để làm thí nghiệmphần quang học được tốt nên thí nghiệm mô tả trên hình 42.2 SGK phải sử dụng nguồnsáng laze để HS dễ quan sát đường truyền của chùm sáng trong điều kiện ánh sángthường trong lớp học Vì nguồn sáng laze gây nguy hiểm khi HS chiếu vào mắt nhau,nên thí nghiệm này giáo viên làm trên bảng cho HS quan sát
+ Từ đó giáo viên xác định rõ mục đích thí nghiệm, lựa chọn các dụng cụ thí nghiệm cầnthiết, phù hợp Các dụng cụ thí nghiệm phải đơn giản dễ làm và chất lượng tốt đảm bảo
độ chính xác cao
Trong quá trình chuẩn bị giảng rất cần có sự sáng tạo của giáo viên để có đượccác dụng cụ thí nghiệm phù hợp, vì không phải dụng cụ thí nghiệm nào cũng có và cũnghoạt động tốt (Đèn laze hỏng, cần biết sửa chữa trước hoặc mua bút laze sáng hơn),nhiều khi giáo viên phải tự tạo ra các dụng cụ thí nghiệm phục phụ cho giảng dạy
Để kích thích thị giác HS, giáo viên cũng cần phải chọn các thí nghiệm có đồdùng màu sắc tương phản, “bắt mắt” giúp học sinh quan sát tốt hơn
Nếu TN thất bại trong giờ học sẽ phá vỡ tiến trình bài học, gây tâm lí hoang mangthất vọng cho học sinh Muốn thành công khi làm thí nghiệm thì thí nghiệm phải đượcchuẩn bị kỹ về mọi mặt, TN được giáo viên làm thử nhiều lần trước khi lên lớp Điềukhông thể thiếu được là giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh dự
Trang 7đoán hiện tượng, quan sát hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiếnthức có liên quan để giải thích, chứng minh đi đến tri thức mới một cách logic.
2 Tiến hành thí nghiệm.
*Bước 1: Thu thập thông tin
Giáo viên hướng cho học sinh quan sát các sự kiện, hiện tượng, thí nghiệm, tìmđược những thông tin cần thiết từ thực tế, sách giáo khoa, báo
Lập kế hoạch khám phá thiết kế thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ thiết bị thí nghiệm, chỉ rađại lượng cần đo, những điều cần xác định trong thí nghiệm, chỉ ra những yếu tố cần giữnguyên, không thay đổi khi làm thí nghiệm
Tiến hành thí nghiệm: Bố trí lắp đặt dụng cụ thiết bị thí nghiệm; thực hiện thí nghiệmtheo hướng dẫn, thay đổi phương án thí nghiệm nếu kết quả không phù hợp với vấn đềđặt ra
Ghi kết quả khám phá Đọc số chỉ của các dụng cụ thí nghiệm ở mức độ cẩn thận
và chính xác cần thiết, lập bảng kết quả, biểu diễn kết quả bằng đồ thị , sơ đồ
*Bước 2: Xử lí thông tin
Ví dụ như : lập bảng, biểu, vẽ đồ thị theo những cách khác nhau, từ đó phân tích
dữ liệu, kết quả thí nghiệm và nêu ý nghĩa của chúng Tìm quy luật từ kết quả thínghiệm từ biểu bảng đồ thị Phân loại dấu hiệu giống nhau, khác nhau, nhận biết nhữngdấu hiệu bản chất của những nhóm đối tượng đã quan sát , so sánh, phân tích, tổnghợp dữ liệu và rút ra kết luận
*Bước 3:Thông báo kết quả làm việc
Mô tả lại những thí nghiệm đã làm, trình bày, giải thích những việc đã làm bằng lời,bằng hình vẽ hoặc bằng đồ thị nêu kết luận đã tìm thấy được
*Bước 4: Vận dụng ghi nhớ kiến thức
Trang 8Vận dụng giải các bài tập( định tính, định lượng, thực nghiệm) làm đồ chơi, dụng cụ họctập , học thuộc lòng những nội dung cần thiết, quan trọng.
Trong mỗi tiết dạy có thí nghiệm, giáo viên có thể phát huy tính tích cực học tập của họcsinh ở những mức độ khác nhau(có thể giáo viên thực hiện, có thể giáo viên điều khiểnhọc sinh thực hiện một vài phần, có thể để học sinh tự thực hiện hoàn toàn )
Ví dụ: ở bài “ Ảnh của một vật tạo bởi TKHT”
Khi tìm hiểu đặc điểm đối với ảnh của một vật tạo bởi TKHT, đầu tiên, GV đặtvấn đề, hình ảnh dòng chữ ta quan sát được qua thấu kính (H43.1SGK) là hình ảnh củadòng chữ tạo bởi TKHT Ảnh đó cùng chiều với vật Vậy có khi nào ảnh của vật tạo bởiTKHT ngược chiều với vật không? Cần bố trí thí nghiệm như thế nào để tìm hiểu vấn đềnày?(Từng HS phải suy nghĩ, đọc SGK thu thập thông tin tìm hiểu mục đích thí nghiệm,dụng cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm, trả lời câu hỏi.)
Trang 9I Đặc điểm ảnh của một vật tạo bởi thấu kính hội tụ:
1 Thí nghiệm:
a) Đặt vật ngoài khoảng tiêu cự:
Đặt vật ở rất xa thấu kính:
-Ảnh thật hay ảnh ảo? Cùng chiều hay ngược chiều với vật?
Ả nh thật ngược chiều với vật, nằm tại tiêu điểm thấu kính
Ả nh thật ngược chiều với vật, nằm tại tiêu điểm thấu kính
Trang 10I Đặc điểm ảnh của một vật tạo bởi thấu kính hội tụ:
1 Thí nghiệm:
a) Đặt vật ngoài khoảng tiêu cự:
Đặt vật cách thấu kính một khoảng d>2f:
Ảnh thật, ngược chiều với vật, nhỏ hơn vật
Ảnh thật, ngược chiều với vật, nhỏ hơn vật
a) Đặt vật ngoài khoảng tiêu cự:
Dịch chuyển vật lại gần thấu kính cách thấu kính một khoảng f<d<2f:
Ảnh thật, ngược chiều với vật, lớn hơn vật
Ảnh thật, ngược chiều với vật, lớn hơn vật
I Đặc điểm ảnh của một vật tạo bởi thấu kính hội tụ:
1 Thí nghiệm:
Dịch chuyển vật lại gần thấu kính cách thấu kính một khoảng d<f:
Ảnh không hứng được trên màn, ảnh này là ảnh ảo
Ảnh không hứng được trên màn, ảnh này là ảnh ảo
b) Đặt vật trong khoảng tiêu cự:
Trang 11Hoạt động của học sinh Trợ giúp của giáo viên
a/Các nhóm bố trí TN như hình 43.2SGK,
đặt vật ngoài khoảng tiêu cự, thực hiện các
yêu cầu của C1,C2
Ghi đặc điểm của ảnh vào dòng 1,2,3
Trường hợp vật được đặt rất xa thấu kính,
để hứng ảnh ở tiêu điểm là khó khăn Gvhướng dẫn HS quay thấu kính về của sổlớp để hứng ảnh của cửa sổ lớp lên mànchắn
Cho các nhóm thảo luận trước khi ghi cácnhận xét đặc điểm của ảnh vào bảng 1
* Hướng dẫn HS làm TN để trả lời C3, cóthể yêu cầu học sinh trả lời thêm câu hỏicủa GV: Làm thế nào để quan sát được ảnhcủa vật trong trường hợp này?
Kết quả Vật đặt
Khoảng cách vật đến TK (d)
Ảnh thật hay ảo
Cùng chiều hay ngược chiều với vật
Lớn hơn hay nhỏ hơn vật
Ngoài
khoảng
tiêu cự
123
Nhỏ hơnvậtd>2f Ảnh thật Ngượcchiều
Lớn hơnvậtf<d<2f Ảnh thật Ngượcchiều
d<f Ảnh ảo Cùng chiều Lớn hơn
vật
Nhỏ hơnvậtBảng 1 kết quả thí nghiệm
Trang 12Ghi các nhận xét về đặc điểm của ảnh
vào dòng 4 của bảng 1 SGK
* Cho các nhóm thảo luận trước khi ghicác nhận xét về đặc điểm của ảnh vào bảng1
* Lời bình:
+ Nhận thức:
Đối với phần quang học 9-là khoa học thực nghiệm, có thể nói: “ Trăm nghekhông bằng một thấy; trăm thấy không bằng một làm” Nếu không có sự trải nghiệmtrong thực tế(làm thí nghiệm khảo sát) thì lĩnh hội tri thức không thể sâu sắc và bền chặtđược Hơn nữa sự hiểu biết vật lí quang học không thể đạt được đơn thuần bằng suy diễnlogic Chỉ có những quan sát và thực nghiệm HS mới kiểm tra được sự đúng đắn củamột nhận định Hướng tới việc tạo điều kiện cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức thông quahoạt động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho HS tập giải quyết một số vấn đề vật lí trongthực tế
+Trao đổi ở tổ nhóm:
Ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi giáo viên cần tích cực học hỏi, trao đổi dự giờbạn nhất là giao lưu chuyên môn, các giờ dạy tốt dạy giỏi ở trường bạn Đặc biệt trongtrường hàng tuần tổ chức một buổi sinh họat chuyên môn của nhóm, tổ như đăng ký dạytốt, thảo luận về việc vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào từng tiết học Bànbạc trong tổ về cách thức sáng tạo các thí nghiệm trong từng bài dạy Nhờ đó mà kỹnăng thí nghiệm và chất lượng giảng dạy được nâng nên rõ rệt
* ÁP DỤNG VÀO MỘT SỐ BÀI DẠY CỤ THỂ.