Năm 2007-2008 ngành giáo dục cả nước sôi nổi hưởng ứng cuộc vận động “ứng dụng CNTT vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học” và lấy đó làm chủ đề của năm học.. Tuy rằng việc ứng dụng C
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lời mở đầu:
Ngày nay công nghệ thông tin (CNTT) đã được ứng dụng rộng rãi trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; môi trường giáo dục không thể không ứng dụng công cụ đa năng và hữu ích này Chiến lược phát triển giáo dục giai
đoạn 2005-2010 đã nhấn mạnh: “các ứng dụng CNTT sẽ trở thành thiết bị dạy học chủ đạo trong giảng dạy”, phương hướng nhiệm vụ của ngành cũng chỉ
rõ : “ phấn đấu đến năm 2010 có 20% số tiết học có ứng dụng CNTT”
Năm học 2007-2008 Bộ trưởng Bộ giáo dục nhấn mạnh: “cần phải đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng CNTT vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học”.
Năm 2007-2008 ngành giáo dục cả nước sôi nổi hưởng ứng cuộc vận
động “ứng dụng CNTT vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học” và lấy
đó làm chủ đề của năm học
Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học Năm học 2009 - 2010, Ban giám hiệu trường THCS Thành Minh đã mạnh dạn đầu tư 2 máy chiếu đa năng để phục vụ cho quá trình dạy - học của thầy và trò trong trường
Là một giáo viên THCS, tôi hiểu rõ vai trò của mình trong việc dìu dắt thế hệ tương lai của đất nước Người giáo viên tâm huyết ngoài việc thường xuyên trau rồi kiến thức thì mỗi bài dạy trên lớp phải có sự đầu tư hợp lý để mang lại cho học trò sự háo hức, say mê tìm tòi kiến thức mới Theo kinh nghiệm ít ỏi của tôi, máy vi tính và máy chiếu đa năng là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình thiết kế bài giảng và giảng dạy trên lớp Tuy rằng việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy hiện nay còn gặp một số khó khăn vì nhiều yếu tố : Thời gian chuẩn bị lâu, trình độ tin học của giáo viên chưa cao, cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu Song bên cạnh đó việc dạy học có sự hỗ trợ của CNTT cũng đem lại một số hiệu quả tích cực như : Tiết kiệm được nhiều thời gian chết trên lớp, giúp giáo viên bớt nhiều thao tác như ghi đáp án, bớt chi phí trong việc phải sử dụng các phiếu bài tập, tranh ảnh cho học sinh, trong một tiết học sinh được hoạt động nhiều hơn so với tiết dạy học truyền thống, hấp dẫn học sinh bằng hình ảnh sống động, màu sắc phong phú, trò chơi đa dạng, kết nối kiến thức cũ liên quan tới bài học nhanh hơn
Trang 2II Thực trạng của vấn đề
Việc sử dụng các phần mềm tin học
vào dạy - học trong ngành giáo dục đã thu
được nhiều kết quả tích cực và khả quan
Huyện Thạch Thành nói chung và trường
THCS Thành Minh nói riêng với 3 năm
ứng dụng CNTT cũng đã thu được nhiều
kết quả tích cực Bên cạnh những ưu điển
mà CNTT đem lại thì việc áp dụng CNTT
vào dạy - học còn nhiều quan niệm trái
chiều, chưa thống nhất
(Một tiết dạy - học có ứng dụng CNTT tại trường THCS Thành Minh)
Để biết được suy nghĩ, quan niệm của thầy và trò trong trường về ứng dụng CNTT trong dạy - học Tôi đã tiến hành khảo sát:
1 Đối với giáo viên:
PHIẾU KHẢO SÁT
(V\v ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy - học)
Địa điểm áp dụng khảo sát: Trường THCS Thành Minh
Đối tượng áp dụng khảo sát: Giáo viên
Số đối tượng khảo sát: 22
Họ tên người được khảo sát: ………
Bạn vui lòng khoanh tròn vào phiếu thông tin những ý kiến mà bạn lựa chọn:
Câu 1 Theo bạn việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học là :
A. Cần thiết
B. Không cần thiết
C. Có cũng được, không có cũng được
20
2
Câu 2 Khi tiếp cận với CNTT bạn cảm thấy:
C. Chưa tiếp cận
15 5 2
Câu 3 Bạn có mong muốn được sử dụng CNTT vào bài dạy của
bạn:
B. Muốn nhưng chưa sử dụng
14 8
Câu 4 Lí do mà bạn lựa chọn ý trả lời ở câu 3:
A. Chưa thành thạo
D. Mất thời gian
E. Đạt hiệu quả cao
F. Hiệu quả không thay đổi
6 1 1 6 13 1
Trang 3Câu 5 Bạn đã ứng dụng CNTT vào được:
A. Dưới 5 tiết
B. Trên 5 tiết
C. Nhiều tiết
( nếu chọn ý D câu 5 thì bạn không phải trả lời những câu tiếp theo)
6 4 2 10
Câu 6 Tiết dạy có ứng dụng CNTT bạn thấy:
A. Tổ chức được nhiều hoạt động hơn
B. Học sinh hứng thú, tích cực và hiểu bài hơn
C. Học sinh chỉ chú ý hình ảnh để bàn tán
D Hiệu quả cũng giống như sử dụng bảng đen truyền thống
11 11
1
Câu 7 Bạn chọn cách thực hiện nào sau đây:
A Máy chiếu bao gồm tất cả các hoạt động và nội dung bài học,
bảng đen là nơi HS hoạt động ( bảng phụ)
B Máy chiếu chỉ đơn thuần là bảng phụ hỗ trợ cho bảng đen
C Kết hợp cả máy chiếu và bảng đen làm bảng chính
7 4 1
Câu 8 Lí do bạn lựa chọn ý câu 7:
A. Có nhiều thời gian và không gian cho GV &HS hoạt động
B. Dễ thiết kế giáo án
C. Khó thiết kế giáo án
D. Mất thời gian của giáo viên.
E. HS ghi vở khó khăn
7 10 1 4 2
Qua quá trình điều tra, khảo sát giáo viên trong trường, tôi thu được kết quả như sau; tổng số 22 thầy cô được khảo sát thì có 10 thầy cô chỉ trả lời đến
ý D câu 5(đó là những thầy cô chưa bao giờ áp dụng 1 tiết dạy có ứng dụng CNTT vào hoạt động giáo dục) Vì tâm lí ngại, mất thời gian, chưa thành thạo
và khó khăn trong quá trình ứng dụng CNTT
Còn 12 thầy cô trả lời đến câu hỏi thứ 8 Đó là những thầy cô đã trực tiếp soạn giảng ít nhất là 2 tiết có ứng dụng CNTT
Dựa trên kết quả khảo thu được, tôi có thể phân loại thành 3 quan niệm dạy - học có ứng dụng CNTT như sau:
Quan niệm 1: máy chiếu bao gồm tất cả các hoạt động và nội dung bài
học, bảng đen là bảng phụ (là nơi học sinh tham gia các hoạt động giáo dục).
Quan niệm 2: máy chiếu chỉ đơn thuần là phương tiện trình chiếu hình
ảnh, sự kiện âm thanh, video clip… hay nói cách khác máy chiếu chỉ là bảng phụ hỗ trợ cho bảng đen(bảng chính).
Quan niệm 3: Kết hợp cả bảng đen và và máy chiếu là bảng chính.
Từ đó, tôi có thể tạm chia các quan niệm trên thành 3 loại:
(1)- Việc ứng dụng VNTT vào quá trình dạy - học là cần thiết vì giờ học
sẽ đạt hiệu quả cao hơn, có nhiều thời gian và không gian cho giáo viên và
Trang 4nguyên tắc dạy học: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” được tốt hơn
(2)- Có CNTT cũng được, không có CNTT cũng được, việc giáo dục vẫn
phải đặt mục tiêu cần đạt lên hàng đầu ( chất lượng học sinh làm đầu)
(3)- Tâm lí ngại, mất thời gian cho việc chuẩn bị và soạn bài.
2 Đối với học sinh :
PHIẾU KHẢO SÁT
(V\v ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy-học)
Địa điểm áp dụng khảo sát: Trường THCS Thành Minh Thời gian: năm học 2009 - 2010
Đối tượng áp dụng khảo sát: Học sinh khối 8
Số đối tượng khảo sát: 140
Bảng 1: Thái độ của học sinh về CNTT:
140 140SL 100% SL0 %0
Bảng 2: Khả năng hiểu bài của học sinh
TS Hiểu bài hoàn toàn Hiểu kiến thức cơ bản Không hiểu
Bảng 3: Khả năng ghi vở của học sinh:
TS Ghi bài đầy đủ Ghi bài không đầy đủ Không ghi được
Bảng 4: Kết quả học tập của học sinh
Phần lớn các em đều thích được học với giờ học có ứng dụng CNTT Các em cho rằng việc học bằng máy chiếu được hoạt động nhiều hơn, dễ hiểu bài hơn Tuy nhiên, nhiều em ghi vở còn gặp khó khăn
Từ thực tế đó của nhà trường, tôi đã mạnh dạn áp dụng chuyên đề đổi
mới: “ứng dụng CNTT vào dạy - học” Sau 2 năm áp dụng, bản thân tôi đã rút
ra được một số bài học kinh nghiệm với quan điểm: “ Sử dụng hiệu quả CNTT trong dạy - học môn GDCD ở trường THCS”.
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Các giải pháp cải tiến
1 Lựa chọn phần mềm:
Trang 5- Sử dụng phần mềm trình chiếu Microsoft office Power Point (PPT).
- Sử dụng phần mềm video SoftonicEN_vlc-1.0.5
- Sử dụng phần mềm violet1.7
- Sử dụng phần mềm hỗ trợ gõ Tiếng Việt:
2 Chuẩn bị và thực hiện bài giảng điện tử:
- Xây dựng thư viện tư liệu
- Xây dựng bài giảng điện tử
- Đa dạng hóa các phương pháp dạy học
- Hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ học tập
- Hoạt động dạy - học
II Các biện pháp tổ chức thực hiện.
1 Lựa chọn phần mềm
Hiện nay có rất nhiều phần mềm trình chiếu hỗ trợ cho hoạt động dạy -học, mỗi phần mềm đều có ưu điểm riêng của nó Ở đây, tôi đã lựa chọn một
số phần mềm phù hợp với đặc trưng bộ môn Cụ thể:
1.1 Sử dụng phần mềm trình chiếu Microsoft office Power Point (PPT).
Phần mềm PPT là phần mềm trình diễn của Microsoft office Phần mềm này có rất nhiều tính năng như: trình chiếu hình ảnh, chữ, video clip, âm thanh với rất nhiều lựa chọn về hiệu ứng
Khi dạy học bằng phần mềm trình chiếu PPT thì việc tự học, tự nghiên cứu kĩ thuật để hình thành kĩ năng sử dụng là vô cùng cần thiết Bản thân tôi
đã tự học tập qua các kênh thông tin:
- Trao đổi với đồng nghiệp, dự giờ đồng nghiệp có ứng dụng CNTT
- Mua tài liệu tự học
- Trao đổi trên các diễn đàn Internet như: thuthuattinhoc.com; violet; dayhoc.net; bachkim.vn; 3C.com.vn; giaovien.net…
1.2 Sử dụng phần mềm video SoftonicEN_vlc-1.0.5 (vlc).
Phần mềm PPT có hỗ trợ chạy video clip trên nền với Movie Nhưng điểm hạn chế của phần mềm Movie là chỉ chạy được các đoạn video clip có
định dạng *.Wav; *.Dat, mà phần lớn các đoạn video clip ở trên Internet đều được định dạng với đuôi: *.Avi; *.flv Vì vậy, khi sử dụng phần mềm Movie giáo viên phải cài thêm phần mềm đổi đuôi Untra convert, và việc sử dụng
phần mềm đổi đuôi này cũng không phải dễ dàng
Trong PPT có hỗ trợ cho một số phần mềm chạy video khác trên nền
của nó Và phần mềm được dùng phổ biến nhất là vlc 1.0.5( đây là phần mềm
Trang 6nhỏ gọn, thân thiện và dễ dùng) Phần mềm này chạy được gần như tất cả các các đuôi Vì vậy, bạn chỉ cần cài phần mềm này và sử dụng
Bản thân tôi đã sự dụng phần mềm này nhiều lần và biết được ưu điểm của nó Tôi có copy phần mềm này, kèm theo video hướng dẫn cài đặt và sử dụng trong đĩa CD Các đồng chí giáo viên có thể tham khảo
1.3 Sử dụng phần mềm violet1.7
Đây là phần mềm mới của công ty Bạch Kim được xây dựng để phục vụ cho công việc giảng dạy, đổi mới phương pháp của giáo viên được thuận lợi PPT có hỗ trợ chèn violet vào Slide Khi chèn violet vào PPT và xuất ra chạy
ở máy tính khác cũng không ảnh hưởng cả khi máy đó không cài violet Vio
có những tính năng dễ dàng thiết kế như: bài tập trắc nghiệm, bài tập ô chữ…
1.4 Sử dụng phần mềm hỗ trợ gõ Tiếng Việt.
Sử dụng phần mềm hỗ trợ gõ tiếng Việt chuẩn quốc tế Unikey4.0 trở lên, Phần mềm này có chức năng chuyển đổi phông chữ (từ chuẩn TCVN3, VNI windows sang Unicode, từ chữ thường sang chữ in hoa và ngược lại) Đây là phần mềm nhỏ gọn, không cần cài đặt, giao diện thân thiện, dễ sử dụng
2 Thực hiện
2.1 Xây dựng thư viện tư liệu:
Để phục vụ cho công tác giảng dạy, đối với môn GDCD kho tư liệu là điều kiện cần thiết và đặc biệt quan trọng Nhưng hiện nay, các đồ dùng trực quan ở môn học này hầu như không có, tranh ảnh minh họa trong SGK cũng không nhiều Chính vì vậy bản thân giáo viên phải chú trọng xây dựng thư viện tư liệu phục vụ tốt cho công tác giảng dạy
Trước đây giáo viên xây dựng kho dữ liệu bằng cách đọc, tham khảo tài liệu, SGK báo… cắt tranh ảnh hoặc chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tích lũy chuyên môn (tích lũy kinh nghiệm)
Hiện nay, việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng tư liệu thuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước Việc khai thác có thể lấy từ các nguồn:
- Khai thác thông tin, tranh ảnh, video clip, bài giảng từ mạng Internet
- Khai thác tranh ảnh từ SGK, tài liêu, báo, tạp chí bằng cách Scan ảnh
- Khai thác từ băng hình, đĩa CD, VCD, DVD
Ví dụ: khi dạy bài “Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo” GDCD 7, giáo
viên có thể liên tưởng đến những từ khóa; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo; hình ảnh các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo tên những nhân vật lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để bài xích, chia
Trang 7rẻ đại đoàn kết dân tộc đã được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin Sau đó lên mạng tìm hình ảnh, sự kiện, video clip liên quan đến bài dạy để làm tư liệu cho bài dạy
Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện
tư liệu phong phú, đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy Tuy nhiên cần lưu trữ thành từng file dữ liệu để dễ dàng tìm kiếm khi sử dụng
Bản thân tôi đã tự xây dựng được cho mình một bộ tư liệu cho GDCD (tôi đã copy vào đĩa CD, các đồng nghiệp có thể tham khảo)
2.2 Xây dựng bài giảng điện tử:
Thiết kế một giáo án điện tử không được tùy tiện, tùy hứng mà cần tuân theo quy trình nhất định như quy trình soạn giáo án truyền thống Việc soạn bài có thể tiến hành theo các bước sau:
- Xác định mục tiêu bài dạy
- Xác định kiến thức cơ bản, nội dung trọng tâm
- Lựa chọn tư liệu, tranh ảnh, video clip và những thông tin cần thiết
- Lựa chọn cách trình bày, các hiệu ứng phù hợp, xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động được thể hiện ở mỗi Slide
- Chạy thử, sửa chữa và hoàn thiện bài giảng
2.3 Đa dạng hóa các phương pháp dạy học:
Bên cạnh CNTT được coi là phương tiện hiện đại góp phần tích cực đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên cần chú ý đa dạng hóa các hình thức dạy
- học, phải biết kết hợp các phương pháp như: đặt vấn đề(nêu vấn đề); đàm thoại, thuyết trình, hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân và phải biết phát huy những kĩ thuật dạy học hiện đại như: kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật phòng tranh, sơ đồ tư duy…
2.4 Hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ học tập:
Những năm gần đây, việc ứng dụng CNTT rộng rãi trên hết cả các lĩnh vực đời sống xã hội, chính điều đó đã tác động rất lớn đến khả năng ứng dụng CNTT của học sinh Nhiều em học sinh tiếp cận nhanh, sử dụng thành thạo nhiều phần mềm vi tính Đặc điểm nổi bật ở các em là tính năng động, sáng tạo và yêu cái mới Do vậy việc hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ cho quá trình dạy - học là vô cùng quan trọng và cũng là xu hướng chung cho giáo dục thời đại hiện nay
Trước bài học giáo viên có thể cung cấp cho học sinh địa chỉ một số trang
Trang 8Web, từ khóa của thông tin và yêu cầu các em tìm kiếm hành ảnh, thông tin liên quan đến bài học và chuẩn bị cho mình một đoạn thuyết minh, bình luận cho nội dung tìm kiếm được
Ví dụ:
Khi chuẩn bị cho bài “Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo” GDCD 7,
tôi yêu cầu học sinh tìm kiếm những thông tin về:
- Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
- Những hoạt động tích cực và tiêu cực của tín đồ tôn giáo
- Tên những người (nhân vật) lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động
trái pháp luật như: Mục sư Thích Quảng Độ, Tổng giám mục Phật giáo Hà Nội Ngô Quang Kiệt…Các em về tìm kiếm thông tin qua những từ khóa đã
cho Từ các thông tin mà các em sưu tầm được, yêu cầu các em trình bày suy nghĩ của mình trong từng phần của hoạt động dạy - học trên lớp
2.5 Hoạt động dạy - học:
Khi bắt đầu áp dụng CNTT vào dạy - học, tôi mời giáo viên trong tổ, trường đến dự giờ để góp ý cho cách xây dựng bài dạy, phương pháp, kĩ thuật dạy học Từ đó, kịp thời rút kinh nghiệm cho bài học sau
Khi học sinh vừa tiếp cận với cách học mới Vào đầu tiết học, giáo viên nên có quy ước với học sinh khi nào thì ghi vở
Ví dụ: trong Slide đầu tiên tôi cho xuất hiện hình ảnh sau:
(trước mỗi lần xuất hiện nội dung bài học cần ghi nhớ, giáo viên cho biểu tượng này xuất hiện ở đầu dòng hoặc đầu đoạn văn) Khi học sinh đã
quen với việc học bằng máy chiếu thì không cần quy ước nữa
Ở mỗi bài dạy có ứng dụng CNTT, tôi tiến hành soạn giáo án theo từng quan niệm của giáo viên để có cách nhìn đúng hơn, đầy đủ hơn về quan niệm dạy - học với phương tiện truyền thống (bảng đen) và quan niệm dạy - học với phương tiện hiện đại (máy chiếu đa năng)
Ví dụ:
(1) Với bài “Bảo vệ hòa bình” GDCD 9, tôi soạn giảng trên cơ sở quan
niệm 2: “máy chiếu là bảng phụ, trình chiếu hình ảnh, sự kiện hỗ trợ cho bảng chính (bảng đen)” Sau khi thực hiện xong bài này tôi thấy:
- Việc soạn bài của giáo viên dễ hơn, nhanh hơn vì không phải thao tác nhiều với các hiệu ứng
- Học sinh hiểu bài và có cái nhìn sâu sắc hơn về tác hại của chiến tranh
và lợi ích của hòa bình
Trang 9- Việc ghi vở của học sinh cũng như cũ Giáo viên chốt ý chính lên bảng
và học sinh ghi bài
- Học sinh được tham gia hoạt động giáo dục nhiều hơn
Vì vậy, với quan niệm này tôi thấy việc sử dụng máy chiếu hỗ trợ cho bảng đen đã phát huy được mặt tích cực của nó Tuy nhiên như thế vẫn chưa phát huy hết những mặt ưu điểm của máy chiếu đa năng với sự đầu tư khá đắt này
(2) Với bài “Hợp tác cùng phát triển”GDCD 9 tôi soạn giảng theo quan
niệm 3: “kết hợp cả máy chiếu và bảng đen làm bảng chính” Sau khi thực
hiện xong tôi nhận thấy:
- Việc soạn bài của giáo viên vất vả hơn, công phu hơn vì phải làm nhiều hiệu ứng cho các Text Box trong nhiều Slide
- Khi thực hiện hoạt động dạy - học, giáo viên phải làm việc nhiều, vừa điều khiển máy tính, vừa viết bảng, nội dung bài học xuất hiện trên máy chiếu, giáo viên lại ghi bảng khiến học sinh bị rối
Vì vậy, tôi thấy áp dụng quan niệm này vào dạy - học là không hợp lí
(3) Với bài “Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo”GDCD 7, tôi soạn
giảng theo quan niệm 1: “máy chiếu bao gồm tất cả thông tin, vấn đề, hoạt động, nội dung bài học, bảng đen là bảng phụ”(là nơi học sinh tham gia các
hoạt động giáo dục như: hoạt động nhóm, sơ đồ tư duy, kĩ thuật khăn phủ bàn ) Sau khi thực hiện xong tôi nhận thấy:
- Lúc mới làm quen với phương tiện hiện đại, một số học sinh ghi vở khó khăn nhưng khi đã quen với phương tiện hiện đại thì việc ghi vở của học sinh trở nên dễ dàng cũng như với phương tiện truyền thống (bảng đen)
- Học sinh có nhiều thời gian và không gian để hoạt động
- Giáo viên có nhiều thời gian hơn để hướng dẫn, tổ chức cho học sinh hoạt động vì không mất thời gian vào việc ghi lại nội dung bài học lên bảng Tuy nhiên, việc soạn bài của giáo viên sẽ mất nhiều thời gian hơn, công phu hơn
Qua việc thực hiện soạn giảng dựa vào các quan niệm trên, tôi nhận thấy
áp dụng quan niệm 1 và quan niệm 2 là hợp lí, có thể sử dụng để đem lại hiệu quả cao trong giáo dục Đồng nghiệp trong trường cũng hoàn toàn nhất trí với suy nghĩ của tôi
3 Số lượng các giờ dạy - học có ứng dụng CNTT:
PPCT Khối (Lớp)
Phần mềm soạn giảng
Trang 102 Hợp tác cùng phát triển 6 9A1 => 9A5 PPT
4 Thực hành ngoại khóa ATGT 15-16 9A1=> 9A5
8A1=> 8A5 PPT
5 Quyền và nghĩa vụ của công dân
6 Quyền và NV lao động của CD 24- 25 9A1 => 9A5 PPT
7 Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo 28 7A1 => 7A3 PPT
8 Phòng chống tệ nạn xã hội 19 - 20 8A2 => 8A4 PPT
9 Góp phần xây dựng nếp sống văn
10 Thực hành ngoại khóa (bảo vệ môi
9A1 =>9A5 8A1 => 8A5 PPT
Tổng cộng: - Số bài dạy có ứng dụng CNTT: 10
- Số tiết dạy có ứng dụng CNTT: 56 tiết
Trong thời gian 2 năm áp dụng chuyên đề đổi mới, tôi đã ứng dụng CNTT trong nhiều tiết dạy - học Xin trình bày 1 tiết dạy - học sử dụng phần
mềm trình diễn PPT (thầy, cô giáo có thể tham khảo bài giảng điện tử trong cùng thư mục SKKN).
GDCD 7: Tiết 28:
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
I Mục tiêu cần đạt:
1 Kiến thức: Giúp HS:
- Hiểu thế nào là tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Kể tên một số tín ngưỡng, tôn giáo chính ở nước ta,
- Nêu được một số quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
2 Kĩ năng.
- Biết phát hiện và báo cho người có trách nhiệm về những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm việc xấu
3 Thái độ.
- Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của người khác
- Đấu tranh chống các hiện tượng mê tín dị đoan và các hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo
II Chuẩn bị
1 Giáo viên: Soạn bài (bài giảng điện tử), chuẩn bị các tính huống giáo dục
và tình huống pháp luật