1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH

38 580 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUChứng khoán là một hình thức khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam.Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới thị trường chứng khoán đã phát triển rấtsôi động, đầu tư vào thị t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG

KHOA KINH TẾ

Tuthienbao.com-ĐỀ TÀI

THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH

(Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam)

2345678910

Lê Công HàoMai Thị Tuyết LàiĐoàn Minh HưngTrần Văn PhốNguyễn Thị Thanh ThảoHà Phước Nghĩa

Phan Thị Hồng ThúyNguyễn Thị VânNguyễn Thị Kim YếnPhạm Thị Thục Anh

Th.S Lê Thị Minh Hưởng

Đà Nẵng, 12/2012

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Chứng khoán là một hình thức khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam.Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới thị trường chứng khoán đã phát triển rấtsôi động, đầu tư vào thị trường chứng khoán đã trở nên quan trọng đối với mọingười.Trong tình hình của Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn cho công nghiệp hóa,hiện đại hoá đất nước rất cần thiết Vì vậy việc tổ chức tốt thị trường chứng khoáncũng như quản lý tốt hoạt động kinh doanh chứng khoán nước ta sẽ thúc đẩy huyđộng tối đa nguồn vốn vào phảt triển sản xuất kinh doanh và thu hút nguồn vốnđầu tư nước ngoài

Thị trường chứng khoán Việt Nam rất mới mẻ nên còn non nớt và thiếu kinhnghiệm, vì vậy cần có thời gian để hoàn thiên mình Để tham gia vào thị trườngchứng khoán mọi người đều phải có kiến thức nhất định về thị trường chứngkhoán Thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển được nếu có sự tham gia ngàycàng đông của những người có đầy đủ kiến thức về thị trường chứng khoán Thịtrường chứng khoán có sự hấp dẫn của nó Nó không chỉ quan trọng đối với nềnkinh tế của một nước mà còn quan trọng đối với mỗi người bởi vì khả năng đầu tưsinh lời của nó Vì vậy mỗi người tuỳ theo điều kiện, khả năng của mình mà cầnphải tiếp cận nhanh để tham gia đầu tư có hiệu quả vào thị trường chứng khoán.Chính các hoạt động của nó sẽ góp phần đưa thị trường chứng khoán Việt Namphát triển

Để hiểu rõ hơn về Thị trường chứng khoán từ khi thành lập đến nay như thếnào chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam”nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan đến TTCK nói chung và TTCK Việt Nam nóiriêng Đồng thời chỉ ra được các ưu điểm, khuyết điểm và các biện pháp khắc phụcđối với thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

Trang 3

I TỔNG QUAN VỀ TTCK

1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển.

Vào khoảng giữa thế kỷ 15 ở tại những thành phố trung tâm buôn bán của phươngtây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng việc mua bán,trao đổi các loại hàng hoá như: nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giá khoán độngsản… Điểm đặc biệt là trotng những cuộc thương lượng này các thương gia chỉ dùnglời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất

cứ một loại giấy tờ nào Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các

"Hợp đồng" mua bán, trao đổi thực hiện ngay, kể cả những hợp đồng cho tương lai 3tháng, 6 tháng hoặc một năm sau mới thực hiện

Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người tăng lên.Đến cuối thế kỷ 15 "khu chợ riêng" này trở thành một "thị trường" và thời gian họpchợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày Trong các phiên chợ này họ thốngnhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng Dần dần những quy ước đóđược tu bổ hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những ngườitham gia Từ đó thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành

Phiên chợ đầu tiên năm 1453 tại đai Vanber của Bỉ sau đó được xuất hiện ở Anhnăm 1773, ở Đức 1778, ở Mỹ 1792, ở Thụy sĩ 1876, ở Nhật 1878, ở Pháp 1801, ởHương Cảng 1946, ở Inđônêxia 1925, ở Hàn Quốc 1956, ở Thái Lan 1962, ởMalaysia và Philipin 1963

Quá trình hình thành và phát triển của các thị trường chứng khoán thế giới đã trảiqua những bước thăng trầm Thời kỳ huy hoàng vào những năm 1975 - 1913 cùng với

sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế Cũng có lúc thị trường chứng khoán rơi vàođêm đen như “Ngày thứ năm đen tối" tức ngày 29/10/1929 rồi ngày thứ hai đen tốinăm 1987 Vừa qua tháng 7/1997 thị trường chứng khoán ở các nước Châu Á sụt giá,mất lòng tin bắt đầu từ Thái Lan Đến nay thị trường chứng khoán các nước đang pháttriển mạnh mẽ về số lượng thị trường chứng khoán lên đến 160 sở giao dịch, chấtlượng hoạt động thị trường ngày càng đáp ứng cho số đông những nhà đầu tư trong vàngoài nước, tiến tới một thị trường chứng khoán hội nhập khu vực và quốc tế

2 Khái niệm TTCK.

Trang 4

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt

động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trungthành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ đểphát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loạichứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp Do vậythị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi

Chứng khoán là một chứng từ xác nhận một giá trị động sản, thể hiện quyềnchủ nợ hoặc quyền hội viên của người sở hữu chứng khoán đối với một tổ chức thôngqua việc đóng góp tiền hoặc các loại tài sản khác

3 Công cụ giao dịch.

Cổ phiếu:

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằngnhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấychứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành

cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu củamột cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiệnbằng cổ phiếu

Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu:

Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi:

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối vớicông ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cửvào bộ máy quản trị và kiểm sóat công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗhoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổphiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định;không có quyền bầu cử, ứng cử v.v

Trái phiếu:

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (ngườivay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiềnxác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản chovay ban đầu khi nó đáo hạn

Trang 5

Có 2 loại trái phiếu:

Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũngnhư trên sổ sách của người phát hành Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, vàkhi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi.Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lạikhoản cho vay

Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứngchỉ và trên sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phầnvốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi Dạng ghi danh toàn bộ màđang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không códạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ

sở hữu trên máy tính

Các công cụ phái sinh:

Quyền chọn: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua

(nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất địnhhàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất định Các hàng hoá

cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thươngphẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai

Quyền mua: Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có

khi chỉ vài tuần Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách pháthành thêm các cổ phiếu thường Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới pháthành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định

Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưu hànhđược kèm theo một quyền Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới được quy định tuỳtheo từng đợt phát hành mới

Giá cổ phiếu ghi trên quyền thường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu Giá củaquyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu hànhvà giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có để mua một cổphần mới

Chứng quyền: Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một

cổ phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định Quyền này được pháthành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích các

Trang 6

nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có những điềukiện kém thuận lợi Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựachọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường

Hợp đồng kỳ hạn: Hợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và

một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định,tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngàyhôm nay

Hợp đồng tương lai: Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục

được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thứctốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh

ty kinh kỷ, tứ là đã hội đủ tiêu chuẩn quy định Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán

do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm Loạichứngkhoánnày được miễn giấp phép của cơ quan có thẩm quyền

Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường mua bán chứngkhoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới,những người kinh doanh chứng khoán như tại sở giao dịch các giao dịch ở đây chủyếu là dựa vào sự thoả thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm soát từHội đồng Chứng khoán các loại chứng khoán mua bán ở đây thường những chứngkhoán không được đăng biểu, ít người biết đến hoặc ít được mua bán

b Xét về quá trình luân chuyển nguồn vốn

Thị trường chứng khoán được chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Thị trường sơ cấp: Còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ýchỉ nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu Thịtrường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành

Trang 7

Thị trường thứ cấp: còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông,là nóiđến nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi đã phát hành lần đầu Nóicách khác thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã pháthành qua thị trường sơ cấp.

c Xét về phương thức giao dịch

Thị trường chứng khoán được chia là thị trường giao ngay và thị trường giao sau.

Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểmgiao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau dó một vàingày theo thoả thuận

Thị trường giao sau: Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồngđịnh sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch , nhưng việc thanh toán và giaohàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai

d Xét theo đối tượng giao dịch

Thị trường trái phiếu( bond market): Là thị trường phát hành trái phiếu mới vàmua đi bán lại trái phiếu cũ

Thị trường cổ phiếu( the stock market):Là thị trường phát hành cổ phiếu mới vàmua đi bán lại cổ phiếu cũ Hoạt động của thị trường này gồm cả hai lĩnh vực đầu tưchứng khoán và kinh doanh chứng khoán

Thị trường chúng khoán phái sinh: (derivatives) là những công cụ được pháthành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêukhác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Các chứng khoánphái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổphiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi baonhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu Thị trườngcác chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tàichính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn Các công cụphái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợpđồng kỳ hạn(forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợpđồng hoán đổi (swaps)

5 Chức năng của thị trường chứng khoán.

- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Kho các nhà đầu tư mua chứng

khoán do công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất

Trang 8

kinh doanh và qua đó góp phẩn mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chínhphủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mụcđích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xãhội.

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công

chúng một thị trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loạichứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phépcác nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng mục tiêu và sởthích của mình

- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK mà các nhà

đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loạichứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tínhhấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, antoàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanhkhoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao

- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt

động của doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việcđánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ

đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngvốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén vàchính xác Giá chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăngtrưởng; ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh

tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biều của nền kinh tế và là một công cụ quantrọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK,Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo nguồn thu bù đắp thâm hụtngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chínhsách, biện pháp tác động vào TTCk nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự pháttriển cân đối của nền kinh tế

6 Tổ chức Thị trường chứng khoán.

a) Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của TTCK.

- Nguyên tắc trung gian:

Nguyên tắc này quy định : thị trường chứng khoán hoạt động không phải trựctiếp do những người muốn mua hay muốn bán thực hiện với nhau mà phải thông quacác trung gian( như: Công ty chứng khoán hay các nhân viên môi giới tự do) nhằm

Trang 9

bảo đảm các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường đều là chứng khoán thật vàhợp pháp Giúp cho người đầu tư tránh được sự lừa đảo và kinh doanh có hiệu quảhơn.

- Nguyên tắc đấu giá:

Nguyên tắc này quy định: những người muốn mua cùng một loại chứng khoán

sẽ đấu giá với nhau và giá được chọn sẽ là giá mua cao nhất Và những người muốnbán cùng một loại chứng khoán sẽ đấu giá với nhau và giá được chọn là giá bán thấpnhất

- Nguyên tắc công khai:

Nguyên tắc này quy định: Các thông tin trên thị trường đều được công bố chocác thành viên cũng như dân chứng biết Ngoài ra, các thông tin lien quan đến lịch sửgiao dịch của thị trường và từng loại chứng khoán cũng được cung cấp đầy đủ, lientục cho người đầu tư và những người quan tâm đến TTCK nhằm tạo nên tính bìnhđẳng , công bằng trong đầu tư trong TTCK đồng thời cũng hạn chế được sự lừa đảocủa các tổ chức phát hành đối với người đầu tư

- Nguyên tắc cạnh tranh:

Nguyên tắc này quy định: giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu vềchứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơcấp, các nhà phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng khoán của mính cho các nhàđầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu củamình Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm chomình một lợi nhuận cao nhất, và đánh giá theo phương thức đấu giá

- Nguyên tắc công bằng:

Nguyên tắc này quy định: khi một người tham gia thị trường đều phải tuân thủnhững quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánhchịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó

7 Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán.

Nhà phát hành: là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới

hình thức phát hành các chứng khoán.Thông thường nhà phát hành bao gồm các chủthể sau đây:

- Chính phủ và chính quyên địa phương phát hành các loại trái phiếu Chínhphủ và trái phiếu địa phương nhằm huy động các nguồn vốn phục vụ chomục đích sử dụng và đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội

- Doanh nghiệp: phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoánphái sinh,…nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 10

- Các tổ chức tài chính: phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, tínphiếu, chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của mình.

Nhà đầu tư: là những người tham gia vào việc mua và bán chứng khoán trên

TTCK bao gồm các tổ chức cá nhân Việt Nam và tổ chức cá nhân nước ngoài Nhữngnhà đầu tư này có thể tự mình trực tiếp tham gia đầu tư hoặc thông qua các chủ thểkhác thực hiện việc đầu tư

Các công ty chứng khoán: là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán,

có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lýquỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh

Các tổ chức có liên quan đến TTCK: Ủy ban chứng khoán Quốc gia, Sở Giao

Dịch chứng khoán, công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, công ty đánh giá hệ số tínnhiệm

II SỰ RA ĐỜI CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

1 Thị trường Chứng khoán Việt Nam ra đời.

Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi, ngày 11 – 7 - 1998 Chính phủ đã ký Nghịđịnh số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thịtrường chứng khoán Việt Nam ra đời

Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịchChứng khoán đặt tại TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCKVNthực ra đã do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày

28 – 11 - 1996

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thànhlập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vàohoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28 – 7 - 2000

Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đờivào ngày 8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giaodịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các

DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng)

2 Chặng đường thăng – trầm của TTCKVN.

Giai đoạn 2000 - 2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng

khoán

Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việcđưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày

Trang 11

20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thờiđiểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE vàSAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yếtgiao dịch.

Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơnsốt vào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầunăm nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổphiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểmvào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001 Trong

4 tháng “hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trườngvới lời nguyền không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnhbám trụ, âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận thì trong 5 năm chỉ

số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm

Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổitiếng, không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết

Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN)chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi

tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnhvực ngân hàng)

Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sựquan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trườngchưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành củanền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân

Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau:

Trang 12

0,69% tổng thu nhập quốc nội (GDP) Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện

có 4.500 tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần 35.000 tỷđồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, thu hút 28.300tài khoản giao dịch Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứngkhoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị

cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%

Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.

Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển

“đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toànmới với hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ ChíMinh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC

Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trườngchứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thếgiới, chỉ sau Dim-ba-buê Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngàycàng "hút hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Namnon trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lạiđược với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm

Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tạisàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giaodịch Hà Nội (Hastc) tăng 152,4% Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006:VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm

Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉUSD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường Hàng ngày có khoảng 80-

100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổ phiếu được phát hành theoLuật Doanh nghiệp là chính Trên thị trường phi tập trung, tổng khối lượng giaodịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên Hastc

Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần sovới 6 năm trước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từhơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006

Trang 13

Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ởnước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả nhữngngười mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiệntượng “bong bóng” là có thật.

Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tưmới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tàikhoản của nhà đầu tư nước ngoài

Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm VớiHASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ

số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170%.Đây là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấntượng Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoánTP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếuvới tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại Trungtâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến

87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt

29 nghìn tỷ đồng Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứngkhoán chính thức Việt Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới

220 nghìn tỷ đồng, tương đương với 13,8 tỷ USD

Quy mô niêm yết cổ phiếu

Trang 14

(Nguồn: Báo cáo vĩ mô toàn cảnh thị trường 2006 – Phòng phân tích Công ty

chứng khoán ngân hàng thương mại Việt Nam)

Quy mô thị trường

(Nguồn: Báo cáo vĩ mô toàn cảnh thị trường 2006 – Phòng phân tích Công ty

chứng khoán ngân hàng thương mại Việt Nam)

Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ.

Trang 15

Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thịtrường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chínhquốc tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường.

- VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm.

- HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm.

Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiêngiao dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giaođộng mạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm,Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 1 năm hoạt động VNIndexđạt được mức tăng trưởng là 23,3%; Hastc-Index tăng 33,2% so với mức điểmthiết lập vào cuối năm 2006

Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiêngiao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tươngđương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lầnkhối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiêngiao dịch có 9,2 triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 980

tỷ đồng

TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khốilượng giao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương vớitổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khốilượng và 15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006 Quy mô giao dịch tăngtrưởng mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiêntrong khi năm 2006 chỉ đạt 19 tỷ đồng/phiên

Các giai đoạn phát triển của thị trường Nhìn nhận khách quan từ góc độ thịtrường, bên cạnh những thành công, TTCK qua một năm hoạt động cũng ghi lạidấu ấn cho những giai đoạn thăng trầm nhất định khi thị trường trải qua nhữngbiến động trồi sụt thất thường: giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầunăm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt và điều chỉnh mạnh vào 5 tháng giữa năm, tiếpđến là một đợt phục hồi trước khi đi vào thoái trào trong 4 tháng cuối năm

- Giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007:

Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2sàn giao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh là 1.170,67

Trang 16

điểm sau 7 năm hoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểmsau 2 năm hoạt động Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăngtrưởng với tốc độ lớn nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giaodịch

Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thịtrường trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng So với tổng giá trịvốn hóa 492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đãchiếm tỷ trọng 4/5 Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóacủa thị trường không phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà doyếu tố giá cổ phiếu tăng mạnh

Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồngloạt các cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trênsàn… tất cả đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giaodịch đầu năm, trong đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100%như: STB (113,57%), REE (122,66%), ACB (197%),…

Rất nhiều mã CP thiết lập mức giá đỉnh kể từ khi lên sàn trong giai đoạnnày như: SJS (728.000 đ/CP), FPT (665.000 đ/CP), DHG (394.000đ/CP),REE (285.000đ/CP), SSI (255.000đ/CP), SAM (250.000đ/CP), KDC(246.000đ/CP), VNM (212.000đ/CP), ACB (292.000đ/CP)…

Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn nàyphải kể đến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị giaodịch trung bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tại sàn HCM,bình quân mỗi phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN cũng đạtcon số 300 tỷ đồng

- Giai đoạn thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007

Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhànước cũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biệnpháp kiểm soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sựtăng trưởng quá nóng của thị trường Phản ứng trước điều này, TTCK đã cónhững đợt điều chỉnh rõ rệt Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn

ra trong một khoảng thời gian rất dài (từ cuối Tháng 3 đến đầu Tháng 9)

Trang 17

Giai đoạn điều chỉnh này ghi nhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE vàHASTC, tất cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng VNIndexchỉ trong vòng 1 tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007),giảm tới 22,6% so với mức đỉnh vào tháng 3 Hastc – Index trở về mốc321,44 điểm (24/04/2007), giảm 30% so với mức đỉnh Thị trường đã mấtđiểm quá nhanh trong 1 thời gian ngắn khiến giá giao dịch của các cổ phiếu

đã trở về gần mức giá thiết lập vào đầu năm

Trong giai đoạn này, thị trường cũng có một đợt hồi phục vào giai đoạncuối Tháng 5/2007 khi VNIndex quay trở về mốc 1.107,52 điểm(23/05/2007) Nhưng do tác động tâm lý quá mạnh của các chính sách kiềmchế thị trường trước đó như Chỉ thị 03, Luật thuế thu nhập cá nhân,…., thịtrường nhanh chóng trở lại trạng thái mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnhkhiến giai đoạn đầu Tháng 8, thị trường xác lập mức đáy 883,9 điểm củaVNIndex (6/8/2007) và 247,37 điểm của Hastc - Index (23/08/2007)

Vào giai đoạn thị trường xuống sâu nhất (khoảng đầu Tháng 8), sàn HCM

có những phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu được khớp lệnh (ngày30/07/2007 chỉ có 3.296.340CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh603.100 CP)

Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch củakhối này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh Giá trị giao dịch bìnhquân của khối NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên,giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm

- Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm

Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gianđầu tháng 9 đến cuối Tháng 10/2007 Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướngphục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sànđều lấy lại được những gì đã mất trong 6 tháng giữa năm, tuy nhiên sức bậtcủa các cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổ phiếu trở về mức giá đỉnhthiết lập vào tháng 3 Trong giai đoạn này, VNIndex đã có những phiên giaodịch vượt lên trên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào ngày 3/10/2007),

Trang 18

Hastc – Index cũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59 điểm ngày01/10/2007)

Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ởnhóm các cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổphiếu Sông Đà: S99, SDA, S91… tại HASTC Lượng giao dịch bình quânphiên tại HOSE luôn ở trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt19.047.000 CP vào ngày 01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịchbằng 1/2 sàn HOSE với trung bình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng Tuy nhiên, Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnhgiảm vào 2 tháng cuối năm Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảngcũng có các đợt phục hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố.Tuy nhiên sự phục hồi này không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệusuy giảm chỉ sau 1 phiên tăng điểm Chính điều này đã dẫn tới việc các nhàđầu tư bị đọng vốn, Trong khi nguồn cầu có xu hướng cạn kiệt, thì nguồncung vẫn tiếp tục gia tăng Tương quan cung cầu mất cân bằng khiến thịtrường ngày càng tuột dốc cả về giá lẫn khối lượng giao dịch và giá trị giaodịch VNIndex giảm xuống dưỡi ngưỡng điểm 1.000 và chỉ xoay quanh mốc

900 điểm, với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất hạn chế

Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam

khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh

Nhìn lại thị trường sau 01 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường:Index giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơixuống dưới mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sựcan thiệp của các c ơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT.Tính

từ đầu năm đến hết ngày 31/12/2008, TTCKVN trải qua 03 giai đoạn chính

Trong năm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việcChính phủ đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn, kinhdoanh hiệu quả và việc bán bớt CP Nhà nước trong các DN đã CPH, chưa kểhàng loạt ngân hàng, Công ty chứng khoán, doanh nghiệp phát hành tráiphiếu, cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, dẫn đến tình trạng thị trường CK có nguy

cơ thừa "hàng"

Trang 19

- Giai đoạn 1: Từ tháng 01 tới tháng 06 - Thị trường giảm mạnh do tác

động từ tác động của kinh tế vĩ mô.

Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07, VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị vàtrở thành một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trongnửa đầu năm 2008

Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đ ầu tư trong giai đoạn này chủyếu xuất phát từ nội tại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát,chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức épgiải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK

Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điềuhành bắt đầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:

+ UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch;

+ SCIC tham gia mua vào cổ phiếu;

+ NHTM được vận động ngừng giải chấp;

+ Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ.

Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắnhạn, và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừngtác động tới tâm lý các nhà đầu tư Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạnnày, có tới 71 phiên VNIndex giảm điểm Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008

Sau 103 phiên giao dịch,VNIndex giảm mất 550,52 điểm - tương đương59,77% Bình quân trong mỗi phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQđược chuyển nhượng, tương đương khoảng 482 tỷ đồng

Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất lànhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là cácdoanh nghiệp BĐS)

Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải canthiệp vào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008 Tổngcộng trong năm 2008, UBCKNN đ ã có 04 lần thay đổi biên độ dao động giátrên cả 2 sàn chứng khoán Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị tr ường, ngănđà suy giảm mạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đãđưa ra nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trường: Cho phép SCIC mua vào cổ

Ngày đăng: 30/05/2015, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tập bài giảng: Thị trường và các định chế tài chính, Th.S Lê Thị Minh Hưởng, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng: Thị trường và các định chế tài chính
Tác giả: Th.S Lê Thị Minh Hưởng
Năm: 2012
3. Web: http://www.stockbiz.vn Link
4. Web: http://vnexpress.net Link
5. Web: http://vi.wikipedia.org Link
2. Báo cáo chuyên đề: Cổ phiếu triển vọng, CTCP Chứng Khoán Rồng Việt, tháng 10/2012 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w