1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec

86 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 615 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu đồng bộ các biện pháp để phát triển nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh mang tính cấp thiết của mọi doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doa

Trang 1

Đề tài Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại

Công ty Cổ phần Apec

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ 3

I KHÁI NIỆM VỀ VỐN VÀ PHÂN LOẠI VỐN TRONG KINH DOANH: 3

Sơ đồ: vốn kinh doanh 4

2.1 Phân loại vốn trên góc độ pháp luật, vốn bao gồm : 9

2.2 Phân loại vốn theo nguồn hình thành: 9

2.3 Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn 9

2.4 Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển: 10

3.1 Vốn cố định của doanh nghiệp 11

3.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn cố định 11

3.1.2 Phân loại vốn cố định 13

3.1.3 Cơ cấu vốn cố định: 14

3.1.4 Nguồn vốn cố định 15

3.2 Vốn lưu động 15

3.2.1 Khái niệm và đặc điểm 15

3.2.2 Cơ cấu vốn lưu động 17

3.2.3 Phân loại vốn lưu động 18

3.2.4 Nguồn vốn lưu động 18

II TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 19

III HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 24

1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 24

2 Nguyên tắc cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 25

3 Chỉ tiêu xác định hiệu quả sử dụng vốn 28

4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 29

4.1 Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 30

4.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 31

4.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định 32

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp 33

1 Những nhân tố khách quan 34

1.1 Trạng thái phát triển kinh tế 34

1.2 Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của nhà nước 34

1.3 Sức mua của thị trường 35

1.4 Thị trường tài chính: 36

1.5 Mức độ lạm phát 36

1.6 Rủi ro bất thường trong kinh doanh 36

2 Những nhân tố chủ quan 37

A KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN APEC 41

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Đầu tư châu Á Thái bình Dương Apec 41

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 41

2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 41

2.2 1 Đặc điểm về lao động 42

Bảng 01: Cơ cấu lao động trong giai đoạn 2008-2012 43

Bảng 02: Cơ cấu lao động năm 2012 44

Trang 3

2.2.2 Đặc điểm về thị trường 45

2.2.3 Đặc điểm vè khách hàng 45

2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Apec 45

2.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 45

2.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban, bộ phận 46

2.4 Tổ chức công tác kế toán - tài chính của công ty 48

2.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Apec 48

2.4.2 Chế độ kế toán 50

2.4.3 Hình thức tổ chức kế toán công ty đang áp dụng 50

2.5 Một số kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây 50

2.6 Tầm nhìn và sứ mạng 51

3 Đánh giá tình hình sử dụng vốn kinh doanh: 52

3.1 Khái quát nội dung phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần đầu tư Apec 52

3.1.1 Thực trạng phân tích tình tài chính tại công ty cỏ phần đầu tư Apec 52

3.1.1.1 Đánh giá tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán 52

Bảng 02: Bảng cân đối kế toán của công ty qua hai năm 2009-2010 53

Mẫu sốB01-DN 53

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 53

Tại ngày 31 tháng 12 năm 2009 53

ĐVT: Đồng 53

3.2.1.1 Phân tích cơ cấu tài sản và tình hình biến động của tài sản 54

Bảng 03: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN QUA 2 NĂM 2009-2010 55

2.6.1.2 Phân tích cơ cấu và tình hình biến động của nguồn vốn 58

Bảng 04: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN QUA 2 NĂM 59

ĐVT: Đồng 59

2.6.3 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Apec 61

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn 62

Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh 63

*Vòng quay hàng tồn kho 66

Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau 68

*Số ngày một vòng quay vốn lưu động 69

*Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh 70

2.6.5.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn thông qua các chỉ tiêu về lợi nhuận 71

4.1 Những kết quả đạt được 72

4.2 Hạn chế và nguyên nhân 73

4.2.1 Hạn chế 73

4.2.2 Nguyên nhân 74

I Phương hướng phát triển của Công ty những năm sắp tới 75

II Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec 76

1 Các biện pháp nhằm huy động vốn kinh doanh 76

2 Đầu tư mở rộng mạng lưới kinh doanh 77

III Một số kiến nghị với nhà nước 78

KẾT LUẬN: 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Dù là một doamh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào thì huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là mục tiêu phấn đấu hàng đầu và lâu dài của doanh nghiệp Vốn kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng để mở rộng kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng doanh lợi của doanh nghiệp

Chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là một quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế trước hết Nhà nước cắt giảm nguồn vốn ngân sách cấp cho các doanh nghiệp, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh và tài chính cho các doanh nghiệp Với cơ chế quản lý mới này đã đem lại cho một số doanh nghiệp những lợi thế trong việc huy động và sử dụng vốn, đồng thời cũng đem lại một số khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn, phát triển nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Và trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, Đảng

ta đã chỉ rõ "Chính sách tài chính quốc gia hướng vào việc tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hôị, tăng nhanh sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân…" Vì vậy, nghiên cứu đồng bộ các biện pháp để phát triển nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh mang tính cấp thiết của mọi doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, đời sống cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp nói riêng và phát triển nền kinh tế đất nước nói chung

Xuất phát từ tình hình thực tế của các doanh nghiệp ở Việt Nam và quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Apec dưới sự hướng dẫn tận tình của Th.S

Nguyễn Thị Oanh và các cán bộ Công ty, tôi đã lựa chọn đề tài: "Một số biệnpháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec" làm nội dung nghiên cứu của mình

Với phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận thực tiễn, trên cơ sở phân tích các hoạt động tài chính của Công ty, đề tài nhằm nêu rõ bản chất và vai trò của vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, nguyên tắc và nội dung công tác sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec

Trang 5

Với hướng nghiên cứu như vậy, đề tài được xây dựng thành 3 chương:Chương I: Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh

Chương II: Thực trạng sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec

Chương III: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec

Do trình độ lý luận cũng như khả năng thực tế còn hạn chế nên vấn đề nghiên cứu của tôi chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng với bạn đọc để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Th.s Nguyễn Thị Oanh, cùng cán bộ các phòng ban liênquan của Công ty Cổ phần Apec đã hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Trang 6

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ

DỤNG VỐN TRONG KINH DOANH.

I KHÁI NIỆM VỀ VỐN VÀ PHÂN LOẠI VỐN TRONG KINH DOANH:

1 Khái niệm về vốn kinh doanh:

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục tiêu chung và quan trọng nhất đối với doanh nghiệp đó là lợi nhuận Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phải luôn gắn liền với sự hoạt động của đồng vốn Chủ thể kinh doanh không chỉ có vốn mà còn phải biết vận động không ngừng phát triển đồng vốn đó Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột của CNTB trong công thức T-H-SX H’-T’ của K.Marx thì có thể xem đây là một công thức kinh doanh: Chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ mua những tư liệu sản xuất để tiến hành quá trình sản xuất

ra sản phẩm, hàng hoá theo nhu cầu của thị trường rồi đem những thành phẩm hàng hoá này bán ra cho khách hàng trên thị trường để thu được một lượng tiền

tề lớn hơn số ban đầu bỏ ra

Như vậy, theo quan điểm của K.Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng

dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa này mang một tầm khái quát lớn, nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Marx đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nhà khoa học đại diện cho các trường phái khác nhau đã bổ sung các yếu tố mới cũng được coi là vốn Nổi bật nhất là Paul.A.Samuelson_ Nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển” đã kế thừa các quan niệm của trường phái “cổ điển” về yếu tố sản xuất đểphân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành 3 bộ phận là đất đai, lao động và vốn Theo ông, vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới

Sau đó, David Begg đã bổ sung thêm cho định nghĩa vốn của

Samuelson, theo ông vốn bao gồm có vốn hiện vật (các hàng hoá dự trữ, để sản

Trang 7

xuất ra hàng hoá khác) và vốn tài chính (tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp) Nhìn chung, cả Samuelson và Begg đều có một quan điểm chung thống nhất cơ bản là các vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, quan điểm này cho thấy vốn vẫn bị đồng nhất với tài sản của doanh nghiệp.Thực chất, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.Như vậy, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh.Vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng

sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động Từ đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh được khái quát theo sơ đồ sau:

Sơ đồ: vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Dùng cho đầu tư trung

Giải quyết năng lực về sảnxuất

Đảm bảo trả lương cho lao động

Chi tiêu cho các hoạt động của DN

Dóng góp cho

xã hội

Nộp thuế, phí, lệ phí

Trang 9

Vốn là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh,đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế nói chung và đối vớidoanh nghiệp nói riêng, thể hiện trên các mặt sau:

- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết địnhtrong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệptheo luật định

- Vốn đóng vai trò quyết định mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,đổi mới quy trình công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinhdoanh, góp phần tăng năng suất lao động và giảm giá thành chi phí của doanhnghiệp

- Vốn là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh đạodoanh nghiệp, nó là một điều kiện thực hiện các chiến lược, sách lược kinhdoanh, nó cũng là “dầu nhớt” bôi trên cho cỗ máy kinh tế vận động

- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố về giá trị Như vậy, doanhnghiệp đáp ứng đầy đủ nhu vầu về vốn kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp chủđộng về tài chính, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo sức cạnh tranh Còn ngượclại, nếu vốn không được bảo tồn và tăng lên trong mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn

đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn Sự thiệt hại lớn dẫn đến doanh nghiệpmất khả năng thanh toán, sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinhdoanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không có hiệu quả

Tóm lại, vai trò của vốn kinh doanh đã được K.Marx khẳng định: “ Tư Đồng thời, K.Marx còn nhấn mạnh:” không một hệ thống nào có thể tồn tại nếu không vượt qua sự suy giảm về hiệu qủa tư bản” bản đứng vị trí hàng đầu vì tư bản là tương lai”

Căn cứ vào khái niệm và vai trò của vốn ở trên, ta có thể thấy vốn có những đặc trưng cơ bản sau:

+ Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điều này có nghĩa vốn là sự biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, bằng phát minh, sáng chế Với tư cách này các tài sản

Trang 10

tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không bị mất đi mà thu hồi được giá trị.

+ Vốn luôn vận động để sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để trở thành vốn thì đồng tiền phải được đưa vào hoạt động kinh doanh để sinh lời Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền Đồng vốn đến điểm xuất phát mới với giá trị lớn hơn Đó cũng là nguyên tắc đầu tư, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn Nói một cách khác, vốn kinh doanh trong quá trình tuần hoàn luôn có ở giai đoạn của quá trình tái sản xuất và thường xuyên chuyển từ dạng này sang dạngkhác Các giai đoạn này được lặp đi lặp lại theo một chu kỳ, mà sau mỗi chu kỳvốn kinh doanh được đầu tư nhiều hơn Chính yếu tố này đã tạo ra sự phát triển của các doanh nghiệp theo quy luật tái sản xuất mở rộng

+ Trong quá trình vận động vốn không tách rời chủ sở hữu: Mỗi đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất đinh, nghĩa là không có những đồng vốn vô chủ, ở đâu cóđồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ có sự chi tiêu, lãng phí, kém hiêu quả ở đây vần có

sự phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền năng khác nhau.Tuỳ theo hình thức đầu tư mà người sở hữu và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hay tách rời Song dù trường hợp nào đi chăng nữa, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình Có thể nói đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn Nó cho phép huy động được vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh,

đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả Nhận thức được đặc trưng này sẽgiúp doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

+ Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng: Muốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, vốn phải được tập trung thành một lượng đủ lớn để mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất và chủ động trong các phương án sản xuất kinh doanh Muốn làm được điều đó, các doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của mình, mà phải

Trang 11

tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác như phát cổ phiếu, góp vốn liên doanh liên kết

+ Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hôm nay có giá trị hơn giá trị đồng tiền ngày hôm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, vấn đề này không được xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước đã tạo ra sự ổn định của đồng tiềnmột cách giả tạo trong nền kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, bởi do ảnh hưởng sự biến động của giá cả thị trường, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm là khác nhau

+ Vốn là loai hàng hoá đặc biệt: Những người sẵn có vốn có thể đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì vay Nghĩa là những người đi vay được quyền sử dụng vốn của ngườ cho vay Người đi vay phải mất một khoản tiền trả cho người vay Đây là một khoản chi phí sử dụng vốn mà người đi vay phải trả cho người cho vay, hay nói cách khác chính là giá của quyền sử dụng vốn Khác với các loại hàng hoá thông thường khác, “ hàng hoá vốn “ khi bán đi sẽ không mất quyền sử hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất đinh Việc mua bán này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung-cầu về vốn trên thị trường

+ Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ được biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như: Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền, phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì khoa học kỹ thuật, công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ Điều

này làm cho tài sản vô hình ngày càng đa dạng phong phú, đóng góp một phần không nhỏ trong việc tạo ra khả nằng sinh lời của doanh nghiệp

Từ những đặc trưng trên cho phép ta phân biệt giữa tiền và vốn : giữa một số quỹtiền tệ khác trong doanh nghiệp và vốn Vốn kinh doanh được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tức là cho mục đích tích luỹ chứ không phải mục đíchtiêu dùng như một số quỹ khác trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh được ứng

Trang 12

ra cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh và phải

được th về khi chu kỳ kinh doanh kết thúc Và lại được ứng cho chu kỳ tiếp theo

Vì vậy, kinh doanh không thể “ tiêu dùng” như một số quỹ khác trong doanh nghiệp Mất vốn kinh doanh đồng nghĩa với nguy cơ phá sản doanh nghiệp Ngoài ra, muốn có vốn thì phải có tiền song có tiền chưa hẳn là đã có vốn

- Tiền được coi là vốn phải thoả mãn những điều kiện sau:

- Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, tức là phải được đảm bảobằng một lượng hàng hoá nhất định có thực

- Tiền phải được tập trụng, tích tụ thành một khoản nhất định đủ sức

đầu tư cho một dự án kinh doanh nào đó Nếu tiền rải rác, không gom thành khoản thì không làm được gì

- Khi đã đủ về lượng, tiền phải vận động nhằm mục đích sinh lời Cách thức, hình thái vận động của tiền phụ thuộc vào phương thức kinh doanh

Ngoài những đặc trưng cơ bản trên, tiền còn có một số đặc trưng nữa mang tính riêng biệt như:

+ Là nguồn duy nhất sáng tạo ra giá trị mới

+ Vừa là chủ thể quản lý vừa là đối tượng quản lý

+ Tiền ẩn trong mọi người, phụ thuộc vào tư tưởng, tình cảm, môi trường chỉ biểu hiện khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh

2 Phân loại vốn kinh doanh.

Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hay hoạt động bất cứ ngành nghề gì, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định Số vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp quản lý vốn kinh doanh và sử dụng vốn kinh doanh

có hiêu quả là nội dung quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta vần phải nắm được vốn có những loại nào, đặc biệt vận động của nó ra sao Có nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có thể có nhiều tiêu thức phân loại vốn kinh doanh khác nhau

Trang 13

2.1 Phân loại vốn trên góc độ pháp luật, vốn bao gồm :

- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có đẻ thành lập doanh nghiệp do pháp luật quy định, đảm bảo năng lực kinh doanh đối với từng ngành nghề và từng loại hình sở hữu của doanh nghiệp Dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp

- Vốn điều lệ: là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của Công ty (doanh nghiệp) Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề , vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định

2.2 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:

Theo cách phân loại này, vốn được chia thành các loại sau:

- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp, tức là số vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của nhà nước giao

- Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết kiên doanh với nhau đểhoạt động thương mại hoặc dịch vụ

- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước bổ sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn do sự đóng góp của các thành viên hoặc, do bán trái phiếu

- Vốn đi vay: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như ngân hàng, các tổ chức kinh tế, phải trả nhà nước, phải trả cho người bán Ngoài

ra, còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng

2.3 Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn.

Theo cách phân loại này, vốn được chia thành hai loại là vốn thường xuyên và vốn tạm thời

- Vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp Đây là nguồn vốn được dùng để tài trợ cho các hoạt động đầu tư mang tínhdài hạn của doanh nghiệp

Trang 14

- Vốn tạm thời: Là nguồn vốn cĩ tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp cĩ thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu cĩ tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2.4 Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển:

Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên tục Nĩ biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến tư liệu lao động, hàng hố dự trữ Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra đặc điểm chu chuyển vốn, theo đĩ người ta phân chia vốn thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động

- Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, hay nĩi cách khác: Vốn

cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất biểu hiện dưới giá trị ban đầu để đầu tư vào các tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động được kinh doanh, mà đặc điểm của nĩ là luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị của sảnphẩm qua nhiều chu kỳ sản xuất và hồn thành

một vịng tuần hồn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng Bộ phận vốn cố định trở về tay người sở hữu (chủ doanh nghiệp) dưới hình thái tiền tệ sau khi tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ hàng hố của mình

- Vốn lưu động: là một bộ phận của vốn sản xuất được biểu hiện bằng số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục, nĩ được chuyển tồn bộ một lần vào giá trị sản phẩm cà được thu hồi sau khi thu được tiền bán sản phẩm

Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn cho thay mõi phương pháp cĩ ưuđiểm và nhược điểm khác nhau, từ đĩ doanh nghiệp cĩ các giải pháp huy động và

Trang 15

nghiệp xác định được tỷ lệ vốn hợp lý Việc xác định cơ cấu vốn là yếu tố quan trọng, nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi doanh nghiệp.

3.1 Vốn cố định của doanh nghiệp.

3.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn cố định.

Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Hay nói cách khác: số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định vô hình và hữu hình nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp Đây là số vốn đầu tư ứng trước, số vốn này nếu được sử dụng có hiệu qủa sẽ không mất đi mà doanh nghiệp sẽ thu hồi lại sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ của mình Do đó, để biểu hiện rõ hơn về vốn cố định của doanh nghiệp, chúng ta xem xét hình thái biểu hiện của nó, tức là dựa trên cơ

sở nghiên cứu về tài sản cố định

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tư liệu sản xuất Căn

cứ vào tính chất, tác dụng, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao động được sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một hay nhiều chu kỳ sản xuất Trong qua trình đó, giá trị của chúng bị giảm đi mặc

dù giá trị sử dụng vẫn như ban đầu Phần giá trị giảm đi được chuyển vào giá trị của sản phẩm Do đó qua các chu kỳ, giá trị của tư liệu lao động được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm

Tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động chủ yếu quan trọng nhất của doanh nghiệp Đó là những tư liệu lao động như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển Khi tham gia vào sản xuất, chúng không bị thay đổi

về hình thái ban đầu, giá trị của chúng được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm Sau một hay nhiều chu kỳ sản xuất giá trị của tài sản cố định sẽ được chuyển hết vào giá trị của sản phẩm, khi đó tài sản cố định đã hết thời hạn sử dụng Quyết định số 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ tài chính quy định, mọi tư liệu lao động được coi là tài sản cố đinh thoả mãn đủ hai điều kiện sau:

Trang 16

- Thời gian sử dụng tối thiểu là một năm

- Giá trị phải đạt đến một độ lớn nhất định Hiện nay áp dụng mức tối thiểu là 5 triệu đồng

Như phân tích ở trên, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận độngtài sản cố định có những đặc điểm sau:

- Về mặt hiện vật: Tài sản cố định tham gia hoàn toàn và nhiều lần vào quá trình sản xuất kinh doanh và nó bị loại ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh

- Về mặt giá trị: Giá trị của tài sản số định sẽ được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị hàng hoá, sản phẩm mà nó tạo ra trong quá trình sản xuất

Do đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định đến hình thái biểu hiện của vốn cố định trên hai góc độ đó là: Vốn dưới hình thái hiện vật vàvốn tiền tệ

- Phần giá trị hao mòn của tài sản cố định được dịch chuyển dần vào giá trị của sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định Bộ phận giá trị này là yếu tố chi phí sản xuất và cấu thành nên giá thành sản phẩm, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi

là khấu hao tài sản cố định Số tiền khấu hao này được trích lại và tích luỹ thành quỹ gọi là quỹ khấu hao tài sản cố định, hay là vốn tiền tệ của doanh nghiệp, nhằm mục đích để tái sản xuất tài sản cố định, duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp Qua các chy kỳ sản xuất kinh doanh, phần vốn tiền tệ này tăng dần

- Phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định “trong hình thái hiện vật của tài sản cố định mà doanh nghiệp đang sử dụng Phần giá trị này giảm dần qua các chy kỳ cùng với sự tăng lên của phần vốn tiền tệ Khi tài sản cố định hết thời hạn

sử dụng cũng là lúc phần vốn hiện vật bằng không và phần vốn tiền tệ đạt đến giátrị ứng ra ban đầu về tài sản cố định Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp đã có thể đầu

tư tài sản cố định mới với giá trị tương đương để thay thế tài sản cũ Vốn cố định

đã hoàn thành một vòng luân chuyển

Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất, là điều kiện quan trọng

để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng tích luỹ và phát triển doanh nghiệp Với vai trò quan trọng như vậy, nên việc nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng tài sản cố định tức là việc tăng cường nâng cao hiệu quả sử

Trang 17

dụng vốn cố định không những có vai trò quan trọng

đối với doanh nghiệp, mà còn góp phần cơ khí hoá, tự động hoá sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân

3.1.2 Phân loại vốn cố định.

Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả, ta phải nghiên cứu các phương pháp phân loại và kết cấu của tài sản cố định Song, tuỳ theo từng căn cứ khác nhau mà có thể phân chia tài sản cố định thành những loại khác nhau

* Căn cứ váo hình thái biểu hiện: Tài sản cố định được chia thành:

- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu như: Nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải

- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như: chi phí bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm

* Căn cứ vào công dụng kinh tế : Tài sản cố định được chia thành:

- Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công, xây dựng và được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh như: Nhà xưởng, trụ sở làm việc

- Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Máy thiết bị động lực, thiết bị chuyên dùng, máy móc công tác

- Phương tiện vận tải, truyền dẫn: là các phương tiện vận tải dùng cho hoạt động vận chuyển sản phẩm, hàng hoá do quá trình kinh doanh tạo ra

- Thiết bị và dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử

- Các loại tài sản cố định khác: là những loại tài sản cố định chưa được liệt kê vào các loại trên

Trang 18

* Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tài sản cố định được chia thành:

- Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh: là những tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của công nghiệp như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải

- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc

phòng: là những tài sản cố định do doanh nghiệp quản lý và sử dụng vào các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, đảm bảo an ninh quốc phòng của doanh nghiệp

- Tài sản cố định của doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc nhà nước theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

* Căn cứ vào hình thức sử dụng: Tài sản cố định được chia thành

- Tài sản cố định đang sử dụng: là những tài sản cố định của doanh

nghiệp đang sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động phúc lợi, sựnghiệp an ninh quốc phòng của doanh nghiệp

- Tài sản cố định chưa cần sử dụng: là những tài sản cố định cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song hiện tại chưa cần sử dụng, đang được dự trữ để sử dụng sau này

- Tài sản cố định không cần sử dụng: là những loại tài sản không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần được thanh lý, nhượng bàn để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu

Mỗi cách phân loại có các ý nghĩa khác nhau, cho phép nhà quản trị đánh giá được tình hình tài sản cố đinh, xem xét kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp

Từ đó có biện pháp tác động để sử dụng vốn cố định có hiệu quả hơn

3.1.3 Cơ cấu vốn cố định:

Cơ cấu vốn cố định là tỷ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định trong tổng số vốn cố định Nghiên cứu cơ cấu vốn cố định cho phép đánh giá việc đầu tư có đúng đắn hay không và nó cho phép xác định hướng đầu tư vốn cố định trong tương lai

Trang 19

Cơ cấu vốn cố định và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu quan trọng nói lên trình độ kỹ thuật, khả năng phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệpgiúp cho việc phát triển phương hướng tái sản xuất tài sản cố định.

3.1.4 Nguồn vốn cố định

Vốn cố định được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn

vốn pháp định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh liên kết

- Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách nhà nước cấp, do cấptrên cấp phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác xã và các cổ đông đóng góp bằng tài sản cố định, vốn pháp định do chủ sở hữu bỏ ra ban đầu khi thành lập doanh nghiệp

- Nguồn vốn tự bổ sung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đã được đầu

tư và mua sắm bằng quý của doanh nghiệp

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: gồm các nguồn vốn do các đơn vị

tham gia liên doanh, liên kết đóng góp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xâydựng cơ bản đã hoàn thành

3.2 Vốn lưu động.

Bên cạnh vốn cố định, một bộ phận khác không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó là vốn lưu động

3.2.1 Khái niệm và đặc điểm.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bên cạnh tài sản cố định, doanh nghiệp luôn có một khối lượng tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâu của quá trìnhsản xuất và tái sản xuất như: dự trữ chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân phối,tiêu thụ sản phẩm

Đó chính là tài sản lưu động của doanh nghiệp Tài sản lưu động chủ yếu nằm trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp là các đối tượng lao động Đối tượng lao động kho tham gia vào quá trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động sẽ thông qua quá trình sản xuất tạo nên thực thể của sản phẩm, bộ phận

khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất Đối tượng lao động chỉ tham gia

Trang 20

vào một chu kỳ sản xuất, do đó toàn bộ giá trị của chúng được dịch chuyển 1 lần vào giá trị sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở thành hàng hoá.Bên cạnh một số tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông, thanh toán, sản xuất thì doanh nghiệp còn có một số đối tượng lao động khác như vật tư phụ tùng quá trình tiêu thụ, các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu

Như vậy, dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ các tài khoản lưu động Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi tính luân chuyển của tài sản lưu động Phù hợp với đặc điểm của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh

nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh: dự trữ, sản xuất và lưu thông Vốn lưu động luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thái vật chất khác nhau và chuyển hoá phần lớn vào giá trị của sản phẩm, phần còn lại chuyển hoá trong quá trình lưu thông Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng và mang tính chu kỳ Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải có đủ vốn lưu động để đầu tư vào các tư liệu lao động tồn tại một cách hợp lý, đồng bộ với nhau trong một cơ cấu Do đặc điểm của vốn lưu động là trong quá trình sản xuất kinh doanh luân

chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục đã quyết định sự vận động của vốn lưu động- tức hình thái giá trị của tài sản lưu động là:

+ Khởi đầu vòng tuần hoàn : Vốn lưu động được dùng để mua sắm các đối tượng lao động trong khâu dự trữ sản xuất ở giai đoạn này vốn đã thay đổi hình thái từ vốn tiền tệ sang vốn vật tư (T-H)

+ Tiếp theo là giai đoạn sản xuất: Các vật tư được chế tạo thành bán thành phẩm và thành phẩm ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hoá thành thành phẩm

và bán thành phẩm nhờ sức lao động và công cụ lao động (HSX -H’)

Trang 21

+ Kết thúc vòng tuần hoàn: Sau khi sản xuất được tiêu thụ, vốn lưu động lại chuyển hoá sang hình thái vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu (H’-T’) (T’ > T).

Trong thực tế, sự vận động của vốn lưu động không diễn ra một cách tuần tự như mô hình lý thuyết trên mà các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất được tiếp tục lặp lại, vốn lưu động được liên tục tuần hoàn và chu chuyển

Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt vốn lưu động có vai trò rất quan trọng Muốn quản lý vốn lưu động, các doanh nghiệp phải phân biệt được các bộ phận cấu thành vốn lưu động để trên cơ sở đó đề ra các biện pháp quản lý phù hợp Trên thực tế, vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm những bộ phận sau:

- Vốn bằng tiền: bao gồm tiền hiện có trong két và tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp

- Các khoản đầu tư ngắn hạn: bao gồm các tín phiếu kho bạc, thương phiếu ngắn hạn

- Các khoản phải thu: là một khoản mục tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường Bằng chứng của nó là các hoá đơn bán hàng, các tờ phiếu chấp nhận trả tiền của người mua nhưng còn nhiều lý do mà người bán chưa thu được tiền ngay

- Khoản dự trữ: Việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp Sự tồn tại này trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoàn toàn khách quan.Vốn lưu động có vai trò to lớn trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, để tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động, tất nhiên, chúng ta phải quản lý trên tất cả các mặt, các khâu và từng thành phần vốn lưu động

3.2.2 Cơ cấu vốn lưu động.

Cơ cấu vốn lưu động là tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu động và mối quan hệ giữa các loại và của từng loại so với tổng số vốn kinh doanh Xác định cơ cấu vốn lưu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong công tác sử dụng hiệu quả vốn lưu động Nó đáp ứng yêu cầu về vốn trong từng khâu, tưng bộ phận, trên cơ

sở đó đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 22

3.2.3 Phân loại vốn lưu động.

Để quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì việc phân loại vốn lưu động

là rất cần thiết Có nhiều phân loại vốn lưu động khác nhau, tuỳ thuộc vào các tiêu thức phân loại

Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và lưu chuyển vốn lưu động: vốn lưu động được chia thành:

- Vốn dự trữ: là bộ phận dùng để mua nguyên vật liệu, nhiên liệu

phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị đưa vào sản xuất

- Vốn trong sản xuất: là bộ phận dùng cho giai đoạn sản xuất như sản phẩm

dở dang, bán thành phẩm

- Vốn trong lưu động: là bộ phận trực tiếp dùng cho giai đoạn lưu thông: thành phẩm, vốn bằng tiền mặt

* Căn cứ vào kế hoạch hoá, phương pháp xác định: vốn lưu đông chia thành:

- Vốn định mức: là số vốn tối thiểu dùng để hoàn thành kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và kế hoạch sản xuất dịch vụ phụ thuộc Vốn lưu động định mức gồm có: vốn dự trữ hàng hoá và vốn phi hàng hoá

+ Vốn dự trữ hàng hoá là số tiền ở các kho, cửa hàng, trạm, trị giá hàng hoá trên đường vân chuyển và trị giá hàng hoá bằng chứng từ

+ Vốn phi hàng hoá lầ số tiền định mức của vốn bằng tiền Vốn phi

hàng hoá gồm vốn bằng tiền và các atài sản khác

+ Vốn không định mức: là số vốn lưu động có thể phat sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh và sản xuất dịch vụ phụ thuộc nhưng không có đủ căn cứ để tính toán được

Tuỳ theo mỗi cách phân loại vốn lưu động mà nhà quản trị sẽ đưa ra những quyếtđịnh cụ thể trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động một cách có hiệu quả nhất

3.2.4 Nguồn vốn lưu động.

Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp gồm có: vốn tự có, vốn coi như tự có và vốn đi vay

- Vốn tự có: Bao gồm:

Trang 23

+ Nguồn vốn pháp định: gồm vốn lưu động do ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp phát cho đơn vị ( cấp lần đầu hoặc bổ sung), nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ do các

xã viên hợp tác xã hoặc các cổ đông đóng góp, hoặc vốn pháp định do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra ban đầu khi thành lập doanh nghiệp

+ Nguồn vốn tự bổ sung: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị thông qua quỹ khuyến khích phát triển sản xuất các khoản chênh lệch giá hàng hoá tồn kho (theo cơ chế bảo toàn giá trị vốn)

+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Gồm có các khoản vốn của các đơn vị tham gia liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên vật liệu

- Vốn coi như tự có: do phương pháp kế toán hiện hành, có một số khoản tiền tuy không phải của doanh nghiệp nhưng có thể sử dụng trong khoảng thời gian rỗi để bổ sung vốn lưu động, người ta coi dố như khoản vốn tự có như: tiền thuế, tiền lương, bảo hiểm xã hội, phí trích trước chưa đến hạn phải chi có thể sử dụng và các khoản nợ khác

- Nguồn vốn đi vay để đảm bảo thanh toán cho ngân hàng, nhà cung ứng trong khi hang chưa bán đã mua hoặc sự không khớp trong thanh toán, doanh nghiệp phải có sự liên kết với các tổ chức cho vay để vay tiền Nguồn vốn đi vay là một nguồn quan trọng Tuy nhiên, vay dưới hình thức khác nhau thì chịu lãi suất khác nhau và phải trả kịp thời cả vốn lẫn lãi vay khi

và phát triển của doanh nghiệp

Trang 24

Song, trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, các xí nghiệp quốc doanh đều được ngân sách nhà nước tài trợ vốn, nếu thiếu vốn sẽ được ngân hàngcho vay với lãi suất ưu đãi Đối với cơ chế bao cấp nặng nề như vậy nên vai trò khai thác , thu hút vốn của doanh nghiệp không được đặt ra như một nhu cầu cấp bách, có tính sồng còn đối với doanh nghiệp Chế độ cấp phát, giao nộp một mặt đã thủ tiêu tính cơ động của doanh nghiệp, mặt khác lại tạo ra sự cân đối giả tạo về quan hệ cung- cầu vốn trong nền kinh tế Đây là lý do chủ yếu tại sao trong thời kỳ bao cấp lại vắng mặt, không vần thiết có thị trường vốn.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh có tầm quan trọng đặc biệt trong các doanh nghiệp Và nền kinh tế thị trường thực sự là môi trường để cho vốn bộc lộ đầy đủ bản chất, vai trò và tầm quan trọng của nó

Thứ nhất, Vốn kinh doanh của sn có vai trò quyết định cho việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Vì vốn là một yếu tố đầu vào cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh, là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong phạm vi một doanh nghiệp có thể thấy rằng, điểm xuất phát để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là có một số vốn đầu tư ban đầu nhất định Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề cho doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nếu không có vốn sẽ không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cả, vốn kinh doanh

là cơ sở để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh Về mặt pháp lý, tất cả các doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào, để được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết cần phải có lượng vốn cần thiết tối thiểu theo quy định của nhà nước hay còn gọi là vốn pháp định Lượng vốn này nhiều hay ít phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp của

doanh nghiệp đó

Thứ hai, Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mọt cách liên tục có hiệu quả Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của một doanh nghiệp không ngừng được tăng lên tương ứng với sự tăng trưởng quy mô sản xuất, đảm bảo cho quá trình

Trang 25

tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục Nếu doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh sẽ gây ra những tổn thất như : sản xuất đình trệ, không đảm bảo thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, không đủ tiền để thanh toán với nhà cungứng kịp thời dẫn tới mất tín nhiệm trong quan hệ mua bán, và do đó sẽ không giữđược khách hàng Những khó khăn đó kéo dàn nhất định sẽ dẫn đến thua lỗ, phá sải doanh nghiệp Điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn bảo đảm đầy đủ, kịp thời vốn kinh doanh cho quá trinhd sản xuất, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ ba, Vốn kinh doanh là một trong những tiêu thức để phân loại quy mô của doanh nghiệp xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng, phát triển mở rộng thị trường

Thứ tư, Vốn kinh doanh không những là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định được chỗ đứng của mình mà còn là điều kiện thuận lợi tạo nên sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Trong cơ chế thị trường, dưới tác động của quy luật canh tranh, cùng với khát vọng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải không ngừng phát triển vốn kinh doanh của mình, cho nên nhucầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn Để đảm bảo chiến thắng trong cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tât yếu các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, hạ giá thành Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phai có nhiều vốn Vốn đã trở thành động lực

và là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp Chỉ có vốn trong tay mới

có thể giúp doanh nghiệp đầu tư hiện đại hoá sản xuất, tồn tại trong môi trường cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận Nhu cầu về vốnđể đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho sự phát triển ngành nghề mới đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết với tất cả các doanh nghiệp nói chung cũng như doanh nghiệp thương mại nói riêng Như vậy, vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng, là điều kiện

Trang 26

tiên quyết trong quá trình đầu tư, phát triển của doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh và đứng vững trong nền kinh tế thị trường.

Thứ năm, Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản, nghĩa là phản ánh và kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Thông qua sự vận động của vốn kinh doanh, các chỉ tiêu tài chính như: hiệu quả sự dụng vốn, hệ thống thanh toán, hệ số sinh lời, cơ cấu các nguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn… mà quản

lý có thể nhận biết được trạng thái vốn trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Với khả năng đó, nhà quản lý có thể phát hiện ra các khuyết tật

và nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhằm mục tiêu đã định

Việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện tiến bộ của khoa học- kỹ thuật, công nghệ phát triển cao Nhu cầu vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng tăng nên việc tổ chức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Huy động vốn đầy đủ và kịp thời có thể giúp doanh nghiệp chớp thời cơ kinh doanh, tạo được lợi thế trong cạnh tranh Thêm vào đó việc lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp sẽ giảm bớt chi phí sử dụng vốn, điều đó tác động rất lớn đến việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Từ những lý do trên, cho thấy việc tổ chức đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh có tác động rất mạnh mẽ đếnhiệu quả kinh doanh, nó quyết

định sự tồn tại và phát triển trong tương lai của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, việc huy động được vốn mới chỉ là bước đi đầu, quan trọng hơn và quyết đinh hơn là nghiệ thuật phân bố,

sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất ảnh hưởng đến vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.Vì vậy, phải có những biện pháp sử dụng, bảo toàn và mở rộng vốn kinh doanh hiệu quả, từ đó mới giúp doanh nghiệp tồn tại và ngày càng phát triển trong cơ chế thị trường

Qua những sự phân tích ở trên ta thấy, vốn kinh doanh có tầm quan trọng to lơn

Do đó, vấn đề sử dụng vốn trong kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động

Trang 27

kinh doanh của doanh nghiệp Mục đích của sử dụng vốn trong kinh doanh là nhằm đảm bảo nhu cầu tối đa về vốn cho việc phát triển kinh doanh hàng hoá trên

cơ sở nguồn vốn có hạn được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm đem lại hiệu quảkinh tế cao nhất

Để đạt được mục đích trên, yêu cầu cơ bản của sử dụng vốn là:

- Bảo đảm sử dụng vốn đúng phương hướng, đúng mục đích và đúng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp

- Chấp hành đúng các quy định và chế độ quản lý lưu thông tiền tệ của nhà nước

- Hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời số vốn hiện có và tình hình sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Những biện pháp cần phải áp dụng để sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế là:

Một là: Tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động hay rút ngắn số ngày lưu chuyển của hàng hoá

Đẩy mạnh bán ra, thu hút nhiều khách hàng trên cơ sở chất lượng hàng hoá tốt

và số lượng đảm bảo

Mở rộng lưu chuyển hàng hoá trên cơ sở ăng năng suất lao động, tăng cường mạng lưới bán hàng để phục vụ thuận tiện cho khách hàng

Tổ chức hợp lý, tránh ứ đọng, tồn kho thừa, hàng chậm kưu chuyển

Hai là: Tiết kiệm chi phí sử dụng hợp lý tài sản, giảm thiệt hại:

+ Tiết kiệm chi phí lưu thông

+ Mua hàng tận người sản xuất, tận nơi bán hàng

+ Sử dụng các máy móc, thiết bị phương tiện, cả về thời gian và công suất, đổi mới kỹ thuật, áp dụng kinh nghiệm tiên tiến tring việc xuất nhập, dự trữ bảo quản

+ Cho thuê các cơ sở và phương tiện thừa hoặc trong thời gian chưa sử dụng; hoặc liên doanh liên kết để sử dụng hết năng lực của tài sản cố đinh

Ba là: Tăng cường công tác quản lý tài chính:

- Hạch toán, theo dõi đầy đủ, chính xác, kịp thời tình hình thu chi của doanh nghiệp

Trang 28

- Chấp hành việc thanh toán để giảm chi phí lãi vay ngân hàng

- Quản lý chặt chẽ vốn, chống tham ô, lãng phí và giảm những thiệt hại do vi phạm hợp đồng

III HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động của mỗi doanh nghiệp, người ta thường sử dụng thước đo là hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Đây là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất Do vậy, các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu câu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với bất cứ doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và trình độ quản lý sử dụng vốn nói riêng

Thật vậy, sử dụng vốn trong kinh doanh thương mại là một khâu có tầm quan trọng, quyết định đến hiệu quả của kinh doanh Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp quản lý tài chính yếu kém, không bảo toàn được vốn,

để mất vốn, sử dụng vốn không tiết kiệm, sai mục đích, doanh thu không đủ bù đắp chi phí, tình trạng thua lỗ kéo dài thì ta có thể nói doanh nghiệp đó sử dụng vốn kém hiệu quả Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách bảo toàn, sử dụng vốn có hiệu quả và phải có biện pháp nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng vốn Đây là một vấn đề không đơn giản và không phải doanh nghiệp nào cũng làm được, nhất là trong điều kiện nền kinh tế còn chưa ổn định.Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độkhai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn, làm cho đồng vốn sinh lời tối đa, nhằn mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua các chỉ tiêu về hiệu suất, hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động, mức sinh lời và tốc độ

Trang 29

chu chuyển của vốn lưu động Nó phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Kết quả thu được càng cao sovới chi phí bỏ ra thi hiệu quả sử dụng vốn càng cao Do đó, nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn là điều kện quả trọng để doanh nghiệp phát

triển vững mạnh

Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu khách quan và nó có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và đói với nền kinh tế nói chung, đặc biệt là trong cơ chế hiện nay

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được tính an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Qua đó, các doanh nghiệp sẽ có đủ vốn và đảm bảo khả năng thanh toán, khắc phục cũng như giảm bớt những rủi ro trong kinh doanh

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ,nâng cao chất lượng sản

phẩm, đa dang hoá mẫu mã sản phẩm doanh nghiệp phải có vốn Trong điều kiện vốn của doanh nghiệp có hạn việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác như nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống của người lao động Khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm và mức sống cho người lao động cũng ngày càng được cải thiện Điều đó giúp cho năng xuất lao động ngày càng nâng cao, tạo sự phát triển cho doanh nghiệp và các ngành liên quan Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho ngân sách nhà nước

2 Nguyên tắc cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Như trên đã phân tích, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọngcho sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Do đó, cac doanh

nghiệp phải luôn tìm biện pháp để nâng cao khả năng sử dụng nguồn vốn của

Trang 30

mình Trong thực tế, các doanh nghiệp đều thực hiện nhiều biện pháp khác nhau

để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tuỳ thuộc vào từng ngành nghề, quy mô vốn cũng như uy tín của doanh nghiệp Nhưng các biện pháp này dù khác nhau song đều theo nguyên tắc nhất định, đó là sử dụng hiệu quả ‘bảo toàn phát triển vốn”.Một doanh nghiệp khó có thể tồn tại và phát triển khi mà nguồn vốn của nó lại giảm dần đi Để duy trì sản xuất kinh doanh, nguồn vốn của doanh nghiệp phải vậnđộng không ngừng kết thúc mỗi vòng chu chuyển, vốn phải được giữ nguyên giatrị Bảo toàn vốn là điều kiện trước tiên để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay Yêu cầu bảo toàn vốn là thực chất là duy trìgiá trị, sức mua, năng lực của nguồn vốn chủ sở hữu và mặc dù cơ cấu tài trợ của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay nợ khác, song mọi kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng đều phản ánh vào sự tăng giảm vốn chủ sở hữu Một dự án mà doanh nghiệp tài trợ bằng nguồn vốn vay bị thua lỗ thì những thua lỗ đó doanh nghiệp

phải chịu doanh nghiệp bằng chính nguồn vốn của mình Như vậy thua lỗ của doanh nghiệp với mọi khoản đầu tư dù được tài trợ bằng nguồn vốn nào cuối cùngcũng làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu

- Một đặc trưng cơ bản của vốn là tính giá trị về mặt thời gian Điều này vốn ứng

ra đầu tư chẳng những phải thu hồi được đủ giá trị ban đầu mà giá trị nhận được càng phải lớn giá trị ban đầu Có như vậy mới thoả mãn được giá trị của nhà đầu tư Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, chỉ có sản xuất và tái sản xuất liên tục thì doanh nghiệp mới có thể đúng vững và chiến thắng trong cạnh tranh Yều cầu phát triển vốn là điều kiện tiên quyết để khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường Thực chất của việc phát triển vốn là không ngừng làm tăng tiềm lực tài chính cho chủ sở hữu doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu phải được tăng gia tăng cả về mặt tuyệt đối lẫn tương đối Như vậy, bảo toàn và phát triển vốn là nguyên tắc của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp

Tóm lại, thực chất của việc bảo toàn vốn là giữ được giá trị thực tế hay sức mua của vốn (thể hiện bằng tiền), giữ được khả năng chuyển đổi so với các loại tiền khác tại một thời điểm nhất định Nói cách khác, bảo toàn vốn chính là bảo toàn giá trị của

Trang 31

các nguồn vốn khác Việc đánh giá khả năng bảo toàn vốn của doanh nghiệp được tính bằng cách so sánh số vốn hiện có của doanh nghiệp so với số vốn của doanh nghiệp phải bảo tồn theo ký kết giao nhận vốn hoặc theo kỳ trước.

Hệ số bảo tồn vốn = Số vốn hiện có của doanh nghiệp

Số vốn doanh nghiệp phải bảo tồn

x

Chỉ số giá và tỷ giá

tạithờiđiểm xác định do

cơ quan có thẩmquyền xác địnhNếu hệ số bằng 1, tức là doanh nghiệp phải bảo toàn được vốn, lớn hơn 1 tức là doanh nghiệp không bảo toàn được vốn mà cón phát triển được vốn Ngược lại, nếunhỏ hơn 1, tức là doanh nghiệp không bảo toàn được vốn Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải lấy thu nhập để bù Vì vậy, cần tính thêm hệ số khả năng an toàn:

Hệ số khả năng bảo toàn= Số vốn hiện có của DN + Thu nhập

Số vốn doanh nghiệp phải bảo toàn Các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn của các doanh nghiệp nhưlà:

-Thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản, theo quy định của nhà nhànước và theo thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 7/6/2009

- Thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanhnghiệp Việc mua bảo hiểm được hạch toán chi phí sản xuất, kinh doanh

-Doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí hoạt động khác các khoản dự phòng sau :

+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho : là khoản giảm giá vật tư, hàng hoá tồn kho

dự kiến sẽ xẩy ra trong kỳ kinh doanh tiếp theo

+ Dự phòng các khoản nợ phải thu hồi khó đòi : Là các khoản phải dự

kiến không được trong kỳ kinh doanh tới do khách hàng nợ không có khả năng thanh toán

+ Dự phòng giảm giá các loại chứng khoán trong hoạt động tài chính Việc lập và

sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiện hành

Trang 32

+ Dự phòng các khoản giảm giá giữa đồng Việt Nam so với đồng ngoại tệ khác+ Dùng lãi năm sau để bù lỗ cho các năm trước

+Được hạch toán một số thiệt hại vào chi phí hoặc kết quả kinh doanh theo chế độ nhà nước quy định

3 Chỉ tiêu xác định hiệu quả sử dụng vốn.

Trong nền kinh tế thị trường, mục đích duy nhất của mọi doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả nhất định, lấy hiệu quả kinh doanh làm thước đo cho mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là lợiích kinh tế đạt được sau khi đã bù đắp một khoản chi phí bỏ ra cho hoạt động kinh doanh Như vậy, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệgiữa kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh với chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó Do đó, hiệu quả kinh doanh được xác định dưới hai góc độ: Hiệu quả kinh

tế và hiệu quả xã hội

- Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực và vật lực của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình kinh doanh Hiệu quả kinh tế được so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào.

Hiệu quả kinh tế = Kết quả đầu

Chi phí đầuQua công thức trên ta thấy, hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của hai nhân tố đó là: Kết quả đầu ra và chi phí đầu vào Hiệu qủa tăng lên khi:

+ Kết quả đầu ra tăng lên và chi phí đầu vào không đổi

+ Hoặc kết quả đầu ra không đổi và chi phí đầu vào giảm xuống

+ Hoặc kết quả đầu ra và chi phí đầu vào đều tăng nhưng tốc độ tăng

của kết quả lớn hơn tốc độ tăng của chi phí

Kết quả đầu ra được xác định trên 3 chỉ tiêu:

+ Chỉ tiêu lợi nhuận ròng: là chỉ tiêu quan trọng nhất, nó là chỉ tiêu chất lượng thể hiện rõ nhất tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh mộtphần các chỉ tiêu khác như doanh thu và thu nhập Thông thường khi chỉ tiêu này tăng lên thì các chỉ tiêu khác cũng được thực hiện tương đối tốt

Trang 33

+ Chỉ tiêu doanh thu: Mang tính chất của chỉ tiêu khối lượng, phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêunày phải luôn có sự so sánh nó với các chỉ tiêu khác, đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp mới có thể nhận xét, đánh giá được chỉ tiêu doanh thu là tích cực hay là hạn chế.

+ Chỉ tiêu thu nhập: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp đạt được

Từ 3 chỉ tiêu trên ta thấy, doanh thu thực hiện lớn cũng chưa phản ánh đầy đủ hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, nó chỉ phảnánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Vì vậy, ta phải căn cứ vào lợi nhuận ròng và thu nhập của doanh nghiệp, so sánh chỉ tiêu này với khoản chi phí đầu vào để

đánh giá hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng

Chỉ tiêu chi phí đầu vào được xác định dựa trên các chỉ tiêu như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp

- Hiệu quả xã hội: là những tác động tới thực tiễn đời sống xã hội khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh

Tóm lại, đối với các quốc gia đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam thì chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cũng như chỉ tiêu hiệu quả xã hội đều quan trọng và cần thiết Trong một số trường hợp thì hiệu quả kinh tế tăng rưởng sẽ kéo theo tăng trưởng hiệu quả xã hội Tuy nhiên, điều này không phải luôn luôn đúng vì nền kinh tế thị trường luôn kèm theonhiều khuyết tật

Với quan điểm đó, mỗi doanh nghiệp cần phải đạt được hiệu quả kinh tế trên cơ

sở hiệu quả xã hội, từ đó có tác động qua lại, kích thích làm tăng hiệu quả kinh tế

4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.

Mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp kinh doanh là thu được lợi nhuận Do

đó, hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh Để so sánh, đánh giá hiệu

Trang 34

quả sử dụng vốn kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau của doanh nghiệp ta có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:

4.1 Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

Vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên việc khai thác và sử dụng các tiềm lực về vốn sẽ được đánh giá thông qua hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh một cách tổng hợp ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:

- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (số vòng quay của vốn kinh doanh)

- Hàm lượng vốn kinh doanh:

Hàm lượng vốn

Tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ

Doanh thu thuần trong kỳChỉ tiêu này phản ánh, để thu được một đồng doanh thu thì doanh nghiệp cần

bỏ ra bao nhiêu đồng vốn Chỉ tiêu này ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả

- Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh:

Hệ số doanh lợi của vốn

Lãi Thuần trong kỳTổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ

Trang 35

Chỉ tiêu này cho biết, một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trong kỳ kinh doanh Chỉ tiêu này thể hiện bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh, cho biết thực trạng kinh doanh lỗ, lãi của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh:

Lợi nhuận trước thuế = Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh

Tổng vốn kinh doanh sử dụng

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh:

Tỷ suất lợi nhuận

vốn kinh doanh =

Lợi nhuận trước thuế

x100%Tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn kinh doanh tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này cho biết trước khi doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh lỗ, lãi của doanh nghiệp

Tóm lại, các chỉ tiêu tổng quát trên đã phần nào cho ta thấy tình hình chung hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chưa phản ánh được nét riêng biệt về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của từng bộ phận vốn Do đó, để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh chúng ta cần xem xét tới các chỉ tiêu cá biệt, đó là toàn bộ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp

4.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động ( số vòng quay vốn lưu động)

Số vòng quay vốn lưu động = Vốn lưu động sử dụng bình quânDoanh thu thuần trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động doanh nghiệp sử dụng

vào hoạt động kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần

Hay nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích vốn lưu động càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao

- Thời gian một vòng luân chuyển:

Trang 36

Thời gian của vòng luân chuyển = Thời gian một phân kỳSố vòng quay vốn

Chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một lần luân chuyển Ngược lại với số vòng quay vốn lưu động, chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện vốn lưu động được luân chuyển nhanh, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao

- Hàm lượng vốn lưu động:

Hàm lượng vốn lưu động = VLĐ sử dụng bình quân trong kỳDoanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết để thu được một đồng doanh thu thuần thì số vốn lưu động mà doanh nghiệp phải bỏ ra là bao nhiêu Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao

- Tỷ lệ sinh lời của VLĐ:

Tỷ lệ sinh lời của VLĐ = Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳLợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả Do đó, chỉ tiêu này càng cao càng tốt

4.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

- Hiệu suất sử dụng vốn cố định ( Số vòng quay vốn cố định)

Số vòng quay vốn cố định = Vốn cố định sử dụng bình quânDoanh thu thuần trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết, một đồng vốn cố định đầu tư vào việc mua sắm và sử dụng tài sản cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao

Trang 37

- Hàm lượng vốn cố định:

Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được một đồng doanh thu thuần trong

kỳ thì doanh nghiệp cần sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định Chỉ tiêu này

ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định Vì vậy, chỉ tiêu này

càng nhỏ càng thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản cố định càng cao

Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:

Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn cố định đầu tư cho việc mua sắm và sử dụng tài sản cố định sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này càng caochứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp rất tốt

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là mối quan hệ giữa doanh thu, lợi nhuận và vốn kinh doanh bỏ ra Làm sao để với một số vốn đầu tư hiện có sẽ nâng cao doanhthu và tạo ra nhiều lợi nhuận nhất ? Do đó, khi xét đến hiệu quả sử dụng vốn của

Hàm lượng vốn cố định =

VCĐ sử dụng bình quân trong

Doanh thu thuần trong

Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định =

Lợi nhuận trước

Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ

X 100%

Hiệu quả sử dụng vốn cố định =

Lãi thuần trong kỳVốn cố định sử dụngbình quân trong kỳ

Trang 38

doanh nghiệp thì một điều không thể bỏ qua đó là xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cả các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan.

1 Những nhân tố khách quan

1.1 Trạng thái phát triển kinh tế.

Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp, tới doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng tới tốc độ nào đó thì các hoạt động đầu tư được mở rộng, thị trường vốn ổn định, sức mua của thị trường lớn Điều đó sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển với nhịp đọ phát triển chung của nền kinh tế, do đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.Ngược lại, khi nền kinh tế có những biến động có khả năng gây ra những rủi ro trong kinh doanh hay khi nền kinh tế suy thoái thì thất nghiệp khủng hoảng, phá sản xẩy ra, khi đó doanh nghiệp khó có điều kiện phát sản xuất kinh doanh và do đó ảnh tới hiệu quả sử dụng vốn

1.2 Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của nhà nước.

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và khả năng của mình.Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trương thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm sản xuất kinh doanh theo ngành nghề mà doanh nghiệp đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng của doanh nghiệp Một số chính sách kính tế vĩ mô của nhà nước như :

- Chính sách lãi xuất : Lãi xuất tín dụng là một công cụ để điều hành lượng cung cầu tiền tệ, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi lãi xuất tăng làm chi phí vốn tăng, nếu doanh nghiệp không có cơ cấu vốn hợp lý, kinh doanh không hiệu quả thì hiệu quả sử

Trang 39

dụng vốn, nhất la với phần vốn vay giảm sút ở nước ta

cho đến nay vẫn đang thi hành chính sách lãi xuất cao , có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước : Nhà nước ổn định mức lãi cơ bản và đưa ra biên độ giao động đối với lãi xuất tiền gửi và lãi xuất cho vay Theo đó, nếu lãi xuất tiền gửi cao chứa đựng yếu tố tích cực là giúp cho việc phân phối lại thu nhập trong quảng đại quần chúng nhưng lại là việc khó khăn cho việc huy động vốn đầu tư sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Chính sách tỷ giá : Tỷ giá hối đoái vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biệu hiện cung cầu về ngoại tệ Đến lượt mình, tỷ giá lại tác động cung cầu ngoại tên, điều tiết sản xuất qua việc thúc đẩy hoặc hạn chế sản xuất hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu Mặt khác, bản thân tỷ giá hối đoái cũng tác động đến thu nhập của doanh nghiệp xuất nhập khẩu Nếu tỷ

giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ cao sẽ kích thích xuất khẩu, làm tăng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và ngược lại Do đó, khi tỷ giá thay đổi, có doanh nghiệp thu lãi nhưng cũng có doanh nghiệp thu lỗ

- Chính sách thuế : Thuế là công cụ quan trọng của nhà nước để điều tiết kinh tế vĩ mô nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng Chính sách thuế của nhà nước tác động trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì, mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho phần lợi nhuậnsau thuế nhiều hay it, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Tóm lại, sự thay đổi cơ chế quản lý và chính sách kinh tế của nhà nước đã gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả cao trong doanh nghiệp Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và kịp thời thích nghi thi sẽ đứng vững trên thị trường, cạnh tranh với các doanh nghiệp khác và có điều kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của mình

1.3 Sức mua của thị trường

Nếu sức mua của thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp lớn thì đó là một thuận lợi lớn đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản

Trang 40

xuất, tăng khối lượng sản phẩm sản xuất, từ đó tăng doanh thu, tăng lợi nhuận Ngược lại, nếu sức mua của thị trường giảm thì sẽ làm cho doanh nghiệp phải bán sản phẩm với giá rẻ để tiêu thụ với hết khối lượng

hàng hoá sản xuất ra Từ đó , làm giảm doanh thu, giảm lợi nhuận hoặc doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ Khi đó, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ giảm xuống

1.4 Thị trường tài chính:

Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống tài chính trung gian cũng là nhân tố đáng kể tác động đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hoạt động tài chính nói riêng Một thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tài chính trung gian phát triển đầy đủ, đa dạng sẽ tạo cho doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốnvới chi phí rẻ, đồng thời doanh nghiệp có thể đa dạng hoá các hình thức đầu tư

và có được cơ cấu vốn hợp lý mang lại hiệu quả cao nhất trong sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.5 Mức độ lạm phát

Nếu lạm phát phi mã và siêu lạm phát xâỷ ra thì sẽ ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Khi sẩy ra lạm phát này thì sản xuất bị thu hẹp vì lợi nhuận của các doanh nghiệp bị giảm thấp do giá cả nguyên vật liệu tăng lên liên tục Nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của các loại tài sản thì

sẽ làm cho vốn của doanh nghiệp sẽ bị mất dần, theo

mức độ trượt giá của tiền tệ Tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp

1.6 Rủi ro bất thường trong kinh doanh.

Rủi ro được hiểu là các yếu tố không may sẩy ra mà con người không thể lường trước được

Rủi ro luôn đi liền với hoạt động kinh doanh, trong kinh doanh thì có nhiều loại rủi ro khác nhau như : Rủi ro tài chính(rủi ro do sử dụng nợ vay), rủi ro trong quá trình sử dụng tài sản, vận chuyển hàng hoá (mất mát, thiếu hụt ,hỏng hóc ) điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp mất vố, mất uy tín, mất bạn hàng trong kinhdoanh, từ đó nó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh, làm giảm hiệu quả

Ngày đăng: 30/05/2015, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Samuelson. Kinh tế học (Tập I), NXB giáo dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học (Tập I)
Tác giả: Samuelson
Nhà XB: NXB giáo dục - Hà Nội
11. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp: Số 8/1998 , số 9 /1998, số 2/2009, số 10/2001, số 12/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính doanh nghiệp
Năm: 1998, 2001, 2009
13. Các tài liệu do đơn vị thực tập cung cấp.- Báo tài chính từ năm 2009 -2012.- Phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo tài chính từ năm 2009 -2012
Năm: 2003
1. PGS. TS. Đặng Đình Đào - PGS.TS. Hoàng Đức Thân (2000), Giáo trình kinh tế thương mại, NXB Thống kê - Hà Nội Khác
2. PGS.TS. Đặng Đình Đào (2001), Những cơ sở pháp lý kinh doanh, NXB Thống kê - Hà Nội Khác
3. TS. Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, Phạm Long (2012), Giáo trình Quản trị Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê - Hà Nội Khác
4.TS. Nguyễn Xuân Quang - TS. Nguyễn Thừa Lộc (1998), Giáo trình Quản trị kinh doanh doanh nghiệp thương mại, NXB Thống kê - Hà Nội Khác
5. TS. Dương Đăng Chinh (2000), Lý thuyết tài chính, NXB Tài chính - Hà Nội Khác
6. Nguyễn Công Nghiệp (1992) , Bảo toàn và phát triển vốn, NXB Thống kê - Hà Nội Khác
7. Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh (2001) Khoa Kế toán, NXB Thống kê - Hà Nội/ Khác
8. C.Marx. Tư bản (Quyển I, tập II) (1992), NXB sự thật - Hà Nội Khác
9. David Begg (1992), Kinh tế học (Tập I, II) , NXB giáo dục - Hà Nội Khác
12. Thời báo Tài chính Việt Nam: Số 11/2001, số 12/2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 02: Cơ cấu lao động năm 2012. - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec
Bảng 02 Cơ cấu lao động năm 2012 (Trang 46)
Sơ đồ 02 :  Sơ đồ bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Ape - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec
Sơ đồ 02 Sơ đồ bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Ape (Trang 51)
Bảng 02: Bảng cân đối kế toán của công ty  qua hai năm 2009-2010 Mẫu sốB01-DN - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec
Bảng 02 Bảng cân đối kế toán của công ty qua hai năm 2009-2010 Mẫu sốB01-DN (Trang 56)
Bảng 03: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN QUA 2 NĂM  2009-2010 - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec
Bảng 03 BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN QUA 2 NĂM 2009-2010 (Trang 58)
Bảng 04: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN QUA 2 NĂM - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec
Bảng 04 BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN QUA 2 NĂM (Trang 62)
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Apec
Bảng t ổng hợp các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w