1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo mác lênin

22 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 236 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo mácLêninPhân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo mácLêninPhân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo mácLêninPhân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo mácLênin

Trang 1

Bài Thảo luận nhóm 8

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

Lớp học phần: 1518MNLP0211

10 thành viên

Trang 2

Nhóm 8:

78 Vi Thị Phương Oanh

79 Vũ Thị Oanh

Phạm Minh Phương

Trịnh Thị Phương

Phạm Anh Quân

Nguyễn Thị Quỳnh

Nguyễn Thị Thanh

Đỗ Thị Phương Thảo

Nguyễn Thị Thảo

Trần Thị Phương Thảo

Đề bài: Phân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền

trong chủ nghĩa tư bản theo mác-Lênin Và so sánh bản chất lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản với bản chất lợi nhuận trong xã hội chủ nghĩa

Trang 3

Mục lục

Mở Đầu 4

Phần I: Phân tích bản chất của lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin 5

1 Phân tích bản chất của lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin 5

Một số quan điểm về lợi nhuận trước Mác: 5

Quan điểm về lợi nhuận của Mác: 6

2 Phân tích bản chất lợi nhuận bình quân trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin 8

3 Phân tích bản chất lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin 10

Nguồn gốc 10

Các hình thức lợi nhuận: 12

o Lợi nhuận công nghiệp : 12

o Lợi nhuận thương nghiệp 12

o Lợi nhuận ngân hàng 13

o Tư bản cho vay và lợi tức cho vay: 14

o Địa tô 15

Phần II: So sánh bản chất lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản với bản chất lợi nhuận trong xã hội chủ nghĩa 18

Bản chất của lợi nhuận trong tư bản chủ nghĩa: 18

Bản chất của lợi nhuận trong xã hội chủ nghĩa 19

Sự giống và khác nhau giữa bản chất của lợi nhuận trong tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa 19

Giống nhau: 19

Khác nhau: 19

Kết luận 21

Trang 4

Mở Đầu

Kinh tế thị trường là nền kinh tế mở, do đó thị trường mỗi nước cần và có thể có nhiều mối quan hệ với thị trường thế giới Thị trường thế giới là lĩnh vực trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên phạm vi thế giới Nó có tác dụng thúc đẩy thị trường trong nước của các nước tham gia thị trường thế giới gắn bó chặt chẽ với nhau Ngày nay không một quốc gia nào tránh khỏi thị trường thế giới mà có thể phát triển nền kinh tế của mình

Trong nền kinh tế chủ nghĩa tư bản thì việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, gia nhập thị trường thế giới là một yếu tố tất yếu khách quan Do đó để có chính sách kinh tế đúng đắn, xây dựng được nền kinh tế thị trường phát triển đúng hướngchúng ta cần phải hiểu rõ bản chất, nguồn gốc của những yếu tố bên trong thị trường

Đó chính là lợi nhuận vậy thế nào là lợi nhuận?lợi nhuận bình quân? Lợi nhuận độc quyền?lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản và xã hội chủ nghĩa khác nhau như thếnào? và lợi nhuận đóng vai trò như thế nào trong nền kinh tế thị trường mà ta lại coi nó là chính yếu…đây chính là vấn đề của phát triển kinh tế hiên nay

Để trả lời cho những câu hỏi trên chúng em nghiên cứu đề tài: “Phân tích bản chất của lợi nhuận,lợi nhuận bình quân,lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bảntheo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và so sánh bản chất lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản với bản chất lợi nhuận trong xã hội chủ nghĩa.”

Trang 5

Phần I: Phân tích bản chất của lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

1 Phân tích bản chất của lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Một số quan điểm về lợi nhuận trước Mác:

Quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng thương:

Chủ nghĩa trọng thương ra đời trong điều kiện lịch sử là thời kì tan rã của chế độ phong kiến và thời kì tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản,khi kinh tế hàng hóa và ngoại thương đang trên đà phát triển.Mặc dù thời kì này chưa biết tới các quy luật kinh tế và còn nhiều hạn chế về tính quy luật nhưng hệ thống quan điểm học thuyết kinh tế trọng thương đã tạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho các lý luận kinh tế thị trường sau này phát triển

Những người theo chủ nghĩa trọng thương rất coi trọng thương nghiệp và cho rằng lợinhuận là do lĩnh vực lưu thông mua bán trao đổi sinh ra.Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều,mua rẻ bán đắt mà có.Theo họ không một người nào thu được lợi nhuận màkhông làm thiệt hại kẻ khác,dân tộc này làm giàu trên sự hi sinh lợi ích của dân tộc khác,trong trao đổi phải có một bên lợi,một bên thiệt

Những người theo chủ nghĩa trọng thương coi đồng tiền là đại biểu duy nhất của của cải,là tiêu chuẩn để đánh giá mọi hình thức của nghề nghiệp.Họ cho rằng khối lượng tiền đề chỉ có thể tăng bằng con đường ngoại thương thông qua chính sách xuất

siêu(xuất nhiều,nhập ít) điều này được thể hiện qua câu nói của Montchritan: “Nội thương là ống dẫn,ngoại thương là máy bơm,muốn tăng của cải phải có ngoại thươngnhập dần của cải qua nội thương”

Như vậy,quan điểm về lợi nhuận trong chủ nghĩa trọng thương chưa lí giải được nguồn gốc của lợi nhuận.Khi phê phán chủ nghĩa trọng thương,Mác đã viết: “Người

ta trao đổi hàng hóa với hàng hóa,hàng hóa với tiền tệ có cùng giá trị với hàng hóa đó,tức là trao đổi giữa các vật ngang giá,rõ rang không ai rút ra được từ bên trong lưu thông nhiều giá trị hơn số giá trị đã bỏ vào trong đó.Vậy giá trị thặng dư tuyệt nhiên không thể hình thành ra được”

Quan điểm về lợi nhuận trong chủ nghĩa trọng nông:

Cũng như chủ nghĩa trọng thương,chủ nghĩa trọng nông ra đời trong thời kỳ quá độ

từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa,nhưng ở giai đoạn kinh tế phát triển hơn.Những người theo chủ nghĩa trọng nông cho rằng lợi nhuận thương nghiệp có được chẳng qua là nhờ các khoản tiết kiệm chi phí thương mại,họ cho rằng thương mại chỉ đơn thuần là trao đổi ngang giá trị này lấy giá trị khác vì vậy mà không bên nào có lợi.Thương nghiệp không sinh ra của cải,trao đổi không làm cho tài sản tăng lên vì tài sản được tạo ra trong quá trình sản xuất còn trong trao đổi chỉ đơn thuần là trao đổi giá trị mà thôi.Vì vậy,chủ nghĩa trọng nông cho rằng giá trị thặng dư hay sản phẩm thuần túy là quà tặng vật chất của thiên nhiên và nông nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm thuần túy.Như vậy,chủ nghĩa trọng nông đã chỉ ra được là trao đổi không sinh ra của cải

Trang 6

Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh

Do sự phát triển của sản xuất và tính chuyên môn hóa ngày càng cao thì quan điểmvề lợi nhuận trong chủ nghĩa trọng thương và trọng nông ngày càng tỏ rõ tính chất khiến nó không đáp ứng đủ nhu cầu mới đặt ra.Do vậy,đòi hỏi phải có những học thuyết mới phù hợp hơn vì vậy kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh ra đời.Một số đại biểu của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh:

Wiliam Petty (1623-1687):là nhà kinh tế học người Anh được Mác đánh giá là

cha đẻ của kinh tế học cổ điển,ông đã tìm thấy phạm trù đia tô mà chủ nghãi trọng thương đã bỏ qua,ông cho rằng,địa tô là số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất(tiền lương,tiền giống…),còn về vấn đề lợi tức,ông coi

nó cũng như tiền thuê ruộng đất

Adam Smith(1723-1790):Ông là người đầu tiên tuyên bố rằng: “Lao động là

nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư”.Theo ông,lwoij nhuận là “ khoản khấu trừ thứ 2” vào sản phẩm lao động.Theo cách giải thích này của ông thì lợi

nhuận,địa tô,lợi tức chỉ là hình thức khác nhau của giá trị do công nhân tạo ra ngoài tiền lương.Và cũng chính ông đã khẳng định rằng “giá trị hàng hóa bao gồm:tiền công+lợi nhuận+địa tô”

Davit Ricardo (1772-1823):ông cho rằng “lợi nhuận là số tiền còn lại ngoài

tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân”.Ông đã thấy được xu thế hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận,ông giải thích nguyên nhân của sự giảm sút này nằm trong sự vận động biến đổi giữa 3 giai cấp:địa chủ,công nhân,nhà tư

bản.Ông cho rằng quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm làm cho tiền lương công nhân và địa tô tăng lên,còn lợi nhuận không tăng.Theo ông,địa chủ là người có lợi,công nhân cũng không có lợi cũng không bị thiệt,chỉ có nhà tư bản là bị hại vì tỷ suất lwoij nhuận giảm xuống.Hạn chế của ông là chưa phân biệt được giá trị thặng dư tuy nhiên ông vẫn khẳng định rằng: “giá trị do công nhân tạo ra lớn hơn tiền công mà họ nhận được và đó cũng là nguồn gốc sinh ra tiền lương, lợi nhuận,và địa tô

 Quan điểm về lợi nhuận của Mác:

Giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có

khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hóa( giả định: giá cả = giá trị), nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra, mà còn thu về được một số tiền lời ngang bằng với m Số tiền này được gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p.

Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con

đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức biến tướng là lợi nhuận

Giá trị của hàng hóa sản xuất trong xã hội TBCN bao gồm 3 bộ phận : giá trị của tư bản bất biến (c), giá trị tư bản khả biến (v), giá trị thặng dư (m) Lượng giá trị của hàng hóa là do số người lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa quyết định

Trang 7

Nhưng nhà tư bản không hao phí lao động bản thân vào sản xuất hàng hóa, mà chỉ bỏ

tư bản vào đó thôi

Chi phí tư bản chủ nghĩa để sản xuất hàng hóa, sồm có những chi phí về tư bản bất biến và tư bản khả biến (c+v), tức là những chi phí về tư liệu sản xuất và tiền lương công nhân Đối với nhà tư bản, hàng hóa đáng giá bao nhiêu là tính theo tư bản đã chi phí, đối với xã hội, hàng hóa đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã hao phí Bởi vậy những chi phí tư bản chủ nghĩa sản xuất hàng hóa thấp hơn giá trị sản xuất thực tế(c+v+m) Chỗ chênh lệch giữa giá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất

tư bản chủ nghĩa, là giá trị thặng dư (m) mà nhà tư bản chiếm không

Khi nhà tư bản hàng hóa do xí nghiệp của mình sản xuất ra, thì giá trị thặng dư biểu hiện thành một số thừa ngoài chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa Khi xác định mức thu nhập của xí nghiệp, nhà tư bản so sánh số thừa đó với số tư bản đã ứng trước tức là tổng tư bản đã bỏ vào sản xuất Giá trị thặng dư, khi so sánh với tổng tư bản, thì biểu hiện thành hình thức lợi nhuận Vì giá trị thặng dư bị đem sao sánh không phải với tư bản khả biến mà với toàn bộ tư bản cho nên chỗ khác nhau giữa tư bản bất biến dùng vào việc mua tư liệu sản xuất và tư bản khả biến dùng vào việc mua sức lao động bị xóa mờ đi Do đó mà sinh ra cái vẻ bề ngoài giả dối khiến cho người ta lầm tưởng rằng: lợi nhuận là do tư bản đẻ ra Nhưng sự thật thì nguồn gốc của lợi nhuận là giá trịthặng dư, và giá trị thặng dư chỉ là do lao động của công nhân sáng tạo ra trong quá trình sử dụng lao động, mà giá trị của nó thể hiện ở tư bản khả biến Lợi nhuận là giá trị thặng dư so sánh với số tư bản đã bỏ vào sản xuất; nhìn bề ngoài giá trị thặng dư có

vẻ như là kết quả của số tư bản ấy Vì vậy Mác gọi lợi nhuận là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư Và vì vậy, hình thức lợi nhuận đã che giấu quan hệ bóc lột bằng cách tạo ra quan niệm sai lầm rằng: lợi nhuận là do chính bản thân tư bản đẻ ra Chínhcác hình thức của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm lu mờ và che giấu thực chất bóc lột của nó

Nếu ký hiệu lời nhuận là p thì công thức:

W = c + v + m = k + m bây giờ sẽ chuyển thành: W = k + pTuy nhiên giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư không phải là hiện tượng đồng nhất,giữa chúng có điểm giống và khác nhau:

Giống nhau: Cả lợi nhuận và giá trị thặng dư đều có chung một nguồn gốc là

kết quả lao động không công của công nhân

Khác nhau:

Phạm trù giá trị thặng dư phản ánh đúng nguồn gốc và bản chất của nó là kết quảcủa sự chiếm đoạt lao động không công của công nhân

Phạm trù lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hóa của giá trị thặng

dư Nó phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản và lao động làm thuê,vì nó đã làm cho người ta hiểu lầm rằng giá trị thặng dư không phải do lao động tạo ra

Nguyên nhân của hiện tượng đó là:

Trang 8

Một là: Sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xóa nhòa sự khác

nhau giữa c và v, nên việc p sinh ra trong quá trình sản xuất nhờ bộ phận v đượcthay thế bằng k, bây giờ p được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước

Hai là: Do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực

tế, cho nên nhà tư bản chỉ cần bán hàng hóa cao hơn chi phí sản xuất tư bản chủnghĩa và có thể thấp hơn giá trị sản xuất hàng hóa là đã có lợi nhuận

 Nếu nhà tư bản bán hàng với giá cao hơn giá trị thì m<p

 Nếu nhà tư bản bán hàng với giá thấp hơn giá trị thì m>p

 Nếu nhà tư bản bán hàng với giá bằng giá trị thì m = p

Chính sự không nhất trí giữa m và p che dấu thực chất bóc lột của chủ

nghĩa tư bản Đồng thời nó tạo ra ảo giác rằng lợi nhuận là do llưu thông tạo

ra do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có

Vậy phạm trù lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư.C.Mác viết: “giá trị thặng dư hay, là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng được trả công chứa đựng trong hàng hoá.”

2 Phân tích bản chất lợi nhuận bình quân trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn

Biện pháp cạnh tranh: tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (c và v) vào các ngành sản xuất khác nhau

Kết quả cuộc cạnh tranh này là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, và giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất

Chúng ta đều biết, ở các ngành sản xuất có những điều kiện tự nhiên, kinh tế,

kỹ thuật và tổ chức quản lý khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau

Giả sử có ba ngành sản xuất khác nhau, tư bản của mỗi ngành đều bằng 100, tỷ suất giá trị thặng dư đều bằng 100%, tốc độ chu chuyển của tư bản ở các ngành đều như nhau Nhưng do cấu tạo hữu cơ của tư bản ở từng ngành khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau

Ví dụ:

Ngànhsản xuất Chi phísản xuất m' (%) Khối lượng(m) P' (%)

Trang 9

di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, làm cho ngành có cung (hàng hoá)lớn hơn cầu (hàng hoá) thì giá cả giảm xuống, còn ngành có cầu (hàng hoá) lớn hơn cung (hàng hoá) thì giá cả tăng lên Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi cả tỷ suất lợi nhuận cá biệt vốn có của các ngành Sự

tự do di chuyển tư bản này chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận ở tất cả các ngànhđều xấp xỉ bằng nhau Kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ số tính theo % giữa tổng giá trị thặng dư và tổng

số tư bản xã hội đã đầu tư vào các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ký hiệu là

Nếu ký hiệu p' là tỷ suất lợi nhuận bình quân thì:

Theo ví dụ trên thì:

C.Mác viết: Những tỷ suất lợi nhuận hình thành trong những ngành sản xuất khác nhau, lúc đầu rất khác nhau Do ảnh hưởng của cạnh tranh, những tỷ suấtlợi nhuận khác nhau đó san bằng thành tỷ số lợi nhuận chung, đó là con số trung bình của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau

Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì số lợi nhuận của các ngành sản xuất đều tính theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và do đó nếu có số tư bản bằng

Trang 10

nhau, dù đầu tư vào ngành nào cũng đều thu được lợi nhuận bằng nhau, gọi là lợi nhuận bình quân.

Vậy, lợi nhuận bình quân là số lợi nhuận bằng nhau của những tư bản bằng nhau, dù đầu tư vào những ngành khác nhau, ký hiệu là

p = p' x kTheo ví dụ trên thì: = 30% x 100 = 30

Sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận chỉ được thực hiện khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến một trình độ nhất định

Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã che giấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh vẫn tiếp diễn

3 Phân tích bản chất lợi nhuận độc quyền trong chủ nghĩa tư bản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Nguồn gốc

Lợi nhuận độc quyền Do tư bản độc quyền, nhất là tư bản tài chính, giữ vị trí thống trị trong sản xuất và lưu thông nên nó có th ể không chỉ sử dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất vốn là những phạm trù kinh tế quen thuộc trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh mà nó sử dụng phương pháp cưỡng bức siêu kinh tế để thu lợi nhuận cao lợi nhuận đ ộc quyền Nó bao gồm lợi nhuận bìnhquân cộng với lợi nhuận siêu ngạch độc quyền, chủ yếu do địa vị thống trị của độc quyền thu được Nguồn gốc và cơ cấu của lợi nhuận độc quyền là giá trị thặng dư của công nhân làm việc trong các tổ chức độc quyền, do người sản xuất hàng hóa nhỏ, do xuất khẩu tư bản, do sản xuất hàng hoá cho các nước, do lợi dụng việc quân sự hoá nền kinh tế

.- Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc trưng kinh tế cơ bản của CN đế quốc:

+ Khi bắt đầu chuyển sang CNTB- ĐQ thì hình thức thống trị là công ty cổ phần Những liên minh độc quyền này đầu tiên hình thành theo sự liên kết ngang ( cùng ngành) dưới hình thức: Cácten, Xanhđica, Trớt

+ Sau đó là sự liên kết dọc Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các Xanhđica, Trớt thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan với

Trang 11

nhau về kinh tế - kỹ thuật dẫn đến hình thành các công ty độc quyền lớn như: Côngxoocxiom.

Nhưng từ giữa thế kỷ 20 đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành hình thành các công ty lớn như: Cônglômêrát, Consơn thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau

Khái niệm: Tổ chức độc quyền là liên minh những nhà TB lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó

- Vị trí, vai trò: Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền

+ Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất:

* Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa bán ra

* Họ định ra giá cả độc quyền thấp hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mua vào, qua đó thu được lợi nhuận độc quyền

Vậy giá cả độc quyền là: Giá cả độc quyền = chi phí sản xuất + P độc quyền.

Nhưng giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư, vì xét trên phạm vi toàn xã hội thì: Tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị; tổng số lợi nhuận vẫn bằng tổng số giá trị thặng dư

Do đó những gì mà độc quyền thu được cũng là cái mà tầng lớp tư sản vừa vànhỏ, nhân dân lao động ở các nước TB, thuộc địa mất đi

Như vậy ta thấy: Độc quyền ra đời từ cạnh tranh và giữ vai trò thống trị, nhưng nó không thủ tiêu được cạnh tranh; độc quyền và cạnh tranh tồn tại song song và thống nhất với nhau một cách biện chứng Tuy nhiên trong thời đại Đế quốc chủ nghĩa thì tính chất cạnh tranh khác hẳn thời kỳ tự do cạnh tranh về mức độ và hình thức

Các hình thức lợi nhuận:

Như ta đã biết giá trị thặng dư và lợi nhuận không đồng nhất, nhưng giữa

chúng cùng có chung nguồn gốc là từ lao động thặng dư Người tạo ra giá trị thặng

dư là công nhân và người tìm ra giá trị thặng dư lại là các nhà tư bản Gía trị thặng

dư rất rõ ràng nhưng nó được che đậy bởi lợi nhuận và nó tồn tại trong xã hội tư bản bởi các hình thái sau:

o Lợi nhuận công nghiệp :

Là phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp và bị

nhà tư bản chiếm không Thời gian lao động trong ngày của công nhân chia làm 2 phần : một phần thời gian lao động trong ngày của công nhân tạo ra một lượng giá

Ngày đăng: 30/05/2015, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w