100 năm thử thách trong dư luận Chí Phèo vẫn tồn tại, chất “Chí Phèo” vẫn còn có nghĩa là tính thời sự của trang văn Nam Cao vẫn còn.Có lẽ, không một ai không biết đến Chí Phèo, không bi
Trang 11.Lý do chọn đề tài
Khi chọn đề tài viết về Nam Cao chúng tôi biết sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi vì Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của thế kỉ XX, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu viết về ông Nhưng chúng tôi vẫn muốn một lần nữa được tìm hiểu về Nam Cao, tìm hiểu về các tác phẩm mà nó còn nguyên giá trị đến tận ngày nay Năm 2015 cũng chính là năm kỉ niệm 100 năm ngày sinh Nam Cao, 100 năm chính
là giá trị làm nên tiếng nói của Nam Cao trong nền văn học Việt Nam 100 năm qua đi, người ta vẫn nhớ, vẫn nhắc đến Nam Cao có nghĩa là những trang viết của ông vẫn còn nguyên giá trị hiện thực cho đến ngày nay 100 năm thử thách trong
dư luận Chí Phèo vẫn tồn tại, chất “Chí Phèo” vẫn còn có nghĩa là tính thời sự của trang văn Nam Cao vẫn còn.Có lẽ, không một ai không biết đến Chí Phèo, không biết đến Bá Kiến, những con người ấy không chỉ tồn tại trên các trang viết của Nam cao mà đó chính là những nguyên mẫu ngoài đời Sau cách mạng, người ta vẫn cứ nghĩ rằng, Chí Phèo đã chết, nhưng hoàn toàn không phải vậy, hắn vẫn khật khưỡng bước từ trang văn của Nam Cao ra đời thực Cái làng quê Việt Nam hiện đại đâu thiếu những tên Chí Phèo, đâu vắng bóng những Bá Kiến Không chỉ có vậy, những phong tục ở làng quê vẫn còn đó, những đám cưới, ma chay rồi những thói quen sinh hoạt Nếp sống từ bao đời nay vẫn hiện hữu
Với góc độ là một giáo viên đang giảng dạy chương trình trung học phổ thông, tôi
đã nhận thấy sự hứng thú của học sinh khi học tác phẩm của Nam Cao Dưới thực trạng học ngữ văn hiện nay trong trường THPT, tôi thấy ấm lòng hơn khi bắt gặp hình ảnh các em chú ý nghe tôi giảng về Chí Phèo, về tình yêu giữa Thị Nở và Chí
Phèo để rồi cũng xót xa khi thấy các em thốt lên rằng “ làng em vẫn có Chí Phèo cô ạ” Bản thân tôi cũng là một độc giả yêu mến những trang văn của Nam Cao, có
ấn tượng với văn ông ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường cấp 2 với hình ảnh người nông dân Lão Hạc, tất cả đã in sâu trong tâm trí tôi
Một yếu tố thuộc về phía cá nhân tôi khi chọn Nam Cao để nghiên cứu khi tôi và ông là những con người cùng chung quê hương Sinh ra và lớn lên ở Hà Nam, một mảnh đất đồng chiêm trũng, quanh năm ngập úng, tôi hiểu được cái đói cái nghèo của con người quê tôi, cái cuộc sống quẩn quanh lam lũ Nhắc đến Hà Nam có lẽ điều khiến người ta nhớ nhất chính là Nam Cao, tôi tự hào, tôi hãnh diện vì điều đó
Chọn “Nông thôn và người nông dân Việt Nam trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945” làm đề tài nghiên cứu,chúng tôi mong muốn đem đến một cái nhìn
Trang 2hệ thống và toàn diện về con người và sự nghiệp của Nam Cao trên cơ sở đó khẳng định vị trí và đóng góp của ông trong nền văn học hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi cái tên Nam Cao xuất hiện, nó đã trở thành một hiện tượng
trên văn đàn Và cũng từ đó, có rất nhiều bài nghiên cứu về Nam Cao được đăng
tải trên các báo, sau đó được tập hợp trong tuyển tập “Nam Cao tác giả và tác phẩm” Bên cạnh việc khẳng định những thành tựu mà Nam Cao đã đóng góp cho
nền văn học Việt Nam, ông còn được đánh giá là cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Năm 1996, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Phải nói rằng, cái tên Nam Cao chưa bao giờ là “nguội” với các chuyên gia nghiên cứu văn học Rất nhiều công trình nghiên cứu về văn chương, về cuộc đời ông Rất nhiều các nhà phê bình danh tiếng đã tìm đến các sáng tác của ông,trong
đó phải nói đến những nhà nghiên cứu hàng đầu như GS Hà Minh Đức, GS Phong
Lê, GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS Phan Cự Đệ…
Sinh ra ở một làng quê điển hình thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy không gắn bó nhiều nhưng dường như chất “quê” ấy đã ngấm sau vào từng trang viết của Nam Cao Ông có cái nhìn, cái cảm sâu sắc về con người, về làng quê Việt Nam
mà điển hình là cái làng Đại Hoàng quê ông Theo GS Hà Minh Đức “Không sống ở làng lâu,chỉ trong một vài năm nhưng Nam Cao đã thấu hiểu làng quê mình yêu mến của mình từ số phận người nông dân cho đến truyền thuyết, giai thoại,phong
tuc, tập quán của làng quê” [Tr 257] Không chỉ vậy, chính cái chất “quê” ấy, cái
hồn “quê” ấy đã giúp Nam Cao có thể hiểu về tâm lý những người nông dân,đó là cái tâm trạng của những con người dường như đang bất lực trước cuộc sống
“Người nông dân trong tác phẩm của Nam Cao bộc lộ nhiều trạng thái tâm lý u
uất Tâm trạng như bị nén lại trong câm lặng” [Tr 407]
Với ngòi bút nhạy bén của mình, GS Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định
“Mỗi tác phẩm ông viết về người nông dân là một bài thơ trữ tình đầy xót thương đối với số phận bi thảm của nhứng người dân nghèo sau lũy tre xanh ngày trước”
[Tr 316]
Sẽ là thiếu xót nếu không nói đến những đặc sắc trong truyện ngắn Nam Cao, đây chính là một yếu tố góp phần tạo nên phong cách riêng cho những trang
viết của ông GS Phong Lê có nhận xét “Ở văn Nam Cao gần như có đủ các chất
Trang 3liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lý và trữ tình, nghịch dị và nhàm
tẻ,thô nhám và chất thơ” [Tr 113] Không chỉ có đề tài trong truyện ngắn của Nam
Cao mới có tính thời sự, mới có sức sống đến ngày nay mà ngay cả trong ngôn ngữ
truyện ngắn của ông cũng vậy “Cho đến nay, sau hơn nửa thế kỉ, bất chấp mọi
biến động xã hội,ngôn ngữ Nam Cao vẫn cập được cái bến bờ thời sự” [Tr 113]
Mỗi truyện ngắn của Nam Cao ra đời đều gây được sự chú ý cho độc giả
và các nhà phê bình Các công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nam Cao đã khẳng định và đánh giá cao tài năng cũng như những đóng góp của ông với nền văn học Việt Nam hiện đại
Mặc dù đã có rất nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu về Nam
Cao nhưng chúng tôi vẫn chọn đề tài “Nông dân thôn và người nông dân Việt Nam trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945” để một lần nữa chỉ ra những nét
đặc sắc và tiêu biểu trong truyện ngắn Nam Cao, từ đó lý giải được sức sống Nam Cao trong lòng độc giả cũng như các nhà nghiên cứu Đồng thời một lần nữa khẳng định Nam Cao là một nhà văn xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực cuối thể kỉ XX
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu “Nông dân thôn và người nông dân Việt Nam trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945” luận văn chủ yếu tập trung khảo sát trong các truyện ngắn
viết về đề tài người nông dân của Nam Cao
4 Mục đích nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu những thành tựu trong sáng tác của Nam Cao với thể loại truyện ngắn Đặc biệt đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống hơn về hình tượng người nông dân và làng quê Việt Nam tiền cách mạng
Từ đó để thấy được những tư duy, những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nam Cao góp phần làm sáng rõ sức sống của văn chương ông Trên cơ sở đó, chúng tôi
hi vọng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao, khẳng định những giá trị đích thực, những cống hiến to lớn của ông cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận hệ thống
Phương pháp thống kê, khảo sát
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được triển khai gồm 3 chương
Chương 1: Con người và các chặng đường sáng tác của Nam Cao
1.1 Tiểu sử và con người
1.1.1 Tiểu sử
-Nam Cao (1915 – 1951) là bút danh của nhà văn - nhà báo - liệt sĩ Trần Hữu Tri Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, nay thuộc Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam (cách thành phố Nam Định chừng hơn 10 km) Học xong thành chung, Nam Cao bôn ba nhiều nơi, nhưng bệnh tật đẩy ông về quê Từ đó, Nam Cao sống chật vật bằng nghề dạy học và viết văn Năm 1943 , ông vào Hội Văn hoá cứu quốc Tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, ông được cử làm chủ tịch xã
- Sau Cách mạng, với tư cách phóng viên - Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến, rồi lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ Cuối tháng 11 năm
1951, trên đường đi công tác vào vùng địch tạm chiếm, Nam Cao anh dũng hi sinh tại làng Vũ Đại, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, khi tài năng đang nở rộ; gần đây (1998), mộ phần của ông đã được đưa về quê hương
- Là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1940 - 1945), là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới, Nam Cao được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1,1996)
1.1.2 Con người
- Bề ngoài Nam Cao ít nói, lạnh lùng Nhưng phía sau khuôn mặt lạnh lùng ấy lại là một con người sôi nổi
- Nam Cao sống ân tình với người nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt Ông cho rằng: không có tình thương thì không xứng đáng được gọi là Người
- Ông luôn luôn trăn trở, suy tư về bản thân và cuộc sống Vì thế, từ những chuyện nhỏ nhặt, thường ngày, Nam Cao nêu được nhiều vấn đề xã hội lớn lao, nhiều bài học triết lý sâu sắc
Trang 51.1.3 Ảnh hưởng từ yếu tố quê hương, gia đình đến các sáng tác của Nam Cao
- Hà Nam, quê hương của Nam Cao là một vùng đồng chiêm trũng, quanh năm phải chịu cảnh lũ lụt, mất mùa, đói kém quanh năm Cũng có lẽ vì vậy mà cái đói cứ trở đi trở lại đầy ám ảnh trong những trang viết của ông
- Nam Cao sinh trưởng trong một gia đình trung nông, có mẹ làm ruộng và dệt vải vì vậy mà các sáng tác của ông về đề tài người nông dân chiếm số lượng khá lớn Vì xuất thân trong một gia đình nhà nông nên ông thấu hiểu được những đói nghèo cơ cực mà những người nông dân phải chịu, trong số đó có gia đình ông, có vợ con ông Bởi vậy mà trong những sáng tác của ông hình ảnh người nông dân hiện lên hết sức chân thực
1.2 Sự nghiệp văn học
1.2.1 Các đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng
Trước 1945, tài năng Nam Cao kết tinh trong gần 60 truyện ngắn, một truyện vừa (Chuyện người hàng xóm), và tiểu thuyết Sống mòn Tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh hai đề tài: người tri thức nghèo và nông dân bần cùng.
1.2.2 Quan điểm nghệ thuật
- Nam Cao quan niệm “nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối” Với quan
niệm “chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội”, văn chương sẽ không có giá trị, ông nghĩ: viết thì “rất cần sự thực” Từ những việc nhỏ nhoi, xoàng xĩnh, người sáng tác phải nêu được những vấn đề có ý nghĩa xã hội
- Tác phẩm văn học có giá trị phải thể hiện nội dung nhân đạo sâu sắc, “chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng… Nó làm cho người gần người hơn” Nam Cao khuyên nhà văn tạm thời hi sinh nghệ thuật đề giữ lối sống
nhân đạo
- Hơn ai hết, Nam Cao coi nghề văn là nghề sáng tạo, nhà văn là nhà sáng tạo Đành rằng, làm nghề gì cũng phải sáng tạo, nhưng yêu cầu này đối với các tác gia nghệ thuật khắt khe hơn nhiều
Chương 2: Số phận người nông dân và tình cảnh nông thôn Việt Nam trước cách mạng, các trạng thái của cái đói và hệ quả
2.1 Nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám dưới cái nhìn của Nam Cao 2.1.1 Quang cảnh làng quê xưa
Thoát ra khỏi hình ảnh làng quê trong văn học lãng mạn của Tự lực văn
đoàn,dưới con mắt của Nam Cao, hình ảnh nông thôn xưa hiện lên một cách chân thực và sinh động Không còn hình ảnh một vùng quê bình bình, thơ mộng và đẹp
Trang 6đến nao lòng không còn hình ảnh “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” mà thay vào đó là hình ảnh cả một vùng quê nghèo xơ xác,
ảm đạm
2.1.2 Thói quen sinh hoạt, phong tục tập quán
Gắn liền với hình ảnh làng quê là những nề nếp, những thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức, ăn sâu vào máu thịt những con người nơi đây Đó là những phong tục ma chay, cưới hỏi, là lối sống là suy nghĩ …được tái hiện lại trên trang viết của Nam Cao
2.2 Số phận người nông dân trước Cách mạng
2.2.1 Các trạng thái của cái đói
Trước Cách mạng, vấn đề nóng bỏng nhất đó chính là nạn đói Ta bắt gặp những con người sống lay lắt, sống vật vờ trên những trang viết của ông Có
những người vì miếng ăn mà quên cả tình cha con, cũng có những người vì đói mà phải chết một cái chết ngược đời: chết no Thế rồi, cũng vì cái đói mà vợ chồng cãi nhau, mà tính nết con người ta dường như đổi khác
2.2.2 Hệ quả
Chính nạn đói ấy đã tạo ra vô vàn những con người với nhiều bộ mặt khác nhau Có những kẻ dị dạng, có những kẻ mất nhân tính… Những con người hiền lành chất phác bị bần cùng hóa, bị tha hóa mà trở thành những con quỷ, mà bị tách rời khỏi đồng loại
2.3 Tính thời sự - sức sống truyện ngắn Nam Cao
Cách mạng tháng Tám thành công, người ta tin tưởng rằng mọi tàn dư của xã hội cũ sẽ không còn Nhưng thực tế cho thấy những thói quen sinh hoạt, những nếp nghĩ, những phong tục tập quán thậm chí là những hủ tục từ bao đời vẫn còn tồn tại
Thế kỉ XXI, thế kỉ của sự phát triển không ngừng về mọi lĩnh vực nhưng kéo theo đó là những thói xấu mà nó mang lại Con người trở nên hung hãn hơn, tính
“Chí Phèo” đâu chỉ có ở làng Vũ Đại, đâu chỉ có trước Cách mạng, ngày nay nó xuất
hiện ngày càng nhiều hơn Chỉ chừng ấy thôi, đủ để thấy rằng, những vấn đề mà Nam Cao đặt ra cách đây cả thế kỉ vẫn nguyên giá trị, vẫn có tính thời sự Đây là một yếu tố góp phần làm nên sức sống Nam Cao
Chương 3: Nam Cao và cái nhìn đồng cảm
3.1 Giá trị nhân đạo, biểu hiện
- Giá trị nhân đạo chính là quan tâm đến con người
- Giá trị nhân đạo được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn trước nỗi đau, trước những cảnh ngộ éo le của con người
Trang 7- Đó chính là sự trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, những giá trị khuất lấp của con người
3.2 Nam Cao – cái nhìn đồng cảm
- Người nông dân trong sáng tác của Nam Cao mỗi người có một hoàn cảnh, một
số phận riêng, nhưng tựu chung lại trong họ đều là những số phận bất hạnh, những nghịch cảnh éo le Ông không lên án những con người vì miếng ăn mà bị biến chất,những người làm cha nhưng vô trách nhiệm Thay vào đó là sự cảm thông Là cái nhìn xót xa trước những số phận con người đang bị tha hóa bởi xã hội
- Ông lên án, tố cáo xã hội chà đạp lên con người, một xã hội không có tình người
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phong Lê (2014) Nam Cao sự nghiệp và chân dung , Nxb Thông tin và
truyền thông
2. Bích Thu (biên soạn 1998) Nam Cao về tác gia và tác phẩm , Nxb Giáo
dục
3. Hà Minh Đức (1997) Nam Cao đời văn và tác phẩm , Nxb văn học
4. Nguyễn Văn Hạnh (1993) Nam Cao – Một đời người, một đời văn , Nxb
Giáo dục
5. Đỗ Kim Hồi (1990) Chí Phèo của Nam Cao , Tạp chí văn học
6. Phong Lê (1997) Nam Cao Phác thảo sự nghiệp và chân dung , Nxb
Khoa học xã hội
7. Phong Lê (1987) Cấu trúc và ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao , Tạp chí
văn nghệ quân đội
8. Phan Diễm Phương (1992) Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn của Nam Cao , Tạp chí văn học
9. Vũ Dương Quý (1991) Tìm thêm lời giải đáp cho một câu hỏi của Chí Phèo , báo Văn nghệ
10. Hà Minh Đức (1961) Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc , Nxb Văn hóa
11. Huệ Chi – Phong Lê (1961) Con người và cuộc sống trong tác phẩm của Nam Cao , tạp chí Nghiên cứu văn học
12. Phong Lê (1998) Văn học trên hành trình của thế kỉ XX , Nxb Đại học
quốc gia
13. Nguyễn Đăng Mạnh (1996) Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn , Nxb Giáo dục
14. Hà Bình Trị (1996) Nam Cao Nghĩ về nghề văn , Tạp chí Văn nghệ quân
đội
Trang 815. Nguyên An (1996) Nhà văn của các em , Nxb Hội nhà văn
16. Nguyễn Đức Hạnh (1998 - 2003), Giáo trình Thi pháp, Nxb ĐH Thái
Nguyên
17. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên, 2008), Ngữ Văn 11, tập 1, Nxb.GD
18. Phương Lựu (Chủ biên, 2006), Giáo trình Lí luận văn học, Nxb.GD
19. Trần Đình Sử (Chủ biên, 2007), Giáo trình Lí luận văn học, tập II – Tác phẩm và thể loại văn học, Nxb ĐHSP.
20. Nhiều tác giả (1992) Nghĩ tiếp về Nam cao, Nxb Hội nhà văn
21. Hà Minh Đức (1988) Những cánh hoa tàn , Nxb Tác phẩm mới
22. Hà Minh Đức (1983) Nhà văn Việt Nam (1945-1975) , nxb Đại học và
trung học chuyên nghiệp
23. Tô Hoài (1991) những kỉ niệm về Nam Cao , báo Văn nghệ
24. Vương Trí Nhàn (1993) Những kiếp hoa dại, Nxb Hội Nhà văn
25. Hoàng Tiến (1991) Ngôn ngữ Nam Cao , bao Nhân dân chủ nhật
26. Nguyễn Huy Tưởng (1987) Tưởng nhớ Nam Cao , báo Văn nghệ
27. Trần Đăng Xuyền (1991) Nam Cao – càng thử thách càng ngời sáng ,
báo Nhân dân chủ nhật
28. Trần Đăng Xuyền (1991) Thời gian và không gian trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao , tạp chí Văn học
29. Trần Đăng Xuyền (1991) Nam Cao và những vấn đề của cuộc sống hôm nay , báo Văn nghệ
30. Nguyễn Thị Thanh Xuân (1996) Tiếng nói tri âm , Nxb Trẻ