Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực, tài lực của doanh nghệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với
Trang 12
Theo quan điểm của K.Marx, dưới góc độ của các yếu tố sản xuất, vốn (tư bản)
là giá trị đem lại thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất, vốn không phải là vật, là
tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn Tư bản là giá trị mang lại giá trị
thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng
tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Đây là khái niệm mang ý nghĩa bao quát lớn vì đã bao hàm được cả bản chất
và vai trò của vốn Vai trò của vốn là dù được thể hiện dưới hình thức nào thì giá trị của chúng mang lại là giá trị thặng dư được tăng lên thông qua quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, do nền kinh tế thời đó còn nhiều hạn chế nên K.Marx chỉ thấy được
có khu vực sản xuất vật chất mới đem lại giá trị thặng dư cho nền kinh tế Đây là hạn chế trong khái niệm về vốn của Marx
Còn theo Paul.A.Sammelson, một nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển”
đã kế thừa các quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba loại: đất đai, lao động và vốn Ông cho rằng, vốn là các hàng hóa sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho quá trình sản xuất mới của doanh nghiệp: máy móc, trang thiết bị,… Tuy nhiên, trong quan niệm của mình, Sammelson đã không đề cập đến các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá có thể đem lại lợi ích cho doanh nghiệp
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều khía cạnh, nhiều quan điểm với những mục đích khác nhau Do đó, để có thể đưa ra được một khái niệm hoàn chỉnh về vốn là một công việc rất khó khăn Song, từ những vấn đề trên, ta
có thể định nghĩa về vốn một cách khái quát như sau:
Vốn là phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích, sinh lời
1.1.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Để quản lý, kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và trong toàn doanh nghiệp Để làm được việc đó, chúng ta cần phân loại các nguồn vốn để xem xét xem nguồn vốn nào phù hợp cho công việc nào Việc phân loại nguồn vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh Tùy theo từng tiêu thức phân loại mà nguồn vốn doanh nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau
1.1.2.1 Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển vốn
Theo đặc điểm luân chuyển vốn thì nguồn vốn được chia làm hai loại: vốn cố định và vốn lưu động
Trang 2 Vốn cố định (VCĐ): là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ) hay VCĐ là toàn bộ giá trị bỏ ra đề đầu tư vào TSCĐ nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kì kinh doanh
VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì TSCĐ có thời gian luân chuyển dài Tùy theo hình thái biểu hiện và tính chất đầu tư thì VCĐ của TCSĐ được chia làm ba loại: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ tài chính
TSCĐ hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có tính chất vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận, từng tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định), có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị
TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất
sử dụng, chi phí về bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả, mua bản quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ
TSCĐ tài chính là giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn với mục đích kiếm lời như đầu tư vốn vào liên doanh dài hạn, cho thuê tài sản dài hạn,… Đây là những khoản đầu tư có thời gian thu hồi dài ( từ một năm trở lên) Thông thường vốn cố định là bộ phận quan trọng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng Do đó, việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động (VLĐ): số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động (TSLĐ) nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục VLĐ chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định (TSCĐ) còn phải có các tài sản lưu động (TSLĐ) tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà lại có cơ cấu của TSLĐ khác nhau Trong doanh nghiệp TSLĐ được phận thành TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông
Trang 34
TSLĐ sản xuất bao gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn Thuộc về TSLĐ sản xuất là những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu và tài sản ở khâu sản xuất như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ
TSLĐ lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được tiêu thụ ( hàng tồn kho ), vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Tóm lại, VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục VLĐ chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh
1.1.2.2 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Trong quá trình sản xuất, ngoại trừ số vốn mà doanh nghiệp có từ ban đầu thì doanh nghiệp còn phải đi vay khoản vốn khá lớn từ ngân hàng, bên cạnh đó là các khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau khá lớn từ khách hàng và đơn vị nguồn hàng Tất cả yếu tố trên hình thành lên nợ phải trả của doanh nghiệp, do đó:
Nợ phải trả: là khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả như: nợ ngân hàng, nợ vay các chủ thể kinh doanh, nợ vay cá nhân,… Trong nợ phải trả bao gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn là một khoản nợ hay nghĩa vụ nợ thường được xác định trong khoảng thời gian một năm Đó là những hóa đơn phải trả của người đi vay
và người cho vay trong khoảng thời gian một năm Thông thường, doanh nghiệp thường dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn là một khoản vay hay nghĩa vụ trả nợ được xác định trong khoảng thời gian dài (> 1 năm) Nợ dài hạn có: khoản vay dài hạn như phát hành trái phiếu dài hạn, …
Vốn chủ sở hữu (VCSH): là vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước thì chủ sở hữu là nhà nước, doanh nghiệp tư nhân thì chủ sở hữu là người góp vốn) Khi doanh nghiệp mới thành lập, VCSH hình thành vốn điều lệ, ngoài ra có một số nguồn vốn khác cũng thuộc VCSH như: lợi nhuận không chia, chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ doanh nghiệp,…
Trang 41.1.2.3 Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguồn vốn doanh nghiệp bao gồm: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp dùng để tài trợ cho toàn bộ TSCĐ của mình Nguồn vốn này bao gồm VCSH và nợ dài hạn Trong đó:
Nợ dài hạn là các khoản nợ dài hạn hơn một năm hoặc phải trả sau một kì kinh doanh mà không phân biệt đối tượng cho vay hay mục đích vay
Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn dùng để tài trợ cho TSLĐ tạm thời của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: vay ngắn hạn và tạm ứng
Như vây, ta có:
Tài sản = TSCĐ +TSLĐ
= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + VCSH
= Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên
1.1.2.4 Căn cứ theo phạm vi huy động và sử dụng vốn
Theo phương thức này thì nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành: nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Nguồn vốn trong doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, khoản thu từ thanh lý TSCĐ
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn bên ngoài có thể là các khoản vay ngắn han, vay của các tổ chức tài chính hoặc có thể là các nguồn vốn khác như ODA, FDI, …
1.1.3 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Để một doanh nghiệp có thể hình thành và hoạt động một cách có hiệu quả trong giai đoạn Việt Nam đang phát triển và gia nhập với thế giới thì nguồn vốn là một điều kiện không thể thiếu đối với các công ty và doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường Vốn quyết định gần như tất cả mọi thứ trong doanh nghiệp, từ tư cách hoạt động trên thị trường cho đến các máy móc, công nghệ được sử dụng trong doanh nghiệp Vai trò của vốn được thể hiện trên nhiều mặt, cả về mặt pháp lý lẫn kinh tế
Về mặt pháp lý, một doanh nghiệp muốn được thành lập thì doanh nghiệp phải đáp ứng được số vốn đã được nhà nước quy định Số vốn doanh nghiệp có nhất định không được nhỏ hơn số vốn pháp định và là mức vốn tối thiểu mà pháp luật quy định
Trang 5và dồi dào để có thể đáp ứng được các yêu cầu và có thể giúp doanh nghiệp hoạt động một cách trơn tru và liên tục
Có thể nói nguồn vốn như mạch máu của một doanh nghiệp, nguồn vốn giúp doanh nghiệp hoạt động, sản xuất, mở rộng đầu tư nếu thiếu vốn doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng rất khó khăn và có thể dẫn đến phá sản
1.1.4 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp và các yếu tố tác động
1.1.4.1 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là gì?
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực, tài lực của doanh nghệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh
tế là mối quan tâm của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế, sản xuất nói chung và làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một thách thức không hề nhỏ với các doanh nghiệp hiện nay
Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra Từ đó ta có công thức chung cho hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
Có rất nhiều cách phân loại hiệu quả kinh tế khác nhau, nhưng để phục vụ cho bài làm của mình, em chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong công
ty Vậy, ta có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn là: Một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn
đề phức tạp có liên quan đến tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp phải giải quyết được các vấn đề như đảm bảo tiết kiệm hay
Trang 6huy động để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp và quan trong hơn cả là doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trinhg sử dụng vốn của mình
1.1.4.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn
Những yếu tố khách quan
Môi trường kinh tế: Sự ổn định của nền kinh tế, thị trường rất quan trọng đối với
sự phát triển của doanh nghiệp Những biến động của nền kinh tế có thể gây ra những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị, những người đứng đầu công ty, doanh nghiệp cần phải lường trước được Những ảnh hưởng đó tác động tới các khoản chi phí
về đầu tư, chi phí trả lãi vay, hay lương thuê máy móc, công nhân,… Nếu nền kinh tế
ổn định và tăng trưởng bền vững thì đó là điều kiện để doanh nghiệp phát triển và giữ vững vị trí của mình trên thị trường Doanh nghiệp phát triển, đồng nghĩa với việc làm
ăn có lãi, từ đó làm gia tăng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, khi đó, doanh nghiệp sẽ tìm cách mở rộng sản xuất và phát triển
Tùy theo loại thị trường mà doanh nghiệp tham gia sẽ có những tác động riêng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu thị trường mà doanh nghiệp tham gia
là thị trường cạnh tranh tự do, sản phẩm của doanh nghiệp đã có uy tín với người tiêu dùng thì đó chắc chắn là tác nhân tích cực thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường
và tăng doanh thu cho doanh nghiệp và ngược lại nếu thị trường bất ổn thì hiệu quả sử dụng vốn cũng không ổn định do kết quả kinh doanh thất thường nên vốn không được
bổ sung kịp thời
Môi trường pháp luật: Một bộ luật chặt chẽ, minh bạch sẽ hỗ trợ cho các doanh
nghiệp trong việc phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, ổn định, mở rộng thị trường Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách pháp luật dù là nhỏ nhất cũng có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản chính sách về thuế xuất nhập khẩu… Nói chung, sự thay đổi trong cơ chế, chính sách pháp luật sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và thích nghi thì sẽ ngày càng đứng vững trên thị trường và có đủ điều kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Môi trường kinh tế - chính trị, văn hóa: Một đất nước hòa bình, ổn định, không
có bạo loạn, khủng bố,… thì doanh nghiệp ở đó sẽ an tâm trong việc hoạt động kinh doanh, có cơ hội để mở rộng hợp tác với các đối tác nước ngoài làm cho nguồn vốn của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiêp Ngoài ra yếu tố văn hóa cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Khách
Trang 78
hàng của doanh nghiệp luôn tồn tại trong một môi trường văn hoá xã hội nhất định, thoả mãn nhu cầu của khách hàng, bán được sản phẩm hay không phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm văn hoá xã hội Nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định sản xuất sản phẩm nào, lựa chọn công nghệ sản xuất nào cũng như phân phối sản phẩm như thế nào để đến được tay người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất Do đó, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng chịu tác động của yếu tố này
Những yếu tố chủ quan
Mục tiêu sản xuất kinh doanh: muc tiêu sản xuất của doanh nghiệp là nhằm tối đa
hóa lợi nhuận vì vậy việc sử dụng vốn sao cho hợp lý và hiệu quả là điều quan trọng nhất Sử dụng vốn sao cho chi phí thấp nhất, khả năng quay vòng vốn nhanh là điều cần thiết với doanh nghiệp
Quy mô cơ sở vật chất: cơ sở vật chất của doanh nghiệp càng hiện đại thì vốn
được sử dụng càng hiệu quả do vòng quay vốn ngắn, ít tốn nhiên liệu, hiệu quả sản xuất tăng cao mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Còn nếu cơ sở vật chất lạc hậu thì
sẽ khiến bộ máy sản xuất chậm, tốn nhiều thời gian cũng như nguyên liệu mà hiệu quả sản xuất lại thấp gây ra lãng phí nguồn vốn của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực: Trình độ nhận thức của nhà quản lý doanh nghiệp có tác động
lớn đến hiệu quả sử dụng vốn vì nếu nhà quản lý có một tầm nhìn tốt thì có thể giúp doanh nghiệp có các lựa chọn đầu tư và quản lý tốt nhất Sự thể hiện của việc có quản
lý vốn tốt hay không thể hiện ở sự kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm thiểu tối đa các chi phí không cần thiết đồng thời phải biết nắm bắt cơ hội kinh doanh giúp doanh nghiệp kiếm được lợi nhuận, giúp cho doanh nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển Ngoài trình độ của nhà quản lý, lực lượng lao động là một nhân tố không thể thiếu Lực lượng lao động ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn được xem xét trên hai yếu tố
là số lượng và chất lượng lao động của hai bộ phận lao động là lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh và cán bộ lãnh đạo Trình độ của người lao động cao sẽ làm tăng hiệu suất sử dụng tài sản, kết quả kinh doanh cao hơn, do đó vốn được sử dụng hiệu quả hơn Trình độ của cán bộ điều hành cao thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu các yếu
tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết đồng thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh, đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển…do đó hiệu quả sử dụng vốn được nâng cao
Trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải trải qua ba giai đoạn là cung ứng, sản xuất và tiêu thụ
Cung ứng là quá trình chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động,… nó bao gồm hoạt động mua và dự trữ Một doanh nghiệp
Trang 8tổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh tức là doanh nghiệp đó đã xác định được lượng phù hợp của từng loại nguyên vật liệu, số lượng lao động cần thiết và doanh nghiệp đã biết kết hợp tối ưu các yếu tố đó Ngoài ra để đảm bảo hiệu quả kinh doanh thì chất lượng hàng hóa đầu vào phải được đảm bảo, chi phí mua hàng giảm đến mức tối ưu Còn mục tiêu của dự trữ là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh nên để đồng vốn được sử dụng có hiệu quả thì phải xác định được mức dự trữ hợp lý để tránh trường hợp dự trữ quá nhiều dẫn đến ứ đọng vốn và tăng chi phí bảo quản
Khâu sản xuất: trong giai đoạn này phải sắp xếp dây truyền sản xuất cũng như công nhân sao cho sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả cao nhất, khai thác tối đa công suất, thời gian làm việc của máy đảm bảo kế hoạch sản xuất sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải xác định giá bán tối ưu đồng thời cũng phải có những biện pháp thích hợp để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng Khâu này quyết định đến doanh thu, là cơ sở để doanh nghiệp tái sản xuất
Trình độ quản lý và sử dụng vốn: Đây là yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Công cụ giúp nhà quản trị theo dõi quản lý sử dụng vốn là hệ thống kế toán – tài chính Công cụ kế toán thực hiện tốt
sẽ đưa ra được các số liệu chính xác giúp nhà quản trị nắm được tình hình sử dụng vốn
cả doanh nghiệp từ đó có thể đưa ra được quyết định đúng đắn Vì vậy, nhà quản trị cần có trình độ quản lý và sử dụng vốn tốt để có thể thường xuyên kiểm tra, sớm phát hiện các tồn tại để có biện pháp giải quyết hiệu quả
1.1.4.3 Sự cần thiết của việc sử dụng hiệu quả vốn trong doanh nghiệp
Trước đây, khi xã hội cũng như nền kinh tế chưa phát triển thì chi phí và doanh thu do nhà nước ấn định là chủ yếu Doanh nghiệp làm ăn được bao nhiêu lãi thì sẽ nộp cho nhà nước còn làm ăn bị lỗ đã có nhà nước bù vì thế nên tính sáng tạo, sự chủ động hoàn toàn không có Vì thế đa số các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả nhưng vẫn được nhà nước bù lỗ để duy trì hoạt động Ngày nay, nền kinh tế đã chuyển sang thành nền kinh tế thị trường nên điều đó không còn phù hợp nữa Sự cạnh tranh gắt gao giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp tăng cao nên việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một yếu tố cơ bản nếu một doanh nghiệp muốn tồn tại Sử dụng vốn có hiệu quả giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường làm
ăn ra nước ngoài, tạo chỗ đứng và uy tín và xây dựng được hình ảnh cũng như khẳng định vị thế của mình đối với thị trường nội địa cũng như thị trường ngoại địa
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một trong những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận,đến quyền lợi đến mục đích cao nhất của doanh nghiệp
Trang 910
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao lợi nhuận, chẳng có một lý
do nào để doanh nghiệp có thể từ chối việc làm đó Như vậy ta có thể nhận thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một việc làm thiết yếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào, người ta không thể từ chối thu một khoản lợi nhuận hay doanh thu nhiều hơn trên một đồng vốn bỏ ra mà ngược lại họ muốn thu ngày càng nhiều từ việc
bỏ ra một cùng một lượng vốn ban đầu của mình hay với cùng một lượng tiền thu về
từ hoạt động sản xuất kinh doanh như năm trước nhưng năm nay doanh nghiệp phải bỏ
ra cho nó một lượng chi phí ít hơn Có thể tổng quát một số lý do cơ bản, cụ thể làm nên sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất: Do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Kinh tế thị trường theo đuổi một mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp là vốn, đồng vốn sản xuất kinh doanh phải có khả năng sinh lời mới là vấn đề cốt lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bởi thiếu vốn thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị “chết”, bị ngưng trệ bởi bây giờ không còn có sự cứu trợ của Ngân sách Nhà nước
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giờ đây người định đoạt số phận của doanh nghiệp chính là thị trường mà không phải là ai khác, song nhà nước cũng có vai trò nhất định của nó Nếu sử dụng đồng vốn hiệu quả thì việc đáp ứng nhu cầu thị trường là điều không khó khăn đối với doanh nghiệp nữa Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một nội dung cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay thì điều này càng được khẳng định chắc chắn hơn Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiện tiên quyết không thể thiếu được là doanh nghiệp phải xem xét vấn đề chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, vấn đề này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ tư: Tình hình chung trong các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
ở nước ta thì hiệu qủa sử dụng vốn sản xuất kinh doanh còn chưa cao Thậm chí ngày càng giảm Năm 1995, một đồng vốn của nhà nước tạo ra được 3.46 đồng doanh thu
và 0.19 đồng lợi nhuận , đến năm 2000, các tỉ lệ tương ứng chỉ là 2.9 và 0.14 số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ là 17%, số doanh nghiệp làm ăn thực sự có hiệu quả chỉ chiếm khoảng 21% tổng số doanh nghiệp Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một yêu cầu chung đối với các doanh nghiệp không riêng trong giai đoạn hiện nay Việc sử dụng vốn có hiệu quả trở thành một yêu cầu khách quan của cơ
Trang 10chế hạch toán đó là: kinh doanh tiết kiệm, có hiệu quả trên cơ sở tự chủ về mặt tài chính
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ hoạt động của doanh nghiệp nhằm đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Đê đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động, ta có thể sử dụng các chỉ tiêu dưới đây để tính toán, so sánh giữa các năm qua đó có thể nhận biết được
sự tăng hay giảm của hiệu quả sử dụng vốn của công ty Các chỉ tiêu cụ thể như sau:
1.2.1 Chỉ tiêu đánh giá toàn bộ vốn
Hiệu suất sử ụng vốn o nh thu thuần
Tổng số vốn sử ụng ình qu n trong
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn được doanh nghiệp đầu từ thì thu về được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn càng lớn, trong khi các điều kiện khác không đổi có nghĩa là hiệu quả quản lý toàn bộ tài sản càng cao, khả năng sử dụng vốn hợp lý và có hiệu quả
T suất i nhuận vốn L i nhuận
Tổng số vốn sử ụng ình qu n trong
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư Nó cho biết một đồng vốn đầu tư mang về được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao thì chính tỏ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng hiệu quả
T suất sinh ời trên CSH L i nhuận s u thuế
CSH ình qu n sử ụng trong
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của VCSH và trình dộ sử dụng vốn của người quản lý Nó cho biết một đồng VCSH tạo ta được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số này càng cao và ổn định phản ánh việc quản lý sinh lời và hiệu quả
Ngoài ra, để phân tích sâu hơn về chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) ta có thể sử dụng mô hình Dupont Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bảng cân đối
kế toán, trong phân tích, người ta sử dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể
Trang 11Mô hình upont cơ ản
Dupont được triển khai dưới dạng cơ bản:
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản x
Tổng tài sảnVốn chủ sở hữu Hay
ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
Ta có thể tiếp tục triển khai mô hình Dupont như sau:
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần x
Doanh thu thuầnTổng tài sản x
Tổng tài sảnVốn chủ sở hữu
Hay:
ROE = ROS x Số vòng quay của tài sản x Đòn bẩy tài chính
Nhìn vào quan hệ trên, ta thấy muốn nâng cao khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu có thể tác động vào 3 nhân tố: tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần (ROS), số vòng quay của tài sản và đòn bẩy tài chính
Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích, có thể tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số này qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào, từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của từng nhân tố, góp phần thúc đầy nhanh tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Mô hình Dupont mở rộng
ROE = Lợi nhuận thuần từ HĐKD
Doanh thu thuần x
Lợi nhuận trước thuếLợi nhuận thuần từ HĐKD x
x (1 - Thuế
Lợi nhuận trước thuế) x
Doanh thu thuầnTổng tài sản x
Tổng tài sảnVốn chủ sở hữu
Trang 12Hay:
ROE = T suất l i nhuận thuần từ HĐK trên ĐT x Ảnh hưởng từ các l i nhuận khác x Ảnh hưởng của thuế TNDN x Vòng quay của tổng tài sản x Đòn bẩy tài chính
Phân tích Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị doanh nghiệp, phương pháp này giúp nhà quản trị đánh giá được hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện mà còn đánh giá đầy đủ và khách quan những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, nhà quản trị có thể đề ra các biện pháp tỉ mỉ, xác thực nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong các giai đoạn tiếp theo Ngoài phương pháp Dupont được nêu ở trên còn rất nhiều phương pháp phân tích khác như phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp đồ thị, dự báo,…
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử ụng tài sản cố đ nh o nh thu thuần
Tài sản cố đ nh ình qu n trong
TSCĐ bình quân trong kỳ là bình quân nguyên giá TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ Nó phản ánh một đồng TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao
Hiệu suất sử ụng vốn cố đ nh o nh thu thuần
T suất i nhuận vốn cố đ nh L i nhuận s u thuế
ốn cố đ nh ình qu n sử ụng trong
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn cố định càng cao và hiệu quả sử dụng vốn càng tốt
Trang 1314
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động nói lên số vòng quay của VLĐ trong một kỳ nhất định (thường là một năm) Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ dựa trên mối quan
hệ so sánh giưa kết quả sản xuất kinh doanh (doanh thu thuần) với lượng VLĐ bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
òng qu y vốn ƣu động o nh thu thuần
ốn ƣu động ình qu n trong
Thời gian luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng công thức:
Thời gi n u n chuyển vốn ƣu động 3
Số vòng qu y LĐ trong
Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của VLĐ trong kỳ hay số ngày cần thiết để VLĐ thực hiện một vòng quay trong kỳ Ngược với chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động, thời gian luân chuyển VLĐ càng ngắn chứng tỏ VLĐ được
Hệ số sinh lời vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ tạo ra được bao nhiều đồng lợi nhuận trước thuế (EAT) Hệ số sinh lời của VLĐ càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao Hệ số sinh lời VLĐ đưuọc xác định bằng:
Hệ số sinh ời vốn ƣu động L i nhuận s u thuế
LĐ ình qu n trong
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện hành: là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của daonh nghiệp Nó cho biết mức độ các khoản nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn các khoản nợ đó Chỉ số này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp tốt
Hệ số th nh toán hiện hành Tài sản ngắn hạn
N ngắn hạn
Trang 14Khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số th nh toán nh nh Tài sản ngắn hạn Hàng t n ho
N ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn ở đây là những tài sản có khả năng quay vòng nhanh, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền như: tiền, chứng khoắn ngắn hạn, các khoản phải thu Giá trị hàng tồn kho là những tài sản khó chuyển đổi thành tiền hơn và dễ bị lỗ khi bán Vì vậy hệ số này cho biết khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn phải trả Chỉ tiêu này càng cao cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt, hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao, tạo được niềm tin với khách hàng
Khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số th nh toán tức thời Tiển t Chứng hoán ngắn hạn
N ngắn hạn
Chỉ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay tại thời điểm xác định tỷ lệ không phụ thuộc vào khoản dự trữ và khoản phải thu Tổng số vốn bằng tiền được xác định bằng toàn bộ tiền mặt tại doanh nghiệp và các chứng khoán ngắn hạn có khả năng thanh khoản cao mà doanh nghiệp đang nắm giữ Chỉ số này thường > 0.5 và được đánh giá là có khả năng thanh toán tương đối tốt Tuy nhiên nếu chỉ số này quá cao thì lại phản ánh tính hình không tốt vì lượng vốn bằng tiền quá lớn gây rủi ro chi phí cơ hội cao, làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ
Ngoài các chỉ tiêu trên, ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu khác như: Vòng quay tiền mặt, vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho,…
Vòng quay tiền mặt được xác định bằng công thức:
òng qu y tiền t o nh thu thuần
Tiền và các hoản tương đương tiền
Chỉ tiêu trên phản ánh một đồng tiền và các khoản tương đương tiền tạo ra được bao đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tiền mặt của doanh nghiệp tốt, lượng tiền bỏ ra ít nhưng doanh thu lại tăng cao
òng qu y các hoản phải thu o nh thu thuần
ình qu n các hoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc khách hàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp Khi khách hàng thanh toán các khoản
nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này
là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đây là
Trang 1516
một chỉ tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp đã áp dụng với khách hàng Nếu vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng Nhưng nếu vòng cao khoản phải thu cao quá sẽ làm giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu
K thu tiền ình qu n 3
òng qu y các hoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân cho biết trong một chu kì kinh doanh thì doanh nghiệp thu hồi nợ trong bao nhiêu ngày để tiếp tục một chu kì mới, là số ngày bình quân để thu hồi các khoản nợ phải thu Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của doanh nghiệp Nếu kỳ thu tiền bình quân giảm cho thấy tốc độ thu hồi các khoản phải thu tăng lên Nhưng nếu vòng quay các khoản phải thu cao quá sẽ làm giảm sức cạnh tranh và doanh thu Vòng quay các khoản phải thu tăng cao thì kỳ thu tiền bình quân sẽ giảm xuống dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tốt Tuy nhiên, để đạt được hiệu qủa tốt nhất, thời gian thu tiền bình quân không nên vượt quá
1.3 Tổng quan thực tiễn nghiên cứu về vốn trong doanh ngiệp
Trong quá trình nghiên cứu và làm khóa luận về đề tài vốn trong doanh nghiệp
em đã tham khảo, tìm hiểu và nghiên cứu một số đề tài nghiên cứu cùng đề tài của trường Đại học Thăng Long
Trang 16Các tài liệu em tham khảo đều có tên đề tài là: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn” và họ đều thực hiện nghiên cứu với cách thức là phân tích các số liệu, chỉ tiêu có liên quan đến vốn của công ty Về vốn nói chung thì sử dụng các chỉ tiêu cơ bản như hiệu quả sử dụng vốn, tỷ suất lợi nhuận vốn, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Đối với vốn cố định thì sử dụng các chỉ tiêu: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định, hiệu suất sử dụng vốn cố định, hàm lượng vốn cố định và tỷ suất lợi nhuận vốn cố định Còn về vốn lưu động là các chỉ tiêu như: vòng quay vốn lưu động, thời gian luân chuyển vốn lưu động, hàm lượng vốn lưu động, hệ số sinh lời vốn lưu động Ngoài ra
để hiểu rõ hơn về tài sản lưu động thì người viết còn phân tích thêm các chỉ tiêu như: vòng quay tiền mặt, hàng tồn kho, phải thu khách hàng và các loại hình thanh toán của công ty
Nói chung, các bài tham khảo trên có hướng tiếp cận đề tài khá giống nhau vì đều nhận thức được tầm quan trọng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Các bài viết thường là:
Tiếp cận đề tài về vốn trong doanh nghiệp
Giới thiệu tổng quan về vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích cụ thể tình hình sủ dụng và quản lý nguồn vốn tại doanh nghiệp
Tìm ra các tông tại, khó khăn cũng như thách thức đối với vốn trong doanh nghiệp
Đưa ra các biện pháp khắc phục cho doanh nghiệp
Trang 1718
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã làm rõ một số vấn đề cơ bản về nguồn vốn trong doanh nghiệp, sự cần thiết của việc quản lý và sử dụng nguồn vốn Trên cơ sở lý thuyết, lý luận, đánh giá các phương thức quản lý vốn lưu động, vốn cố định, phân tích sự hiệu quả của các chỉ số dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Qua đó, ta có cái nhìn tổng quan về lý thuyết, tạo cơ sở cho khóa luận làm rõ hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Chiyoda Integre Việt Nam Sang chương 2, tác giả sẽ phân tích rõ hơn về hiệu quả sử dụng vốn của công ty và sẽ sử dụng nhựng lý thuyết, lý luận đã được nêu trong chương 1
Trang 18CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH
CHIYODA INTEGRE VIỆT NAM
Sau khi tìm hiểu hệ thống lý thuyết, lý luận về hiệu quả sử dụng vốn ở chương 1 thì chương 2 sẽ tập trung vào đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty TNHH Chiyoda Integre Việt Nam, đồng thời đưa ra nhận xét và kết luận
2.1 Khái quát chung về công ty TNHH CHIYODA INTEGRE VIỆT NAM
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Chiyoda Integre Việt Nam được thành lập ngày 02 tháng 10 năm
2003 do Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội cấp Là Công ty có 100% vốn là của nước ngoài được thành lập theo giấy phép đầu tư số 52/GP-KCN-
HN Ngày 21 tháng 06 năm 2010, Công ty được nhận giấy chứng nhận đầu tư điều chình lần thứ ba số 012043000041 do Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất Hà Nội cấp Theo giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh, Công ty đã hoạt động được trên thị trường được 12 năm kể từ ngày 02 tháng 10 năm 2003 Công ty có đại chỉ tại:
Lô C4, Khu Công nghiệp Thăng Long, huyện Đông Anh, Hà Nội Chủ sở hữu của Công ty là Chiyoda Integre Co (S) Pte., Ltd Chiyoda Integre Co (S) Pte., Ltd được thành lập tại Singapore và là một công ty con của Chiyoda Integre Co., Ltd., một công
2.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
n Giá Đốc
Ban Giám Đốc của Công ty bao gồm Tổng Giám Đốc và Giám Đốc, là những người chịu trách nhiệm và có quyền hành lớn nhất của Công ty Ban Giám Đốc có nhiệm vụ giám sát hoạt động, điều hành các cuộc họp, phê duyệt các văn bản liên quan đến tài chính của Công ty
Trang 19về công tác tài chính kế toán Thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh trong Công ty Giữ bí mật về số liệu kế toán – tài chính và
bí mật kinh doanh của Công ty Quản lý công tác tổ chức bộ máy tài chính kế toán trong toàn bộ hệ thống và theo từng giai đoạn phát triển của Công ty Thực hiện một số chức năng khác khi ban Giám đốc yêu cầu
Phòng kinh doanh
Tham mưu cho ban Giám đốc về các vấn đề liên quan đến công tác kinh doanh
có sử dụng nguồn vốn của công ty Xây dựng và thực hiện kế hoạch khai thác để thu hồi vốn nhằm đảm bảo nguồn vốn để có thể triển khai kế hoạch sản xuất, đầu tư hàng năm Tổ chức thực hiện quảng cáo, tiếp thị đến các khách hàng nhằm đảm bảo thu hồi vốn nhanh và tối đa hóa lợi nhuận Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của ban Giám đốc Các nhiệm vụ khác được thực hiện theo sự phân công của ban Giám đốc và Giám đốc
Phòng hành chính tổng h p
Giúp việc cho ban Giám đốc và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực tổ chức lao động, quản lý và bố trí nhân lực, bảo hộ lao động, chế độ chính sách, chăm sóc sức khỏe cho người lao động Thay mặt ban Giám đốc kiểm tra, đôn đốc các bộ phận của Công ty thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế của Công ty Làm đầu mối liên lạc cho mọi người thông tin của Ban Giám đốc
Nhận xét chung về cơ cấu tổ chức:
Với quy mô công ty tương đối lớn, Công ty TNHH Chiyoda Integre Việt Nam có
cơ cấu tổ chức đơn giản nhưng khá hợp lý, đảm bảo đầy đủ các phòng ban phân chia theo chức năng và chuyên môn hóa theo nghiệp vụ Giữa các phòng ban có sự liên kết,
hỗ trợ lẫn nhau để giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty hiệu quả hơn
Trang 20(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Chiyoda Integre Việt Nam
2.2 Tình hình cơ cấu vốn của công ty TNHH CHIYODA INTEGRE VIỆT NAM
Trong 3 năm 2011, 2012, 2013, ta thấy Công ty TNHH Chiyoda Integre Việt Nam có tình hình sử dụng vốn khá hợp lý và hiệu quả
Vốn của Công ty được hình thành từ hai nguồn là: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Một cơ cấu hợp lý và hiệu quả phải vừa đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty, vừa đảm bảo sự an toàn về mặt tài chính cho doanh nghiệp Đồng thời phát huy tối đa ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy tài chính trong kinh doanh, tạo được tính thanh khoản cao trong sử dụng vốn của doanh nghiệp
Bảng 2.1: Nguồn vốn của công ty các năm 2011-2013
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán)
Từ bảng 2.1 ta thấy quy mô vốn của Công ty tăng đều qua các năm Năm 2011 là 11.106.278 USD, năm 2012 là 12.163.235 USD tăng 1.056.957 USD so với năm 2011, năm 2013 là 15.216.933 USD và tăng 3.053.698 USD so với năm 2012 Điều này cho
ta thấy, nguồn vốn của Công ty khá cao và đang có nhiều hoạt động đầu tư vào sản xuất và mở rộng kinh doanh Cơ cấu vốn của Công ty bao gồm: nợ phải trả và VCSH
Trang 2122
Trong đó, VCSH chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng nguồn vốn, có xu hướng tăng đều
so với nợ phải trả Năm 2011, VCSH là 5.346.833 USD chiếm 48,14% trong tổng vốn kinh doanh Sang năm 2012 thì VCSH tăng 1.039.386 USD so với năm 2011 và chiếm 52,50%; đến năm 2013, VCSH đã tăng 1.708.720 USD so với năm 2012 và chiếm 53,19% trong tổng nguồn vốn năm 2013 Nguồn vốn chủ sở hữu tăng là do lợi nhuận chưa phân phối của Công ty tăng lên qua các năm, điều này chứng tỏ Công ty đang làm ăn rất tốt, mở rộng được quy mô sản xuất và kinh doanh Năm 2011, nợ phải trả là 5.759.445 USD chiếm 51,86% Năm 2012, nợ phải trả là 5.777.016 USD tăng 17.571 USD so với năm 2011 và nợ phải trả năm 2012 chiếm 47,50% trong tổng cơ cấu nguồn vốn Năm 2013 nợ phải trả của Công ty là 7.121.994 USD tăng đến 1.344.978 USD so với năm 2012 Như vậy nợ phải trả của năm 2013 tăng lên rất nhiều so với các năm trước, cùng với đó là nguồn vốn kinh doanh của Công ty cũng tăng lên theo, hoạt động sản xuất của Công ty cũng được mở rộng Theo bảng cân đối kế toán thì nợ phải trả cuả Công ty chủ yếu là vay ngắn hạn – nguồn vốn chiếm dụng tạm thời ( phải trả người bán, phải trả nội bộ,…) Với đặc thù của Công ty là công ty sản xuất nên tỷ trọng tài sản lưu động trong tổng tài sản rất lớn và nếu như trong trường hợp VCSH, nguồn vốn tự có của doanh nghiệp không đủ trang trải cho tài sản thì tất yếu công ty phải đi chiếm dụng vốn của người khác hay đi vay ngân hàng Tuy nhiên, việc chiếm dụng vốn của người khác cao sẽ khiến công ty gặp nhiều rủi ro trong thanh toán, không tự khống chế, tự chủ được về tài chính và khả năng trả nợ của nợ ngắn hạn hạn chế hơn so với nguồn VCSH
2.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty TNHH CHIYODA INTEGRE VIỆT NAM
2.3.1 Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của công ty mấy năm gần đây
Trong 3 năm qua, nền kinh tế nói chung và của Công ty nói riêng đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế giảm sút nên họat động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng bị ảnh hưởng, giảm sút theo Tuy nhiên, nhờ có những định hướng đúng đắn và sự chỉ đạo tài tình, phù hợp với Công ty và nền kinh tế của ban Giám đốc nên tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của Công ty vẫn phát triển, doanh thu và lợi nhuận sau thuế vẫn tăng qua các năm
Tình hình kết quả hoạt động của Công ty được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Đây chính là công cụ giúp chúng ta có được cái nhìn tổng quan về tình hình hoạt động của Công ty giai đoạn 2011-2013
Trang 22Về Doanh thu
Đơn vị tính: USD
Biểu đồ 2.1: Doanh thu bán hàng của công ty trong giai đoạn 2011 – 2013
Trong giai đoạn 2011 – 2013, doanh thu của Công ty đều tăng Năm 2011 doanh thu là 18.365.666 USD đến năm 2012 là 22.531.793 tăng 4.166.127 USD và từ năm
2012 sang năm 2013 doanh thu là 25.690.154 USD, đã tăng 3.158.361 USD so với năm 2012 Doanh thu của Công ty tăng đều qua các năm Giai đoạn 2011-2013 là giai đoạn nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế nặng nề, lạm phát trầm trọng nhưng Công ty vẫn có doanh thu cao và tăng đều hàng năm, điều này chứng tỏ ban lãnh đạo của Công ty đã có chiến lược đúng đắn để giúp Công ty vẫn phát triển trong giai đoạn khó khăn này Do đã có mặt được nhiều năm trên thị trường, lại là Công ty 100% vốn nước ngoài nên chất lượng là thứ được Công ty đưa lên hàng đầu nên Công ty đã xây dựng được lòng tin trong lòng người tiêu dùng và có một lượng khách hàng trung thành Ngoài ra, Công ty còn áp dụng chính sách mở rộng thị trường bằng cách nới lỏng tín dụng, đưa nhiều sản phẩm mới ra thị trường hơn nữa kết hợp với chính sách marketing đúng đắn thu hút thêm nhiều khách hàng mới nên lượng tiêu thụ của công ty không bị ảnh hưởng trong giai đoạn khủng hoảng Doanh thu qua các năm đều tăng nhưng so với năm 2012 thì doanh thu năm 2013 lại tăng ít hơn, nguyên nhân là do năm 2013 là năm mà nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng nhất, các doanh nghiệp giảm chi tiêu nên lượng hàng bán ra của công ty cũng vì thế mà ảnh hưởng nhưng doanh thu của Công ty vẫn tăng nên chứng tỏ được sự cố gắng cũng như khả năng lãnh đạo của ban giám đốc Tuy nhiên,
Trang 23(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh)
Để xem xét cụ thể nguyên nhân tăng giảm ta sẽ phân tích từng khoản mục riêng:
Giá vốn hàng bán:
Doanh thu của Công ty tăng đều đặn qua các năm vì thế việc này dẫn đến giá vốn hàng bán của Công ty tăng trưởng đều đặn do mỗi năm phải mua và nhập khẩu nguyên vật liệu, ngoài ra giá vốn hàng bán mỗi năm tăng là do sự gia tăng trong hoạt động sản xuất kéo theo sự gia tăng trong chi phí quản lý doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất Qua bảng trên, ta thấy giá vốn hàng bán chiếm một tỷ trọng khá ổn định và trên 80%
so với tổng doanh thu bán hàng Trong thời kỳ 2011 – 2013 thì tỷ trọng giá vốn hàng bán giảm xuống điều này thể hiện hiệu quả quản lý tốt trong nỗ lực giảm chi phí của công ty, mặc dù chí phí của Công ty vẫn còn khá cao
Chi phí tài chính
Trong năm 2011 chi phí tài chính của Công ty là 97.492 USD, sang năm 2012 thì chi phí tài chính giảm mạnh 54,71% đạt mức 44.159 USD Nguyên nhân của sự sụt giảm chi phí là do trong năm 2012 Nhà nước có chính sách điều chỉnh lãi suất vay nhằm khuyến khích đầu tư, vì vậy chi phí tài chính của Công ty có xu hướng giảm mạnh Sang năm 2013, chi phí tài chính là 120.746 USD tăng mạnh so với năm 2012 ( tăng đến 173,43%) Chi phí tài chính tăng cho thấy Công ty đang sử dụng lượng vốn vay trên lượng doanh thu tăng Doanh nghiệp cần xem các hoạt động trong thời gian sắp tới để thu được một doanh thu tối đa và làm tăng một đồng doanh thu trên một đồng VCSH
Trang 24Chi phí bán hàng
Trong giai đoạn từ năm 2011 – 2012, chi phí bán hàng tăng ( năm 2011 là 743.873 USD, năm 2012 là 760.665 USD) nhưng tỷ lệ chi phí bán hàng lại giảm Nguyên nhân chi phí bán hàng trong giai đoạn này tăng là vì chi phí khấu hao tài sản
cố định tăng, tiền thuê xưởng, máy móc đều tăng và chi phí vận chuyển cũng tăng Giai đoạn 2012 – 2013, chi phí bán hàng giảm, năm 2013 có chi phí bán hàng là 659.415 USD và đã giảm 101.250 USD so với năm 2012, tỷ lệ chi phí bán hàng cũng giảm vì Công ty đang có xu hướng kinh doanh hiệu quả hơn và ít phải dùng tiền cho việc quảng cáo, giới thiệu sản phẩm vì thế tiết kiệm được chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Giai đoạn 2011 – 2012 chi phí quản lý doanh nghiệp tăng từ 1.224.936 USD lên 1.318.414 USD nhưng tỷ lệ chi phí quản lý doanh nghiệp trên DT lại giảm điều này cũng làm cho doanh thu tăng đáng kể Giai đoạn này tuy nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng Công ty vẫn phát triển ổn định, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng là do chi phí mua máy móc, chi phí dịch vụ mua ngoài Sang năm 2013, chi phí quản lý là 431.112 USD tăng 112.698USD so với 2012 và tỷ lệ chi phí quản lý tiếp tục giảm, đều do công ty vẫn tiếp tục tăng chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí đồ dùng văn phòng
và chi phí sử dụng bằng tiền khác
Về l i nhuận
Đơn vị : USD
Biểu đồ 2.2 : Lợi nhuận của công ty trong giai đoạn 2011 - 2013
Trong 3 năm, số tiền mà lợi nhuận đem lại từ việc sản xuất và kinh doanh đã tăng lên rất nhiều, đặc biệt là từ năm 2011 – 2012 khi lợi nhuận sau thuế tăng đến 763.518USD, lợi nhuận của năm 2013 là 1.708.720 USD tăng 669.334 USD Như vậy trong 3 năm qua, Công ty đã có những chính sách phát triển kinh doanh hợp lý, đưa
500,000
Trang 2526
sản phẩm của Công ty đến với công chúng, tuy chi phí vẫn tăng, giảm qua các năm nhưng nhờ có các chính sách hợp lý mà lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn tăng qua từng năm
Từ đó ta có thể đưa ra kết luận như sau: Trong giai đoạn 2011 – 2013, tình hình kinh doanh của công ty trong giai đoạn này khá hiệu quả, lợi nhuận tăng, doanh thu tăng Công ty có được những thành tựu như vậy là nhờ có chính sách lãnh đạo hợp lý của ban Giám đốc trong những định hướng phát triển của công ty, hơn nữa tuy chi phí vẫn còn lúc tăng lúc giảm nhưng công ty khá chú trọng đến việc quản lý chi phí từ đó giúp lợi nhuận của Công ty ngày càng tăng
2.3.2 Thực trạng sử dụng vốn của công ty
2.3.2.1 Tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì Công ty cần phải có một lượng vốn nhất định để duy trì sản xuất và phát triển hoạt động kinh doanh, giúp Công ty đứng vững trên thi trường Hiện nay, cơ cấu nguồn vốn của Công ty có hai nguồn chính là nguồn nợ vay và nguồn vốn chủ sở hữu, vì vậy, để hiểu rõ hơn về tình hình đảm bảo nguồn vốn trong kinh doanh của Công ty Chiyoda Integre Việt nam, ta sẽ phân tích sự thay đổi trong cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các năm
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu nguồn vốn của công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: USD
Chỉ tiêu
Số tiền % Số tiền Chênh
lệch % Số tiền
Chênh lệch % Tổng
(Nguồn: Số liệu tính toán được từ bảng cân đối kế toán năm 2011-2013)
Dựa vào bảng 2.3 ta thấy cơ cấu của Công ty không có sự chênh lệch đáng kể giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, hai thành phần này chiếm tỷ trọng gần như tương đương nhau trong cơ cấu nguồn vốn của Công ty Có mặt trên thị trường hơn 10 năm, Công ty đã có chỗ đứng vững vàng trên thị trường, tạo được niềm tin với ngân hàng, bạn hàng trong và ngoài nước nên nguồn vốn của Công ty ngày càng tăng Nợ phải trả
Trang 26hai năm 2011 và năm 2012 của Công ty tương đối ổn định chứng tỏ Công ty đã có biện pháp quản lý tốt nguồn nợ phải trả này Tuy nhiên đến năm 2013, nợ phải trả tăng mạnh do trong năm này Công ty đã chiếm dụng một lượng lớn vốn từ nhà cung cấp, số tiền nợ của nhà cung cấp ( phải trả người bán), thuế phải nộp nhà nước tăng, phải trả nội bộ, phải trả người lao động tăng
Nợ phải trả: Nợ phải trả của Công ty chỉ có nợ ngắn hạn là chủ yếu, Công ty đã
áp dụng chính sách thận trong khi đi vay và chiếm dụng vốn, hơn nữa, để giảm các chi phí lãi vay cao công ty đã không lựa chọn hình thức vay nợ dài hạn Các khoản nợ ngắn hạn tăng lên hàng năm cùng với đó là sự tăng lên của nợ phải trả Phải trả người bán năm 2011 là 1.439.269 USD đến năm 2012 là 1.792.567 USD tăng 353.298 USD, sang năm 2013, phải trả người bán là 2.713.440 USD tăng 920.873 USD so với năm
2012 Điều này cho thấy Công ty đang chiếm dụng một số vốn khá lớn từ nhà cung cấp để cung cấp nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất Phải trả nội bộ năm 2011 là 2.424.187 USD đến năm 2012 là 1.938.973 giảm 485.214 USD, sang năm 2013 thì phải trả nội bộ là 2.341.674 USD tăng 402.701 USD so với năm 2012 Nguyên nhân là
do trong các năm 2012, 2013 Công ty cũng chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế nên vấn đề tài chính gặp chút khó khăn khiến các khoản nợ tăng lên Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác năm 2011 là 3.218 USD nhưng đến năm 2012 đã tăng mạnh lên 32.856 USD tăng đến 29.638 USD, tuy nhiên sang năm 2013 thì các khoản phải trả lại có xu hướng giảm, các khoản phải trả phải nộp khác của năm 2013 là 16.487 USD giảm 16.369 USD Dù là Công ty 100% vốn nước ngoài, có nguồn VCSH mạnh nhưng nếu muốn mở rộng thị trường, Công ty vẫn cần một khoản vốn lớn bằng việc chiếm dụng những khoản vốn với chi phí lãi phải trả thấp
Để có thể hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của Công ty, ta sẽ xem xét qua bảng 2.4: Chỉ tiêu đánh giá toàn bộ nguồn vốn giai đoạn 2011 – 2013
Bảng 2.4: Chỉ tiêu đánh giá toàn bộ nguồn vốn giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: USD
Số tiền Chênh lệch Số tiền Chênh lệch Hiệu suất sử