Nhiều công trình nghiên cứu về thành phần các loài động, thực vật tại Đà Nẵng được thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX, tập trung chủ yếu tại hai khu bảo tồn thiên nhiên BTTN của thà
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
LÊ HÀ YẾN NHI
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỰC TUYẾN VÀ
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÀ NẴNG - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
LÊ HÀ YẾN NHI
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỰC TUYẾN VÀ
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Văn Khánh
ĐÀ NẴNG - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Lê Hà Yến Nhi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành đến ThS Nguyễn Văn Khánh – người đã trực tiếp hướng dẫn em
trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Sinh –
Môi trường, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tình giúp đỡ,
tạo điều kiện cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn lớp 11CTM đã động viên,
khích lệ, giúp đỡ để em có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Lê Hà Yến Nhi
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 3
1.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học 3
1.1.2 Phân loại đa dạng sinh học 4
1.2 CÁC HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỰC TUYẾN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Tại Việt Nam 6
1.3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.3.1 Vị trí địa lý 7
1.3.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.4 HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI ĐÀ NẴNG 9
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 12
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 12
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 12
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.3.1 Phương pháp kế thừa 13
2.3.2 Phương pháp lập danh mục 13
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 13
2.3.4 Phương pháp xây dựng website 14
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 15
3.1 ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA TP ĐÀ NẴNG 15
3.1.1 Đa dạng các loài động vật 15
a Khu hệ thú 15
b Khu hệ chim 16
c Khu hệ lưỡng cư 17
d Khu hệ bò sát 18
e Khu hệ bướm ngày 20
f Khu hệ mối 21
g Khu hệ giun đất 22
h Khu hệ san hô 24
i Các loài động vật đáy 25
Trang 7j Khu hệ cá biển 27
k Khu hệ cá sông 28
3.1.2 Đa dạng các loài thực vật 30
a Các loài thực vật trên cạn 30
b Các loài thực vật dưới nước 31
3.2 HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỰC TUYẾN VỀ ĐDSH CỦA TP ĐÀ NẴNG 34
3.2.1 Giới thiệu chung về website 34
3.2.2 Phân hạng và quyền lợi các nhóm người dùng 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
KẾT LUẬN 38
KIẾN NGHỊ 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
GBIF Global biodiversity information facility
NBDS Hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học Quốc gia
Trang 93.7 Đa dạng thành phần loài mối tại Đà Nẵng với các
3.10 So sánh thành phần san hô cứng của Đà Nẵng và các
khu vực khác vùng biển ven bờ Việt Nam 25 3.11 Số lƣợng và tỷ lệ các họ, giống, loài trong mỗi bộ cá 28
3.12 So sánh sự đa dạng các loài các trên sông Hàn với
3.13 Thống kê thành phần thực vật bậc cao ở Đà Nẵng 30 3.14 So sánh thành phần loài thực vật bậc cao ở Đà Nẵng 31 3.15 So sánh sự đa dạng các loài rong biển giữa Đà Nẵng
Trang 103.1 Biểu đồ tỷ lệ phân bố các loài giun đất trong mỗi họ 23
3.2 Biểu đồ tỷ lệ các ngành động vật đáy vùng biển ven bờ
3.3 Biểu đồ cấu trúc các bộ cá tại vùng biển Đà Nẵng 27 3.4 Biểu đồ thành phần các loài rong biển tại Đà Nẵng 32
3.7 Giao diện khi chọn mục loài trên thanh menu 36
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đà Nẵng là thành phố (TP) thuộc khu vực Trung Trung Bộ của Việt Nam Với diện tích hơn 1.285, 4 km2 (năm 2013) bao gồm huyện đảo Hoàng Sa, trong đó diện tích rừng chiếm gần 50%, đường bờ biển dài gần 90 m và trên 1.000 ha diện tích lưu vực sông, hồ, vùng trũng tạo nên sự đa dạng về địa hình cho thành phố.Đà Nẵng là nơi giao thoa của các tiểu vùng khí hậu, điều
đó đã dẫn đến đa dạng về các kiểu hệ sinh thái, đồng thời thành phố còn là nơi giao thoa của hai trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) lớn là Bạch Mã và Ngọc Linh Do đó các khu hệ động thực vật ở Đà Nẵng có mức độ đa dạng cao về thành phần loài (WWF, 2004)
Nhiều công trình nghiên cứu về thành phần các loài động, thực vật tại
Đà Nẵng được thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX, tập trung chủ yếu tại hai khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) của thành phố là khu BTTN Bà Nà – Núi Chúa và khu BTTN Sơn Trà như nghiên cứu của Đinh Thị Phương Anh năm 1997 về các khu hệ động, thực vật tại khu BTTN Sơn Trà [5]; hay các nghiên cứu về đa dạng các loài động, thực vật tại khu BTTN Bà Nà – Núi Chúa [19], [23], [45]… Tuy có nhiều nghiên cứu về ĐDSH tại TP Đà Nẵng, nhưng các công trình nghiên cứu này thường nằm riêng rẽ, phân tán trên các website, bài báo khoa học mà chưa được thống kê, tổng hợp gây khó khăn trong quá trình tìm kiếm thông tin, dữ liệu đã có về hiện trạng ĐDSH phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của nhiều đối tượng khác nhau Để đáp ứng
những nhu cầu thực tiễn cấp bách này, đề tài nghiên cứu “Xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu trực tuyến và đánh giá đa dạng sinh học tại thành phố Đà Nẵng” được lựa chọn nhằm thực hiện việc tổng hợp, sắp xếp các nguồn thông
tin về ĐDSH tại TP và xây dựng, quản lý một hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến về ĐDSH của TP Đà Nẵng
Trang 12 Đánh giá được hiện trạng ĐDSH trên toàn TP Đà Nẵng;
Xây dựng chương trình máy tính quản lý trực tuyến cơ sở dữ liệu về ĐDSH của TP Đà Nẵng
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin tổng hợp về thành phần các loài động vật, thực vật và đánh giá ĐDSH chung của toàn TP Nghiên cứu cũng xây dựng được một hế thống dữ liệu mở, cho phép tìm kiếm các thông tin về
ĐDSH của TP Đà Nẵng
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
1.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học
Khái niệm "đa dạng sinh vật" hay "đa dạng sinh học" được sử dụng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 của thế kỷ trước do Raymond F Dasmann đưa ra, sau đó được Thomas Lovejoy giới thiệu rộng rãi trong cộng đồng khoa học Định nghĩa rõ ràng và đầy đủ nhất lần đầu tiên được Bruce Wilcox nêu lên trong báo cáo của Liên minh Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN) tại Hội nghị Công viên quốc gia Thế giới năm 1982 tại Bali như sau "Đa dạng sinh học là sự đa dạng các dạng sống ở tất cả các mức
độ của các hệ sinh vật (phân tử, cơ thể, quần thể, loài, hệ sinh thái) " Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ “đa dạng sinh học” này
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (1990) đã định nghĩa ĐDSH là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi
tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái
Theo công ước Đa dạng sinh học năm 1992 thì ĐDSH được hiểu là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, thuật ngữ này bao hàm
sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái [20]
Tại Việt Nam, Luật đa dạng sinh học năm 2008 đã định nghĩa ĐDSH là
sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên [32]
Trang 141.1.2 Phân loại đa dạng sinh học
ĐDSH được xét đến ở cả ba cấp độ là đa dạng di truyền, đa dạng loài
và đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng di truyền được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau, cần thiết cho tất cả các loài để duy trì khả năng sinh sản, khả năng đề kháng với các loại dịch bệnh và khả năng thích nghi với những điều kiện sống thay đổi
Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm
Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái [20]
1.2 CÁC HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỰC TUYẾN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Trang fishbase (http://fishbase.org) là một hệ thống cơ sở dữ liệu về các loài cá trên toàn cầu, được xây dựng năm 1989 bởi nhà khoa học người Đức Rainer Froese và cộng sự Ngoài việc cung cấp hình ảnh và hệ thống phân loại về loài, website còn cung cấp các thông tin khác như phân bố địa lý, hình
Trang 15thái học, môi trường sống hay các dữ liệu về sinh sản, di truyền của loài [53] Tính đến tháng 2 năm 2015, fishbase đã cung cấp thông tin về khoảng 33.000 loài và phân loài cá, gần 56.000 hình ảnh với trên 51.000 tài liệu tham khảo được sử dụng Trung bình có khoảng 700.000 lượt truy cập vào website này mỗi tháng [54]
Năm 1999, xuất phát từ lời đề nghị của nhóm nghiên cứu về ĐDSH trên diễn đàn Megasciene, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đã xem xét
và phê duyệt việc thực hiện việc thành lập một cơ sở thông tin về ĐDSH toàn cầu Đến năm 2001, GBIF (Global Biodiversity Information Facility) chính thức thành lập với mục tiêu cung cấp thông tin về đa dạng sinh học miễn phí cho người dùng, phục vụ các hoạt động nghiên cứu và giáo dục Hiện nay, GBIF là cơ sở dữ liệu ĐDSH mở lớn nhất trên internet với thông tin về gần 1,5 triệu loài sinh vật Nhiều nhà khoa học đã tin dùng và trích dẫn GBIF như một nguồn dữ liệu cho các ấn phẩm của mình [55]
Iobis.org và marinespecies.org là những website cung cấp thông tin về tất cả các loài sinh vật biển tồn tại trên toàn cầu Tương tự fishbase hay GBIF, các website này cũng cung cấp hình ảnh và hệ thống phân loài của các loài sinh vật này Ngoài ra, tại Iobis.org người dùng còn có thể tìm thấy bản đồ phân bố của loài trên phạm vi toàn cầu cũng như các thông tin cụ thể về điều kiện sống của sinh vật như nhiệt độ, độ sâu, độ mặn hay hàm lượng oxy hòa tan trong nước biển [56]
Thông qua những website này, các nước thành viên còn được khuyến khích, hỗ trợ thành lập các cổng thông tin quốc gia về ĐDSH của nước mình bằng cách sử dụng miễn phí các công cụ, các dữ liệu có sẵn tại những website này Sự xuất hiện của các website về ĐDSH còn giúp liên kết và hình thành mạng lưới quốc tế của các nhà khoa học và các tổ chức liên quan khác nhằm cung cấp các giải pháp khoa học và dựa trên khoa học để giải quyết các vấn
Trang 16đề liên quan đến ĐDSH một cách toàn diện nhất, bởi lẽ ĐDSH và bảo tồn ĐDSH không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng quốc gia, khu vực mà là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu
1.2.2 Tại Việt Nam
Các hoạt động nghiên cứu về ĐDSH thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ XX trong phạm vi cả nước, nhưng kết quả của các nghiên cứu này ít khi được công bố rộng rãi Ngoài ra, số lượng các hệ thống cơ sở dữ liệu về ĐDSH của nước ta còn rất hạn chế, gây khó khăn cho mọi người trong việc tiếp cận nguồn thông tin phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu
Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam (http://botanyvn.com) và website sinh vật rừng Việt Nam là hai trong số rất ít các hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có của Việt Nam Xuất phát từ mong muốn xây dựng được bộ thực vật chí trên máy tính của một nhóm các sinh viên thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 7 tháng 11 năm 2007, trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam chính thức ra đời, tạo ra một công cụ tiện ích cho việc tìm kiếm thông tin các loài thực vật có ở Việt Nam Đến hết năm 2014, cơ sở
dữ liệu của website bao gồm trên 10 nghìn loài thực vật thuộc 2.513 chi, 347
họ, 92 bộ, 28 lớp và 14 ngành Thêm vào đó, website còn nhận được sự ủng
hộ và cố vấn của các nhà thực vật học hàng đầu nước ta hiện nay đến từ các Trường Đại học, cơ quan, tổ chức trong cả nước như Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thế Nhã, Trần Đình Nghĩa, Dương Đức Huyến… Họ là những người thẩm định các thông tin khoa học để đảm bảo độ chính xác của các thông tin này trước khi nó được đưa lên website cung cấp cho người dùng [44]
Website sinh vật rừng Việt Nam được hình thành với mong muốn đáp ứng yêu cầu khoa học phục vụ cho việc quản lý nhà nước về công tác nghiên cứu, bảo tồn thiên nhiên Việt Nam và công tác tra cứu, tìm hiểu các loài động,
Trang 17thực vật, côn trùng, các văn bản pháp quy liên quan đến việc quản lý, xây dựng và bảo vệ, phát triển rừng Đến tháng 2 năm 2015, website cho phép người dùng tìm kiếm thông tin của hơn 2.000 loài động vật, 3.220 loài thực vật và 1.000 loài côn trùng sống trong các khu rừng của Việt Nam [35]
Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên của Việt Nam thực hiện thành công việc xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu ĐDSH của tỉnh với dữ liệu của gần 1.300 loài động vật và 2.700 loài thực vật [52]
Sáng ngày 27 tháng 1 năm 2015, sau hơn 3 năm thực hiện, hệ thống cơ
sở dữ liệu ĐDSH Quốc gia (NBDS) chính thức ra mắt tại Hà Nội Hệ thống này là một trong những sản phẩm của dự án “Phát triển Hệ thống Cơ sở Dữ liệu Đa dạng Sinh học Quốc gia” được thực hiện bởi Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Tổng cục Môi trường Việt Nam và Bộ Tài nguyên Môi trường với
sự hợp tác của Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản NBDS được thiết kế đáp ứng với các tiêu chuẩn quốc tế để lưu trữ dữ liệu đa dạng sinh học toàn quốc bao gồm cả các danh lục loài động thực vật theo các hệ thống phân loại Việc phát triển NBDS giúp Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học thực hiện quản lý đa dạng sinh học hiệu quả thông qua việc thu thập các số liệu cần thiết để đánh giá, giám sát và báo cáo về tình trạng đa dạng sinh học NBDS được trông đợi
sẽ cung cấp nền tảng thông tin đa dạng sinh học cho những nhà kế hoạch, quan chức chính phủ, những nhà nghiên cứu cũng như công chúng [18]
1.3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Vị trí địa lý
TP Đà Nẵng có tọa độ từ 15055’ đến 16014’ vĩ độ Bắc và từ 107018’ đến 108020’ kinh độ Đông Diện tích tự nhiên của TP là 1.285, 4 km2
trong đó các quận nội thành chiếm diện tích 241, 51 km2, các huyện ngoài thành chiếm 1.043, 89 km2 Phía Bắc TP giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp Biển Đông
Trang 181.3.2 Điều kiện tự nhiên
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình nên nhiệt
độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mƣa từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhƣng không đậm và không kéo dài Các thông số khí tƣợng của TP năm 2013 đƣợc trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Các thống số khí tƣợng năm 2013 của TP Đà Nẵng
Nhiệt độ (0C) Độ ẩm (%) Lƣợng mƣa
(mm)
Số giờ nắng (giờ)
Trang 19Nhiệt độ trung bình năm 2013 của TP là 26, 20C; cao nhất vào các tháng 5, 6, 7, 8, trung bình từ 28 đến 300
C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, trung bình từ 200C đến 220
C Độ ẩm không khí trung bình là 81%, cao nhất vào tháng 3 (86%) và tháng 9 (85%) và thấp nhất vào tháng 6 (72%); Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.316, 7 mm/năm cao hơn năm 2012 gần 1.000mm và số giờ nắng bình quân của năm 2013 là 1.975, 5 giờ [40]
Địa hình TP Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Độ cao núi từ khoảng
700 - 1.500m, độ dốc lớn, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của TP
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của TP
1.4 HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng được thiên nhiên ưu đãi ban cho TP các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như Bà Nà – Núi Chúa, Sơn Trà hay khu rừng đặc dụng Nam Hải Vân Các khu BTTN này là nơi tập trung trú ngụ của nhiều loài động, thực vật phong phú, quý hiếm Theo báo cáo vào tháng 3 năm 2014 của Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng, toàn TP có 18 loài thực vật, 75 loài động vật rừng nằm trong danh mục các loài nguy cấp theo nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ; 62 loài thực vật và 21 loài động vật thông thường nhưng có giá trị
về kinh tế, môi trường [11], [12]
Trang 20Khu BTTN Bà Nà - Núi Chúa với tổng diện tích tự nhiên là 8.838 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên 8.350 ha chủ yếu là rừng giàu Đây là khu rừng có giá trị lớn về ĐDSH, nối liền với vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế), rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên phía Bắc và Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, tạo nên một dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam liên tục trải dài từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào Khu hệ thực vật tại đây tương đối đa dạng với 793 loài thực vật, thuộc 487 chi và 134 họ của 4 ngành trong đó có 19 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam [38] Về động vật, tại khu BTTN Bà Nà – Núi Chúa có 77 loài thú thuộc 28 họ, 10 bộ [21]; 241 loài chim thuộc 49 họ, 15 bộ [22] và trên 100 loài lưỡng cư, bò sát Hệ động vật khu BTTN Bà Nà - Núi Chúa có yếu tố đặc hữu cao với sự có mặt của
những loài đặc hữu hẹp như: Gà lôi trắng Beli (Lophura nyethemera beli), Gà lôi lam mào trắng (Lophurae dwardsi), Khướu đầu vàng (Garrulax milliti)
Khu BTTN Sơn Trà có diện tích hơn 4.430 ha cũng tương đối đa dạng
về thành phần loài với 985 loài thực vật, trong đó có 22 loài quý hiếm Động vật tại khu BTTN Sơn Trà xác định được 287 loài bao gồm 36 loài thú thuộc
18 họ, 8 bộ; 106 loài chim thuộc 34 họ, 15 bộ; 23 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ; 9 loài ếch nhái thuộc 4 họ, 1 bộ và 113 loài côn trùng thuộc 26 họ, 12 bộ Đặc biệt, Sơn Trà được ghi nhận là nơi cư trú của quần thể Voọc chà vá chân nâu là một loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam [5]
Theo kết quả điều tra của viện hải dương học Nha Trang năm 2006, rạn san hô ở TP Đà Nẵng hiện có 189 loài san hô cứng thuộc 13 họ và 5 loài san
hô mềm; 158 loài cá sống trong rạn san cùng 78 loài sinh vật đáy có kích thước lớn khác như thân mềm, da gai, giáp xác,…) Diện tích rạn san hô vùng ven biển Đà Nẵng là tương đối lớn khoảng 104,6 ha, nhưng có đến 85,3 ha trong tình trạng xấu và rất xấu (chiếm gần 82% tổng diện tích rạn) Trong khi
Trang 21đó, diện tích rạn san hô trong tình trạng rất tốt chỉ là 2 ha, tốt là 8,1 ha và trung bình là 9,2 ha [24]
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bài báo, báo cáo, công trình nghiên cứu… về thành phần loài cũng như ĐDSH của TP Đà Nẵng
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: tiến hành từ tháng 8/2014 đến tháng 4/2015
Không gian: toàn bộ khu vực TP Đà Nẵng bao gồm cả vùng biển
Hình 2.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu 2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài thực hiện các nội dung cụ thể sau:
Tìm kiếm, thu thập và kế thừa các thông tin liên quan đến ĐDSH tại Đà Nẵng;
Trang 23 Lập danh mục thành phần loài có tại TP Đà Nẵng theo hệ thống phân loại hiện hành;
Phân tích và đánh giá các số liệu hồi cứu đƣợc;
Xây dựng phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu về ĐDSH tại Đà Nẵng;
Các loài sau khi lập danh mục đƣợc tổng hợp thống kê, tính toán và vẽ biểu đồ so sánh bằng phần mềm Microsoft Excel 2010
Trang 242.3.4 Phương pháp xây dựng website
Website về ĐDSH của TP Đà Nẵng được viết bằng 3 ngôn ngữ lập trình chính là ASP.NET, SQLSERVER, API JAVASCRIPT ARCGIS Cơ sở
dữ liệu của website là danh mục thành phần các loài động, thực vật và khu vực phân bố của nó tại TP Đà Nẵng được kế thừa từ các bài báo, công trình nghiên cứu trước đây Các dữ liệu này được đưa vào website bằng cách mã hóa và tạo bảng liên kết các thông tin theo từng cấp bậc của loài (hình 2.2)
Hình 2.2: Sơ đồ thực thể quan hệ
Việc xây dựng và quản lý website được thực hiện bởi các sinh viên, giảng viên Khoa Tin học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA TP ĐÀ NẴNG
3.1.1 Đa dạng các loài động vật
a Khu hệ thú
Khu hệ thú tại TP Đà Nẵng tương đối đa dạng với 86 loài thuộc 10 bộ,
26 họ và 56 giống [5], [21], chiếm khoảng 26,7% tổng số loài thú được ghi nhận trong cả nước (Đặng Ngọc Cần và cộng sự, 2008) [10] Bộ Gặm nhấm
có số lượng loài lớn nhất là 24 loài thuộc 3 họ, 4 giống (chiếm 27,9%) Tiếp đến là bộ Ăn thịt và bộ Dơi với số lượng loài lần lượt là 21 và 20 loài Số lượng loài thấp nhất là bộ Cánh da và bộ Thỏ, chỉ với 1 loài trong mỗi bộ (chiếm 1,16%) Trong số 86 loài thú tại Đà Nẵng, có loài Voọc Chà vá chân
nâu (Pygathrix nemaeus) là loài đặc hữu của Việt Nam với quần thể lớn phân
bố ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà cùng nhiều loài thú quý hiếm có tên trong Nghị định 32/2006 NĐ-CP cũng như Sách đỏ Việt Nam như Nai
(Cervus unicolor), Cu li lớn (Nycticebus bengalensis), Sơn dương
(Naemorhedus sumatraensis)…
Sự đa dạng thành phần loài thú tại Đà Nẵng thấp hơn so với VQG Bạch
Mã, mặc dù diện tích tự nhiên của Đà Nẵng lớn hơn nhiều so với Bạch Mã (1.285,4 km2/220,3 km2) nhưng số lượng loài thú tại đây chỉ bằng 65,2% tổng số loài tại VQG Bạch Mã Hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định có diện tích lớn hơn
từ 5- 6 lần so với TP Đà Nẵng nhưng số lượng các loài thú đã điều tra được tại
ba khu vực là tương đương nhau nên có thể nói khu hệ thú tại Đà Nẵng đa dạng hơn khu hệ thú Quảng Ngãi và Bình Định (bảng 3.1)
Trang 26Bảng 3.1: Sự đa dạng của khu hệ thú Đà Nẵng với các khu hệ thú khác Khu hệ thú Bộ Họ Giống Loài Nguồn tài liệu
VQG Bạch Mã
UBND tỉnh Huế, 2005 [51]
Núi Chúa Sơn Trà
Trang 27Nguồn: Lê Vũ Khôi, 2002 [22]; Đinh Thị Phương Anh, 1997 [5]
Qua bảng 3.2 ta thấy số lượng các loài chim tại khu BTTN Bà Nà đa dạng hơn khu BTTN Sơn Trà Ở cả hai khu vực nghiên cứu, bộ Sẻ là bộ có số lượng loài lớn nhất, chiếm trên 50% tổng số loài được ghi nhận Riêng các loài chim thuộc bộ Nuốc chỉ ghi nhận được tại khu BTTN Bà Nà, ở khu BTTN Sơn Trà không ghi nhận được bất kỳ loài nào So với khu hệ chim cả nước, thành phần loài chim tại Đà Nẵng chiếm 75% số bộ (15/20 bộ) và gần bằng 36% tổng số loài chim trên toàn quốc [36], trong đó có 20 loài nằm trong danh mục các loài động thực vật quý hiếm của Việt Nam cần được bảo
vệ với 4 loài thuộc nhóm IB nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và 16 loài thuộc nhóm IIB thuộc diện hạn chế khai thác sử dụng
c Khu hệ lưỡng cư
Cấu trúc thành phần loài lưỡng cư tại Đà Nẵng gồm 43 loài thuộc 7 họ
và 24 giống [5], [26], [50] Trong số 7 họ Ếch nhái tại Đà Nẵng thì họ Ếch cây có số lượng lớn nhất với 10 loài chiếm 23,26%, họ Ếch nhái và họ Ếch nhái chính thức đều có 8 loài chiếm 18,6% và họ Nhái bén chỉ có 1 loài chiếm 2,33%
Trang 28Bảng 3.3: Đa dạng khu hệ lưỡng cư tại Đà Nẵng so với Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc 2009
Theo Danh mục các loài lưỡng cư công bố năm 2009 [33] thì toàn quốc
có 176 loài lưỡng cư thuộc 44 giống, 10 họ, 3 bộ Như vậy, thành phần loài lưỡng cư của Đà Nẵng với 43 loài chiếm 24,43%, 7 họ chiếm 70% và 1 bộ chiếm 33,33% so với toàn quốc So với khu hệ Ếch nhái của Việt Nam thì khu hệ lưỡng cư Đà Nẵng chỉ có 1 bộ không đuôi và vắng mặt 2 bộ là bộ có đuôi (Caudata) và bộ không chân (Gymnophiiona) và thiếu 3 họ là họ Cá cóc (Salamandridae), họ Ếch giun (Coecillidae) và họ Cóc tía (Discoglossidae)
d Khu hệ bò sát
Thành phần loài Bò sát tại Đà Nẵng thuộc 2 bộ là bộ Có vảy (Squamata) và bộ Rùa (Testudines) Bộ Có vảy chiếm ứu thế hơn với 11 họ,
74 giống và 75 loài Bộ Rùa chỉ có 5 họ, 10 giống, 10 loài [5], [6], [45]
Trong số 16 họ thì họ Rắn nước có số lượng loài lớn nhất là 30 loài chiếm 17,86%, thấp nhất là các họ Thằn lằn rắn, họ Kỳ đà, họ Rắn hai đầu, họ Vích, họ Rùa đầu to và họ Rùa núi với chỉ 1 loài trong mỗi họ chiếm 0,6%