Phần 2:tình hình bình đẳng giới các nước trên thế giớiĐây là vấn đề đã được quan tâm từ rất sớm , ngày 24/10/1945 khi liên hợp quốc được thành lập thì ngay năm 1946 ủy ban về địa vị phụ
Trang 1Chuyên đề kinh tế nguồn nhân lực
Phân tích bình đẳng giới trong các điều khoản của luật lao động dựa trên cơ sở vận dụng lý thuyết bình đẳng giới Minh họa bằng các số liệu thực tế ở Việt Nam.
Nhóm thực hiện : nhóm 5
Phạm Hoàng Tú
Phạm Kim Ngọc
Phạm Mạnh Hà
Nguyễn Thị Dung
Nguyễn Khánh Hà
Nguyễn Hoàng Vũ
Nguyễn Thị Ngát
Trang 2
Phần 1: lý thuyết chung
1 Giới và giới tớnh
Giới : bao gồm cỏc mối quan hệ và tương quan về địa vị xó hộ trong một
xó hội cụ thể Núi cỏc khỏc giới là sự cỏch biệt của nam và nữ xột về mặt xó hội
Giới tớnh :chỉ sự khỏc biệt giữa phụ nữ và nam giới xột về y sinh học Sự khỏc biệt này cú liờn quan đến quỏ trỡnh tỏi sản xuất ra con người
2 Bỡnh đẳng giới:
* theo WB là sự bỡnh đẳng về phỏp luật, cơ hội ( bỡnh đẳng về thự lao và tiếp cận cỏc nguồn lực), về tiếng núi ( khả năng tỏc động và đúng gúp cho quỏ trỡnh phỏt triển )
* theo ILO là sự bỡnh đẳng về cơ hội và đối xử trong việc làm giữa nam và nữ
Bỡnh đẳng cơ hội: được tuyển chọn, học tập, đào tạo và bồi dưỡng, cú cơ hội
tham gia vào cỏc lĩnh vực chớnh trị kinh tế xó hội ,sự tham gia thực tế vào cỏc hoạt động đồng thời phải cú cơ hội hiểu biết về cỏc biện phỏp kế hoạch húa gia đỡnh
Bỡnh đẳng trong đối xử: tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào đời sống
chớnh trị xó hội, ra quyết định trong cỏc cấp quản lý và trong quan hệ so sỏnh với nam giới
3 Vai trũ của giới
Vai trũ của nam giới
Vai trũ của nữ giới
Đặc tr ng về mặt xã hội
Do dạy và học mà có
Khác nhau theo vùng,
miền, dân tộc
Thay đổi đ ợc
Đặc tr ng về mặt sinh học Bẩm sinh
Giống nhau ở mọi nơi Không thể thay đổi đ ợc
Trang 3Phần 2:tình hình bình đẳng giới các nước trên thế giới
Đây là vấn đề đã được quan tâm từ rất sớm , ngày 24/10/1945 khi liên hợp quốc được thành lập thì ngay năm 1946 ủy ban về địa vị phụ nữ liên hợp quốc (CWS) đã được thành lập Hiện nay khi thế giới càng phát triển thì vấn
đề này càng được quan tâm
Theo thống kê của Social Watch ( một tổ chức phi chính phủ quốc tế về giám sát việc thực hiện các vấn đề xã hội ), ôt-xtrây-li-a, Phần Lan, Ai-xơ-len, Na Uy và Thụy Điển là những nước có chỉ số bình đẳng giới cao nhất Thành tựu đáng kể này có được là do họ đã có một thời gian dài tích cực thực thi chính sách giới Những nước có chỉ số bình đẳng giới thấp nhất là những nước như Yemen, Pakistan, Cốt-đi-voa, Togo, Ai Cập, ấn Độ, Nepal, Thổ Nhĩ Kỳ, Guatemala, Syria, Angiêri, A-rập Xê-út, Libăng và Sudan
Điển hình như nauy
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới Tuổi thọ trung bình cao, với nam 77 tuổi, với nữ 82,3 tuổi
Có được thành tựu ấy, người ta cho rằngdo Na Uy có nền kinh tế rất phát triển (GDP bình quân trên đầu người 60 ngàn USD) Nhưng chưa hẳn vậy Thực tế cho thấy có những nền kinh tế trên thế giới rất phát triển, quá phát triển, nhưng 2 chỉ số trên không cao Vậy nên một hệ thống luật pháp đồng
bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ có thể là nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên chỉ số bình đẳng giới kia Ngoài
ra còn lý do khác Đó là Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề Bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển của đất nước họ
Nauy là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu
cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930, Na Uy cũng tự hào có Luật Bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép, trừ khi nhằm bảo vệ những quyền đặc biệt như bảo vệ phụ nữ trong thời kỳ mang thai, sinh nở, cho con bú
Trang 4Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: Khi quảng cáo tuyển dụng, người sử dụng lao động không được hạn chế tuyển một giới, cũng không được gây ấn tượng rằng họ mong muốn hay thích tuyển một giới nào đó Khi
đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao động cũng không được phân biệt nam nữ Lao động nam và nữ trong cùng một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như nhau hoặc công việc có giá trị như nhau
Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mà không phân biệt tuổi tác
Đặc biệt Luật Bình đẳng giới có 1 mục quy định: “Khi thành lập và bổ
nhiệm, bầu cử các thành viên của một cơ quan nhà nước, uỷ ban, hội đồng, ban… có từ 4 thành viên trở lên thì mỗi giới phải có đại diện với tỷ lệ ít nhất
là 40% Đối với uỷ ban có từ 2 đến 3 thành viên thì phải có đại diện cả hai giới trong các uỷ ban này” Bộ Gia đình và Bình đẳng giới ở Na Uy là cơ
quan được Chính phủ giao cho chức năng giám sát việc thực hiện điều khoản trên Nếu cơ quan, đơn vị nào không đạt tỷ lệ đã quy định thì Bộ này
đề nghị Chính phủ không cho phép thành lập Do vậy, đến nay cơ quan các cấp ở Na Uy đã đạt được tỷ lệ trung bình 43% nữ Bên cạnh đó, một Cơ quan thanh tra về bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử trực thuộc Bộ Gia đình và Bình đẳng giới cũng ra đời giúp Chính phủ nhận đơn khiếu nại hoặc phát hiện những vấn đề bất bình đẳng giới trình lên trên để cùng giải quyết
Cùng với Luật Bình đẳng giới, Na Uy có hệ thống các luật chuyên ngành và các luật liên quan khác với các điều khoản thống nhất, đồng bộ cùng hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền cho phụ nữ Theo những bộ luật đó, ở Na Uy, nam và nữ cùng nghỉ hưu ở tuổi 67 Nếu đến 67 tuổi, ai còn muốn làm việc tiếp đều được chấp nhận Chính phủ khuyến khích đi làmtừ 16 tuổi, nghỉ hưu ở tuổi 74 và làm việc càng lâu càng tốt Tuy nhiên, phụ nữ vẫn có quyền nghỉ sớm từ tuổi 60 nếu họ muốn
Cũng có một số Trung tâm dịch vụ giải quyết cho nam giới khi bị bạo lực nhưng họ không đến nhiều Tuy nhiên, Na Uy là nước đầu tiên ở Châu Âu
có các Trung tâm này cho nam giới"
Nguồn (2006)
Trang 5Phần 3 :cái nhìn chung về bình đẳng giới ở Việt Nam
Tính đến tháng 4/2006
Chỉ số phát triển con người, HDI (xếp hạng trong số 177 nước, 2006): 109 Chỉ số phát triển liên quan đến giới, GDI (xếp hạng trong số 136 nước, 2006): 11
Tuổi thọ trung bình tính từ khi sinh (2004): 71 năm
Nam giới: 68,6 năm
Phụ nữ : 72,6 năm
Nguồn : web liên hợp quốc
Chúng ta sẽ xem xét trên bốn lĩnh vực giáo dục ,chăm sóc sức khỏe ,kinh tế
và tham chính
1 Trong lĩnh vực giáo dục
Bình đẳng giới trong giáo dục đào tạo là kết quả của quá trình phấn đấu lâu dài, việc nâng cao dân trí là tiền đề phát triển của xã hội vì thế chúng ta phải quan tâm đến cả hai giới
Tỷ lệ đi học chung ở trung học phổ thông năm học 2003-2004 của nữ là 45,2% và của nam là 45,7% Tỷ lệ này tăng liên tục trong những năm gần đây Khoảng cách về tỷ lệ đi học giữa nam và nữ cũng đang dần được thu hẹp kể từ năm 2000 đến nay ,có được điều này là do những nỗ lực đáng kể của chính phủ trong vấn đề bình đẳng trong giáo dục phổ thông
Trang 6Tuy nhiên khi xem xét tỷ lệ này ở các cấp độ giáo dục khác nhau thì ta có thể dễ dàng thấy sự chênh lệch giữa hai giới
trình độ học vấn của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực kinh tế và các ngành nghề
Cập nhật: 14-12-2005
Trình độ học vấn của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực kinh tế và các ngành nghề (Ðơn vị %)
Nguồn : web tổng cục thống kê
Càng lên cao sự chênh lệch giữa nam và nữ càng gia tăng, điều này cho thấy
cơ hội học lên cao của nữ giới là hạn chế hơn so với nam giới
2 Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
Chăm sóc sức khỏe, nhất là chăm sóc sức khỏe cho nữ giới không chỉ là quan tâm đến thế hệ hiện tại mà còn là quan tâm tới các thế hệ tương lai
Khu vực kinh tế và các
ngành nghề
Có bằng trung học chuyên nghiệp
Có bằng cao đẳng
và đại học
Có học vị trên đại học Khu vực kinh tế Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam
Khu vực kinh tế nhà
nước
58,8 41,2 43,3 56,7 24,7 75,3
Khu vực kinh tế tập thể 40,0 60,0 28,0 72,0 13,3 86,7
Khu vực kinh tế tư nhân 44,5 55,5 40,0 60,0 18,8 81,2
Khu vực kinh tế cá thể 40,1 59,9 31,9 68,1 15,7 84,3
Khu vực kinh tế hốn hợp 44,7 55,3 37,7 62,3 18 82
Khu vực KT 100% vốn
nước ngoài
42,8 57,2 41,1 58,9 24,3 75,7 Kinh tế không xác định 65,0 35,0 52,9 47,1 28,6 71,4
Trang 7Tỷ lệ suy dinh dưỡng có xu hướng giảm tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch giữa hai giới điều này cho thấy vẫn có “ ưu tiên” trong vấn đề chăm sóc
Còn trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản theo điều tra ta thấy nhóm tuổi dưới 20 là nhóm tuổi có tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thấp nhất, nguyên nhân chính là do sự thiếu quan tâm trong vấn đề giáo dục giới tính dẫn tới sự thiếu hiểu biết ở nhóm tuổi này
Tóm lại trên phạm vi cả nước chỉ số bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong những năm gần đây đặc biệt là chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em
Trang 83 Trong lĩnh vực kinh tế
a Tiếp cận nguồn lực tài chính
Nghiên cứu chung cho thấy rằng tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ với các
tổ chúc tiết kiệm và tín dụng giúp nâng cao địa vị kinh tế và an sinh cho họ, đồng thời cũng cải thiện các phúc lợi hộ gia đình Khi được tiếp cận với tín dụng vị thế của chị em trong gia đình và cộng đồng có khuynh hướng được cải thiện ,vai trò ra quyết định được nâng cao Tuy nhiên trong thực tế ta thấy phụ nữ luôn ít cơ hội tiếp cận với nguồn lực này hơn nam giới
Có sự bất bình đẳng này là do thủ tục ngân hàng còn phức tạp đòi hỏi nhiều giấy tờ gây trở ngại cho người vay nhất là phụ nữ nghèo và những người ít học ,ít được tiếp cận với thông tin Nguyên nhân tiếp theo là họ không có thế chấp, hiện nay đa phần phụ nữ ko có tên trong giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, tình trạng này đã giảm bớt khi luật hôn nhân có điều khoản quy định phải ghi tên cả vợ lẫn chồng trong giấy tờ nhà Một rào cản cũng khá là phổ biến khiến phụ nữ bị thiệt thòi hơn là do quan niệm truyền thống thì nam giới là người quyết định các khoản tiền lớn chứ không phải là phụ nữ, các mối quan hệ bên ngoài với chính quyền hoặc cán bộ ngân hàng cũng được coi là phù hợp với nam giới hơn là đối với phụ nữ
b Cơ hội việc làm
Về việc tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm và thu nhập bình đẳng với nam giới không chỉ nâng cao địa vị kinh tế của phụ nữ mà còn huy động được
Trang 9mợi lực lượng lao động tham gia một cách có hiệu quả vào hoạt động kinh
tế, góp phần nâng cao tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Tỷ lệ nữ giới tham gia vào hoạt động kinh tế ở nước ta là khá cao, tuy nhiên theo tìm hiểu thì giới nữ thường tập trung trong cách ngành như nông
nghiệp ,thương nghiệp hoặc trong khu vực kinh tế phi chính thức
Ta có thể thấy sự chênh lệch rất rõ trong việc tham gia công việc nội trợ ( số giờ làm việc nội trợ bình quân một ngày của lao động nữ từ 15 tuổi trở lên cao gấp 2,5 lần ở nam ở thành thị và 2,3 lần ở nông thôn),chính sự chênh lệch này đã hạn chế rất nhiều việc người phụ nữ có thể tìm việc làm, vì ngay
cả khi đi làm người phụ nữ vẫn phải đảm nhiệm các công việc nội trợ
Trang 104 Trong lĩnh vực tham chính
Tỷ lệ phụ nữ tham chính ở nước ta có xu hướng tăng cụ thể là tỷ lệ nữ đại biểu trong quốc hội qua các kỳ bầu cử
Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các kỳ bầu cử
Cập nhật: 02/05/2007
Nhiệm kỳ Nữ ĐB Tổng số
ĐB
Tỷ lệ nữ/
Tổng số
Trung tâm Thông tin - theo Văn phòng Quốc hội
Một số công trình nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng để phụ nữ thực sự có ảnh hưởng chính trị thì họ phải nắm giữ ít nhất là 30% vị trí trên chính trường Tuy nhiên, chỉ có một số ít quốc gia là vượt qua được mức này và hầu hết là các nước Bắc Âu như Na Uy (39%), Thuỵ Điển (34%) và Đan Mạch (33%) Còn ở VN mặc dù có nhiều cố gắng nhưng tỷ lệ phụ nữ trong chính quyền vẫn còn thấp
Trang 11Chính vì vậy, phụ nữ ít có cơ hội được cống hiến và tham gia vào việc hoạch định chính sách và xác định các ưu tiên chiến lược của địa phương, quốc gia
và khu vực Hơn thế nữa, những quan điểm của họ cũng ít được xem xét đến trong quá trình hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia, các nhà hoạch định chính sách (chủ yếu là nam giới) rất do dự khi phải xử lý những vấn đề liên quan tới phụ nữ
Phần 4 :phân tích bình đẳng giới trong các điều khoản của luật
lao động
Luật lao động hiện hành đã đảm bảo được khá tốt tính bình đẳng giới tuy nhiên khi đi vào thực tế thì luật vẫn chưa phát huy hết hiệu quả là một bộ luật bảo vệ người lao động đặc biệt là lao động nữ Sau đây chúng ta sẽ phân tích đi sâu một số điều khoản có liên
1 pháp luật lao
động về việc làm :
điều 109 khoản 1,
điều 110 khoản 2
khuyến khích các
doanh nghiệp sử
dụng lao động nữ
Tuy vậy, kết quả điều tra hơn
1000 DN sử dụng nhiều LĐN của trung tâm nghiên cứu về LĐN (thuộc Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) vào cuối năm 1999 cho thấy:
Nguyên nhân
Là do bản thân các khuyến khích này chưa đủ hấp dẫn
Để đạt được yêu cầu
ưu đãi doanh nghiệp phải đạt được một số
Trang 12(được cụ thể hóa
ở nghị định 23/CP
23/4/1996 )
Không có DN nào làm thủ tục để xin miễn giảm thuế, không có
DN nào lập kế hoạch đào tạo nghề dự phòng cho LĐN, và các
DN này chưa được hưởng chế độ
ưu đãi đối với những DN sử dụng nhiều LĐN
điều kiện Giấy tờ xin cấp ưu đãi rất rắc rối
2 Thời giờ làm
việc và nghỉ ngơi
điều 69 ,điều 115
Hiện tượng làm thêm giờ th-ường xảy ra ở các doanh nghiệp may, da giày và chế biến thuỷ sản, ở Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian mà công nhân của các doanh nghiệp này phải làm thêm thường vượt quá 3 lần quy định, với mức 600 giờ/năm so 200 giờ/
năm (theo Luật Lao động)
http://irv.moi.gov.vn ( Web bộ công nghiệp )
Hiện còn khoảng 6,5% LĐ trong
DN FDI phải làm việc bình quân trên 10 tiếng/ngày, 18% làm từ 8
- 10 tiếng, trong khi đó chỉ có 52% LĐ làm việc 8 tiếng/ngày
Nhưng lại có khoảng 65% LĐ làm việc 6 ngày/tuần, 25% làm 7 ngày/tuần
Báo thanh niên 03/09/2007
Nguyên nhân Các doanh nghiệp chủ yếu làm theo đơn đặt hàng nên chịu áp lực rất lớn về thời gian hoàn thành hợp đồng
Do sự thiếu hiểu biết của công nhân nữ Thiếu sự thanh tra giám sát của nhà nước
3 Tiền lương và
thu nhập:
Điều 111 khoản 1
về bình đẳng
trong trả công,
nâng lương giữa
lao động nam và
lao động nữ
Theo điều tra năm 2002, thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ chiếm 85% thu nhập của nam (tỷ lệ này ở khu vực nông nghiệp chỉ là 66% và ở khu vực công nghiệp là 78%) Mặc dù lao động nữ được hưởng các khoản trợ cấp theo các quy định của luật lao động, nhưng tổng thu nhập của lao động nữ vẫn thấp hơn lao
Nguyên nhân:
Sự chênh lệch trong việc giáo dục đào tạo dẫn đến trình độ chuyên môn ở giới
nữ thường kém hơn Tập trung trong các lĩnh vực nông nghiệp nên thu nhập cũng ko cao
Trang 13động nam
(Nguồn: Website Tổng
LĐLĐVN)
4.an toàn vệ sinh
lao động
Điều 113, 116
- Việc khám chuyên khoa cho lao
động nữ ít được các cơ sở chú trọng, chỉ có 4.87% số cơ sở thực hiện khám chuyên khoa cho lao động nữ Một số địa phương có
tỷ lệ các cơ sở thực hiện khám chuyên khoa cho lao động nữ rất thấp, thậm chí không thực hiện
đó là Hải Phòng (0%), Hà Tây (0%), Hà Nam (0%), Thừa Thiên
- Huế
- Tỷ lệ lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại trong các
cơ sở sản xuất này khá cao, chiếm 9.16% tổng số lao động trực tiếp sản xuất Các địa phương có tỷ lệ lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại cao
là Gia lai (57.59%), Thừa Thiên -Huế (12.83%), Hà Tây (12.70%)
(0%), Gia Lai (0%)
Kết quả điều tra năm 2000 của
Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội tại 129 doanh nghiệp và
1376 lao động nữ trong các ngành than, dệt may và đường sắt, thuỷ sản, nông nghiệp, hóa chất, bưu chính viễn thông
Nguồn: Cục An toàn lao động.
Trong các doanh nghiệp điều kiện cơ sở vật chất cha đảm bảo
Nguyên nhân
Do thiếu sự quan tâm
từ phía doanh nghiệp Chị em chưa hiểu rõ quyền lợi của mình Nhà nước thiếu sự kiểm tra ,giám sát