1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam

128 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 617,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1.1 Đặc

Trang 1

PHầN Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định “phấn đấu xây dựng Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020” đã đặt ra yêu cầu cấp thiết với những mục tiêu phát triển mới cho mỗi ngành, mỗi cấp trong tiến trình CNH - HĐH đất nước

Thời gian qua, đặc biệt với 20 năm đổi mới, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị - xã hội và đang từng bước hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới Với luật đầu tư nước ngoài được đánh giá là thông thoáng và có nhiều ưu đãi so với các nước khác, chúng ta

đã thu hút được một lượng vốn đầu tư đáng kể cho phát triển kinh tế xã hội

Lộ trình ra nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, thực hiện Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và tiến tới ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Việt Nam đã thực hiện từng bước xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan từ đó tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới

Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, phát triển các ngành công nghiệp cần được quan tâm hơn nữa nhằm khai thác tốt tiềm năng nội lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính

vì vậy, ngày 5 tháng 10 năm 2004 Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTG về việc phê duyệt phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 nhằm “ phát triển nhanh ngành công nghiệp ôtô trên cơ sở thị trường và hội nhập với nền kinh tế thế giới ; lựa chọn các bước phát triển thích hợp, khuyến khích chuyên môn hoá - hợp tác hoá nhằm phát huy lợi thế tiềm năng của đất nước; đồng thời tích cực

Trang 2

tham gia quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế trong ngành công nghiệp ôtô”.

Bên cạch việc ban hành những chính sách kinh tế vĩ mô thì Việt Nam cũng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý kinh tế Một trong những cố gắng đáng kể đó là việc hoàn thiện chế độ kế toán theo hướng phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế Việc ban hành chế độ kế toán mang tính pháp lý cao đòi hỏi các ngành cũng nh DN phải nghiên cứu

và triển khai áp dụng một cách kịp thời cho đặc thù sản xuất kinh doanh của mình

Trong điều kiện hiện nay, khi có sự bùng nổ về khoa học công nghệ thì phương thức lao động được thay đổi đáng kể từ lao động thủ công sang lao động cơ giới hoá và tự động hoá Vì vậy, máy móc thiết bị và công nghệ nói chung, tài sản cố định (TSCĐ) của DN nói riêng ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của DN

Công nghiệp ôtô Việt Nam hiện nay bao gồm 11 DN liên doanh sản xuất ôtô, trên 160 DN trong nước sản xuất, lắp ráp, sửa chữa ô tô và chế tạo phụ tùng, trong đó có khoảng gần 20 cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô, gần 20 cơ

sở sản xuất thân xe và rơ moóc và hơn 60 cơ sở tham gia chế tạo phụ tùng Tại thời điểm này có thể nói, sự phát triển của các DN liên doanh sản xuất ôtô đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, đó là những DN chiếm thị phần lớn và chịu ảnh hưởng trực tiếp của tiến bộ khoa học công nghệ mới Do đó, việc đầu tư, khai thác và quản

lý tốt TSCĐ sẽ góp phần quan trọng đảm bảo cho các DN liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam phát triển vững chắc và cạnh tranh thắng lợi

2 Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ lý luận về tổ chức kế toán TSCĐ trong các DN

Trang 3

- Tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức TSCĐ trong các DN sản xuất ôtô tại Việt Nam trong thời gian qua.

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán TSCĐ trong các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập đến hai loại TSCĐ là: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình

- Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức kế toán TSCĐ và thực tiễn tổ chức kế toán TSCĐ trong các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt nam cũng như phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán TSCĐ trong các DN liên doanh sản xuất ôtô tại Việt nam cho phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê nin để luận giải các vấn đề

có liên quan; phương pháp thống kê, hệ thống hoá và ngoại suy kết hợp với phương pháp tổng hợp phân tích tình hình thực tiễn, khảo sát thu thập tư liệu

5 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá và tổng kết cơ sở lý luận về TSCĐ và tổ chức kế toán TSCĐ trong các DN sản xuất kinh doanh, để làm cơ sở lý luận cho các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ trong các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam

Trang 4

- Khảo sát thực tế về tình hình trang bị , quản lý sử dụng và tổ chức kế toán TSCĐ ở một số DN liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam

- Đề xuất được những giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ ở cả góc độ

lý luận nói chung và thực tiễn kế toán TSCĐ trong các liên doanh sản xuất ôtô nói riêng

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các bảng, hình, Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN sản xuất Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô

việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện tổ chức kế toán TSCĐ trong các DN liên doanh SX

ôtô Việt NamCuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ

ĐỊNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1.1 Đặc điểm tài sản cố định và điều kiện nhận dạng tài sản cố định

Tài sản cố định (TSCĐ) là những tài sản có thể có hình thái vật chất

cụ thể và cũng có thể chỉ tồn tại dưới hình thái giá trị được sử dụng để thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quá trình SXKD, có giá trị lớn và sử dụng được trong thời gian dài

Tuỳ theo điều kiện, yêu cầu và trình độ quản lý trong từng giai đoạn phát triển kinh tế mà Nhà nước qui định cụ thể tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng của những tư liệu lao động được xác định là TSCĐ.Theo chuẩn mực kế toán ban hành tại quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 thì những tư liệu lao động phải thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn sau mới được gọi là TSCĐ:

- Chắc chắn thu được lợi Ých trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó

- Nguyên giá TSCĐ phải được xác định một cách đáng tin cậy

- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm

- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo qui định hiện hành

Để có được những thông tin hữu Ých nhằm phục vụ tốt cho công tác quản lý và sử dụng TSCĐ, DN cần phải thực hiện tốt công tác tổ chức kế toán TSCĐ Từ đó có được những thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hình tăng giảm của TSCĐ của toàn DN cũng như ở từng bộ phận trên các mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu, giá trị đồng thời kiểm soát

Trang 6

chặt chẽ việc bảo quản, bảo dưỡng và sử dụng TSCĐ ở các bộ phận khác nhau nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ.

TSCĐ là cơ sở vật chất chủ yếu, giúp cho DN đạt được các mục tiêu

về hoạt động tài chính trong quá trình SXKD Nhiệm vụ đặt ra đối với mỗi

DN là phải tăng cường công tác quản lý TSCĐ nhằm đạt hiệu quả cao Đồng thời nhờ việc quản lý tốt TSCĐ, DN sẽ phát triển sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm, hạ giá thành, tăng vòng quay của vốn và đổi mới trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường

1.1.2 Yêu cầu quản lý tài sản cố định

Những yêu cầu về quản lý TSCĐ được quy định cụ thể trong Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 Nội dung này về cơ bản bao gồm một

số yêu cầu sau:

TSCĐ được tổ chức theo dõi từng đơn vị TSCĐ riêng biệt Mỗi đối tượng TSCĐ phải có một bộ hồ sơ riêng, phải được theo dõi toàn diện từ khi hình thành đến khi thanh lý, nhượng bán Các TSCĐ phải được đánh số hiệu riêng Khi có biến động về TSCĐ phải căn cứ vào các biên bản, các chứng

từ có liên quan để ghi sổ Các DN có thể tự phân loại chi tiết hơn TSCĐ trong từng nhóm TSCĐ phù hợp với yêu cầu quản lý của DN

Khi thanh lý nhượng bán TSCĐ, DN phải lập hội đồng để xác định giá trị thu hồi khi thanh lý, xác định giá bán TSCĐ, tổ chức việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ theo quyết định hiện hành

Thời gian sử dụng TSCĐ được xác định dựa vào tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế, hiện trạng TSCĐ, tuổi thọ kinh tế của TSCĐ Đối với TSCĐ còn mới hay đã qua sử dụng mà giá trị thực tế còn từ 90 % trở lên

Trang 7

phải xác định thời gian sử dụng căn cứ vào khung thời gian sử dụng TSCĐ được quy định trong chế độ.

Đối với TSCĐ thuê hoạt động, DN có trách nhiệm quản lý, sử dụng theo các quy định trong hợp đồng thuê DN không trích khấu hao đối với những TSCĐ này, chi phí thuê TSCĐ được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ

Phải tiếp tục thực hiện việc quản lý sử dụng TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Đối với TSCĐ đang sử dụng, phải theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao theo chế độ quy định Đối với TSCĐ thuê tài chính, chỉ theo dõi quản lý, sử dụng như đối với TSCĐ thuộc sở hữu của DN

1.1.3 Vai trò tổ chức kế toán tài sản cố định

TSCĐ có vai trò hết sức quan trọng, nếu các DN tổ chức quản lý và sử dụng TSCĐ có hiệu quả thì sẽ mang lại nguồn lợi lớn cho DN mình, ngược lại sẽ gây ra sự lãng phí, thất thoát, giảm năng lực sản xuất Do đó:

- Phải quản lý TSCĐ nh là yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, góp phần tạo năng lực sản xuất của đơn vị Kế toán phải cung cấp thông tin về số lượng tài sản hiện có, tình hình tăng, giảm TSCĐ trong đơn vị

- Kế toán phải cung cấp những thông tin về các loại vốn cần thiết để đầu tư mới cũng nh để sửa chữa TSCĐ

- Do TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất nên luôn cần được đổi mới không ngừng Các DN luôn phải đề cao trách nhiệm làm chủ nguồn vốn, quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển số vốn này một cách khoa học,

có hiệu quả Hơn nữa, kế toán TSCĐ rất phức tạp vì các nghiệp vụ về TSCĐ nhiều và thường có quy mô lớn, thời gian phát sinh dài nh mua sắm, xây dựng, khấu hao, sửa chữa, thanh lý… Thêm vào đó, yêu cầu quản lý TSCĐ rất cao, do vậy, để đảm bảo ghi chép kịp thời, chính xác các nghiệp vụ kinh

Trang 8

tế phát sinh và cung cấp những thông tin hữu hiệu nhất cho quản lý thì cần thiết phải tổ chức hạch toán TSCĐ.

- Một đặc điểm riêng có của TSCĐ hữu hình là trong quá trình SXKD, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhưng giá trị của nó giảm dần sau mỗi chu kỳ SXKD Vì vậy trong công tác quản lý TSCĐ cần theo dõi cả về mặt hiện vật và mặt giá trị của TSCĐ:

Quản lý về mặt hiện vật: bao gồm cả quản lý về số lượng và chất lượng của

TSCĐ Về lượng, bộ phận quản lý TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ về công suất, đáp ứng yêu cầu SXKD của DN Về mặt chất lượng, công tác bảo quản phải đảm bảo tránh được hỏng hóc, mất mát các bộ phận chi tiết làm giảm giá trị TSCĐ Để thực hiện tốt vấn đề này, mỗi DN cần xây dựng nội qui bảo quản và sử dụng TSCĐ một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm hoạt động của mình Đồng thời để có thể sử dụng TSCĐ một cách có hiệu quả, các đơn vị cần tiến hành xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng loại, từng nhóm TSCĐ

Quản lý về mặt giá trị: Là xác định đúng nguyên giá và giá trị còn lại TSCĐ

đầu tư, mua sắm, điều chuyển Đơn vị phải tính toán chính xác và đầy đủ chi phí khấu hao TSCĐ và phân bổ chi phí khấu hao vào giá trị TSCĐ khi tiến hành sửa chữa, tháo dỡ, nâng cấp, cải tiến TSCĐ và đánh giá lại TSCĐ Trên cơ sở quản lý về mặt giá trị TSCĐ, đơn vị sẽ có kế hoạch điều chỉnh TSCĐ (tăng hoặc giảm TSCĐ ) theo loại TSCĐ cho phù hợp với yêu cầu hoạt động của đơn vị

Vai trò của TSCĐ và tốc độ tăng TSCĐ trong sự nghiệp phát triển kinh tế quyết định yêu cầu và nhiệm vụ ngày càng cao của công tác quản lý

và sử dụng TSCĐ Việc tổ chức tốt công tác hạch toán để thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình tăng giảm TSCĐ về số lượng và giá trị, tình hình sử dụng và hao mòn TSCĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý

Trang 9

Sử dụng đầy đủ, hợp lý công suất của TSCĐ góp phần phát triển SXKD, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng TSCĐ.

1.2 PHÂN LOẠI, ĐÁNH GIÁ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

1.2.1 Phân loại tài sản cố định

TSCĐ của DN gồm: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình (trong đó bao gồm cả TSCĐ thuê tài chính), các khoản đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán dài hạn…) và tình hình thực hiện công tác đầu tư XDCB ở DN

TSCĐ trong mét DN rất đa dạng, có sự khác biệt về tính chất kỹ thuật, công dụng, thời gian sử dụng… Do vậy phân loại TSCĐ theo những tiêu thức khác nhau là công việc hết sức cần thiết nhằm quản lý thống nhất TSCĐ trong DN, phục vụ phân tích đánh giá tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ cũng như để xác định các chỉ tiêu tổng hợp liên quan đến TSCĐ Phân loại TSCĐ là một trong những căn cứ để tổ chức kế toán TSCĐ

TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ do DN sử

dụng cho các mục đích kinh doanh:

- Đối với TSCĐ hữu hình, DN phân loại như sau:

+) Nhà cửa, vật kiến trúc là TSCĐ của DN được hình thành sau quá trình thi công xây dựng hoặc mua sắm như trụ sở làm việc, nhà kho, đường xá …+) Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của DN nh dây chuyền công nghệ, máy móc đơn lẻ…

+) Phương tiện vận tải, truyền dẫn: Là các phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và thiết bị truyền dẫn ….+) Thiết bị, dụng cụ quản lý là những thiết bị dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của DN nh máy vi tính, thiết bị điện tủ …

Trang 10

+) Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và / hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây lâu năm nh vườn cà phê, vườn cao su và các súc vật (trâu, bò sữa…)+) TSCĐ hữu hình khác: là toàn bộ các TSCĐ hữu hình khác chưa liệt kê vào các loại trên như các tác phẩm nghệ thuật, sách chuyên môn, tranh ảnh…

- TSCĐ vô hình: bao gồm các loại

TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nhiệp, an ninh, quốc phòng:

Là những TSCĐ do DN quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng trong DN và cũng được phân loại nh trên

TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước :

Là những TSCĐ DN bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cất giữ hộ Nhà nước theo qui định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

TSCĐ chê thanh lý, không cần dùng :

Là những TSCĐ hư hỏng không thể tiếp tục sử dụng được , những TSCĐ lạc hậu về kỹ thuật hoặc không phù hợp với yêu cầu SXKD

Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu thì TSCĐ được phân thành:

- TSCĐ tự có (hay TSCĐ thuộc sở hữu của DN): Là các TSCĐ được mua sắm, xây dựng và hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của DN Đó là những

Trang 11

DN có quyền sở hữu chính thức hoặc được Nhà nước uỷ quyền quản lý và

Ngoài ra TSCĐ còn được phân loại theo nguồn hình thành:

- TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu

- TSCĐ được hình thành từ các khoản nợ phải trả

Mỗi cách phân loại trên đây cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ của DN theo các tiêu thức khác nhau Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá các loại TSCĐ của DN trong một thời kỳ nhất định Kết cấu TSCĐ của DN trong các thời kỳ khác nhau cũng khác nhau Sự biến động của kết cấu TSCĐ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như quy mô sản xuất, khả năng thu hút vốn đầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất Tuy nhiên, đối với các DN, việc phân loại và phân tích kết cấu TSCĐ là một việc làm cần thiết giúp cho DN chủ động biến đổi kết cấu TSCĐ sao cho có lợi nhất trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của DN

Phân loại TSCĐ góp phần quan trọng trong việc quản lý tài sản cũng như việc tổ chức hạch toán TSCĐ được nhanh chóng, chính xác, từ đó cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý nhằm cải tiến, thay đổi TSCĐ theo kịp với tiến trình phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ Tuỳ theo quy mô

và cách thức tổ chức quản lý của mỗi DN mà có thể tự phân loại chi tiết hơn các TSCĐ trong từng nhóm cho phù hợp với quản lý và hạch toán TSCĐ

Trang 12

1.2.2 Đánh giá tài sản cố định

1.2.2.1 Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá:

Nguyên giá TSCĐ hữu hình:

TSCĐ mua sắm: Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm bao gồm giá

mua (trừ (-) các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: chi phí chuẩn bị mặt bằng, chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu, chi phí lắp đặt, chạy thử (trừ (-) các khoản thu hồi về sản phẩm, phế liệu do chạy thử) chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác

TSCĐ hữu hình do đầu tư xây dựng cơ bản theo phương thức giao thầu: Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng theo phương

thức giao thầu, nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng, các chi phí liên quan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có) Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải được xác định riêng biệt và ghi nhận là TSCĐ

vô hình

TSCĐ hữu hình mua trả chậm: Trường hợp TSCĐ hữu hình mua sắm

được thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá TSCĐ đó được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình (vốn hóa) theo quy định của chuẩn mực kế toán “Chi phí đi vay” Các khoản chi phí phát sinh, như: Chi phí quản lý hành chính, chi phí sản xuất chung, chi phí chạy thử và các chi phí khác nếu không liên quan trực tiếp đến việc mua sắm và đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng thì không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình Các khoản lỗ ban đầu do

Trang 13

máy móc không hoạt động đúng nh dự tính được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.

TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế: Nguyên giá TSCĐ hữu hình

tự xây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử Trường hợp DN dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Trong các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của các tài sản đó Các chi phí không hợp lý, như nguyên liệu, vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình tự xây dựng hoặc tự chế không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình

TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi: Nguyên giá TSCĐ hữu

hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận

về, hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự (tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự, trong cùng lĩnh vực kinh doanh và có giá trị tương đương) Trong cả hai trường hợp không có bất kỳ khoản lãi hay lỗ nào được ghi nhận trong quá trình trao đổi Nguyên giá TSCĐ nhận về được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi Ví dụ: Việc trao đổi các TSCĐ hữu hình tương tự như trao đổi máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, các cơ sở dịch vụ hoặc TSCĐ hữu hình khác

TSCĐ loại được cho, được biếu, được tặng, nhận vốn góp liên doanh, nhận lại vốn góp, do phát hiện thừa…: Nguyên giá TSCĐ hữu hình được tài

Trang 14

trợ, được biếu tặng, được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý ban đầu Trường hợp không ghi nhận theo giá trị hợp lý ban đầu thì DN ghi nhận theo giá trị danh nghĩa cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.

Nguyên giá tài sản cố định vô hình

Nguyên giá của TSCĐ vô hình là toàn bộ các chi phí mà DN phải bỏ

ra để có được TSCĐ vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự kiến

Nguyên giá TSCĐ vô hình = Chi phí thực tế đã chi

Chi phí thực tế bao gồm tất cả các khoản chi hợp lý, hợp lệ và cần

thiết mà DN đã chi ra để có được TSCĐ vô hình đó và đưa vào sử dụng (trong đó bao gồm cả các khoản thuế không được hoàn trả) Đối với từng TSCĐ vô hình khác nhau thì nội dung của các khoản chi phí cũng có sự khác nhau

Nguyên giá TSCĐ vô hình mua riêng biệt bao gồm giá mua (trừ (-)

các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính

Trường hợp quyền sử dụng đất được mua cùng với mua nhà cửa, vật kiến trúc trên đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải được xác định riêng biệt

và ghi nhận là TSCĐ vô hình

Trường hợp TSCĐ vô hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả chậm nguyên giá của TSCĐ vô hình được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá

Trang 15

TSCĐ vô hình (vốn hóa) theo quy định của chuẩn mực kế toán “Chi phí đi vay”.

Nếu TSCĐ vô hình hình thành từ việc trao đổi thanh toán bằng chứng

từ liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị : nguyên giá TSCĐ vô hình là giá trị hợp lý của các chứng từ được phát hành liên quan đến quyền sở hữu vốn

Nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn là giá trị

quyền sử dụng đất khi được giao đất hoặc số tiền trả khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác, hoặc giá trị quyền sử dụng đất nhận góp vốn liên doanh

Trường hợp quyền sử dụng đất được chuyển nhượng cùng với mua nhà cửa, vật kiến trúc trên đất thì giá trị của nhà cửa, vật kiến trúc phải được xác định riêng biệt và ghi nhận là TSCĐ hữu hình

Nguyên giá TSCĐ vô hình được Nhà nước cấp hoặc được tặng, biếu:

được xác định theo giá trị hợp lý ban đầu cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính

Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ DN: bao gồm tất cả

các chi phí liên quan trực tiếp hoặc được phân bổ theo tiêu thức hợp lý và nhất quán từ các khâu thiết kế, xây dựng, sản xuất thử nghiệm đến chuẩn bị đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo

Trang 16

+ Các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc tạo ra tài sản nh chi phí đăng ký quyền pháp lý, khấu hao bằng sáng chế phát minh và giấy phép được sử dụng để tạo ra tài sản đó.

+ Chi phí sản xuất chung được phân bổ theo tiêu thức hợp lý và nhất quán vào tài sản ( ví dụ: phân bổ khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị, phí bảo hiểm , tiền thuê nhà xưởng, thiết bị )

Các chi phí sau đây không được tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ DN :

+ Chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN và chi phí sản xuất chung không liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng

+ Các chi phí không hợp lý nh: nguyên liệu, vật liệu lãng phí, chi phí lao động, các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường

+ Chi phí đào tạo nhân viên để vận hành tài sản

Nguyên giá tài sản cố định thuê tài chính:

Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê nh đơn vị chủ sở hữu tài sản bao gồm: giá trị hợp lý các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, các chi phí sửa chữa, tân trang trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng , chi phí lắp đặt, chạy thử, thuế và lệ phí trước bạ (nếu có) … Theo chế độ tài chính hiện hành ở Việt Nam, khi đi thuê TSCĐ, bên thuê căn cứ vào các chứng từ liên quan do bên thuê chuyển đến để xác định nguyên giá TSCĐ đi thuê Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính có thể tính theo mét trong các cách sau:

- Tính theo số nợ gốc thực tế phải trả: nếu trong hợp đồng ghi rõ số tiền

đi thuê phải trả cho cả giá thuê, cho mỗi kỳ thì nguyên giá TSCĐ được xác định theo công thức:

Nguyên

giá TSCĐ

đi thuê

Tổng số nợ phải trả theo hợp đồng

Số kỳ thuê

Số lãi phải trả mỗi kỳ

Trang 17

- Tính theo giá trị hiện tại của số tiền thuê:

FV

PV =

-(1+r )tTrong đó:

PV : Giá trị hiện tại của tiền thuê gốc

FV : Lượng tiền phải trả ở một thời điểm trong tương lai (tổng số tiền thuê TSCĐ phải trả)

R : tỷ lệ lãi suất

T : số kỳ đi thuê (thời gian thuê)

Nguyên giá TSCĐ chỉ thay đổi trong các trường hợp sau:

Việc ghi nhận nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính tại thời điểm khởi đầu thuê được thực hiện theo qui định của chuẩn mực kế toán số 06 “thuê tài sản” Sau thời điểm đó, kế toán TSCĐ thuê tài chính trên TK 212 được thực hiện theo qui định của chuẩn mực kế toán số 03 “ TSCĐ hữu hình”

1.2.2.2 Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại

Trang 18

kỳ (hàng tháng, hàng quý) vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ để hình thành một nguồn vốn nhằm tái đầu tư lại TSCĐ do quá trình sử dụng nó bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Khi xác định được nguyên giá và giá trị hao mòn của TSCĐ, kế toán sẽ xác định được giá trị còn lại của TSCĐ.

Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, do chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau nên TSCĐ bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình

Hao mòn hữu hình của TSCĐ là sự giảm dần về mặt giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do nã tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh, trong trường hợp này, mức độ hao mòn tỷ lệ thuận với thời gian và cường độ sử dụng của chúng Ngoài nguyên nhân chủ yếu nói trên, trong khi sử dụng và cả không sử dụng, TSCĐ còn bị hao mòn hữu hình là

do tác động của những yếu tố tự nhiên như độ Èm, khí hậu… Để giảm bớt hao mòn hữu hình TSCĐ phải được bảo quản tốt, bảo dưỡng thường xuyên

và sử dụng đúng tính năng kỹ thuật của TSCĐ

Hao mòn vô hình của TSCĐ là sự giảm dần về mặt giá trị của TSCĐ

do tiến bộ của khoa học kỹ thuật Khoa học kỹ thuật phát triển cho phép sản xuất ra những máy móc thiết bị cùng loại, cùng thông số kỹ thuật nhưng với giá rẻ hơn, hoặc với giá không đổi nhưng tính năng, tác dụng, công suất cao hơn Do vậy, những máy móc được sản xuất trước đây sẽ bị lạc hậu so với hiện tại Hao mòn vô hình còn xuất hiện khi chu kỳ sống của một sản phẩm

Trang 19

sống kết thúc, những máy móc để chế tạo ra loại sản phẩm đó bị mất tác dụng Hao mòn vô hình không chỉ diễn ra đối với các TSCĐ có hình thái vật chất mà ngay cả đối với TSCĐ không có hình thái vật chất.

Hao mòn TSCĐ là một phạm trù mang tính khách quan, khi sử dụng TSCĐ các DN phải tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán gọi là khấu hao TSCĐ Mục đích của việc trích khấu hao TSCĐ là giúp cho các DN tính đúng, tính đủ chi phí sử dụng TSCĐ và thu hồi vốn đầu tư để tái tạo TSCĐ khi chúng bị hư hỏng Nh vậy, khấu hao TSCĐ là một hoạt động có tính chủ quan, là con số giả định về sự hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng Chính vì vậy, về phương diện kế toán, giá trị hao mòn của TSCĐ được tính bằng số khấu hao lũy kế đến thời điểm xác định Khi TSCĐ bắt đầu đưa vào

sử dụng tại DN thì giá trị hao mòn coi như bằng không (trừ trường hợp chuyển giao giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong DN, giá trị hao mòn TSCĐ bên nhận được tình bằng giá trị hao mòn ghi trên sổ của đơn vị giao)

Khấu hao TSCĐ

Khấu hao TSCĐ là nội dung rất quan trọng trong kế toán TSCĐ ở

DN Xác định đúng đắn số khấu hao phải tính và phân bổ phù hợp vào các đối tượng sử dụng TSCĐ vừa bảo đảm có đủ nguồn vốn để tái tạo TSCĐ , trả nợ vay vừa bảo đảm hạch toán đúng đắn chi phí SXKD để tính đúng giá thành sản phẩm và kết quả kinh doanh

Khấu hao TSCĐ là phần giá trị của TSCĐ được tính chuyển vào chi phí SXKD nên một mặt nó làm tăng giá trị hao mòn , mặt khác làm tăng chi phí SXKD Khấu hao TSCĐ có vai trò rất quan trọng

Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép DN phản ánh được giá trị

thực của tài sản, đồng thời phản ánh đúng kết quả hoạt động SXKD của DN

Trang 20

Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp

DN thu được bộ phận giá trị đã mất của TSCĐ

Về phương diện tính thuế, khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào

lợi nhuận chịu thuế, tức là được tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ

Về phương diện kế toán, khấu hao là việc ghi nhận sự giảm giá của

TSCĐ Trích khấu hao TSCĐ là để tạo ra quỹ khấu hao, dùng để phục hồi TSCĐ trong SXKD

Nh vậy trích khấu hao là nguồn gốc của tái sản xuất TSCĐ

Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ

Việc tính khấu hao có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau, phương pháp tính khấu hao do DN xác định để áp dụng cho từng TSCĐ phải thực hiện một cách nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó Ngoài ra phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi Ých kinh tế và tài sản đem lại cho DN Trên thực tế, hiện nay có các phương pháp khấu hao sau:

+ Phương pháp khấu hao đường thẳng;

+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần; và

+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm

(1) Phương pháp khấu hao đường thẳng:

Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu Ých của tài sản Mức khấu hao (KH) hàng năm và tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác định theo công thức:

Nguyên giá TSCĐ Mức trích KH trung bình (năm) = -

Thời gian sử dụng của TSCĐ ( năm)

Trang 21

Nếu DN trích khấu hao cho từng tháng thì lấy số khấu hao phải trích

cả năm chia cho 12 tháng

Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi,

DN phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của TSCĐ Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao lũy kế đã thực hiện của TSCĐ đó Việc phản ánh tăng, giảm nguyên giá TSCĐ được thực hiện tại thời điểm tăng giảm TSCĐ trong tháng

Với phương pháp khấu hao này, mức khấu hao hàng năm được tính vào giá thành sản phẩm ổn định, tạo điều kiện ổn định giá thành sản phẩm, cách tính toán đơn giản dễ hiểu Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của phương pháp này là không phản ánh chính xác mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ vào giá thành sản phẩm trong quá trình sử dụng TSCĐ Hơn nữa, do tính bình quân nên khả năng thu hồi vốn đầu tư chậm, làm cho TSCĐ của DN chịu ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình

(2) Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:

Trang 22

Theo phương pháp này, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu Ých của tài sản Thực chất của phương pháp này là số tiền khấu hao hàng năm được tính bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ theo thời hạn sử dụng nhân với tỷ lệ khấu hao không đổi.

Với phương pháp khấu hao này sẽ phản ánh chính xác hơn mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư mua sắm TSCĐ trong những năm đầu sử dụng, hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là việc tính toán phức tạp, số tiền trích khấu hao lũy kế qua các năm không đủ bù đắp giá trị đầu tư ban đầu vào TSCĐ

(3) Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm:

Phương pháp này dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra

Tổng sè KH trong thời gian sử dụng Mức KH bình quân 1 đơn vị sản lượng= -

Sản lượng tính theo công suất thiết kế

Mức KH trong

Sản lượng hoàn thành trong tháng X

Mức KH bình quân một sản phẩm

Cách tính này cố định mức khấu hao trên một đơn vị sản lượng Đối với một số DN, việc sản xuất mang tính thời vụ nên việc sử dụng TSCĐ

Trang 23

không đồng đều trong năm, vì thế không thể sử dụng phương pháp khấu hao bình quân mà sử dụng phương pháp khấu hao theo sản lượng mới chính xác

và phù hợp Nhưng muốn thu hồi vốn nhanh, khắc phục được hao mòn vô hình, các DN phải tăng ca, tăng năng suất lao động để tạo ra nhiều sản phẩm

Giá trị còn lại của TSCĐ:

Giá trị còn lại của TSCĐ là giá thực tế của TSCĐ tại một thời điểm nhất định Người ta chỉ xác định được chính xác giá trị còn lại của TSCĐ khi bán chúng trên thị trường Về phương diện kế toán, giá trị còn lại của TSCĐ được xác định bằng hiệu số giữa nguyên giá và số khấu hao lũy kế tính đến thời điểm xác định Chính vì vậy, giá trị còn lại trên sổ kế toán mang dấu Ên chủ quan của DN, cùng một TSCĐ nhưng nếu DN giảm thời gian khấu hao thì tốc độ giảm của giá trị còn lại sẽ nhanh hơn Do đó, trong các trường hợp góp vốn liên doanh bằng TSCĐ, giải thể hoặc sáp nhập DN thì đòi hỏi phải đánh giá lại giá trị hiện còn của TSCĐ, thực chất của việc làm này là xác định giá trị còn lại của TSCĐ theo mặt bằng giá cả hiện tại

Thông thường giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại được điều chỉnh: Giá trị còn lại

x

Giá đánh giá lại của TSCĐ -Nguyên giá của TSCĐ

Tuy nhiên, giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại có thể xác định bằng giá thực tế còn lại theo thời giá của biên bản kiểm kê và đánh giá lại Hạch toán TSCĐ theo nguyên giá và giá trị còn lại, đồng thời đánh giá TSCĐ một cách chính xác sẽ là bước khởi đầu quan trọng cho toàn bộ công tác kế toán TSCĐ của DN

1.2.2.3 Đánh giá lại TSCĐ

Trang 24

TSCĐ của DN sau khi đã được ghi nhận ban đầu vào khoản mục tài sản theo nguyên giá, trong quá trình sử dụng có thể được đánh giá lại

1.3 TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.3.1 Nguyên tắc tổ chức kế toán tài sản cố định

Mục tiêu chính của tổ chức kế toán TSCĐ là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào TSCĐ thông qua việc đầu tư đúng mục đích , không lãng phí và quản lý sử dụng có hiệu quả TSCĐ Ngoài ra, tổ chức kế toán TSCĐ hợp lý còn giúp hạch toán đúng đắn các chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, chi phí khấu hao Do các chi phí này đều quan trọng nên nếu sai sót có thể dẫn đến sai lệch nghiêm trọng trên báo cáo tài chính

Chẳng hạn, nếu không phân loại đúng những chi phí nào làm tăng nguyên giá TSCĐ hay phải tính vào chi phí của niên độ thì sẽ làm cho khoản mục và chi phí của niên độ bị sai lệch Hoặc ngược lại, nếu không có qui định chặt chẽ về việc mua sắm, bảo dưỡng, thanh lý tài sản , lúc này chi phí phát sinh có thể sẽ lớn hơn nhiều so với thực tế và khoản lỗ sẽ phát sinh và

có thể không thua kém tổn thất do bị gian lận tiền

Tổ chức kế toán TSCĐ trong các DN phải tôn trọng các nguyên tắc sau:

- Áp dụng nguyên tắc phân chia trách nhiệm giữa các chức năng nh bảo quản tài sản, ghi sổ và phê chuẩn việc mua, thanh lý, nhượng bán tài sản

- Lập kế hoạch và dự toán về TSCĐ: các công ty lớn hàng năm thường thiết lập kế hoạch và dự toán ngân sách cho TSCĐ Kế hoạch này bao gồm những vấn đề liên quan đến việc mua sắm, thanh lý nhượng bán tài sản và nguồn vốn tài trợ cho kế hoạch đó Nhìn chung, kế hoạch và dự toán

là một công cụ quan trọng để kiểm soát đối với TSCĐ Chính nhờ lập kế

Trang 25

hoạch và dự toán, DN sẽ phải rà soát lại toàn bộ tình trạng TSCĐ hiện có và mức độ sử dụng chúng, đối chiếu với kế hoạch sản xuất của năm kế hoạch Quá trình cân đối giữa các phương án khác nhau (mua sắm, tự xây dựng, sửa chữa ) với nguồn tài trợ cũng là quá trình đơn vị tự rà soát lại các nguồn lực và xem xét chi tiết để đánh giá từng phương án.

- Thủ tục mua sắm TSCĐ và đầu tư xây dựng cơ bản: Nhằm bảo đảm việc đầu tư TSCĐ đạt hiệu quả cao, nhiều DN thường xây dựng chính sách chung về vấn đề này, chẳng hạn quy định về những thủ tục cần thiết khi mua sắm TSCĐ, đầu tư xây dựng cơ bản Ví dụ như mọi trường hợp mua sắm TSCĐ phải được người có thẩm quyền xét duyệt, phải phù hợp với kế hoạch

và dự toán, phải tổ chức đấu thầu (đối với TSCĐ có gía trị cao), phải tuân theo các tiêu chuẩn chung về bàn giao tài sản, về nghiệm thu tài sản và chi trả tiền

- Thủ tục thanh lý hay nhượng bán TSCĐ: DN cần xây dựng các quy định liên quan đến việc thanh lý tài sản, chẳng hạn mọi trường hợp thanh lý, nhượng bán tài sản đều phải được sự đồng ý của các bô phận có liên quan, phải thành lập hội đồng thanh lý gồm các thành viên theo qui định

- Các qui định về phân biệt giữa các khoản chi được tính vào nguyên gía, hay tính vào chi phí của niên độ: DN nên thiết lập tiêu chuẩn để xác định về hai khoản này Các tiêu chuẩn cần dựa trên chuẩn mực hay chế độ

kế toán hiện hành, và được cụ thể hoá theo thực tiễn đơn vị Ví dụ trong trường hợp nào thì một khoản chi sau khi hình thành TSCĐ được ghi tăng giá trị TSCĐ hoặc phải tính vào chi phí trong kỳ

- Chế độ kiểm kê định kỳ TSCĐ nhằm kiểm tra về sự hiện hữu, địa điểm đặt tài sản, điều kiện sử dụng, cũng như phát hiện các tài sản để ngoài

sổ sách, hoặc bị thiếu hụt, mất mát

Trang 26

- Các qui định bảo vệ vật chất đối với TSCĐ nh thiết kế và áp dụng các biện pháp bảo vệ tài sản, chống trộm cắp, hoả hoạn, mua bảo hiểm đầy

đủ cho tài sản

- Các qui định về tính khấu hao: thông thường thời gian tính khấu hao đối với từng loại TSCĐ phải được ban giám đốc phê chuẩn trong khuôn khổ luật định trước khi đăng ký để áp dụng

Những qui định về trích khấu hao và sử dụng tiền trích khấu hao TSCĐ:

Xác định thời gian sử dụng TSCĐ hữu hình: Căn cứ vào các tiêu chuẩn dưới đây để xác định thời gian sử dụng của TSCĐ:

+ Tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế

+ Hiện trạng TSCĐ ( thời gian TSCĐ đã qua sử dụng, thế hệ TSCĐ, tình trạng thực tế của tài sản …)

+ Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ

Riêng đối với TSCĐ còn mới (chưa qua sử dụng), TSCĐ đã qua sử dụng mà giá trị thực tế còn từ 90% trở lên (so với giá bán của TSCĐ mới cùng loại hoặc của cùng loại TSCĐ tương đương trên thị trường) DN phải căn cứ vào khung thời gian sử dụng TSCĐ qui định tại Phụ lục 1 ban hành theo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 để xác định thời gian sử dụng của TSCĐ cho phù hợp

Thời gian sử dụng của từng TSCĐ của DN được xác định thống nhất trong năm tài chính DN đã xác định thời gian sử dụng TSCĐ theo đúng qui định thì cơ quan thuế không được tự ý áp đặt thời gian sử dụng TSCĐ để xác định chi phí tính thuế thu nhập DN

1.3.2 Nội dung tổ chức hạch toán tài sản cố định trong các doanh nghiệp

Trang 27

1.3.2.1 Tổ chức chứng từ kế toán:

Việc đầu tiên đối với kế toán là phải tổ chức tốt công tác hạch toán ban đầu bao gồm việc sử dụng các chứng từ, qui định các thông tin sẽ được ghi nhận trên chứng từ để phản ánh về nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh

và quá trình chuyển giao thông tin cho các bộ phận kế toán để xử lý như:

- Các chi phí DN đã chi ra để có được TSCĐ

- Thông tin về tình hình sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh

- Các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình sửa chữa, đầu tư, cải tạo nâng cấp tài sản trong quá trình sử dụng

- Thông tin về các nghiệp vụ nhượng bán, thanh lý, điều chuyển TSCĐ trong kỳ sản xuất kinh doanh,

Để cung cấp được những thông tin trên, trong hạch toán ban đầu kế toán TSCĐ có thể sử dụng các chứng từ sau:

- Biên bản giao nhận TSCĐ: đây là chứng từ xác nhận việc giao nhận TSCĐ sau khi hoàn thành công việc xây dựng mua sắm, được cấp phát … đưa vào

sử dụng tại đơn vị hoặc tài sản của đơn vị bàn giao cho đơn vị khác theo lệnh của cấp trên, theo hợp đồng liên doanh Biên bản giao nhận TSCĐ lập cho từng TSCĐ Trường hợp giao nhận cùng một lúc nhiều tài sản cùng loại, cùng giá trị và cho cùng một đơn vị giao có thể lập chung một biên bản giao nhận TSCĐ

- Biên bản thanh lý TSCĐ: đây là chứng từ xác nhận việc thanh lýTSCĐ, làm căn cứ cho việc ghi giảm TSCĐ Biên bản thanh lý TSCĐ do ban thanh

lý TSCĐ lập và phải có đầy đủ chữ ký, họ tên của trưởng ban thanh lý, kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị …

- Chứng từ về khấu hao TSCĐ

- Chứng từ đánh giá lại TSCĐ

Trang 28

1.3.2.2 Tổ chức hệ thống tài khoản

Hệ thống tài khoản kế toán là bảng liệt kê các danh mục tài khoản cần

sử dụng Trong đó, tài khoản là phương pháp kế toán dùng để phân loại và

hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và đúng nội dung kinh tế Khái niệm về tài khoản và hệ thống tài khoản sau khi có chuẩn mực kế toán về cơ bản sẽ không thay đổi nhưng kết cấu chung và đặc biệt là nội dung, phương pháp hạch toán các bút toán cụ thể trong từng tài khoản sẽ thay đổi phù hợp với các nguyên tắc, nội dung và phương pháp kế toán trong chuẩn mực kế toán Việc xử lý về tài chính cũng như các bút toán

cụ thể sẽ do các ngành, các tổng công ty, do Hội kế toán Việt Nam hướng dẫn, thậm chí có thể thay đổi theo quyết định của chủ DN Vì thế hệ thống tài khoản kế toán do Bộ tài chính công bố chỉ là khuôn mẫu chung chỉ bao gồm danh mục tài khoản, nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép chung của từng tài khoản, làm cơ sở cho các ngành, các tổng công ty và Hội kế toán Việt Nam công bố các hệ thống tài khoản kế toán cụ thể

Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng

bộ Tài chính ban hành về chế độ kế toán DN, nhóm tài khoản phản ánh TSCĐ ( nhóm TK 21) của DN có 5 tài khoản:

- Tài khoản 211 – TSCĐ hữu hình

- Tài khoản 212 – TSCĐ thuê tài chính

- Tài khoản 213 - TSCĐ vô hình

- Tài khoản 214 – hao mòn TSCĐ

- Tài khoản 217 – Bất động sản đầu tư

Tài khoản 211 – TSCĐ hữu hình có 6 tài khoản cấp 2:

- TK 2111 – nhà cửa, vật kiến trúc: Phản ánh giá trị các công trình XDCB

như nhà cửa, vật kiến trúc, hàng rào, bể, tháp nước, sân bãi, các công trình

Trang 29

trang trí thiết kế cho nhà cửa, các công trình cở sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tàu, cầu cảng …

- TK 2112 – máy móc thiết bị: Phản ánh giá trị các loại máy móc, thiết bị

dùng trong SXKD của DN bao gồm những mấy móc chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ và những máy móc đơn lẻ

- TK 2113 – Phương tiện vận tải, truyền dẫn: Phản ánh giá trị các loại

phương tiện vận tải, gồm phương tiện vận tải đường bộ, sắt, thuỷ, hàng không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn (thông tin, điện nước, băng truyền tải vật tư, hàng hoá)

- TK 2114 – Thiết bị, dụng cụ quản lý : Phản ánh giá trị các loại thiết bị,

dụng cụ sử dụng trong quản lý, kinh doanh, quản lý hành chính (máy điện

tử, quạt trần, quạt bàn, bàn ghế, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng hút Èm, hút bụi, chống mối mọt …)

- TK 2115 – Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: phản ánh giá

trị các loại TSCĐ là các loại cây lâu năm (cà phê, chè, cao su, vườn cây ăn quả …) súc vật làm việc (voi, bò, ngựa cày kéo …) và súc vật nuôi để lấy sản phẩm (bò sữa, súc vật sinh sản …)

- TK 2118 – TSCĐ khác: phản ánh giá trị các loại TSCĐ khác chưa được qui

định phản ánh ở các TK nêu trên (nh tác phẩm nghệ thuật, sách chuyên môn

kỹ thuật …)

Tài khoản 213 – TSCĐ vô hình có 7 TK cấp 2:

- TK 2131 – Quyền sử dụng đất: Phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là toàn bộ

các chi phí thực tế đã chi ra có liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, bao gồm: tiền chi ra để có quyền sử dụng đất, chi phí cho đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng (đối với trường hợp quyền sử dụng đất riêng biệt đối với giai đoạn đầu tư xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc trên đất) lệ phí trước bạ

Trang 30

(nếu có) … Tài khoản này không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất.

- TK 2132 – Quyền phát hành: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là toàn bộ các

chi phí thực tế DN phải chi ra để có quyền phát hành

- TK 2133 – Bản quyền, bằng sáng chế: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là

các chi phí thực tế chi ra để có bản quyền tác giả, bằng sáng chế

- TK 2134 – Nhãn hiệu hàng hoá: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là các chi

phí thực tế liên quan trực tiếp tới việc mua nhãn hiệu hành hoá

- TK 2135 – Phần mềm máy vi tính: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là toàn

bộ các chi phí thực tế DN phải chi ra để có phần mềm máy vi tính

- TK 2136 – Giấy phép và phấy phép nhượng quyền: phản ánh giá trị TSCĐ

vô hình là các khoản chi ra để DN có được giấy phép và giấy phép nhượng quyền thực hiện công việc đó như : giấy phép khai thác, giấy phép sản xuất loại sản phẩm mới …

- TK 2138 – TSCĐ vô hình khác: phản ánh giá trị các loại TSCĐ vô hình

khác chưa qui định phản ánh ở các tài khoản trên

Tài khoản 214 – Hao mòn TSCĐ, có 3 TK cấp 2:

- TK 2141 – hao mòn TSCĐ hữu hình: phản ánh giá trị hao mòn TSCĐ của

TSCĐ hữu hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao (hoặc tính hao mòn) TSCĐ và những khoản tăng giảm hao mòn khác của TSCĐ hữu hình

- TK 2142 – hao mòn TSCĐ thuê tài chính: phản ánh giá trị hao mòn của

TSCĐ thuê tài chính do trích khấu hao ( hoặc tính hao mòn) TSCĐ thuê tài chính và những khoản tăng giảm hao mòn khác của TSCĐ thuê tài chính

- TK 2143 – Hao mòn TSCĐ vô hình : phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ

vô hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao (hoặc tính hao mòn) TSCĐ vô hình và những khoản làm tăng, giảm hao mòn TSCĐ vô hình khác

Trang 31

- TK 2147 – Hao mòn BĐS đầu tư : TK này phản ánh giá trị hao mòn BĐS

đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động các BĐS đầu tư của DN

Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác có liên quan như TK 111 “ tiền mặt”, 112 “tiền gửi ngân hàng”, 311

“phải trả người bán”, 341 “ vay dài hạn”, 411 “ vốn kinh doanh” …

TSCĐ trong mét DN rất đa dạng, đặc biệt là TSCĐ trong các DN sản xuất ôtô do có sự khác biệt về tính chất kỹ thuật, công dụng và thời gian sử dụng Vì vậy, các tài khoản sử dụng để phản ánh TSCĐ cũng được chi tiết thành các tài khoản cấp 2,3 để phục vụ mục đích quản lý của từng DN và để phục vụ cho việc lập một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính Thông tin về TSCĐ là một trong những dòng thông tin quan trọng để những người sử dụng thông tin phân tích, đánh giá về cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho quá trình SXKD của DN Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán chi tiết, hợp lý giúp cho việc ghi chép, phản ánh tình hình sử dụng theo từng thứ TSCĐ, từng loại TSCĐ và toàn bộ TSCĐ ở từng bộ phận và trong toàn DN Tình toán xác định hiệu quả sử dụng TSCĐ, cung cấp các số liệu làm căn cứ cho

DN đề ra các biện pháp huy động sử dụng triệt để và có hiệu quả các TSCĐ,

ra các quyết định đầu tư hợp lý đối với TSCĐ

1.3.2.3 Tổ chức sổ kế toán TSCĐ:

Yêu cầu quản lý TSCĐ trong DN đòi hỏi phải hạch toán chi tiết TSCĐ Đây là khâu quan trọng và phức tạp nhất trong toàn bộ công tác kế toán TSCĐ Thông qua hạch toán chi tiết TSCĐ, kế toán sẽ cung cấp những chi tiết quan trọng về cơ cấu tài sản, tình hình phân bổ TSCĐ theo địa điểm

sử dụng cũng như tình hình bảo quản, trách nhiệm vật chất của các bộ phận,

cá nhân trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ Các chỉ tiêu quan trọng đó là

Trang 32

căn cứ để DN cải tiến trang thiết bị và sử dụng TSCĐ, phân bổ chính xác số khấu hao TSCĐ, nâng cao trách nhiệm vật chất trong việc bảo quản và sử dụng TSCĐ.

Khi có TSCĐ tăng thêm, DN phải thành lập ban nghiệm thu kiểm nhận TSCĐ Ban này có nhiệm vụ nghiệm thu và cùng với đại diện đơn vị giao TSCĐ, lập“ Biên bản giao nhận”, nhận TSCĐ Biên bản này lập cho từng đối tượng TSCĐ Với những TSCĐ cùng loại, giao nhận cùng một lúc,

do cùng một đơn vị chuyển giao thì có thể lập chung một biên bản Sau đó, phòng kế toán phải sao cho mỗi đối tượng một bản để lưu vào hồ sơ riêng

Hồ sơ đó bao gồm biên bản giao nhận TSCĐ, các bản sao tài liệu kỹ thuật, các hoá đơn, giấy vận chuyển, bốc dỡ Phòng kế toán giữ lại để làm căn cứ

tổ chức hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết TSCĐ

Trường hợp giảm TSCĐ, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà DN lập các chứng từ nh: “Biên bản giao nhận TSCĐ”, “Biên bản thanh lý TSCĐ”… Căn cứ vào các chứng từ này, kế toán ghi giảm TSCĐ trên thẻ TSCĐ và các

sổ TSCĐ

Trường hợp di chuyển TSCĐ giữa các bộ phận trong DN, kế toán phản ánh biến động TSCĐ trên sổ TSCĐ theo đơn vị sử dụng của cả hai bên giao và nhận TSCĐ

Hệ thống sổ chi tiết TSCĐ: các đơn vị cần phải mở sổ chi tiết cho từng loại TSCĐ bao gồm sổ chi tiết, thẻ chi tiết , hồ sơ chi tiết Hồ sơ chi tiết gồm biên bản giao nhận TSCĐ, hợp đồng, hoá đơn mua TSCĐ và các chứng

từ khác có liên quan TSCĐ phải được phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết đối với từng đối tượng ghi tài sản cố định và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ Căn cứ vào hồ sơ, phòng kế toán

mở thẻ để hạch toán chi tiết TSCĐ theo mẫu thống nhất Thẻ TSCĐ bao gồm 4 phần chính:

Trang 33

- Phần phản ánh các chỉ tiêu chung về TSCĐ nh tên, mã hiệu, qui cách, số hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất…

- Phần phản ánh chỉ tiêu về nguyên giá khi đưa TSCĐ vào sử dụng, nguyên giá sau khi đánh giá lại … và giá trị hao mòn luỹ kế qua các năm

- Phần phản ánh số phụ tùng, dụng cụ đồ nghề kèm theo TSCĐ

- Phần ghi giảm TSCĐ

Thẻ do kế toán TSCĐ lập và phải được kế toán trưởng ký xác nhận Thẻ được lưu ở phòng kế toán suốt quá trình sử dụng tài sản và sau khi lập phải được đăng ký vào sổ TSCĐ Sổ này lập chung cho toàn DN một quyển và cho từng đơn vị sử dụng TSCĐ mỗi nơi một quyển để theo dõi (từng phân xưởng, phòng, ban …)

Một hệ thống sổ chi tiết đầy đủ sẽ giúp phân tích và quản lý dễ dàng các tài sản tăng hay giảm trong năm Từ đó có thể giúp bảo vệ hữu hiệu tài sản, phát hiện kịp thời những mất mát hay thiếu hụt tài sản, giúp đơn vị sử dụng tài sản hữu hiệu và hiệu quả Ngoài ra, nhờ hệ thống sổ chi tiết, có thể so sánh giữa chi phí thực tế phát sinh của từng loại tài sản với kế hoạch, hay dự toán đã được duyệt để phát hiện các trường hợp chi phí vượt dự toán hay kế hoạch

1.3.2.4 Báo cáo kế toán TSCĐ:

Theo qui định hiện hành, trên Bảng cân đối kế toán, TSCĐ được trình bày riêng theo từng loại là TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính Các loại TSCĐ nói trên cần được phản ánh trên báo cáo tài chính theo giá trị thuần, nghĩa là giá trị còn lại Tuy nhiên, chuẩn mực và chế độ kế toán yêu cầu chúng phải được phản ánh đồng thời nguyên giá và giá trị hao mòn của tài sản Ngoài ra, đơn vị phải công bố trong thuyết minh báo cáo tài chính về:

Trang 34

- Phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ

- Phương pháp khấu hao, thời gian sử dụng hữu Ých hoặc tỷ lệ khấu hao

- Nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại vào đầu năm và cuối kỳ

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính phải trình bày các thông tin:

+) Nguyên giá TSCĐ tăng, giảm trong kỳ

+) Số khấu hao trong kỳ, tăng giảm và luỹ kế đến cuối kỳ

+) Giá trị còn lại của TSCĐ đã dùng để thế chấp, cầm cố cho các khoản vay+) Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang

+) Các cam kết về việc mua, bán TSCĐ có giá trị lớn trong tương lai

+) Giá trị còn lại của TSCĐ tạm thời không được sử dụng

+) Nguyên giá của TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng

+) Giá trị còn lại của TSCĐ đang chờ thanh lý

+) Các thay đổi khác về TSCĐ

Việc xác định phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử dụng hữu Ých của TSCĐ là vấn đề hoàn toàn mang tính chất xét đoán Vì vậy, việc trình bày các phương pháp khấu hao áp dụng và thời gian sử dụng hữu Ých ước tính của TSCĐ cho phép người sử dụng báo cáo tài chính xem xét mức độ đúng đắn của các chính sách do ban lãnh đạo DN đề ra và có cơ sở để so sánh với các DN khác DN phải trình bày bản chất và ảnh hưởng của sự thay đổi ước tính kế toán có ảnh hưởng trọng yếu tới kỳ kế toán hiện hành hoặc các kỳ tiếp theo Các thông tin phải được trình bày khi có sự thay đổi trong các ước tính kế toán liên quan tới giá trị TSCĐ đã thanh lý hoặc đang chờ thanh lý, thời gian sử dụng hữu Ých và phương pháp khấu hao

1.3.2.5 Phương pháp hạch toán kế toán

Nguyên tắc kế toán TSCĐ: Trong mọi trường hợp, kế toán TSCĐ phải

tôn trọng nguyên tắc đánh giá theo nguyên giá (giá thực tế hình thành

Trang 35

TSCĐ) và giá trị còn lại của TSCĐ Kế toán TSCĐ phải phản ánh được 3 chỉ tiêu giá trị của TSCĐ: nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ.

Giá trị còn lại = Nguyên giá - giá trị đã hao mòn của TSCĐ.

Loại tài khoản TSCĐ phản ánh nguyên giá và giá trị hao mòn không những của toàn bộ TSCĐ hiện có thuộc sở hữu của đơn vị hình thành từ các nguồn khác nhau (nguồn vốn kinh doanh, nguồn vốn đầu tư XDCB, nguồn vốn vay) mà còn của các TSCĐ đi thuê tài chính Kế toán phải phân loại TSCĐ theo đúng phương pháp phân loại đã được qui định trong các báo cáo kế toán, thống kê và phục vụ cho công tác quản lý, tổng hợp chỉ tiêu của Nhà nước

Kế toán tăng, giảm tài sản cố định:

Có nhiều nguyên nhân làm tăng giảm TSCĐ, yêu cầu kế toán phải có quá trình xử lý khác nhau Có trường hợp tăng giảm liên quan đến các đối tác bên ngoài DN và cũng có trường hợp chỉ liên quan đến nội bộ DN Trong quá trình hạch toán, kế toán TSCĐ phải phản ánh được đầy đủ chính xác tất

cả các nghiệp vụ tăng giảm tài sản, đồng thời phải phản ánh được mối liên

hệ giữa sự tăng giảm tài sản với các đối tượng có liên quan Mặc khác khi TSCĐ trong DN tăng bao giờ cũng có sự liên quan đến nguồn vốn tài trợ cho tài sản, vì vậy kế toán tăng TSCĐ được xử lý đồng thời với các nguồn vốn liên quan

Kế toán hao mòn và khấu hao TSCĐ:

TSCĐ hiện có của DN được sử dụng cho những mục đích khác nhau, đối với những TSCĐ sử dụng phục vụ hoạt động SXKD, kế toán phải ghi nhận số khấu hao của tài sản và phân bổ chí phí khấu hao vào chi phí hoạt động KD Đối với các TSCĐ phục vụ cho các hoạt động không mang tính

Trang 36

chất KD (hoạt động phúc lợi, hoạt động sự nghiệp), kế toán phải xác định đúng đắn số hao mòn tài sản trong từng khoảng thời gian sử dụng tài sản đó.

Kế toán sửa chữa TSCĐ:

Tuỳ theo mức độ hư hỏng của tài sản và giá trị của các khoản chi phí sửa chữa phát sinh mà công tác sửa chữa được chia làm hai loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn

- Sửa chữa thường xuyên: là quá trình sửa chữa những hư hỏng nhỏ hoặc bảo dưỡng tài sản phát sinh thường xuyên trong quá trình sử dụng, chi phí sửa chữa phát sinh có giá trị thấp do đó được tính ngay vào chi phí SXKD của kỳ hiện tại

- Sửa chữa lớn: là quá trình sửa chữa được thực hiện khi TSCĐ bị hư hỏng nhiều, phải thay thế phần lớn các bộ phận, chi tiết của tài sản, thời gian sửa chữa kéo dài đòi hỏi phải ngừng sử dụng tài sản, chi phí sửa chữa tài sản có giá trị lớn Do đó, trước khi tiến hành sửa chữa tài sản phải lập dự toán chi phí sửa chữa lớn, khi công tác sửa chữa lớn hoàn thành phải quyết toán giá thành sửa chữa lớn dựa trên cơ sở dự toán và chi phí hợp lý hợp lệ thực tế đã phát sinh và làm công tác bàn giao tài sản cho bộ phận sử dụng

Căn cứ và những nội dung cơ bản trên, kế toán tiến hành xây dựng phương pháp kế toán hợp lý áp dụng phù hợp với đặc điểm hoạt động SXKD và đặc điểm tổ chức quản lý sử dụng TSCĐ nhằm phát huy hiệu quả của công tác

kế toán TSCĐ trong các DN

(Phụ lục 01- một số trường hợp hạch toán TSCĐ cần lưu ý)

1.4 CHUẨN MỰC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC

KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI MỘ| SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.4.1 CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỐ

ĐỊNH

Trang 37

1.4.1.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định hữu hình

kiện để hạch toán là tài sản được kế toán ghi nhận ban đầu theo nguyên giá

- Kế toán trao đổi TSCĐ: trong quá trình hoạt động SXKD, DN có thể

sử dụng TSCĐ hiện có để trao đổi lấy TSCĐ khác

- Kế toán phát sinh sau ghi nhận ban đầu: trong quá trình sử dụng

TSCĐ , các khoản chi phí có liên quan đến các tài sản sẽ được ghi tăng giá trị kế toán của tài sản nếu xác định chắc chắn các chi phí đó sẽ làm tăng lợi Ých kinh tế mà tài sản mang lại cho DN

- Kế toán đánh giá lại TSCĐ: kế toán phải ghi nhận mọi biến động về giá trị của TSCĐ sau khi DN đánh giá lại tài sản Nếu giá trị kế toán của TSCĐ tăng sau đánh giá thì giá trị gia tăng được ghi tăng vốn chủ sở hữu hoặc được hạch toán vào thu nhập để bù trừ phần giảm giá của giá trị tài sản

do đánh giá lại trước đây đã được ghi vào chi phí Nếu giá trị kế toán của TSCĐ giảm sau đánh giá thì phần giá trị bị giảm của tài sản được hạch toán vào chi phí hoặc được bù trừ vào khoản giá trị gia tăng do đánh giá lại trước

đó đã được kế toán ghi nhận tăng vốn chủ sở hữu (ghi giảm vốn chủ sở hữu tối đa bằng với số đã ghi tăng)

- Kế toán khấu hao TSCĐ: Giá trị có thể khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng có Ých của tài sản Khi kế toán khấu hao, giá trị kế toán của tài sản được ghi giảm vì lợi Ých kinh tế của tài sản đem lại được DN sử dụng Trong quá trình sử dụng TSCĐ, nếu có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụng các tài sản để

Trang 38

đem lại lợi Ých kinh tế cho DN thì cần có phương pháp tính khấu hao mới

để thể hiện sự thay đổi đó

- Kế toán chấm dứt sử dụng và thanh lý: một TSCĐ hữu hình được xoá

bỏ khỏi bảng cân đối kế toán sau khi thanh lý, hay khi chấm dứt sử dụng chúng nếu xác định chắc chắn không còn lợi Ých kinh tế nào còn có thể thu được từ tài sản khi thanh lý Mọi khoản lỗ lãi phát sinh trong việc chấm dứt

sử dụng và thanh lý sẽ được kế toán ghi nhận nh một khoản thu nhập hay một khoản chi phí Đối với TSCĐ đã chấm dứt sử dụng và chờ thanh lý được kế toán ghi theo giá trị thấp nhất giữa giá trị kế toán và giá trị thực hiện ròng của tài sản

- Trình bày thông tin trên báo cáo tài chính: Trong các báo cáo tài chính

DN lập cần có sự trình bày thông tin cụ thể, chi tiết về tình hình hiện có và tình hình sử dụng các TSCĐ Các thông tin được trình bày bao gồm các số liệu cụ thể về tài sản và những giải trình của nhà quản lý về tình hình sử dụng tài sản, để từ đó những người sử dụng báo cáo tài chính có thể phân tích đánh giá và thực trạng và tình hình sử dụng tài sản của DN một cách đúng đắn

1.4.1.2 Chuẩn mực kế toán Quốc tế về tài sản cố định vô hình

Trang 39

trị TSCĐ vô hình có thể được tiến hành bằng cách phân bổ chi phí mua sắm cho tài sản vô hình thông qua tham khảo giá trị tương đương của chúng, hoặc được thoả thuận riêng Nếu chi phí cho một tài sản vô hình không thể được đánh giá riêng biệt có độ tin cậy cao, thì tài sản đó không được hạch toán như một tài sản riêng biệt.

- Kế toán chi phí TSCĐ vô hình: Trong quá trình hoạt động của DN có phát sinh các chi phí liên quan đến việc mua sắm hoặc phát triển một khoản mục vô hình, nếu các chi phí thoả mãn khái niệm về tài sản vô hình và các điều kiện hạch toán tài sản thì sẽ được hạch toán là tài sản vô hình Nếu các chi phí có liên quan đến một khoản mục vô hình mà ban đầu đã hạch toán vào chi phí, thì sẽ không được hạch toán như một tài sản trong các kỳ tiếp theo dù thoả mãn khái niệm và điều kiện hạch toán tài sản Mặt khác trong quá trình sử dụng TSCĐ vô hình, nếu có các khoản chi phí phát sinh liên quan đến tài sản đó mang lại lợi Ých kinh tế cho DN thì chi phí đó sẽ phải được cộng thêm vào giá trị của tài sản vô hình

- Khấu hao: Đối với tài sản vô hình, thời gian tính khấu hao tối đa là 20 năm kể từ ngày tiến hành hạch toán ban đầu, trừ trường hợp tài sản vô hình

có những bằng chứng đáng tin cậy để chứng minh thời gian sử dụng hữu Ých của tài sản vượt quá 20 năm, hoặc tài sản vô hình đó không được tách biệt với một tài sản hữu hình có thời gian sử dụng hữu Ých lớn hơn 20 năm

- Kế toán chi phí nghiên cứu, phát triển: Chi phí nghiên cứu phát triển

các chi phí DN đã chi ra phục vụ quá trình nghiên cứu, phát triển DN Chi phí phát triển được hạch toán như một tài sản phải được khấu hao Do trong quá trình hoạt động của DN luôn có sự lạc hậu về mặt công nghệ và kinh tế, mặt khác khó dự đoán được những khoản chi phí và doanh thu trong tương lai xa của sản phẩm mới, hoặc qui trình sản xuất mới nên thời gian khấu hao

Trang 40

của chi phí phát triển có thể không quá 5 năm Trong quá trình hoạt động của DN, nếu giá trị kế toán của khoản mục tài sản chi phí nghiên cứu phát triển không còn thoả mãn tiêu chuẩn hạch toán như một tài sản, thì tài sản được xoá khỏi bảng cân đối kế toán và được hạch toán như một khoản chi phí tại niên độ kế toán

1.4.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VỀ TÀI SẢN CỐ

ĐỊNH TRONG HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT Nam.

Ngày 31 tháng 12 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành và công bố 04 chuẩn mực kế toán theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC trong

đó có chuẩn mực số 03- TSCĐ hữu hình và chuẩn mực số 04- TSCĐ vô hình, qui định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán TSCĐ Các chuẩn mực này áp dụng cho kế toán TSCĐ hữu hình và vô hình, trừ khi

có chuẩn mực kế toán khác qui định cho phép áp dụng nguyên tắc và phương pháp kế toán khác cho TSCĐ hữu hình và vô hình

1.4.2.1 Chuẩn mực số 03- tài sản cố định hữu hình:

- Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hưũ hình: các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả 4 tiêu chuẩn ghi nhận sau:

+ Chắc chắn thu được lợi Ých kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó: dựa trên các bằng chứng hiện có tại thời điểm ghi nhận ban đầu và phải chịu mọi rủi ro liên quan

+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy

+ Thời gian sử dụng ước tính trên một năm

+ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo qui định hiện hành

- Xác định giá trị ban đầu : TSCĐ hữu hình phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá

Ngày đăng: 28/05/2015, 21:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bé Tài chính, Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính 4. Nguyễn Thị Đông (1997), Lý thuyết hạch toán kế toán Nhà xuất bảnTài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết hạch toán kế toán
Tác giả: Bé Tài chính, Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính 4. Nguyễn Thị Đông
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 1997
5. Phùng Thị Đoan (1999), Hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Tác giả: Phùng Thị Đoan
Năm: 1999
6. Phùng Thị Đoan (2001), Cơ sở lý luận hình thành chuẩn mực kế toán Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận hình thành chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tác giả: Phùng Thị Đoan
Năm: 2001
7. Vương Đình Huệ (1999), Chuẩn mực kế toán và khả năng soạn thảo, ban hành và công bố chuẩn mực kế toán Việt Nam, Hội thảo về chuẩn mực kế toán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kế toán và khả năng soạn thảo, ban hành và công bố chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tác giả: Vương Đình Huệ
Năm: 1999
8. Ngân hàng Thế giới (2000), Các chuẩn mực kế toán quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuẩn mực kế toán quốc tế
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
10.Đoàn Xuân Tiên (1999), Sự cần thiết xây dựng, công bố chuẩn mực kế toán và giải pháp cho việc xây dựng chuẩn mực kế toán Việt Nam, Hội thảo về chuẩn mực kế toán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết xây dựng, công bố chuẩn mực kế toán và giải pháp cho việc xây dựng chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tác giả: Đoàn Xuân Tiên
Năm: 1999
11.Đoàn Xuân Tiên, Đổi mới công tác kế toán, kiểm toán , Tạp chí kế toán số 40, Hội kế toán Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác kế toán, kiểm toán
13.Trường Đại học Tài chính-Kế toán Hà Nội (1999), Giáo trình Kế toán Tài chính, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán Tài chính
Tác giả: Trường Đại học Tài chính-Kế toán Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 1999
14.Trường Đại học Tài chính-KÕ toán Hà Nội (1997), Giáo trình Lý thuyết hạch toán , Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết hạch toán
Tác giả: Trường Đại học Tài chính-KÕ toán Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 1997
5. Boockholdt. JL. (1996), Accounting Information System: Transaction, Processing and Controls, Irwin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting Information System: "Transaction, Processing and Controls
Tác giả: Boockholdt. JL
Năm: 1996
1. Bé Tài chính, Quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 về việc Ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ Khác
2. Bé Tài chính, Chuẩn mực KÕ toán Việt Nam số 03-TSCĐ hữu hình, số 04- TSCĐ vô hình ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ -BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Khác
9. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Chuẩn mực kế toán quốc tế Khác
12.Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 177/2004/QĐ-TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 Khác
15.Tài liệu sổ sách của các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam.II. Tài liệu nước ngoài Khác
3. International Federation of Accountants (2003), International Standards on Auditing Khác
4. International Accounting Standard Board (2003), International Accounting Standards Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Sản lượng ôtô của 11 liên doanh sản xuất và lắp ráp ôtô - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Bảng 2.1 Sản lượng ôtô của 11 liên doanh sản xuất và lắp ráp ôtô (Trang 49)
Bảng 2.2 Số lượng ô tô đã được đăng ký tại Việt Nam - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Bảng 2.2 Số lượng ô tô đã được đăng ký tại Việt Nam (Trang 50)
Sơ đồ 2.1:Tổ chức bộ máy quản lý trong các LDSX ôtô Việt Nam - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý trong các LDSX ôtô Việt Nam (Trang 60)
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán trong các LDSX ôtô Việt Nam - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy kế toán trong các LDSX ôtô Việt Nam (Trang 61)
Sơ đồ 2.3: Quá trình xử lý các nghiệp vụ kế toán - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Sơ đồ 2.3 Quá trình xử lý các nghiệp vụ kế toán (Trang 63)
Bảng 2.3: Tình hình trang bị TSCĐ tại một số DN liên doanh - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Bảng 2.3 Tình hình trang bị TSCĐ tại một số DN liên doanh (Trang 66)
Bảng 3.1: Dự kiến sản lượng ôtô các loại đến năm 2020 - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Bảng 3.1 Dự kiến sản lượng ôtô các loại đến năm 2020 (Trang 89)
Bảng 3.2: Cân đối năng lực, nhu cầu và bổ xung sản lượng ôtô đến năm 2010 - Thực trạng tổ chức kế toán TSCĐ tại các DN liên doanh SX ôtô việt Nam
Bảng 3.2 Cân đối năng lực, nhu cầu và bổ xung sản lượng ôtô đến năm 2010 (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w