Chương 1 - Những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác kế toántrong các đơn vị hành chính sự nghiệp 1.1 Sự cần thiết khách quan tổ chức công tác kế toán trong hệ thống quản lý 1.1.1 Đ
Trang 1Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Việt Nam tiến hànhđổi mới nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Côngcuộc đổi mới kinh tế toàn diện trong thời gian vừa qua đã mang lại cho Việt Namnhững kết quả tích cực trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, mở rộng cánh cửahội nhập kinh tế quốc tế Đạt được thành tựu này là do Chính phủ Việt Nam đãhuy động và sử dụng đúng đắn mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu về vốn cho pháttriển kinh tế
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, với quan điểm đườnglối kinh tế của Đảng ta là “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lựcbên ngoài”, “kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triểnđất nước", Chính phủ Việt Nam đã và đang nỗ lực không ngừng trong việc thu hútcác nguồn ngoại lực để bổ sung nguồn tích lũy trong nước Vốn Hỗ trợ Phát triểnchính thức (ODA) với nhiều ưu điểm nh thời gian vay dài, lãi suất thấp, có yếu tốkhông hoàn lại… đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu vốn phục vụ phát triểnkinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Việc khai thông trở lại quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tếnăm 1993, đã trở thành mốc đánh dấu sự xuất hiện trở lại của nguồn vốn ODA tạiViệt Nam Trong suốt hơn 10 năm qua, nguồn vốn ODA cam kết cho phía ViệtNam của các nhà tài trợ song phương và đa phương thông qua các chương trình,
dự án đã đạt trên 25 tỷ USD, có mặt trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Tuynhiên, khả năng hấp thụ vốn ODA của nền kinh tế chưa đạt được kế hoạch đề ra,lượng ODA giải ngân vẫn còn thấp, tỷ lệ giải ngân chậm chạp trong tất cả các lĩnhvực thể hiện khả năng quản lý và sử dụng nguồn vốn này chưa hiệu quả Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là công tác quản lý các chương
Trang 2trình, dự án sử dụng vốn ODA của Việt Nam còn yếu đặc biệt là trong công tácquản lý tài chính dự án
Sự phát triển của nền kinh tế trong điều kiện đó cần phải có những công cụquan trọng về quản lý tài chính dự án, trong đó kế toán – một công cụ sắc bén cầnphải được nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn Vì
vậy, đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các dự án ODA thuộc Bộ
Giáo dục và Đào tạo” sẽ phần nào giải quyết được những vấn đề đã đặt ra và là
một trong những đề tài mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu đã xác định ở trên đề tài tập trung chủ yếu trình bày và phântích những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác kế toán và trên cơ sở thực tiễncủa các dự án ODA thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, cụ thể là các dự án hành chính
sự nghiệp để đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán của các
dự án ODA thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứukhác nhau như: phương pháp duy vật biện chứng, xem xét các vấn đề trên các
Trang 3quan điểm tư tưởng duy vật lịch sử, phương pháp điều tra khảo sát, phương phápphân tích tổng hợp Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung qua các tài liệu trong vàngoài nước có liên quan đến nội dung đề tài.
5 Những đóng góp của luận văn
Đề tài nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các dự án ODAthuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Từ đó làm căn cứ để xây dựng một cơ chế quản lýtài chính dự án hoàn chỉnh, chuẩn hóa các thủ tục và xây dựng các mẫu chứng từ,báo cáo thống nhất cho các dự án sử dụng vốn ODA
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong
các đơn vị hành chính sự nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán ở các dự án ODA thuộc Bộ
Giáo dục và Đào tạo
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các dự án
ODA thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 4Chương 1 - Những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác kế toán
trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
1.1 Sự cần thiết khách quan tổ chức công tác kế toán trong hệ thống quản lý
1.1.1 Đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
Đơn vị hành chính sự nghiệp là một loại hình đơn vị được Nhà nước quyếtđịnh thành lập, giao thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lýNhà nước về một hoạt động nào đó như: các cơ quan quản lý Nhà nước theongành; các cơ quan chính quyền; các cơ quan quyền lực Nhà nước; các tổ chứcđoàn thể; các đơn vị sự nghiệp kinh tế; sự nghiệp văn xã; các lực lượng vũ trang.Xét trên giác độ quản lý, các đơn vị hành chính sự nghiệp trong cùng một ngànhthường được thiết lập theo một hệ thống ngành dọc hình thành nên các cấp dự toánkhác nhau
- Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do cáccấp chính quyền giao, phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới, chịu tráchnhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toánngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn
vị dự toán cấp dưới trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toáncấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiệncông tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán vàquyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới
- Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dựtoán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II), có tráchnhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vịmình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có) Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp IIIđược nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện
Trang 5công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối vớiđơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I.
Việc phân chia các đơn vị dự toán thành các cấp khác nhau trong hệ thốngcác đơn vị hành chính sự nghiệp chỉ có ý nghĩa tương đối Xác định một đơn vịhành chính sự nghiệp thuộc loại hình cấp dự toán nào là tùy thuộc vào mối quan
hệ giữa nó với các đơn vị dự toán khác trong cùng ngành hoặc với cơ quan tàichính Thứ bậc này sẽ bị thay đổi cùng với sự thay đổi về cơ chế phân cấp quản lýkinh tế tài chính - đặc biệt là cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước
Đặc trưng cơ bản của các đơn vị hành chính sự nghiệp là được trang trải cácchi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí
từ ngân quỹ Nhà nước hoặc từ công quỹ theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp.Điều đó đòi hỏi việc quản lý chi tiêu, hạch toán kế toán phải tuân thủ luật pháp,đúng mục đích, trong phạm vi dự toán đã phê duyệt của từng nguồn kinh phí, từngnội dung chi tiêu theo tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước
Hình 1.1: Mô hình về phân cấp các đơn vị hành chính sự nghiệp
1.1.2 Nhiệm vụ và vai trò của kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
Kế toán hành chính sự nghiệp là công việc tổ chức hệ thống thông tin bằng sốliệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí, tình hình sử dụng, quyết toán kinh
Bé Tµi chÝnh
Së Tµi chÝnhc¸c tØnh(thµnh phè)
C¸c phßng tµichÝnh huyÖn(quËn)
Bé phËn Tµi chÝnh
c¸c Bé, ngµnh, Trung
¬ng
Trang 6phí, tình hình quản lý và sử dụng các loại vật tư, tài sản công; tình hình chấp hành
dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước ở đơn vị
Kế toán hành chính sự nghiệp với tư cách là một bộ phận cấu thành quantrọng của hệ thống các công cụ quản lý, bộ phận cấu thành của hệ thống kế toánNhà nước có chức năng tổ chức hệ thống thông tin toàn diện, liên tục, có hệ thống
về tình hình tiếp nhận và sử dụng kinh phí, quỹ, tài sản công ở các đơn vị thụhưởng ngân quỹ Nhà nước, ngân quỹ công cộng Thông qua đó, thủ trưởng các tổchức hành chính sự nghiệp nắm được tình hình hoạt động của tổ chức mình, pháthuy mặt tích cực, ngăn chặn kịp thời các khuyết điểm, giúp các cơ quan chức năngcủa Nhà nước kiểm soát, đánh giá chính xác hiệu quả của việc sử dụng công quỹ.Hiện nay, hơn 50% sè chi của Ngân sách Nhà nước hàng năm giành cho chithường xuyên thông qua các tổ chức hành chính sự nghiệp trong cả nước Do vậy,
để giúp các đơn vị quản lý tốt nguồn kinh phí được Nhà nước cấp phát, giúp chocác cơ quan kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước trong việc kiểm tra, kiểm soát việcchấp hành chế độ chi tiêu, ngăn chặn sự tham nhũng, lãng phí trong chi tiêu, đảmbảo cho việc chi tiêu đúng mục đích, tiết kiệm kinh phí thì một trong các biệnpháp cần phải làm là luôn tìm mọi cách để không ngừng hoàn thiện chế độ kế toánhành chính sự nghiệp
Đối với Nhà nước, kế toán là công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng vàkiểm tra việc chấp hành ngân sách Nhà nước, để điều hành, quản lý và kiểm soátnguồn kinh phí, tình hình sử dụng và quyết toán kinh phí trong nền kinh tế quốcdân
Đối với các đơn vị, kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý việc
sử dụng các loại vật tư, tài sản công, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và thựchiện các định mức, tiêu chuẩn của nhà nước ở đơn vị
Đặc điểm nổi bật của kế toán hành chính sự nghiệp là lấy dự toán làm cơ sở,
coi trọng việc so sánh thu – chi thực tế với dự toán để tăng cường kiểm tra đối vớiquá trình thu, chi và sử dụng kinh phí Nhà nước Điều này xuất phát từ chỗ thu
Trang 7Ngân sách Nhà nước phải thực hiện theo pháp luật và chi Ngân sách Nhà nước chỉđược thực hiện khi đã có trong dự toán được duyệt Do vậy, để quản lý tốt việcthực hiện tình hình chi và sử dụng nguồn kinh phí ngân sách phải thường xuyênnắm bắt được thông tin do kế toán cung cấp Việc kế toán cung cấp thông tin mộtcách chính xác kịp thời sẽ giúp cho kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh việc chi tiêunguồn kinh phí theo dự toán đã định.
1.1.2.1 Nhiệm vụ của kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
Hạch toán kế toán ra đời và tồn tại là để thực hiện hai chức năng cơ bản của
quản lý kinh tế: đó là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra Hai chức năng
đó sẽ được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ cho mỗi loại hình kế toán Với kế toánhành chính sự nghiệp, đối tượng hạch toán là kinh phí, sự hình thành nguồn kinhphí, phân phối và sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị trong khuôn khổ chế độ quản lýtài chính Nhà nước Do vậy, kế toán hành chính sự nghiệp phải thực hiện tốt cácnhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: Thu thập, phản ánh, xử lý, tổng hợp thông tin về nguồn kinh phíđược cấp, được tài trợ, được hình thành ở đơn vị và tình hình sử dụng các khoảnkinh phí, sử dụng các khoản thu phát sinh ở đơn vị
- Thứ hai: Thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toánthu, chi, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính và các tiêu chuẩn, địnhmức của Nhà nước, kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư, tài sản công ởmỗi đơn vị, kiểm tra tình hình chấp hành kỷ luật thu nộp ngân sách, chấp hành kỷluật thanh toán và các chế độ, chính sách tài chính của Nhà nước
- Thứ ba: Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị
dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn
vị cấp dưới
- Thứ tư: Lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lýcấp trên và cơ quan tài chính theo qui định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết
Trang 8cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu, phân tích và đánh giáhiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí, vốn, quỹ ở đơn vị.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên công tác kế toán hành chính sự nghiệpphải đảm bảo thực hiện các yêu cầu sau:
- Phải phản ánh đầy đủ và toàn diện mọi hoạt động kinh tế của đơn vị theođúng yêu cầu quản lý ngân sách qua từng thời kỳ
- Việc ghi chép, phản ánh của kế toán phải thực hiện hết sức chính xác, trungthực, kịp thời, liên tục và có hệ thống
- Số liệu trên các sổ, báo cáo kế toán phải hết sức rõ ràng, dễ hiểu đảm bảocho cán bộ quản lý và cán bộ nhân viên có thể sử dụng để nắm tình hình sử dụngkinh phí và chấp hành quản lý ngân sách của đơn vị
- Cung cấp thông tin kế toán nhanh chóng, kịp thời, chính xác tạo điều kiệncho việc kiểm tra, kiểm soát tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách ở đơn
vị
1.1.2.2 Vai trò của kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
Kế toán – mét trong những công cụ quản lý có hiệu lực được sử dụng trongcác đơn vị để quản lý tài sản, quản lý tình hình sử dụng các nguồn kinh phí Songviệc sử dung kế toán nh thế nào để phát huy hiệu quả của công tác quản lý đòi hỏiphải được nghiên cứu một cách có cơ sở và khách quan
Để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý đắc lực ở các đơn vị hành chính
sự nghiệp, thì vấn đề tổ chức tốt công tác kế toán là một trong những tiền đề tiênquyết, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay
Khác với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đơn vị hành chính sự nghiệpđược Nhà nước giao nhiệm vụ theo chức năng quản lý ngành và được phân cấpquản lý theo các đơn vị dự toán cấp I, cấp II, cấp III Các đơn vị hành chính sựnghiệp được trang trải chi phí bằng nguồn vốn cấp phát của ngân sách Nhà nước
và nguồn thu sự nghiệp Mọi khoản thu, chi ở đơn vị đều phải được dự toán một
Trang 9cách có cơ sở khoa học Vì vậy, tổ chức công tác kế toán hợp lý, khoa học ở cácđơn vị có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện trên các vấn đề sau:
- Nhờ tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán mà đảm bảo cho kế toánthực sự trở thành công cụ đắc lực trong quản lý, cung cấp đầy đủ, kịp thời về tìnhhình kinh phí và sử dụng kinh phí ở các đơn vị
- Nhờ tổ chức tốt công tác kế toán mà tạo điều kiện cho việc sử dụng hợp lýcác loại chứng từ, tài khoản kế toán, đảm bảo phản ánh đúng đắn, đầy đủ cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Nhờ tổ chức tốt công tác kế toán mà có thể tạo điều kiện cho việc sử dụnghợp lý nguồn nhân lực, vật lực hiện có trong đơn vị, góp phần nâng cao năng suấtlao động của nhân viên kế toán
Hạch toán kế toán trong các đơn vị là công cụ quan trọng để thực hiện việcquản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tài chính Do vậy đểphát huy vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý, vấn đề có tính chấtquyết định là phải biết tổ chức công tác kế toán một cách khoa học và hợp lý nhằmcung cấp thông tin một cách đầy đủ, kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhànước cũng như của chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư, chủ nợ
1.1.3 Khái quát chung về kế toán dự án ODA
Kế toán dự án là công việc thu thập, ghi chép, tính toán, phản ánh tình hìnhquản lý và sử dụng các nguồn vốn hiện có của dự án dưới hình thức giá trị, giúpBan Quản lý dự án theo dõi, quản lý việc tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn dự
án đúng mục đích, có hiệu quả, phù hợp với cam kết của nhà tài trợ và Việt Namtrong Điều ước quốc tế
Kế toán dự án có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Thu thập, ghi chép, tính toán và phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời tìnhhình luân chuyển, sử dụng tài sản và các nguồn vốn của dự án, quản lý việc sửdụng các nguồn vốn của dự án đúng mục đích, đúng cơ cấu vốn và đạt hiệu quảcao
Trang 10- Kết hợp chặt chẽ với bộ phận lập kế hoạch, kỹ thuật và cán bộ dự án khác
để xây dựng kế hoạch vốn hàng năm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các mụctiêu dự án Kiểm tra kết quả hoạt động và các khoản chi phí của dự án, tham giaphân tích và đánh giá hiệu quả dự án
- Lập và nộp báo cáo tài chính hàng quý (nếu cần), hàng năm và khi kết thúc
dự án, thực hiện quyết toán vốn từng phần dự án hoặc toàn bộ dự án theo chế độquản lý tài chính hiện hành của Nhà nước
* Yêu cầu đối với kế toán dự án:
- Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kếtoán, sổ kế toán và báo cáo tài chính
- Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán
- Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán
- Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị củanghiệp vụ kinh tế, tài chính
- Thông tin, số liệu kế toán được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khikết thúc hoạt động kinh tế, tài chính; liên tục từ khi thành lập đơn vị kế toán đếnkhi chấm dứt hoạt động; số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải lũy kế theo số liệu
kế toán của kỳ trước
- Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và cóthể so sánh được
Ngoài ra, kế toán dự án ODA phải tuân theo các nguyên tắc kế toán sau:
- Giá gốc: Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, lắpráp, chế biến, các chi phí liên quan trực tiếp khác đến khi đưa tài sản đó vào trạngthái sẵn sàng sử dụng Dự án không được tự điều chỉnh lại giá trị tài sản đã ghi sổ
kế toán
- Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán đã chọn phải được ápdụng nhất quán Ýt nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có sự thay đổichính sách và phương pháp kế toán đã chọn trong kỳ kế toán năm thì dự án phải
Trang 11áp dụng nhất quán sự thay đổi đó trong cả năm và phải giải trình trong thuyếtminh báo cáo tài chính.
- Khách quan: Dự án phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực
tế, đúng thời gian nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh
- Công khai: Thông tin, số liệu báo cáo tài chính năm phải được công khaitheo quy định hiện hành của Chính phủ
- Thận trọng: Dự án phải sử dụng phương pháp đánh giá tài sản và phân bổcác khoản thu, chi một cách thận trọng không được làm sai lệch tình hình hoạtđộng kinh tế, tài chính của dự án
1.2 Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
1.2.1 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
Tổ chức công tác kế toán khoa học có tác dụng quan trọng trong việc tiếtkiệm lao động kế toán, giảm chi phí hạch toán kế toán nhưng vẫn bảo đảm thựchiện tốt các chức năng: thông tin và kiểm tra ở đơn vị Muốn vậy trong hoạt độngthực tiễn tổ chức hạch toán kế toán phải tuân theo những nguyên tắc nhất định,dựa trên những nguyên tắc của bản thân hoạt động kế toán và quan hệ giữa kế toánvới các phân hệ khác trong hệ thống quản lý Bao gồm 5 nguyên tắc sau:
Một là nguyên tắc tuân thủ: Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức hạch toán kế toánphải tuân theo các văn bản pháp luật liên quan, tuân thủ Điều lệ tổ chức kế toánNhà nước
Hai là nguyên tắc hệ thống: Phải luôn quan tâm đến tính hệ thống trong bộmáy kế toán (các phần hành) có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ riêng nhưng cómối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau hình thành một thể thống nhất, các phầnhành trong hệ thống không thể tồn tại độc lập tách rời nhau
Ba là nguyên tắc thống nhất: Trong bộ máy quản lý ở đơn vị bao gồm nhiều
bộ phận, kế toán chỉ là một bộ phận trong bộ máy quản lý Do vậy tổ chức côngtác kế toán phải bảo đảm mối liên hệ với các bộ phận trong bộ máy quản lý trên
Trang 12các mặt về nhận và cung cấp thông tin, thống nhất với các bộ phận về nội dung,phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế, thống nhất về đơn vị hạch toán và kỳ hạchtoán, bảo đảm tính so sánh được của các tài liệu kế toán với các tài liệu quản lýkhác.
Nguyên tắc thống nhất còn thể hiện ngay trong bộ máy kế toán phải thốngnhất những quy định, nội dung phương pháp tính toán ở từng bộ phận, mối liên hệlẫn nhau giữa các bộ phận Bảo đảm thống nhất về nội dung, phương pháp tínhtoán, hạch toán kế toán theo quy định, những chuẩn mực kế toán của Nhà nước đểđạt được mục tiêu cung cấp thông tin phục vụ quản lý của bản thân đơn vị và quản
lý, kiểm soát, giám sát của Nhà nước đối với đơn vị
Bốn là nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức công tác kế toánphải phù hợp với đặc điểm cụ thể của đơn vị về: quy mô hoạt động, loại hình hoạtđộng, đặc thù về quản lý (có phân cấp không) của đơn vị, phù hợp với trình độnăng lực của cán bộ kế toán ở đơn vị, phù hợp với trang thiết bị cho công tác tổchức kế toán Không dập khuôn máy móc, cứng nhắc trong tổ chức kế toán
Năm là nguyên tắc hiệu quả: Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức công tác kế toánphải thực sự khoa học sao cho chi phí bỏ ra là thấp nhất với hiệu quả công tác kếtoán phát huy trong quản lý là cao nhất về cung cấp thông tin cho quản lý, giámđốc các hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả cao nhất
Những nguyên tắc trên phải được triển khai đồng bộ mới có thể phát huyđược tốt các nội dung của công tác tổ chức kế toán Tổ chức công tác kế toánchính là việc liên kết một cách có định hướng, mang tính hệ thống, các phươngpháp kế toán thông qua yếu tố con người với mục đích tạo diều kiện cho công tác
kế toán thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ, phát huy được vai trò của nótrong quản lý kinh tế
Ngoài ra, để tổ chức công tác kế toán được tốt, thì tổ chức kế toán tại mỗiđơn vị hành chính sự nghiệp phải xuất phát từ các căn cứ cơ bản sau:
Trang 13- Căn cứ vào qui mô hoạt động của đơn vị: Tùy theo qui mô hoạt động củađơn vị thuộc cấp dự toán nào hoặc khối lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiềuhay Ýt mà lựa chọn các yếu tố trong tổ chức công tác kế toán phù hợp.
- Căn cứ vào nội dung cơ bản của chế độ kế toán hành chính sự nghiệp hiệnhành, lựa chọn các nội dung cần thiết cho tổ chức kế toán hành chính sự nghiệptrong các đơn vị cho hợp lý
- Căn cứ mức độ, yêu cầu và thời gian cung cấp thông tin cho các đối tượng
sử dụng
- Căn cứ vào cơ chế quản lý, yêu cầu và trình độ quản lý của đơn vị
- Căn cứ tình hình trang thiết bị và sử dụng các phương tiện, kỹ thuật xử lý,cung cấp thông tin
1.2.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
Tổ chức công tác kế toán có thể hiểu như một hệ thống các yếu tố cấu thànhgồm: tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, chế độ,thể lệ kế toán, tổ chức qui trình lập và luân chuyển chứng từ, tổ chức vận dụng hệthống tài khoản kế toán Hệ thống cấu thành tổ chức công tác kế toán phải thựchiện tốt mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu tố, với mục đích đảm bảo chocông tác kế toán thực hiện với hiệu quả cao, phát huy triệt để vai trò của kế toán
Dù qui mô hoạt động của các đơn vị đơn vị hành chính sự nghiệp ở mức nào,thực hiện chức năng nhiệm vụ gì nhưng khi tổ chức công tác kế toán hành chính
sự nghiệp vẫn phải quan tâm đầy đủ đến các nội dung sau:
1.2.3.1 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán
Cơ sở pháp lý của việc ghi chép sổ kế toán là các chứng từ kế toán Chứng từ
kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phátsinh và thực sự hoàn thành Mọi số liệu ghi vào sổ kế toán bắt buộc phải đượcchứng minh bằng chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ Căn cứ chế độ kế toán hànhchính sự nghiệp hiện hành đã qui định một hệ thống chứng từ dùng chung cho các
Trang 14đơn vị hành chính sự nghiệp, kết hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị mà lựa chọncác chứng từ trong hệ thống đó sử dụng cho đơn vị Hệ thống chứng từ bắt buộc
và hệ thống chứng từ hướng dẫn
- Hệ thống chứng từ bắt buộc bao gồm các chứng từ do Nhà nước ban hànhthống nhất theo mẫu nhất định, việc ghi chép phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phátsinh vào các mẫu chứng từ này cũng được qui định cụ thể theo phương pháp nhấtđịnh
- Hệ thống chứng từ hướng dẫn bao gồm các chứng từ mà Nhà nước chỉ quiđịnh có tính hướng dẫn Các đơn vị hành chính sự nghiệp căn cứ vào đặc điểm cụthể của đơn vị mình để thiết lập và phương pháp ghi chép dựa trên cơ sở đảm bảotính trung thực và tính hợp lệ của chứng từ
Tùy thuộc vào qui mô và tính chất hoạt động của từng đơn vị trên cơ sở hệthống chứng từ bắt buộc của Nhà nước đã ban hành mà xác định những chứng từcần thiết phải sử dụng Từ đó đơn vị dự toán cấp I hướng dẫn các đơn vị dự toáncấp dưới thực hiện
Theo Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 và sửa đổi, bổ sungtheo các Thông tư số 70/2001/TT-BTC ngày 24/8/2001, Thông tư số109/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001, Thông tư số 121/2002/TT-BTC ngày31/12/2002 và Thông tư số 03/2004/TT-BTC ngày 13/1/2004 của Bộ Tài chính, hệthống chứng từ gồm:
- Chỉ tiêu lao động tiền lương : 8 mẫu
- Chỉ tiêu vật tư : 5 mẫu
- Chỉ tiêu tiền tệ : 8 mẫu
- Chỉ tiêu tài sản cố định : 3 mẫu
- Chứng từ ban hành ở các văn bản pháp quy khác: 41 mẫu
Chương trình luân chuyển chứng từ: Tùy theo từng phần hành kế toán, kếtoán trưởng quy định chương trình luân chuyển từ khi bắt đầu lập, qua các bướcphê duyệt và thực hiện ghi sổ, theo hai phương thức liên tiếp hoặc song song
Trang 15Theo Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 của Bộ Tài chính về Chế
độ Chứng từ kế toán thì trình tự luân chuyển chứng từ kế toán bao gồm các bướcsau:
- Lập chứng từ và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vàochứng từ
- Kiểm tra chứng từ kế toán
- Phân loại, sắp xếp chứng từ và ghi sổ kế toán
- Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán
Sau khi báo cáo quyết toán năm được duyệt chứng từ kế toán được đưa vàolưu trữ, và bảo quản theo quy định của Nhà nước
Kiểm tra chứng từ: Trước khi ghi sổ kế toán phải tiến hành kiểm tra tính pháp
lý của chứng từ, các thông tin cần thiết và độ chính xác của các thông tin, kiểm tracác chứng từ thủ tục (chứng minh) liên quan
1.2.3.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóacác nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế Tài khoản kế toánphản ánh và kiểm soát thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình vận động củakinh phí và sử dụng kinh phí ở các đơn vị hành chính sự nghiệp Tài khoản kế toánđược mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tế riêng biệt Toàn bộ các
tài khoản kế toán sử dụng trong kế toán hình thành Hệ thống tài khoản kế toán Hệ
thống tài khoản kế toán hành chính sự nghiệp là một trong những nội dung quantrọng của chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, được thiết lập nhằm phục vụ choviệc hạch toán tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế có thể phát sinh trong tất cả các đơn
vị từ việc hình thành nguồn kinh phí, phân phối kinh phí, sử dụng kinh phí vàquyết toán kinh phí, từ các chỉ tiêu hành chính sự nghiệp thuần túy đến các chỉ tiêucủa sản xuất kinh doanh dịch vụ Chính vì vậy, khi tổ chức công tác kế toán, việc
sử dụng các tài khoản nào trong hệ thống tài khoản chung cho phù hợp với hoạtđộng của đơn vị phục thuộc vào đặc thù hoạt động của đơn vị đó Với một vài đơn
Trang 16vị cá biệt mà hệ thống tài khoản dùng chung cho các đơn vị hành chính sự nghiệpkhông đủ phản ánh hết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì đơn vị có thể xin bổsung tài khoản, nhưng nhất thiết phải được sự chấp thuận của Bộ Tài chính.
Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do Nhà nước ban hành, căn
cứ vào nội dung và quy mô nghiệp vụ phát sinh của từng đơn vị, kế toán phải tiếnhành nghiên cứu, cụ thể hóa và xác định hệ thống tài khoản kế toán sử dụng chođơn vị mình Đồng thời xây dựng danh mục và cách thức ghi chép các tài khoảncấp 2, cấp 3… Hiện nay, Nhà nước đã ban hành hệ thống tài khoản kế toán ápdụng đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp tại Quyết định số999/TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 và sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số184/1998/TT-BTC ngày 28/12/1998, Thông tư số 185/1998/TT-BTC ngày28/12/1998, Thông tư số 109/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001, Thông tư số121/2002/TT-BTC ngày 31/12/2002 và Thông tư số 03/2004/TT-BTC ngày13/1/2004 của Bộ Tài chính Hệ thống tài khoản này gồm 06 loại tài khoản trongbảng và 01 loại tài khoản ngoài bảng đó là:
+ Loại 1: Tiền và vật tư
+ Loại 2: Tài sản cố định
+ Loại 3: Thanh toán
+ Loại 4: Nguồn kinh phí
+ Loại 5: Các khoản thu
+ Loại 6: Các khoản chi
+ Loại 0: Tài khoản ngoài bảng
Việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính vào hệ thống tàikhoản thực hiện theo đúng qui định cụ thể thống nhất hiện hành
Trang 17mở sổ theo dõi việc cấp phát và quyết toán việc sử dụng kinh phí của các đơn vịtrực thuộc để tổng hợp báo cáo quyết toán với cơ quan quản lý cấp trên và cơ quantài chính Sổ kế toán gồm hai loại: sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết Mỗimột đơn vị hành chính sự nghiệp, việc vận dụng hệ thống sổ kế toán ngoài sự chiphối bởi qui mô hoạt động của đơn vị, còn chịu sự chi phối bởi các hình thức sổ kếtoán mà đơn vị đó sử dụng Tương ứng với mỗi hình thức sổ kế toán sẽ có sự quiđịnh hệ thống sổ kế toán riêng Theo chế độ kế toán hiện hành có các hình thức sổ
kế toán sau:
a Hình thức Nhật ký - Sổ cái
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chéptheo trình tự thời gian và phân loại, hệ thống hóa theo nội dung kinh tế (theo tàikhoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp là sổ Nhật ký - Sổ cái vàtrong cùng một quá trình ghi chép
Hình 1.2: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký - Sổ cái
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm traGhi cuối quí, năm
b Hình thức Chứng từ ghi sổ
Chøng tõ kÕ to¸n
B¶ng tæng hîp chøng tõ
kÕ to¸n
NhËt ký - Sæ c¸i
B¸o c¸o tµi chÝnh
Sæ, thÎ kÕ to¸n chi tiÕt
B¶ng tæng hîp chi tiÕt
Trang 18Theo hỡnh thức này, việc ghi sổ kế toỏn tổng hợp được căn cứ trực tiếp vàocỏc Chứng từ ghi sổ Chứng từ ghi sổ là một loại sổ kế toỏn dựng cho cỏc đơn vị
để phõn loại, hệ thống húa và xỏc định nội dung kinh tế của cỏc hoạt động kinh tếtài chớnh đó phỏt sinh Việc ghi sổ kế toỏn trờn cơ sở chứng từ ghi sổ sẽ được tỏchbiệt thành hai quỏ trỡnh riờng rẽ
- Ghi theo trỡnh tự thời gian phỏt sinh của nghiệp vụ kinh tế tài chớnh trờn Sổđăng ký chứng từ ghi sổ
- Ghi theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ kinh tế tài chớnh phỏt sinh trờn Sổcỏi
Hỡnh 1.3: Trỡnh tự ghi sổ kế toỏn theo hỡnh thức Chứng từ ghi sổ
Ghi hàng ngày
Ghi cuối thỏng
Đối chiếu, kiểm tra
Ghi cuối quớ, năm
Sổ, thẻ kế toán chi tiết
Bảng cân đối số phát sinh
Báo cáo tài chính
Trang 19phỏt sinh và nội dung kinh tế của cỏc nghiệp vụ đú Sau đú lấy số liệu trờn Sổ nhật
ký chung để ghi Sổ cỏi theo từng nghiệp vụ phỏt sinh
Hỡnh 1.4: Trỡnh tự ghi sổ kế toỏn theo hỡnh thức Nhật ký chung
Ghi hàng ngàyGhi cuối thỏngĐối chiếu, kiểm traGhi cuối quớ, nămĐối với mỗi đơn vị trong quỏ trỡnh tổ chức cụng tỏc kế toỏn, việc sử dụnghỡnh thức sổ kế toỏn nào tựy thuộc từng đơn vị, trong mỗi hỡnh thức việc sử dụngnhiều hay ít cỏc sổ tựy thuộc khối lượng cụng việc và qui mụ của từng đơn vị.Điều đỏng lưu ý là dự sử dụng sổ kế toỏn nào đều phải theo mẫu qui định thốngnhất đồng thời thỏa món được yờu cầu hạch toỏn chi tiết, hạch toỏn tổng hợp nhằmcung cấp cỏc thụng tin cần thiết cho người quản lý và việc lập cỏc bỏo cỏo tàichớnh
Trong điều kiện ứng dụng mỏy vi tớnh vào cụng tỏc kế toỏn, hỡnh thức chứng
từ ghi sổ là hỡnh thức hiện nay được nhiều đơn vị sử dụng và cũng được nhiều đơn
vị xõy dựng phần mềm dựa vào đú để xõy dựng cỏc chương trỡnh kế toỏn hànhchớnh sự nghiệp Khi ỏp dụng kế toỏn mỏy, mọi sổ và bỏo cỏo kế toỏn đều được in
từ trong mỏy tớnh, khụng dựng mẫu in sẵn, do đú sẽ cú một số mẫu sổ được thiết
Chứng từ kế toán
Sổ Nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo tài chính
Sổ, thẻ kế toán chi tiết
Bảng tổng hợp chi tiết
Trang 20kế lại cho phù hợp với điều kiện in ra trên máy vi tính Việc thiết kế mẫu sổ in ratrên máy vi tính dù với mục đích gì cũng phải đảm bảo các yêu cầu của chế độ kếtoán hiện hành, cung cấp đầy đủ, chính xác, rõ ràng các thông tin theo yêu cầu củacông tác quản lý.
Bảng 1.1: Danh mục và mẫu các sổ kế toán
áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp
(Ban hành theo Quyết định số 999 TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 và sửađổi, bổ sung theo Thông tư số 185/1998/TT-BCT ngày 28/12/1998, Thông tư số109/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001, Thông tư số 121/2002/TT-BTC ngày31/12/2002 và Thông tư số 03/2004/TT-BTC ngày 13/1/2004 của Bộ Tài chính)
Số
Ký hiệu mẫu sổ
Nhật ký chung
Trang 211 2 3 4 5 6 7
17 Sổ tổng hợp nguồn kinh phí S 41a-H x x x
Đơn vị có dự án viện trợ, có hoạt động tín dụng cho vay
20 Sổ theo dõi nhận và sử dụng
21 Sổ theo dõi nguồn kinh phíngân sách cấp S 45-H x x x
22 Sổ theo dõi nguồn kinh phí
23 Sổ chi tiết doanh thu S 51-H x x x Đơn vị có bán SP,hàng hóa, dịch vụ
24 Sổ chi tiết các khoản thu S 52-H x x x Đơn vị có thu
25 Sổ chi tiết thuế GTGT S 53a-H x x x Đơn vị có sản xuất,kinh doanh dịch vụ
26 Sổ chi tiết thuế GTGT S 53b-H x x x Đơn vị có sản xuất,kinh doanh dịch vụ
27 Sổ chi tiết thuế GTGT đượchoàn lại S 54-H x x x Đơn vị có sản xuất,kinh doanh dịch vụ
31 Sổ chi phí sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ S 64-H x x x Đơn vị có sản xuất,kinh doanh dịch vụ
32 Sổ theo dõi kinh phí cấp chocấp dưới S 67-H x x x Đơn vị cấp trên
33 Sổ tổng hợp sử dụng kinh phícác đơn vị cấp dưới S 68a,b-H x x x Đơn vị cấp trên
34 Sổ tổng hợp chi ngân sáchtheo nhóm mục S 69-H x x x
35 Sổ theo dõi chi phí trả trước S 70-SN x x x Đơn vị sự nghiệp có
thu
36 Bảng tính khấu hao TSCĐ S 71-SN x x x Đơn vị sự nghiệp cóthu
37 Sổ theo dõi thực hiện khoán
Đơn vị khoán chi hành chính
38 Sổ tổng hợp tình hình thựchiện khoán chi hành chính S 73-H x x x Đơn vị khoán chihành chính
39 Sổ theo dõi sử dụng kinh phítiết kiệm chi S 74-H x x x Đơn vị khoán chihành chính
40 Sổ theo dõi tạm ứng của khobạc S 75-H x x x
41 Bảng phân bổ chi phí khấuhao và chi phí trả trước FB01-SN x x x Đơn vị sự nghiệp cóthu
Trang 221.2.3.4 Tổ chức lập báo cáo tài chính
Là quá trình tính toán các chỉ tiêu và phản ánh vào các mẫu biểu theo quyđịnh Hệ thống báo cáo kế toán bao gồm báo cáo tài chính và báo cáo quản trị
- Báo cáo tài chính: Là những báo cáo tổng hợp phản ánh tình hình tài sản,tình hình cấp phát, tiếp nhận kinh phí của Nhà nước, kinh phí viện trợ, tài trợ vàtình hình sử dụng từng loại kinh phí Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp còn phải tổnghợp tình hình thu chi và kết quả của từng loại hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinhdoanh trong kỳ kế toán Hệ thống báo cáo tài chính của đơn vị sự nghiệp gồm:Bảng cân đối tài khoản
Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng
Báo cáo tình hình tăng giảm tài sản cố định
Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại kho bạc
Báo cáo kết quả hoạt động sự nghiệp có thu
Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu dự toán
Thuyết minh báo cáo tài chính
Theo qui định hiện hành thì thời hạn gửi báo cáo đối với các đơn vị sự nghiệp
dự toán cấp I chậm nhất là sau 25 ngày kết thúc quí với báo cáo quí và 30 ngày đốivới báo cáo năm Đối với đơn vị dự toán cấp II nộp báo cáo tài chính cho đơn vị
dự toán cấp I và cơ quan tài chính cùng cấp thì chậm nhất sau 15 ngày kết thúc quívới báo cáo quí và 20 ngày đối với báo cáo năm và đơn vị dự toán cấp III nộp báocáo tài chính cho đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I và cơ quan tài chính cùng cấpchậm nhất là 10 ngày sau khi kết thúc quí và 15 ngày sau khi kết thúc năm
- Báo cáo quản trị: Được vận dụng theo yêu cầu quản lý của từng đơn vị sựnghiệp với mục đích phục vụ cho quản lý nội bộ
Hệ thống báo cáo tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp được lập vớicác mục đích sau:
Trang 23- Tổng hợp và trình bày một cách khái quát, toàn diện tình hình tài sản, tìnhhình cấp phát, tiếp nhận kinh phí của Nhà nước, kinh phí viện trợ, tài trợ và tìnhhình sử dụng từng loại kinh phí Ngoài ra, các đơn vị có hoạt động sự nghiệp kinh
tế còn phải tổng hợp tình hình thu, chi và kết quả từng loại hoạt động sự nghiệp,hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán
- Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính cần thiết cho việc kiểm tra, kiểmsoát các khoản chi, quản lý tài sản của Nhà nước, tổng hợp, phân tích, đánh giácác hoạt động của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung, giúp cho Chínhphủ có cơ sở để khai thác các nguồn thu, điều chỉnh các khoản chi một cách hợp
lý, từ đó định ra được đường lối phát triển xã hội đúng đắn và lành mạnh Các đơn
vị cơ sở có đủ căn cứ xác đáng để lập kế hoạch kinh phí cho mỗi kỳ hoạt động mộtcách hợp lý, đồng thời phân tích được xu hướng phát triển, từ đó định ra chiếnlược và biện pháp quản lý tài chính ở đơn vị
Số lượng báo cáo, nội dung và phương pháp tính toán, hình thức trình bàycác chỉ tiêu trong từng báo cáo được áp dụng thống nhất theo Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT ngày 2/11/1996 của Bộ Tài chính cho tất cả các đơn vị hành chính
sự nghiệp Trong điều kiện áp dụng máy vi tính, mọi báo cáo sẽ được tổng hợp tựđộng từ số liệu trên các chứng từ gốc rồi in ra trên máy theo mẫu qui định
Trang 24Các đơn vị hành chính sự nghiệp thường có quy mô hoạt động nhỏ, nội dungchi tiêu, số lượng nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh không nhiều, tính chất chitiêu không phức tạp và theo định mức chung, nhưng các phần hành kế toán trongmỗi đơn vị vẫn bao gồm:
- Bộ phận kế toán vốn bằng tiền: Phản ánh số hiện có và tình hình biến độngcác loại vốn bằng tiền của đơn vị (tiền mặt, ngoại tệ, các chứng chỉ có giá và vàngbạc, kim khí, đá quí tại quỹ của đơn vị hoặc gửi kho bạc nhà nước)
- Bộ phận kế toán vật tư, tài sản: Phản ánh số lượng, giá trị hiện có và tìnhhình biến động vật tư, sản phẩm, hàng hóa tại đơn vị Phản ánh số lượng, nguyêngiá và giá trị hao mòn của tài sản cố định hiện có và tình hình biến động củaTSCĐ, công tác đầu tư xây dựng cơ bản và sửa chữa tài sản tại đơn vị
- Bộ phận kế toán thanh toán: Phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hìnhthanh toán các khoản nợ phải thu của các đối tượng trong và ngoài đơn vị Phảnánh các khoản nợ phải trả, các khoản trích nộp theo lương, các khoản phải trả côngchức, viên chức, các khoản phải nộp ngân sách và việc thanh toán các khoản phảinộp, phải trả
- Bộ phận kế toán nguồn kinh phí, vốn, quĩ: Phản ánh số hiện có và tình hìnhbiến động các nguồn kinh phí đã hình thành tài sản cố định, kinh phí đằu tư xâydựng cơ bản, kinh phí hoạt động, kinh phí thực hiện dự án, kinh phí khác và cácloại vốn, quỹ của đơn vị
- Bộ phận kế toán các khoản phải thu: Phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoảnthu phí, thu sự nghiệp, hội nghị phí, thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và cáckhoản phải thu khác phát sinh tại đơn vị và nộp kịp thời số phải nộp cho ngân sáchNhà nước hoặc cấp trên.
- Bộ phận kế toán các khoản phải chi: Phản ánh tình hình chi phí cho hoạtđộng, chi thực hiện chương trình dự án theo dự toán được duyệt và tình hình thanhquyết toán các khoản chi đó, phản ánh chi phí của các hoạt động sản xuất kinh
Trang 25doanh dịch vụ và chi phí của các hoạt động khác, trên cơ sở đó để xác định kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ.
- Bộ phận kế toán tổng hợp: Tùy theo tính chất hoạt động của mỗi đơn vị, vịtrí của mỗi đơn vị trong hệ thống dự toán mà lựa chọn các biểu mẫu báo cáo kếtoán cần thiết để lập các báo cáo quyết toán và phân tích quyết toán đó
1.2.3.6 Tổ chức kiểm tra kế toán
Kinh phí hành chính sự nghiệp là phần chi quan trọng nhất của Ngân sáchNhà nước, nhằm đảm bảo ổn định chính trị, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội,tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế xã hội Các đơn vị hành chính sự nghiệpđều được cấp kinh phí theo mức chi và nội dung chi đã được cấp có thẩm quyềnphê duyệt Do vậy, công tác kiểm tra kế toán trong phần kiểm tra nội dung côngtác kế toán chủ yếu tập trung kiểm tra chế độ chi tiêu có tuân thủ theo đúng chế
độ, đúng định mức, đúng mục đích và nội dung đã được duyệt hay không? Côngtác kiểm tra kiểm toán tại đây chủ yếu sẽ do đơn vị sự nghiệp thực hiện, nhưngbên cạnh đó còn phải chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan kho bạc, cơ quantài chính cấp trên và chấp hành sự kiểm tra của cơ quan kiểm toán nhà nước Đểthực hiện được vai trò trên trong quá trình dự toán, cấp phát, quản lý nguồn kinhphí hành chính sự nghiệp cần phải được tổ chức một cách hợp lý, khoa học Việc
tổ chức quản lý nguồn kinh phí hành chính sự nghiệp được thể hiện thông qua 3công việc chính đó là: Lập và tổng hợp dự toán, Cấp phát kinh phí, Quyết toánkinh phí Các công việc đó được thực hiện nh sau:
a Lập và tổng hợp dự toán kinh phí năm
Vào khoảng tháng 6 hàng năm, theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việcxây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán Ngân sách Nhà nước nămsau Bộ Tài chính sẽ ban hành thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung và thờihạn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về dự toán NSNN cho các Bộ, cơquan Trung ương và các Tỉnh Trên cơ sở thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính,các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các Tỉnh sẽ tiến hành hướng dẫn các đơn vị
Trang 26hành chính sự nghiệp trực thuộc lập dự toán ngân sách năm tới Các đơn vị hànhchính sự nghiệp tiến hành việc lập dự toán nguồn kinh phí hành chính sự nghiệpcho năm sau của đơn vị Việc lập dự toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp dựatrên các căn cứ sau:
+ Hướng dẫn lập dự toán của các cơ quan cấp trên
+ Các nghiệp vụ chuyên môn cần thực hiện năm tới
+ Định mức chi chia theo vùng
+ Các nhiệm vụ đột xuất do Chính phủ và Bộ phê duyệt
+ Các cơ chế chính sách Nhà nước ban hành có tác động ảnh hưởng tới dựtoán chi của năm tới
+ Quyết toán của năm trước
+ Dự toán đã được duyệt của năm hiện tại
Sau khi các đơn vị cơ sở lập dự toán xong sẽ gửi lên các đơn vị cấp trên (cấp
I hoặc cấp II), các đơn vị cấp I hoặc cấp II sẽ tổng hợp dự toán rồi gửi lên Vụ Kếhoạch Tài chính của các Bộ, ngành Trung ương hoặc Sở tài chính của các tỉnh.Các đơn vị cấp trên sẽ xem xét, điều chỉnh dự toán và duyệt dự toán cho các đơn
vị cấp dưới, sau đó tổng hợp toàn bộ dự toán gửi lên Bộ Tài chính, Bộ Tài chính
sẽ trình Quốc hội, Chính phủ xem xét vào khoảng tháng 10, dự toán ngân sách của
Bộ Tài chính sẽ được duyệt vào khoảng tháng 12 Trên cơ sở dự toán năm đượcduyệt, hàng quí các đơn vị lập dự toán kinh phí chi tiêu quí tới để các cơ quan cấptrên có kế hoạch phân bổ và cấp kinh phí Việc lập dự toán quí sẽ căn cứ vào:+ Dự toán năm
+ Các yêu cầu về chi thường xuyên
+ Các yêu cầu chi theo tiến độ thực hiện công việc mua sắm, sửa chữa + Khả năng thu ngân sách (đối với các đơn vị sự nghiệp có thu)
Việc lập dự toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp phải tuân thủ LuậtNSNN, hệ thống các mẫu biểu về lập và tổng hợp dự toán thu, chi ngân sách
Trang 27b Cấp phát kinh phí
Trên cơ sở dự toán Ngân sách đã được Quốc hội duyệt, Vụ NSNN sẽ phân bổ
kế hoạch Ngân sách cho các bộ, ngành, địa phương Theo công văn hướng dẫn của
Bộ Tài chính về chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, các đơn vị sự dụngngân sách chi tiết hóa các khoản thu chi theo mục, tiểu mục Căn cứ vào mức chi
do cơ quan tài chính thông báo, căn cứ vào dự toán kinh phí quí và công văn đềnghị cấp phát của các đơn vị gửi lên Vụ KHTC các Bộ, ngành hoặc các Sở tàichính các tỉnh Các Vụ KHTC của các Bộ, ngành, các Sở tài chính sẽ lập giấy báophân phối hạn mức kinh phí gửi cho các đơn vị sử dụng Ngân sách Kho bạc Nhànước kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo qui định của pháp luật
và thực hiện việc cấp phát, thanh toán cho các đơn vị Lập dự toán theo chương,loại khoản, nhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục nào thì phải cấp phát theo đúngchương, loại khoản, nhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục đó theo hệ thống mục lụcNSNN ban hành kèm theo Quyết định số 280/TC/QĐ/NSNN ngày 15/4/1997 của
Bộ Tài chính quy định Việc cấp phát thường được lập theo tháng, quí, trường hợp
có đơn vị phải chi bất thường thì căn cứ kế hoạch chi sẽ cấp đột xuất cho đơn vịsau đó điều chỉnh lại theo đúng kế hoạch được duyệt Trong công tác quản lý tàichính phải luôn thường xuyên theo dõi được số kinh phí được cấp, số kinh phí đãcấp cho từng đơn vị so với dự toán được duyệt theo đúng chương, loại khoản,nhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục, đồng thời thường xuyên đối chiếu với số kinhphí thực cấp của kho bạc
c Quyết toán kinh phí
Các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải đảm bảo hạch toán kế toán từ chứng từgốc, đồng thời cuối quí, cuối năm phải lập các báo cáo quyết toán tình hình thu chitheo mục lục ngân sách gửi lên cơ quan cấp trên Các cơ quan cấp trên có tráchnhiệm kiểm tra xem các đơn vị cấp dưới hạch toán có đúng không, quyết toán cóđúng theo mục lục ngân sách đã qui định không, có tuân thủ các định mức chi tiêutheo qui định của Nhà nước, các khoản chi có vi phạm các thủ tục pháp lý không.Trên cơ sở các quyết toán của đơn vị cấp dưới, các đơn vị cấp trên tổng hợp thành
Trang 28quyết toán chung, rồi gửi lên các cấp cao hơn Cuối cùng các Vụ KHTC của các
Bộ, ngành, các Sở tài chính các tỉnh lập các báo cáo tài chính và quyết toán kinhphí gửi Bộ Tài chính Trong việc tổ chức quyết toán kinh phí năm, các đơn vị dựtoán cấp trên sẽ thực hiện việc thẩm tra quyết toán năm của các đơn vị cấp dưới.Việc thẩm tra quyết toán năm sẽ thực hiện theo Thông tư số 10/2004/TT-BTCngày 19 tháng 2 năm 2004 về việc hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báoquyết toán năm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và ngân sách cáccấp
1.3 Đặc thù tổ chức công tác kế toán trong các dự án ODA
1.3.1 Chế độ kế toán áp dụng
Đối với các dự án vốn vay hoạt động đầu tư XDCB có thành lập Ban quản lý
dự án và tổ chức công tác kế toán riêng thì áp dụng Chế độ kế toán cho đơn vị chủđầu tư Riêng đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật, mặc dù có quy mô nhỏ và cácnghiệp vụ kinh tế tài chính có tính chất đơn giản, tuy nhiên vẫn có thể vận dụngChế độ kế toán áp dụng cho đơn vị Chủ đầu tư để thực hiện
Đối với các khoản tài trợ ODA cho các đơn vị HCSN mà đơn vị đó không tổchức Ban quản lý dự án riêng thì công tác kế toán được thực hiện trên cùng một hệthống sổ kế toán theo chế độ kế toán HCSN ban hành tại QĐ số 999 BTC/QĐ-CĐKT ngày 2/11/1996 và các thông tư bổ sung
Đối với các khoản tài trợ ODA cho cấp phường, xã mà phường, xã đó khôngthành lập Ban QLDA riêng thì công tác kế toán được thực hiện trên cùng một hệthống sổ kế toán theo chế độ kế toán Ngân sách và tài chính xã ban hành tại QĐ số141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001
Đối với các khoản tài trợ ODA cho cấp phường, xã mà phường, xã đó cóthành lập Ban quản lý dự án và tổ chức công tác kế toán riêng trong khi chưa cóquy định cụ thể của nhà nước thì đối với các Ban QLDA của phường, xã có trình
độ hiểu biết có thể ghi sổ kế toán theo phương pháp "kế toán kép" áp dụng Chế độ
kế toán áp dụng cho đơn vị Chủ đầu tư
Trang 29Đối với các khoản tài trợ ODA cho cấp phường, xã nhưng do Ban QLDA cấptỉnh (huyện) thực hiện thì phường, xã không trực tiếp ghi sổ kế toán, toàn bộchứng từ phát sinh tại phường, xã được tập trung về phòng kế toán của Ban QLDAtỉnh/huyện.
1.3.2 Chứng từ kế toán
Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động củaBan QLDA đều phải lập chứng từ kế toán Chứng từ kế toán chỉ lập một lần chomỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Chứng từ kế toán phải lập rõ ràng, đầy
đủ, kịp thời, chính xác nội dung qui định trên mẫu Trong trường hợp chứng từ kếtoán chưa quy định mẫu thì Ban QLDA được tự lập chứng từ kế toán nhưng phải
có đầy đủ các nội dung nh qui định (tên chứng từ, ngày tháng lập, nội dung phátsinh, số tiền, chữ ký) Đối với những chứng từ kế toán được lập để giao dịch với tổchức, cá nhân bên ngoài dự án thì phải có dấu của Ban QLDA (nếu Ban QLDA đã
1.3.3 Tài khoản kế toán
Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán đã qui định trong chế độ kế toán ápdụng cho dù án, các Ban QLDA cần nghiên cứu, lựa chọn các tài khoản kế toán ápdụng cho đơn vị phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị,đồng thời đáp ứng các yêu cầu, hoặc qui định trong Điều ước quốc tế cụ thể được
ký kết giữa Nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam của từng dự án
Hệ thống TKKT bao gồm các TKKT trong bảng Cân đối kế toán được thựchiện theo phương pháp “kế toán ghi kép” và các tài khoản ngoài bảng Cân đối kế
Trang 30toán được thực hiện theo phương pháp “kế toán ghi đơn” Các yêu cầu cơ bản đốivới hệ thống TKKT của dự án ODA là phải thể hiện đầy đủ nội dung, phạm vi,yêu cầu quản lý của dự án, đặc biệt là các hoạt động đầu tư và phải đảm bảo thỏamãn yêu cầu và đặc điểm về phân cấp tài chính, phân cấp quản lý dự án (quan hệban QLDA cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu có), quan hệ ngang).
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động và cơ chế quản lý tài chính của các loạihình dự án, một số tài khoản quy định trong Chế độ kế toán áp dụng cho đơn vịchủ đầu tư được bổ sung, sửa đổi như sau:
a Tài khoản trong Bảng cân đối kế toán
TK 141 – Tạm ứng, mở thêm 2 tài khoản cấp 2:
+ 1411 – Tạm ứng của cán bộ Ban ĐPDA/Ban QLDA
+ 1412 – Tạm ứng cho các tiểu dự án, đại diện chi nhánh
TK 211 – Tài sản cố định hữu hình, bổ sung các TK cấp 2 sau:
TK 241 – Chi phí đầu tư xây dựng: Tài khoản này phản ánh chi phí thực hiện
dự án phát sinh và tình hình quyết toán vốn dự án ở các dự án Tài khoản này bổsung 1 tài khoản cấp 2:
+ TK 2413 – Chi phí thực hiện dự án khác: Tài khoản này phản ánh các chiphí thực hiện dự án phát sinh và tình hình quyết toán vốn dự án không thuộc hoạtđộng xây dựng cơ bản
TK 441 – Nguồn vốn đầu tư: Tài khoản này phản ánh toàn bộ số vốn của dự
án, gồm vốn NSNN cấp, vốn vay hoặc viện trợ không hoàn lại và vốn khác Tàikhoản này bổ sung 1 tài khoản cấp 2:
Trang 31+ TK 4413 – Nguồn vốn nhà tài trợ: Tài khoản này phản ánh số vốn vay hoặcviện trợ không hoàn lại của dự án.
b Tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán:
TK 008 – Hạn mức vốn đầu tư, mở thêm 2 tài khoản cấp 2:
1.3.5 Báo cáo tài chính dự án ODA
Trong quá trình thực hiện dự án ODA, Ban QLDA phải lập và nộp báo cáotài chính cho cả hai phía là Nhà tài trợ và các cơ quan có liên quan của Việt Nam
Do yêu cầu cụ thể của hai bên về mặt nội dung trong BCTC có một số điểm khácnhau cho nên hình thức, biểu mẫu của hai loại báo cáo này cũng có nhiều điểmkhác biệt
BCTC của dự án trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sảnđược quản lý và sử dụng tại dự án; nguồn vốn dự án (vốn tài trợ, ngân sách cấpđối ứng, vốn tự huy động, nguồn vốn đóng góp của người hưởng lợi ), hoặc cáckhoản nợ khác; tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn dự án; chi phí thực hiện
dự án chưa hoàn thành, hoặc chưa được quyết toán; tình hình quyết toán tổng vốnthực hiện dự án Nhìn chung, BCTC cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủyếu cho việc đánh giá tình hình nhận và sử dụng nguồn vốn; đánh giá thực trạng
Trang 32tài chính của đơn vị chủ dự án trong từng kỳ hoạt động; đánh giá tình hình thựchiện và hoàn thành dự án.
a Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính
* Cần chú ý các nguyên tắc dưới đây khi lập BCTC:
- Các BCTC cần được lập theo những nguyên tắc kế toán được chấp nhậnchung cũng như các nguyên tắc đề cập trong chuẩn mực kế toán Việt Nam
- Trước khi lập BCTC, ban QLDA cần xác định rõ số lượng các BCTC phảilập, gửi cho các cơ quan có liên quan, nhà tài trợ cũng như các báo cáo phục vụcho quản lý nội bộ (của chính ban QLDA và của riêng đơn vị cấp trên hoặc đơn vịcấp dưới)
- Số liệu được trình bày trên các BCTC phải được lấy từ nguồn số liệu trên sổ
kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và được lập theo đúng trình tự quy định Sốliệu trên các báo cáo phải đảm bảo thống nhất và phản ánh đúng thực trạng tìnhhình tài chính tại đơn vị
* Hướng dẫn trình bày BCTC
- BCTC phải cung cấp một cách đầy đủ, trung thực và kịp thời về diễn biến
và thực trạng tài chính của dự án Mọi BCTC đều được lập trên cơ sở một hệthống số liệu, tài liệu kế toán cập nhật đầy đủ, chính xác và thống nhất Việc lậpbáo cáo phải căn cứ vào số liệu sau khi khóa sổ kế toán
- BCTC phải lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữacác kỳ kế toán
- BCTC phải được người lập, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luậtcủa dự án ký Người ký BCTC phải chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo
b Biểu mẫu sử dụng để lập báo cáo tài chính
* Báo cáo tài chính gửi cho nhà tài trợ
ADB, WB và JBIC đều có biểu mẫu báo cáo tài chính riêng Khi lập BCTC,các Ban QLDA cần liên hệ với các cán bộ phụ trách dự án để có hướng dẫn Các
Trang 33mẫu biểu báo cáo tài chính của từng loại dự án thường khác nhau và được thốngnhất trong quá trình thiết kế dự án hoặc khi bắt đầu thực hiện dự án.
* Báo cáo tài chính gửi cho phía Việt Nam
BCTC cho phía Việt Nam có hai loại là báo cáo quý và báo cáo năm, sử dụngcùng một loại biểu mẫu nh nhau
BCTC của các dự án xây dựng cơ bản sử dụng biểu mẫu và tham khảo hướngdẫn lập BCTC tại Chế độ Kế toán Chủ đầu tư, ban hành kèm theo Quyết định số214
BCTC của các dự án hành chính sự nghiệp cùng chung hệ thống sổ kế toánvới đơn vị HCSN sử dụng biểu mẫu qui định trong Chế độ Kế toán HCSN, banhành kèm theo Quyết định số 999 ngày 02/11/1996 và các thông tư hướng dẫn sửađổi, bổ sung
c Nộp báo cáo tài chính
* BCTC theo biểu mẫu của Nhà tài trợ phải gửi cho Nhà tài trợ/ Các nhàđồng tài trợ (gọi chung là Nhà tài trợ) thông thường chậm nhất là 180 ngày saungày kết thúc niên độ kế toán BCTC gửi cho Nhà tài trợ phải là báo cáo tài chính
đã được một cơ quan kiểm toán độc lập kiểm toán và xác nhận Yêu cầu nàythường được nêu rất cụ thể trong Hiệp định vay vốn hoặc Văn kiện dự án Trongnhiều trường hợp, Bộ Tài chính cũng yêu cầu Ban QLDA gửi 1 bản sao BCTC đãđược kiểm toáncho Bộ Tài chính khi gửi cho Nhà tài trợ
Nếu dự án có đồng tài trợ mà các nhà tài trợ đều trực tiếp quản lý, giám sátthực hiện phần vốn tài trợ của mình trong dự án thì phải gửi BCTC cho tất cả cácnhà đồng tài trợ Nếu dự án có đồng tài trợ nhưng Nhà đồng tài trợ (hoặc các nhàđồng tài trợ) ủy quyền cho một nhà tài trợ đứng ra quản lý và giám sát thực hiện
dự án thì chỉ gửi BCTC cho Nhà tài trợ được ủy quyền đó
* BCTC theo biểu mẫu của Việt nam phải gửi cho các cơ quan của phía ViệtNam là Bộ Tài chính và cơ quan chủ quản dự án (riêng Ban QLDA cấp dưới cònphải gửi BCTC của mình cho Ban QLDA cấp cao hơn mình một cấp) Báo cáo
Trang 34quý: nộp chậm nhất là 30 ngày sau ngày kết thúc quý báo cáo Báo cáo năm: nộpchậm nhất là 90 ngày sau ngày kết thúc niên độ kế toán.
Kết luận chương 1
Qua các nội dung đã nêu ở phần trên có thể đi tới một số kết luận nh sau:Trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, kế toán là một công cụ quan trọngtrong hệ thống các công cụ quản lý tài chính Nhà nước Kế toán chính là công việc
tổ chức hệ thống thông tin bằng số liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí,tình hình sử dụng, quyết toán kinh phí, tình hình sử dụng các loại vật tư, tài sảncông, tình hình chấp hành dự toán thu chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức ởđơn vị Tổ chức công tác kế toán có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiệncác nhiệm vụ chức năng của kế toán Để kế toán hoàn thành các nhiệm vụ củamình, cần phải tiến hành tổ chức công tác kế toán sao cho phù hợp với đặc điểm,qui mô của từng đơn vị, phù hợp với tình hình thực tế của mỗi giai đoạn, hoàncảnh kinh tế xã hội
Tất cả các nội dung trên đây đều có tính logic và quan hệ mật thiết với nhautạo thành một hệ thống lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán và nằm trongmột thể thống nhất của luận văn Chương này sẽ tạo tiền đề cho việc phân tíchthực trạng cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện cho tổ chức công tác kế toántại các dự án ODA thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ được trình bày trong cácchương tiếp theo
Trang 35Chương 2 - Thực trạng tổ chức công tác kế toán ở các dự án ODA thuộc
Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.1 Tổng quan về ODA và quy trình quản lý tài chính của các dự án ODA ởViệt Nam
2.1.1 Tổng quan về ODA
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance,
có nghĩa là Hỗ trợ Phát triển Chính thức hay còn gọi là Viện trợ Phát triển Chínhthức Trên thế giới khái niệm ODA đã xuất hiện từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2trên cơ sở sự thỏa thuận của các nước công nghiệp phát triển về sự trợ giúp dướidạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đangphát triển để thực hiện hai mục tiêu chủ yếu là:
(i) Thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và xóa đói giảm nghèo ở các nước tiếp nhậnviện trợ
(ii) Tăng cường lợi Ých chiến lược và lợi Ých chính trị của các nước cung cấpviện trợ
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ cácnước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển Liên Hiệp Quốc, trongmột phiên họp toàn thể của Đại Hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước pháttriển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế -
xã hội của các nước đang phát triển
Các nghiên cứu về ODA trên thế giới đã đưa ra một số khái niệm nhưng vềbản chất của chúng không có nhiều khác biệt
* Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD)
Năm 1972, OECD đã đưa ra định nghĩa ODA là "mét giao dịch chính thức
được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm Ýt nhất 25%".
Trang 36* Theo Uỷ ban Hỗ trợ Quốc tế (DAC – do OECD thành lập)
“ODA là vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và
cho vay với điều kiện ưu đãi”.
* Theo Ngân hàng Thế giới (WB)
“ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức ODF trong đó có yếu
tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm Ýt nhất 25% trong tổng viện trợ”.
* Theo Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4 tháng 5 năm 2001 của Chính phủnước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Khái niệm về ODA được xác định như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức
(gọi tắt là ODA) là sự hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ, bao gồm : Chính phủ nước ngoài và các Tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia”
Trên cơ sở các định nghĩa trên ta có thể hiểu ODA là nguồn vốn hỗ trợ của
Chính phủ các nước, các Tổ chức tài chính quốc tế cho Chính phủ các nước đang phát triển dưới hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này.
Như vậy ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi Yếu tốkhông hoàn lại trong ODA luôn phải đạt mức tối thiểu là 25% và tối đa là 100%,việc xác định yếu tố này dựa vào so sánh mức lãi suất tín dụng thương mại (lấytiêu chuẩn 10%) Cho vay ưu đãi với các điều kiện ưu đãi: (i) Lãi suất vay thấp(<3%/năm); (ii) Thời gian ân hạn dài; (iii) Thời gian vay dài
Chính phủ các nước cung cấp ODA chủ yếu là:
- Các nước thành viên của OECD nh: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp,Cannada, Australia, Newzealand, các nước EU,
- Các nước thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC)
- Các nước công nghiệp mới
Trang 37Cỏc tổ chức tài chớnh quốc tế cung cấp ODA: Ngõn hàng Thế giới (WB),Ngõn hàng phỏt triển Chõu ỏ (ADB), Chương trỡnh Phỏt triển Liờn hợp quốc(UNDP),
ODA nằm trong dũng lưu chuyển vốn quốc tế chủ yếu từ cỏc nước phỏt triểnsang cỏc nước đang phỏt triển và là một bộ phận của vốn nước ngoài thuộc Tài trợphỏt triển chớnh thức
Hỡnh 2.1: Cỏc luồng vốn nước ngoài
* Lợi thế
Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Viện trợ không hoàn lại
Cho vay u đãi
Các hình thức ODF khác
Tài trợ Phát triển Chính thức ODF
Tín dụng từ các NHTM
Viện trợ của các
tổ chức phi Chính phủ
Tài trợ t nhân khác
Đầu t n ớc ngoài trực tiếp (FDI)
Vốn n
ớc
ngoài
Trang 38Thứ nhất, sử dụng vốn ODA là bổ sung nguồn vốn đầu tư “rẻ” Vì mục tiêu
phát triển và chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển nên ODA mangtính ưu việt cao hơn bất cứ hình thức tài trợ nào vì thời gian vay (thời gian hoàntrả vốn) và thời gian ân hạn (thời gian chỉ trả lãi chưa trả gốc) dài (các khoản vaycủa WB có thời gian vay 40 năm, thời gian ân hạn 10 năm; các khoản vay củaADB có thời gian vay 32 năm, thời gian ân hạn 8 năm Lãi suất các khoản vayODA thường ở mức rất thấp (lãi suất đối với các khoản vay của WB là 0%/năm,phí dịch vụ 0,75%/năm; của ADB là 1%/năm trong 8 năm đầu, của Nhật Bản là0,75-2,3%/năm tùy thuộc vào từng chương trình, dự án cụ thể)
Thứ hai, ODA góp phần bổ sung nguồn ngoại tệ, bù đắp thâm hụt cán cân
thanh toán (CCTT) Về mặt lý thuyết, khi nhận viện trợ làm cho tài khoản vốn(capital account) trong CCTT của một quốc gia ở trạng thái thặng dư Vốn ODAđược xem nh một dòng tiền ghi Có ở tài khoản vốn Trong thực tế, các nước đang
và chậm phát triển lại có nhu cầu nhập khẩu rất lớn vì thế thường tạo ra sự thâmhụt trong tài khoản vãng lai (current account) Nếu nền kinh tế có đủ lượng ngoại
tệ thì nó có thể sử dụng nguồn dự trữ này để tài trợ cho chênh lệch giữa xuất khẩu
và nhập khẩu Nhưng thực tế cho thấy nguồn ngoại tệ dự trữ ở các nước đang pháttriển không thể bù đắp được sự thiếu hụt này mà thường được bù đắp bằng cácnguồn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI), ODA Nh vậy, nhờ có ODA, CCTTđược cải thiện, cung cầu ngoại tệ được giữ ở mức ổn định giúp cho tỷ giá hối đoái(TGHĐ) không có những biến động lớn
Thứ ba, sử dụng vốn ODA giúp các nước đang phát triển tiếp thu công nghệ
và nâng cao chất lượng quản lý Một thực tế không thể phủ nhận được là vốnODA mang lại cho các nước đang phát triển công nghệ – kỹ thuật hiện đại, kỹ xảochuyên môn, bí quyết và trình độ quản lý tiên tiến Các nước tiếp nhận ODA cóthể đầu tư cho máy móc, trang thiết bị thế hệ mới thay thế đa số những máy móclạc hậu năng suất thấp trước đây, tài trợ cho các hợp đồng chuyển giao công nghệ,xây dựng cơ sở hạ tầng và đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực Vì xét cho đếncùng nếu không coi trọng phát triển nguồn nhân lực thì các nước này sẽ không thể
Trang 39vận hành và đưa các máy móc công nghệ hiện đại vào hoạt động nhằm thực hiệnmục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước cũng như phát triển một nềnkinh tế tri thức có chất lượng cao.
* Hạn chế
Bên cạnh những lợi thế do sử dụng vốn ODA, những nước nhận viện trợcũng phải đối mặt với những hạn chế nhất định do nguồn vốn này mang lại
Trước nhất phải kể tới những ràng buộc về chính sách tài trợ (kể cả chính
trị) Các nước tài trợ hay các tổ chức quốc tế khi cam kết tài trợ đều kèm theonhững điều kiện nhất định về kinh tế và chính trị Nhìn chung khoảng 22% việntrợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các nước viện trợhay Nhật Bản yêu cầu vốn ODA phải thực hiện bằng đồng Yên Nhật cũng như Mỹđòi hỏi được hưởng các điều kiện ưu đãi trong đầu tư và thu mua nguyên liệu thô.Nguyên nhân của những ràng buộc này xuất phát từ việc các nước phát triển nhậnthấy lợi Ých của mình trong việc hỗ trợ giúp đỡ các nước đang phát triển để mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và môi trường đầu tư Bên cạnh đó, ODA cũngđược các nước phát triển coi nh một công cụ chính trị để xác định vị trí và ảnhhưởng của mình tại các nước tiếp nhận viện trợ Mỹ là một trong những nướcdùng ODA làm công cụ thực hiện ý đồ “gây ảnh hưởng chính trị trong thời gianngắn” Mỹ thường hướng các nước nhận viện trợ theo mét ý đồ nào đó của Mỹtrong ngoại giao và tác động can thiệp vào sự phát triển chính trị của các nướcđang phát triển Viện trợ kinh tế cũng là một thủ đoạn chính trong việc tiến hànhthâm nhập văn hóa tư tưởng đối với nước nhận viện trợ Nh vậy, đối với các nướcnhận viện trợ cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện của các nhà tài trợ Không vìlợi Ých trước mắt mà bỏ qua lợi Ých lâu dài Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thứcphải đảm bảo sự tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộcủa nhau, bình đẳng cùng có lợi, chung sống hòa bình
Thứ hai, sử dụng vốn ODA cũng có nghĩa làm tăng nợ quốc gia Một nền
kinh tế nếu muốn hưởng lợi từ các khoản nợ nước ngoài thì tốc độ tăng trưởng của
Trang 40nó phải đủ lớn để đáp ứng được các nhu cầu tăng lên trong tiêu dùng và trả nợ Sửdụng vốn vay là một hoạt động kinh tế năng động, tất yếu có vay thì sẽ có trả, việcvay nợ làm bổ sung thêm nguồn lực hiện tại nhưng cũng có tác động đến cácnguồn lực trong tương lai khi các khoản nợ bắt đầu tới hạn thực hiện “dịch vụ trảnợ” Sự phức tạp ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất,đặc biệt là cho xuất khẩu, trong khi đó việc trả nợ lại dựa vào nguồn thu ngoại tệ
từ xuất khẩu Vào những năm 1980 của thế kỷ 20, những nước nợ nước ngoài lớn
nh Brazil, Mexico đã phải dành từ 1/4 – 1/3 thu nhập từ xuất khẩu để trả nợ Trongkhi đó, tăng trưởng xuất khẩu được xem nh nền tảng của tăng trưởng kinh tế Tìnhtrạng trên đã dẫn tới sự giảm sút trong tăng trưởng kinh tế của các nước này, thậmchí rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ quốc gia và tuyên bố không trả được nợ
2.1.1.2 Vai trò của ODA đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Hầu hết các quốc gia trong quá trình tăng trưởng nền kinh tế đều nêu cao tinh
thần “phát huy sức mạnh nội lực”, coi nguồn vốn trong nước là yếu tố quyết định.
Điều này là hoàn toàn đúng đắn vì việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồnvốn trong nước sẽ đảm bảo tính độc lập, tự chủ mang tính chiến lược lâu dài Tuynhiên, các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đềuphải đối mặt với những khó khăn như tốc độ tăng dân số cao, lực lượng lao độngnông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (65 – 80%), trình độ dân trí thấp, điều này làm ảnhhưởng trực tiếp đến mức tích lũy nội bộ trong nước Do đó sử dụng vốn nướcngoài nói chung hay vốn ODA nói riêng được xem như một cứu cánh để các nướcnày thực hiện thành công cuộc rượt đuổi thay vì phải mất hàng trăm năm tích lũynhư các nước phát triển đã từng trải qua Vai trò của vốn ODA đối với sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, vốn ODA thúc đẩy tăng trưởng, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân
Vốn ODA là nguồn tài chính quan trọng, góp phần bổ sung vốn cho quá trìnhphát triển Các nước đang phát triển phần lớn đều dùng nguồn vốn này để xây