Văn hóa Trung Quốc nổi bật với những quanniệm đạo đức, nhân sinh, lễ nghĩa, cùng với đó là những tư tưởngtriết học mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, đã ảnh hưởng sâu rộngđến việc hình thàn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa Triết Học Môn Lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Bài tiểu luận:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TUÂN TỬ
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đoàn Thị Ngân
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trung Quốc là một quốc gia phương Đông có diện tích rộnglớn ở khu vực châu Á.Với nền lịch sử văn hóa hàng ngàn năm,Trung Quốc đã trở thành cái nôi hình thành nên nền văn hóa của khuvực phương đông Văn hóa Trung Quốc nổi bật với những quanniệm đạo đức, nhân sinh, lễ nghĩa, cùng với đó là những tư tưởngtriết học mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, đã ảnh hưởng sâu rộngđến việc hình thành tư tưởng triết học của các quốc gia phươngĐông Một trong những trường phái triết học lớn có tư tưởng giá trịnhất trong nền triết học Trung Quốc là trường phái Nho gia, mộttrường phái triết học lấy luân lý đạo đức làm cơ sở cốt lõi để pháttriền Triết học Nho gia cũng là phản ánh của một bộ phận lịch sửphức tạp, đa dạng của Trung Quốc, thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốcvới những biến đổi phức tạp trong quan niệm nhân sinh đạo đứcTrung Quốc đương thời Trong trường phái Nho gia này, Tuân Tửnổi lên là một triết gia mang tư tưởng Triết Học tiến bộ với nhữngquan niệm duy vật về thế giới, về mối liên hệ giữa con người và đất,trời, cũng như vai trò của con người trong việc làm chủ vận mệnhcủa chính mình Là một bộ phân của Triết Học Trung Quốc, trườngphái Nho Gia nói chung và đặc biệt là tư tưởng triết học của Tuân
Tử nói riêng cần thiết phải được nghiên cứu và bàn luận để hiểu mộtcách chính xác và toàn diện về nền Triết Học Trung Quốc – một nềntriết học đặc trưng của triết học phương Đông
Đề tài sau đây của nhóm chỉ xin được trình bày những vấn đề
cơ bản như bản thể luận, nhận thức luận, và vấn đề đạo đức luân lýtrong tư tưởng triết học của Tuân Tử
2 Mục đích của đề tài.
Trang 4- Hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng của triết gia Tuân Tử về cácvấn đề căn bản trong triết học như bản thể luận, nhận thức luận,các vấn đề đạo đức nhân sinh.
Có hiểu biết nhất định về một giai đoạn phát triển của lịch sửtriết học Trung Quốc
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên nền tảng triết họcMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sự dụng phương pháp duyvật biện chứng và duy vậy lịch sử làm chủ đạo kết hợp với cácphương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phươngpháp Logic, so sánh để nghiên cứu và hoàn thành
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đề tài nghiên cứu đến các quan điểm về thế giới, cách nhậnthức về thế giới của con người, và những lý luận đạo đức, nhân sinhtrong học thuyết triết học của triết gia Tuân Tử thuộc trường pháitriết học Nho gia của Trung Quốc
5 Ý nghĩa của đề tài:
Ý nghĩa lí luận:
Nghiên cứu đề tài Triết học Tuân Tử giúp hiểu thêm về một
tư tưởng triết học lớn trong trường phái Nho Gia Trung Quốc, từ đótìm hiểu được những tiến bộ và phát triển trong lịch sử triết họcphương Đông nói chung cũng như triết học Trung Quốc nói riêng
Trang 5quanh mình để vận dụng vào đời sống thực tế, cách đối nhân xửthế và quan hệ giữa con người và con người.
6 Kết cấu đề tài:
Đề tài bao gồm hai chương và 5 tiểu tiết
Chương I: Những điều kiện tiền đề, cơ sở hình thành tư tưởngtriết học của Tuân Tử (2 tiểu tiết)
Chương II: Nội dung tư tưởng triết học Tuân Tử (3 tiểu tiết)
Trang 6Phần nội dung
Chương I: Những điều kiện tiền đề, cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Tuân Tử:
1. Bối cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc vào thời Xuân Thu –Chiến Quốc:
1.1 Điều kiện tự nhiên:
1.1.2 Dân cư:
Tiền thân của dân tộc Trung Hoa hiện nay có nguồn gốc Mông Cổ,được gọi là Hoa Hạ (hay Hoa /Hạ), sống du mục, thích săn bắn và chinh phục.Còn cư dân ở phía nam Trường Giang là các dân tộc Bắc Việt, chủ yếu sốngbằng nông nghiệp, định canh, định cư, có nền văn hóa riêng, nhưng sau nàydần dần bị dân tộc Hán đồng hóa
1.2 Điều kiện xã hội:
1.2.1 Kinh tế:
Trang 7“Chế độ chia đất cày cho dân, chế độ "tỉnh điền" có lẽ xuất hiện từ đời
Hạ, sang đời Chu được chỉnh đốn lại, mỗi miếng đất vuông vức 900 mẫu chia làm 9 phần bằng nhau, mỗi phần 100 mẫu Tám phần chung quanh chia đều cho 8 gia đình; phần ở giữa để lại một ít làm chỗ ở cho 8 gia đình, còn bao nhiêu 8 gia đình cày cấy chung, nộp lúa cho nhà vua Hình miếng đất khi chia như vậy, giống chữ 井 nên gọi là phép tỉnh điền”1
Vào thời kì Xuân Thu với sự ra đời của đồ sắt đã thúc đẩy phát triểnmạnh mẽ của nền kinh tế xã hội Ngoài ra còn tạo điều kiện cho việc khaikhẩn đất đai, phát triển kĩ thuật canh tác “dẫn thủy nhập điền” cũng như việc
sử dụng sức kéo của động vật trong nông nghiệp Thủ công nghiệp cũng rấtphát triển với những tiến bộ của kĩ thuật như đúc thau, làm mộc, làm muối…
Kế đó còn xuất hiện thêm nhiều nghề mới như luyện kim, đúc sắt, luyện gangthép Việc giao thương giữa các nước chư hầu cũng rất phát đạt, tiền tệ xuấthiện cùng với tầng lớp thương nhân ngày càng lớn mạnh
Qua thời Chiến Quốc, kinh tế phát triển mạnh mẽ, nghề luyện sắt hưngthịnh , vật dụng bằng sắt được sử dụng phổ biến và rộng rãi; thêm đồ sơn, đồthuỷ tinh, kỹ thuật đồ gốm, kỹ thuật dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tớibảy màu), rất tiến bộ và người ta đã tìm được những hợp kim để chế tạonhững tấm gương soi mặt rất tốt Từ đó hàng hóa đa dạng, nhiều chủng loại,hoạt động thương mại diễn ra rất sôi nổi Những nơi như Hàm Dương ở Tần,Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở Nguỵ đều là những thị trấnthương mại rất đông dân và thịnh vượng Trong xã hội đã xuất hiện nhưng láibuôn lớn chuyên đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường
1.2.2 Văn hóa tư tưởng:
Vào thời kì các nước Hạ, Thương và Tây Chu, thế giới quan thần thoại,tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần văn
1 Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi: Hàn Phi Tử, NXB Văn Hóa, năm 1994.
Trang 8hóa và xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Đã có sự xuất hiện của các tư tưởngtriết học, song vẫn chưa được phát triển thành một hệ thống Nó gắn chặt thầnquyền với thế quyền, lí giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị -xã hộivới lĩnh vực luân lí đạo đức Lúc này đã có sự xuất hiện của những quan niệmduy vật có tính chất phác, ngây thơ.
Đến thời kì Đông Chu hay còn gọi là Xuân Thu –Chiến Quốc, với sựphát triển sôi nổi của xã hội đã xuất hiện các tụ điểm, những nơi tập trung các
“kẻ sĩ” luận tranh luận về những trật tự của xã hội cũ và đề ra những mô hìnhcủa một xã hội trong tương lai Thời kì này được gọi là thời kì “bách gia chưtử”, làm sản sinh các nhà tư tưởng với những hệ thống triết học khá hoànchỉnh
1.2.3 Chính trị:
Theo truyền thuyết Trung Hoa, triều đại đầu tiên là Hạ, bắt đầu từkhoảng 2070 Tr.CN Tuy nhiên, triều đại này bị các sử gia cho là thần thoạicho đến các khai quật khoa học phát hiện ra những di chỉ đầu thời kỳ đồđồng tại Nhị Lý Đầu, Hà Nam vào năm 1959 Vẫn chưa rõ về việc liệu các dichỉ này là tàn tích của triều Hạ hoặc của một văn hóa khác cùng thời kỳ
Triều đại đầu tiên để lại các ghi chép lịch sử là Thương với thể chếphong kiến lỏng lẻo, định cư dọc Hoàng Hà tại miền Đông Trung Quốc từ thế
kỷ 17 đến thế kỷ 11 Tr.CN Giáp cốt văn của triều Thương tiêu biểu cho dạngchữ viết Trung Quốc cổ nhất từng được phát hiện, và là tổ tiên trực tiếp củachữ Hán hiện đại Triều Thương bị triều Chu chinh phục vào thế kỷ 12Tr.CN
Quyền lực tập trung của triều Chu dần suy yếu trước các chư hầuphong kiến, nhiều quốc gia độc lập cuối cùng xuất hiện từ triều Chu và liêntục tiến hành chiến tranh với nhau trong thời kỳ Xuân Thu kéo dài 300 năm
Trang 9công và cướp bóc, nhà Chu đã bỏ kinh đô phía tây để chuyển sang phía đông
trước sự tấn công của các bộ lạc, nhân cơ hội nhà Chu suy yếu các vương hầu đã lần lượt tiêu diệt các đối thủ nhỏ hơn Cuối cùng, còn lại vài chục
Đến thời Chiến Quốc trong thế kỷ 5–3 Tr.CN, “thời đại này xảy ra vì
sự cân bằng mong manh giữa các nước chư hầu biến thành hỗn loạn trong một thế kỷ và vì một phần ở sự kết thúc thời đại cai trị của nhà Chu Các liên minh dễ thay đổi và thường bị tan rã khi các nước lớn bắt đầu xâm chiếm và
nước lớn còn sót lại Tất cả các cuộc xung đột thời Chiến quốc đều có mục
1.2.4 Xã hội:
Nhà Hạ mở màn cho chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ này được chialàm hai thời kì: Thời kì hình thành và phát triển (từ thế kỉ 21 -770 TCN), thời
kì suy vong (770 -476 TCN) Sau thời kì chiếm hữu nô lệ là sự giao hòa và
chuyển sang chế độ phong kiến, “từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia
trưởng, giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị bang hoại, những giá trị tư tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập” 4
2 Tiền đề lí luận hình thành tư tưởng triết học Tuân tử:
2 http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c
3 http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c
4 PGS TS Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, NXB CTQG, tr240.
Trang 10Thời Xuân Thu –Chiến Quốc, chiến tranh loan lạc liên miên, nhân dânrơi vào cảnh lầm than, sự suy đồi đạo đức của xã hội Trung Quốc bấy giờ đãthúc đẩy phát triển các học thuyết Trải qua các thời kì, lần lượt các tư tưởngkhác nhau đã ra đời Vào cuối thời Chiến Quốc, nổi lên có Tuân Tử một nhàtriết học mang những tư tưởng vượt bậc, cách xa thời đại lúc bấy giờ Tư
tưởng của ông được nhận định rằng “ hấp thụ triết lí tự nhiên của Lão –
Trang, lấy tư tưởng chính trị nhân bản của Mạnh tử, xuyên suốt học thuyết của mình, có duy vật, có duy tâm song Tuân Tử đã thể hiện lòng trung thành với luân lí chính trị của người đã sáng lập ra Nho gia” 5 Vào thời này, Tuân
tử, Nho giáo, Lão giáo và Mặc gia đều thịnh hành; các trường phái triết học
nở rộ, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa phê phán , công kích nhau từ nhiềuphía Tuân tử là người theo học thuyết của Khổng tử, đề cao “nhân nghĩa”, “lễnhạc”, chủ trương “chính danh”, trọng vương khinh bá , nhưng tư tưởng củaông lại tương phản với Khổng tử và Mạnh tử cả về thế giới quan cũng nhưnhững triết lý về đạo đức, chính trị
Tuy có sự kế thừa là thế nhưng ông cũng có những quan điểm và lậpluận của riêng mình
Chương 2: Nội dung tư tưởng triết học Tuân Tử
Khi nghiên cứu về Tuân Tử, ta phải chú ý tới sự quan hệ của ông vớicác nhà tư tưởng đương thời Trong sách của ông có nhiều phê bình các nhà
tư tưởng và có nhiều giá trị
5 Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử triết học phương Đông, tập 2, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1991,
Trang 11Trong thiên Thiên luận có nói “ Thận Tử có thấy được việc sau, khôngthấy được việc trước Lão Tử có thấy được lẽ co lại, không thấy được lẽ duỗi
ra Mặc Tử thấy được cái đầy đủ, không thấy được cái vụn vặt Tống Tử thấyđược cái ít, không thấy được cái nhiều Có việc sau mà không có việc trước ắtquần chúng không có cửa mà ra vào Có co lại mà không có duỗi ra ắt sanghèn không phân biệt Có cái đầy đủ mà không có cái vụn vặt ắt chính lệnhkhông thi thố Có cái ít mà không có cái nhiều ắt quần chúng không hóa”
“Huệ Tử bị che lấp bởi từng chương mà không biết đến thực dụng.Trang Tử bị che lấp bởi trời mà không biết đến người Chỉ theo cái dụng màthôi thì dạo trong thiên hạ sẽ dừng ở sự ích lợi vậy Chỉ theo lòng dục mà thôithì đạo trong thiên hạ sẽ dừng ở sự khoái cảm vậy Chỉ theo pháp luật mà thìđạo tong thiên hạ sẽ dừng ở thuật số vậy Chỉ theo quyền thế mà thôi thì đạotrong thiên hạ sẽ dừng ở sự tiện lợi vậy Chỉ theo từng chương mà thôi thì đạotrong thiên hạ sẽ dừng ở sự biện luận vậy Chỉ theo trời mà thôi thì đạo trongthiện hạ sẽ dừng cả ở nguyên nhân vậy”6
Qua đó ta thấy học vấn của Tuân Tử rất uyên bác, ông từng nghiên cứucác học thuyết đồng thời của các nhà Cũng vì có học thức rộng lớn đó ông đãtách mình khỏi Nho gia hình thành một phái khác
Tuân Tử 7(315 tr.CN – 230 tr.CN), tên Huống, tự là Khanh người nướcTriệu,làm việc cho Tề Vương Vương Tuân Tử chính là thầy của thừa tươngnhà Tần là Lý Tư Ông vừa là quan trong triều đình vừa dạy học và viết sách.Tác phẩm chính của ông là bộ Tuân Tử gồm 32 thiên Trong tác phẩm đó, ôngtrình bày toàn bộ quan điểm triết học của mình phần lớn bằng những câuchuyện ngụ ngôn, hay những lời nói mang tính giáo huấn
1 Thế giới quan:
6 Hồ Thích,Trung Quốc triết học sử đại cương , tr 488
7 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông
Trang 12Tuân Tử đặt vấn đề về mối quan hệ giữa trời và người, mệnh đề: “Trời
và người có sự phân biệt”, là một nội dung quan trọng nhất trong tư tưởngtriết học của Tuân tử Ông phản bác lối lập luận duy tâm thần bí vầ mối quan
hệ giữa trời và người của các nhà tư tưởng khác
Tuân Tử đã phê bình triết học Trang Tử, ông cho rằng Trang Tử qúachú trọng về đạo trời nên mới sinh ra chủ nghĩa an mệnh, chủ nghĩa thủ cựu.Ông đã phản đối kịch liệt: “ chỉ có thánh nhân là không cần biết trời” (Thiênluận) ”Cho nên người quân tử kính cái ở mình mà không mộ cái ở trời Kẻtiểu nhân bỏ cái ở mình mà mộ cái ở trời Người quân tử kính cái ở mình màkhông mộ cái ở trời cho nên ngày một tiến bộ Kẻ tiểu nhân bỏ cái ở mình mà
mộ cái ở trời cho nên ngày một thoái bộ” (Thiên luận) “
Trời là tự nhiên: Tuân Tử gạt bỏ tín ngưỡng truyền thống xem trời làchủ tể tối cao, có lý trí, có ý chí và tình cảm, tận thiện và toàn năng Ông chấpnhận trời là gốc của sự sống, nhưng không tin trời như một tồn tại siêu nhiên.Đối với ông, trời chỉ là tự nhiên – một thế lực ngang hàng với đất và người,một sự vận hành theo phép tắc tự nhiên, vĩnh cửu và thường hằng bất biến
Trong Thiên luận ông cho rằng: “Trời hoạt động theo bình thườngkhông vì vua Nghiêu mà để cho còn, không vì vua Kiệt mà làm cho mất”.Ông lại nói: “Không phải người ta ghét giá lạnh mà trời bỏ mùa đông, khôngphải người ta ngại xa xôi mà đất rút hẹp bề mặt lại”
Từ đó ông đi đến khẳng định, trời không thể quyết định được vận mệnhcủa con người Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm ra chứkhông phải tại trời Đây là tư tưởng biểu hiện rõ nét tính chất duy vật và vôthần trong triết học của ông
Đạo trời là đạo trời, đạo người là đạo người: “Cái đạo thường của trờiđất ấy không liên quan gì đến đạo của người”8 “Gọi là đạo, không phải là cái
Trang 13đạo của trời, không phải là cái đạo của đất, mà là cái đạo do người đặt ra”(Thiên luận).
Ông cho rằng, trời có thiên chức của trời, người có thiên chức củangười Người quân tử, bậc chí nhân là người hiểu đạo trời, không ỷ lại ở trời,không phụ thuộc vào trời mà lo làm tốt việc của người Theo ông, “Trời cóbốn mùa, đất có sản vật, người có văn tự” (Thiên luận) Thiên chức của trời,đất là toàn bộ sự sinh thành , biến hóa của các sự vật trong tự nhiên như sựchiếu sáng của mặt trời, mặt trăng; sự chuyển động của các vì tinh tú; sự vậnhành của bốn mùa Đó là những cái không làm mà nên, không cầu mà được.Thiên chức của con người là luôn luôn nghĩ về đạo của mình, đừng tranhthiên chức của trời; và biết phục tùng đạo trời, biết dùng những cái trời đất đãtạo ra phục vụ cho cuộc sống của mình “Trời sinh ra người quân tử, ngườiquân tử sửa trị trời đất ( ) Không có người quân tử thì trời đất không đượcsửa, lễ nghĩa không có đầu mối” (Vương chế) “Trời có thời của trời, đất cótài sản của đất, người có việc của người, ấy gọi là có thể ngang với trời đất
Bỏ cái mình có thể ngang với trời đất, mà chỉ muốn ngang với trời đất thì lầmvậy” (Thiên luận)
Quan điểm này tiến lên một bước nữa khi ông “đề ra học thuyết conngười có thể cải tạo được tự nhiên, cho rằng con người không thể chờ đợi tựnhiên ban phát một cách bị động phải vận dụng tài trí, khả năng của mình,dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra nhiều của cải, sản vật để phục
vụ đời sống của con người Ông chủ trương sửa trị việc nước, giáo hóa đạođức, lễ nghĩa làm cho xã hội tiến bộ văn minh hơn Đó là chức năng của conngười – có thể sánh ngang với Trời đất vậy”9
Theo Tuân Tử “Sao mà sa, cây mà kêu, đó là cái biến hóa của trời đất
âm dương, là sự ít khi xảy ra của vạn vật, cho là quái lạ thì nên, mà lo sợ thì
9 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông, tr 344