Nước ta, dân tộc ta là một dân tộc có ngôn ngữ riêng,một ngôn ngữ được đưa vào làm ngôn ngữ chính thức trong các trường học và là ngôn ngữ chính trong nhiều ngành khoa học khác- Đó là ti
Trang 1I LỜI NÓI ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, nước ta đang trên đà đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trước tình hình khoa học thế giới phát triển và biến đổi như vũ bão, chúng ta rất cần thiết sự góp sức của một đội ngũ trí thức giàu năng lực, đủ tài năng để hòa mình vào dòng xoáy khoa học và công nghệ ấy
Nước ta, dân tộc ta là một dân tộc có ngôn ngữ riêng,một ngôn ngữ được đưa vào làm ngôn ngữ chính thức trong các trường học và là ngôn ngữ chính trong nhiều ngành khoa học khác- Đó là tiếng Việt
Tức là chúng ta càng hiểu sâu về Tiếng Việt bao nhiêu thì chúng ta sẽ càng có cơ hội nâng cao khả năng nhận thức lên bấy nhiêu
Để góp phần quảng bá về Tiếng việt và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt tôi xin giớ thiệu một vài kinh nghiệm nho nhỏ mà tôi đã từng áp dụng trong thực tiễn
với vai trò là một giáo viên bằng cách giúp học sinh “khai thác yếu tố Tiếng Việt
từ các môn học khác ở Tiểu học.”
2 Lịch sử vấn đề:
Thời gian qua , tôi đang công tác tại trường Tiểu học Vĩnh Phú B xã Vĩnh Phú-Giang Thành Kiên Giang Trong năm học 2010-2011, tôi được phân công dạy lớp ghép 3 + 4 nhưng bản thân trước đây cũng đã từng đảm nhận nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy ở các khối lớp 2,3,4,5 theo chương trình hiện hành Qua đó, tôi đã có dịp tiếp xúc, tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến việc dạy và học môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học hiện nay một cách liên tục và chính xác, đầy đủ
3 Phạm vi đề tài:
Vấn đề tôi đang đề cập đến là một vấn đề mà bất cứ người giáo viên Tiểu học
nào cũng nhìn thấy trong lớp học, trong cuộc sống thậm chí ngay trong gia đình mình.Đề tài này giúp người trực tiếp giảng dạy ở tiểu học có cái nhìn khái quát hơn về vị trí của môn Tiếng Việt trong nhà trường so với các môn học khác.Đặc
Trang 2biệt là khai thác được hết các yếu tố kiến thức Tiếng Việt còn tiềm ẩn trong các môn học khác
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1 Thực trạng tình hình:
Như trên đã trình bày,do sự hạn chế về mặt Tiếng Việt kéo theo học sinh chúng ta
bị hạn chế về các môn học khác cả về kiến thức lẫn kĩ năng
Ví dụ: Học ở Tiếng Việt, học sinh không hiểu được thế nào là “quan hệ “ thì trong môn Tự nhiên xã hội sẽ không hiểu hết kiến thức trong bài “ Quan hệ họ hàng” Hoặc học sinh sẽ rất ngỡ ngàng khi ở môn Toán Lớp 3 yêu cầu học sinh tóm tắt bài toán trong khi đến lướp Năm thì học sinh mới hiểu thế nào là tóm tắt tin tức, tóm tắt văn bản
Điều này có thể thấy rất rõ qua việc hàng năm, thành tích của học sinh của trường tôi cũng như trên địa bàn huyện ta trong các kì thi,các cuộc thi còn nghèo
nàn,không theo kịp các đơn vị khác
2.Những hạn chế, khó khăn khi giải quyết vấn đề này trong thực tế:
Nhìn chung, tình hình dạy học môn Tiếng Việt đều mang những điểm chung sau: -Hầu hết học sinh sau cấp học đều đủ vốn Tiếng Việt để lên học ở bậc học tiếp theo cao hơn( THCS)
-Học sinh có đủ kiến thức về Tiếng Việt để học tập các môn học khác,tiếp cận thông tin để lĩnh hội kiến thức một cách tôt hơn
-Học sinh có thể vận dụng thành thục 4 kĩ năng Tiếng Việt
- Sự thực hiện chưa đồng bộ: Giáo viên trên địa bàn là sự xen kẽ giữa thế hệ mới với thế hệ cũ, trình độ này với trình độ khác , giáo viên được đào tạo ừ nhiều nguồn, nhiều khu vực (tỉnh ) khác nhau, có cả giáo viên ở nhiều ngành khác nhau của bậc THCS được phân công dạy ở Tiểu học
-Một số trường hợp khác , học sinh không hiểu hết nghĩa một số từ mình gặp phải trong giao tiếp( Kể cả văn bản nói và văn bản viết) do có sự khác nhau về
Trang 3trình độ , do sự chênh lệch nhau trong quá trình học môn Tiếng Việt, khả năng tiếp nhận của các em khác nhau
-Khả năng vận dụng vốn kiến thức Tiếng Việt đã học vào thực tiễn ( sinh hoạt, học tập , vui chơi…) còn hạn chế, ảnh hưởng đến sự tự tin,sự hình thành và phát triển nhân cách của các em sau này
- Diễn đạt ý nghĩ, cảm nhận của bản thân bằng lời nói hoặc bằng văn bản còn hạn chế do nắm chưa chắc về nghĩa của từ, cách sử dụng câu, ngữ cảnh trong câu văn, đoạn văn, bài văn
- Học sinh chưa thấy hết tầm quan trọng của Tiếng Việt trong cuộc sống hằng ngày và trong học tập , sinh hoạt , vui chơi…
* Tóm lại: Quá trình giảng dạy và học tập ở đây chưa thật sự đạt kết quả theo yêu
cầu cơ bản của môn Tiếng Việt.Đòi hỏi cấp thiết nhất hiện nay là tìm ra giải pháp
để xóa bỏ những bất cập trên
III GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ 1.Các giải pháp nhằm khai thác yếu tố Tiếng Việt trong các môn học khác:
Trước hết ,tôi xin trình bày sơ lược về cách sử dụng Tiếng Việt để dạy các môn học khác
Bắt đầu từ lớp Một ,khi học sinh vừa làm quen với chữ cái đầu tiên cũng là lúc học sinh bắt đầu làm quen với các bài học môn Toán, Âm nhạc,Tự nhiên xã hội… mà các loại sách giáo khoa này đều có kênh chữ mặc dù học sinh chưa biết đọc
Đến lớp Hai,lớp Ba,học sinh đã biết đọc, biết viết nhưng vẫn còn nhiều khó khăn
để hiểu hết ý nghĩa các từ,các câu mà các em gặp hàng ngày trong các môn học ,lúc này thường xuyên xuất hiện những khái niệm mới, những thuật ngữ mới gây khó khăn cho học sinh mặc dầu nó có đơn giản đến đâu
Đến lớp Bốn , lớp Năm, kiến thức của học sinh càng mở rộng hơn bởi các môn học được tách ra thành một số môn mới gồm: Lịch sử, Địa lí, Khoa học
Lúc này, cường độ sử dụng các thuật ngữ khoa học, các thuật ngữ chuyên môn được tăng lên cả về tần số cũng như mức độ khó.Cũng trong thời điểm này, Tiếng
Trang 4Việt được vận dụng ở mức độ cao hơn nữa để nêu lên những vấn đề có liên quan,để diễn đạt những hiện tượng khoa học
Từ các điểm trên, tôi xin đưa ra các cách khai thác yếu tố Tiếng Việt theo hệ thống từng môn học như sau:
1.1 Môn Toán:
1.1.1Giải thích các thuật ngữ Toán học và các từ ngữ dễ nhầm lẫn ở môn Toán
Để học sinh nắm bắt tốt nội dung bài , chúng ta nên vận dụng, khai thác yếu tố Tiếng Việt bằng cách giải thích nghĩa những từ mới trong bài để học sinh nắm được một cách cặc kẽ và từ đó tiếp thu bài tốt hơn, gúp các em hình thành biểu tượng khoa học trong Toán học tốt hơn
Chú ý giải thích cho học sinh khi phải gặp các từ ngữ, thuật ngữ sau:
- Lớp 2:
Phạm vi Ôn tập các số đến 100
Số hạng,tổng Số hạng,tổng
Số bị trừ , hiệu
Chữ Nhật, tứ giác Hình chữ nhật-Hình tứ giác
Đường thẳng Đường thẳng
Đo lường Ôn tập về đo lường
Thừa số, tích Thừa số , tích
Đường gấp khúc, độ dài Đường gấp khúc, độ dài đường gấp
khúc Chia,số bị chia,số
chia,thương
Phép chia
Tực hành Thực hành xem đồng hồ
Chu vi Chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ
giác
So sánh,tứ tự So sánh các số tròn trăm, tròn nghìn
Nhớ Phép cộng không nhớ trong phạm vi
100
Giải nghĩa theo nghĩa trong bài
Trang 5- Lớp 3:
Dư Phép chia hết và chia có dư
Gấp Gấp một số lên nhiều lần Phân biệt nghĩa với
từ gấp: có nghĩ là làm cho một vật biến đổi hình dạng theo ý muốn(xếp)
Giảm Giảm một số đi nhiều lần
Góc, vuông Góc vuông, góc không vuông
Nhận biết Thực hành nhận biết và vẽ góc
vuông bằng ê-ke
biệt khi nào nói là dài
và khi nào nói là cao Biểu thức Làm quen với biểu thức Giải nghĩa từ
Giá trị Tính giá trị của biểu thức
Trung điểm Điểm ở giữa, trung điểm của
đoạn thẳng
Biết được trung điểm
là cách đều hai đầu còn ở giữa thì chưa hẳn
Tâm, đường kính,bán kính Hình tròn, tâm, đường kính,
bán kính
Chú ý giải thích kĩ các từ: tâm, bán: có nghĩa là một nửa
Diện tích Diện tích một hình
- Lớp 4:
Triệu Triệu và lớp triệu Phân biệt với từ Triệu có
nghĩa là gọi lại
Trang 6Dãy số, số tự nhiên Dãy số tự nhiên
Yến, tạ, tấn, khối lượng Yến ,tạ,tấn Nguồn gốc tên gọi của các
đơn vị này
Hệ, thập phân Yến ,tạ,tấn
nghĩa từ : kỉ
Trung bình Tìm số trung bình cộng
Biểu, đò, biểu đồ Biểu đồ
Giao, hoán, giao hoán Tính chất giao hoán của
phép cộng
hợp của phép cộng Song song Hai đường thẳng song
song
Giúp học sinh phân biệt được ngữ cảnh dùng từ song song rong nhiều trường hợp
Dấu hiệu Dấu iệu chia hết cho 2
Bình hành Giới hiệu hình bình hành Khái niệm mới
Quy đồng , quy , đồng Quy đồng mẫu số các
phân số Hình thoi Hình thoi Hình ảnh về con thoi được
sử dụng để mô tả những vật có tính chất tương tự Đường chéo Diện tích hình thoi
- Lớp 5:
Thập phân Phân số thập phân Giải thích rõ: thập phân có
nghĩa là phần mười
hai hay nhiều thứ lại với
Trang 7Tỉ số phần trăm Tỉ số phần trăm
Lập phương Hình hộp chữ nhật, hình
lập phương
Thể, tích thể tích Hể tích của một hình
Trụ, cầu Giới thiệu hình trụ, hình
cầu
Nếu trong các tiết Toán , giáo viên dành chút thời gian để giải thích cặn kẽ những từ vừa nêu như trên sẽ giúp ích rất nhiếu cho việc bổ sung vốn từ vựng khoa học cho học sinh.Từ đó, các em sẽ cảm thấy vốn Tiếng Việt của mình phong phú hơn và ngày càng thích thú hơn trong việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
1.1.2Khai thác các yếu tố về cụm từ, câu trong môn Toán
-Ở môn Toán nhất là phần bài tập có rất nhiều câu dạng yêu cầu , đề nghị chẳng hạn: “Hãy so sánh hai số sau”,” Tìm số dư trong phép chi 17:3” đây là những câu dạng câu khiến, mà trong phân môn Luyện từ và câu lại dành nhiều thời gian để tìm hiểu và thực hành về câu khiến
Do vậy khi dạy Luyện từ và câu đến mảng kiến thức này, giáo viên nên chú trọng khai thác các yếu tố có sẵn trong sách mà các em đã tiếp cận trước đó rất nhiều nhưng chưa hiểu được bản chất của nó
- Chính môn Toán là nơi học sinh bắt gặp nhiều các trường hợp về cách đặt và trả Lời câu hỏi dạng Ai thế nào? Bao nhiêu? Bao lâu? Lúc nào…
Khi dạy các bài gặp những câu hỏi như thế thí giáo viên cú ý hướng học sinh sử dụng kiến thức Luyện từ và câu của mình để tiếp cận nội dung bài tập
-Bên cạnh đó còn phải kể đến việc nhắc nhở học sinh chú ý khi viết tên riêng các đơn vị đo đại lượng theo đúng quy tắc các từ phiên âm những từ có nguồn gốc nước ngoài , phổ biến là các từ:
+Đơn vị đo độ dài:
Trang 8Mét; mi-li-mét;xăng –ti – mét; đề-xi-mét;đề-ca -mét;héc-tô-mét;ki-lô-mét.
+ Đơn vị đo khối lượng:
Ki-lô-gam; héc-tô-gam; đề-ca –gam
+ Đơn vị đo diện tích:
Mét vuông; mi-li-mét vuông;xăng –ti – mét vuông; đề-xi-mét vuông ;đề-ca mét vuông;héc-tô-mét- vuông;ki-lô-mét vuông
+ Đơn vị đo thể tích:
Mét khối; mi-li-mét khối;xăng –ti – mét -khối; đề-xi-mét khối ;đề-ca mét khối;héc-tô-mét khối;ki-lô-mét khối
1.1.3 Các hình thức trình bày văn bản trong môn Toán
Cần lưu ý với học sinh đây là loại văn bản khoa học nên câu từ chặt chẽ, chính xác từ đó, các em học hỏi và áp dụng cách trình bày này vào trong các văn bản như như báo cáo,thống kê
Đó cũng là mối liên hệ khá chặt chẽ giữa Toán và Tiếng Việt Ta có thể thấy rõ như sau:
Làm quen với thống kê số liệu
Biểu đồ
Báo cáo thống kê Luyện tập làm báo cáo thống kê
Từ đó đặt ra yêu cầu , chuẩn mực về đọc hoặc viết khi dạy các bài có nội dung tương đồng với nó
1.2 Các môn Tự nhiên xã hội( Bao gồm cả Khoa học, Lịch sử, Địa lí khối
lớp 4 và khối lớp 5).
Từ các môn học này , ta có thể khai thác để giúp học sinh củng cố một số kiến thức liên quan đến các phân môn Tập đọc ,Luyện từ và câu và Tập làm văn của môn Tiếng Việt
Một số nội dung cần tập trung chú ý khai thác:
(Bài học cụ thể )
Trang 9sử
Tên các nhân vật lịch sử, địa
danh lịch sử ,các hiện vật lịch
sử có trong chương trình lớp 4
và lớp 5
Bổ sung vốn kiến thức thực tế để các em hiểu bài tập đọc sâu hơn nếu bài tập đọc của mình có nội dung này
Nước Âu Lạc( Lớp 4) Phong cảnh đền Hùng ( Lớp 2)
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng
( Lớp 4)
Hai Bà Trưng( Lớp 3)
Nhà trần Thành lập
( Lớp 4)
Thái sư Trần Thủ Độ
Cuộc kháng chiến chống quân
xâm lược Mông - Nguyên( Lớp
4)
Trần Quốc (Toản ( lớp 2)
Quyết chí ra đi tìm đường cứu
nước
Người công dân số một
Việt Bắc –mồ chôn giặc Pháp Nhớ Việt bắc
Vượt qua tình thế hiểm nghèo Nhà tài trợ đặc biệt của Cách mạng
Nước nhà bị chia cắt Cháu nhớ Bác Hồ
Bến Tre đồng khởi Cây dừa
Đường Trường Sơn Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Xây dụng nhà máy thủy điện
đầu tiên
Tiếng đàn Ba-la –lai –ca trên sông Đà
Địa lí
Những địa danh trong bài học
Địa lí, những vùng miền khác
nhau, những đặc sản, sản vật
trong nước và trên thế giới
Khắc sâu kiến thức, mở rộng vốn từ về lễ hội, động vật, thực vật,về các dân tộc…Qua đó học sinh thấy được những điều hay, bổ ích cho vốn tiếng Việt của mình có sẵn trong thế giới xung quanh rất nhiều
Giúp học sinh mở rộng vốn từ về du lịch- thám hiểm
Khoa
học
Các hiện tượng như mây ,mưa,
gió,bão,sấm…
Các từ ngữ, tục ngữ thành ngữ liên quan đến thời tiết hoặc cuộc sống hằng ngày
Kiến thức về sức khỏe, về các
bộ phận trong cơ thể con người
Từ ngữ về sức khỏe,sinh hoạt Các vật chất và nguồn năng Bổ trợ cho các bài tập đọc có nội dung ca ngợi
Trang 10lượng được sử dụng trong đời
sống hằng ngày
việc xây dụng đất nước , quê hương trong thời
kì đổi mới
TNXH
Các bài học về quan hệ họ
hàng, cây cối , con vật,đồ
vật,thành thị , nông thôn( Chủ
yếu là ở khối 2, 3)
có liên quan đến các bài , các yếu tố có sẵn khi
đã học ở môn Tự nhiên xã hội học sinh học các bài dạng Mở rộng vốn từ tốt hơn, đồng thời hỗ trợ học sinh làm tập là văn kiểu Kể, viết về Gia đình,Trường học,Nông thôn,Thành thị…
1.3 Môn Đạo đức
1.3.1 Khai thác các kĩ năng
Khi dạy môn Đạo đức , một hoạt động không thể thiếu đó là đóng vai Đóng vai
để bày tỏ thái độ, đóng vai để xử lí tình huống, đóng vai để thực hành trò chơi…
Có một điểm khác cần lưu ý là trong môn Tiếng Việt cũng không hiếm các
trường hợp cần đến hoạt động đóng vai Đóng vai để dụng lại câu chuyện( Kể
chuyện), đóng vai để diễn một đoạn kịch trong một bài tập đọc(Tập đọc), đóng vai
để trình bày một đoạn hộc thoại nào đóc trong cách đáp lời trong một số tình huống ( Tập làm văn lớp Hai, lớp Ba ,)
Do đó, khi dạy môn Đạo đức lúc gặp các tình huống cần đóng vai như thế này
thì giáo viên cần thiết phải gợi để học sinh nhớ lại những bước mình cần chuẩn bị
cho hoạt động đóng vai từ đó học sinh củng cố và nâng cao kĩ năng ngày càng hoàn thiện hơn
1.3.2 Khai thác kiến thức
Hầu hết các bài học trong môn Đạo đức đều có nội dung thống nhất với các chủ
điểm Tập đọc tương ứng của từng lớp do đó, khi dạy các bài học Đạo đức giáo
viên cũng cần chỉ cho học sinh thấy được mối liên hệ trong các Chủ điểm
Để thực hiện được việc này, giáo viên cần chịu khó tìm hiểu trước kế hoạch theo chuẩn kiến thức của từng môn học để có bước chuẩn bị cụ thể trong từng tiết dạy
Trang 11của mình Làm được như vậy tăng hiệu quả giáo dục mà không cần tốn nhiều thời gian cho các hoạt động
1.4 Các môn Nghệ thuật ( gồm cả các môn kĩ thuật lớp 4,5)
- Âm nhạc :
Môn học này đòi hỏi học sinh phải đọc được lời bài hát trước khi hát , do đó khi học sinh tập hát cũng là lúc củng cố và rèn luện kĩ năng đọc một cách có hiệu quả rất cao vì trong khi hát không thể nào ngập ngừng hay đánh vần được từ đó học sinh nhận thấy được yêu cầu về kĩ năng đọc trong môn học Âm nhạc là rất cao và các em tự có ý thức rèn luyện kĩ năng đọc của mình thật tốt để đáp ứng yêu cầu trong khi học Âm nhạc
- Mĩ thuật :
Ở hai môn Mĩ thuật và Tập viết có điểm chung là dùng các nét để tạo hình cho hình vẽ hoặc nét chữ, con chữ
Vậy khi dạy môn Mĩ thuật cũng cần phải chú ý yêu cầu học sin h rèn luyện theo hướng tích cục phù hợp với yêu cầu về Tập viết sao cho các em vẽ càng chuẩn, càng đẹp thì các em cũng sẽ viết càng đẹp bấy nhiêu
2 Kết quả đạt được:
Sau khi tôi áp dụng , triển khai các giải pháp trên vào các hoạt động dạy
học thực tế đã có những chuyển biến rõ rệt về chất lượng :
Trong năm học 2009 – 2010 học sinh lớp tôi dạy ( Lớp Năm 4 –trường tiểu học vĩnh Phú) Tổng số học sinh được xét hoàn thành chương trình Tiểu học : 13/13 em trong đó, môn Tiếng Việt đạt trên 70% học sinh xếp loại khá hoặc giỏi 01 em đạt danh hiệu học sinh giỏi vòng huyện môn Tiếng Việt- một thành tích cao đầu tiên mà đơn vị đạt được
Trong năm học này , chất lượng cũng đang có những biểu hiện tích cực, khr quan