1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020

91 3,1K 31

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do lựa chọn đề tài Nhu cầu an toàn đối với các cá nhân và tổ chức trong xã hội là vĩnh cửu. Lúc nào con người cũng tìm cách bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trước những bất hạnh của số phận và những biến cố bất ngờ xảy ra trong sản xuất kinh doanh. Để đáp ứng nhu cầu bức xúc và chính đáng đó của người dân nên bảo hiểm đã ra đời, tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ. Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội, ổn định đời sống cho nhân dân. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong những năm gần đây đã rất sôi động và phức tạp. Cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới là việc các công ty bảo hiểm nước ngoài tràn vào Việt Nam. Trong nước, các công ty bảo hiểm cũng đua nhau thành lập đã tạo ra sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp khiến thị trường ngày càng diễn biến phức tạp. Kinh tế - Xã hội phát triển thì mọi lĩnh vực đều phát triển theo, rủi ro ngày càng gia tăng, những hành vi gian lận ngày càng tinh xảo. Nhưng kinh doanh bảo hiểm là nhằm mục đích sinh lời, sinh lời không chỉ nhờ vào việc đầu tư mà phải sinh lời từ chính việc kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm trực tiếp. Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải đánh giá các rủi ro mà khách hàng muốn chuyển giao cho mình nhằm lựa chọn ra những rủi ro có thể chấp nhận được, đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Điều này, đòi hỏi các nhà quản trị phải xây dựng ra những chiến lược ngăn ngừa và hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp mình. Xuất phát từ những lý do trên mà đề tài: “Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020” được lựa chọn làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn.

Trang 1

DOANH BẢO HIỂM 4

1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ NHỮNG RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 4

1.1.1 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm 4

1.1.2 Rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của các Doanh nghiệp bảo hiểm 5

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM 10

1.2.1.Khái niệm về quản trị rủi ro 10

1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm 11

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM 20

1.3.1 Nhân tố chủ quan 20

1.3.2 Nhân tố khách quan 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG 23

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG 23

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 23

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng hoạt động 26

2.1.3 Một số sản phẩm dịch vụ chủ yếu mà Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đang khai thác 28

2.1.4 Một số kênh khai thác Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đang áp dụng 32

2.1.5 Quy trình khai thác và quy trình bồi thường của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông 33

2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo hiểm Viễn Đông 3 năm gần đây 37

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG 40

Trang 2

Bảo hiểm Viễn Đông 44

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG 56

2.3.1 Những kết quả đạt được 56

2.3.2 Những mặt còn hạn chế 57

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG ĐẾN NĂM 2020 65

3.1 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG ĐẾN NĂM 2020 65

3.1.1 Mục tiêu, kế hoạch kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020 65

3.1.2 Chiến lược phát triển của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020 67

3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG ĐẾN NĂM 2020 69

3.2.1 Giải pháp từ phía Doanh nghiệp 69

3.2.2 Kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý 80

3.2.3 Điều kiện để thực hiện tốt các giải pháp 83

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 3

STT Chữ viết tắt Tiếng Việt

1 BTTTNGL Bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại

3 CQLGSBH Cục quản lý giám sát bảo hiểm

12 HS - GV Học sinh – Giáo viên

Trang 4

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông 3 năm

gần đây 38

Bảng 2.2: Doanh thu của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 40

Bảng 2.3: Chi BT của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 44

Bảng 2.4: Tỷ lệ bồi thường theo từng nghiệp vụ của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 47

Bảng 2.5: Những đơn vị có tỷ lệ bồi thường nghiệp vụ xe ô tô năm 2011 cao 53

Bảng 2.6: Những đơn vị có tỷ lệ bồi thường xe mô tô năm 2011 cao 54

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ DTPS của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 42

Biểu đồ 2.2: Biều đồ DTTT (tr đ) của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ 2008 đến 2011 43

Biều đồ 2.3: Biểu đồ chi BT của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 45

Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng bồi thường theo nghiệp vụ năm 2008 49

Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng bồi thường theo nghiệp vụ năm 2009 51

Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng bồi thường theo nghiệp vụ năm 2010 52

Biểu đồ 2.7: Tỷ trọng bồi thường theo nghiệp vụ năm 2011 55

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty 26

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nhu cầu an toàn đối với các cá nhân và tổ chức trong xã hội là vĩnh cửu Lúcnào con người cũng tìm cách bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trướcnhững bất hạnh của số phận và những biến cố bất ngờ xảy ra trong sản xuất kinhdoanh Để đáp ứng nhu cầu bức xúc và chính đáng đó của người dân nên bảohiểm đã ra đời, tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ

Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với các quốc gia nóichung và với Việt Nam nói riêng Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảohiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nềnkinh tế Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong thời gian qua đã cho thấy sựlớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọnói riêng, góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xãhội, ổn định đời sống cho nhân dân

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong những năm gần đây đã rất sôi động

và phức tạp Cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới làviệc các công ty bảo hiểm nước ngoài tràn vào Việt Nam Trong nước, các công tybảo hiểm cũng đua nhau thành lập đã tạo ra sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệpkhiến thị trường ngày càng diễn biến phức tạp

Kinh tế - Xã hội phát triển thì mọi lĩnh vực đều phát triển theo, rủi ro ngàycàng gia tăng, những hành vi gian lận ngày càng tinh xảo Nhưng kinh doanh bảohiểm là nhằm mục đích sinh lời, sinh lời không chỉ nhờ vào việc đầu tư mà phảisinh lời từ chính việc kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm trực tiếp Do đó, cácdoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải đánh giá các rủi ro mà khách hàng muốnchuyển giao cho mình nhằm lựa chọn ra những rủi ro có thể chấp nhận được, đemlại hiệu quả cao cho doanh nghiệp Điều này, đòi hỏi các nhà quản trị phải xâydựng ra những chiến lược ngăn ngừa và hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp mình

Trang 6

Xuất phát từ những lý do trên mà đề tài: “Quản trị rủi ro trong kinh doanh

bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020” được lựa chọn làm

vấn đề nghiên cứu cho luận văn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.2 Nhiệm vụ của đề tài:

- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro trong kinh doanh bảohiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm

- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công tyBảo hiểm Viễn Đông Từ đó đưa ra đánh giá về những mặt tích cực cần phát huy

và những hạn chế cần khắc phục

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị về quản trị rủi ro trong kinh doanhbảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng mà luận văn hướng đến nghiên cứu là những vấn đề lý luận vàthực tiễn về quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm và thực tiễn quản trị rủi rotrong kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp là các tài

liệu, thông tin nội bộ: Phòng Tài Chính kế toán; Phòng Bồi thường & QLRR; Phòng

kế hoạch của Công ty CP Bảo hiểm Viễn Đông Các nguồn dữ liệu này được trích

Trang 7

dẫn trực tiếp trong luận văn và ghi chú trong phần tài liệu tham khảo.

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

của Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến tháng 6 năm 2011

4 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế, phương pháp mô tả giải thích, so sánh – đối chiếu, phân tích – tổng hợp,…để phân tích thực trạng quản

-lý rủi ro của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đó là: phươngpháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử

5 Kết cấu của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danhmục bảng biểu, đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Lý luận chung về quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công

ty Bảo hiểm Viễn Đông

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh bảohiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020

Trang 8

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO

TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM

1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ NHỮNG RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

1.1.1 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm

Tác động của kinh doanh bảo hiểm phát triển mạnh mẽ nhất từ cuối thế kỷXVII và đến nay đã trở thành một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, phổ biến ở tất cảcác nền kinh tế trên thế giới

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo

đó DNBH chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm trên cơ sở bên mua đóng phí bảohiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường chobên mua bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra

Mục đích kinh tế của KDBH là lợi nhuận, đây là mục đích chính mà cácDNBH hướng tới Chỉ có thu được lợi nhuận các DNBH mới có thể tồn tại và pháttriển được trong điều kiện kinh tế thị trường DNBH chỉ có thể thu hút được nguồnvốn của các nhà đầu tư khác nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp bằng hoặc caohơn loại hình đầu tư của họ trên thị trường

Mức lợi nhuận cao còn giúp doanh nghiệp duy trì được nguồn quỹ dự phòng

đủ lớn, hạn chế sự chuyển nhượng tái bảo hiểm và có điều kiện để nâng cao thunhập cho cán bộ nhân viên

Bên cạnh đó, KDBH còn phải đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng,giúp khách hàng nhanh chóng ổn định được cuộc sống và sản xuất kinh doanh khikhông may tổn thất thiệt hại xảy ra đối với họ Đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụđối với Nhà nước

Trang 9

Thực chất của hoạt động KDBH là các DNBH chấp nhận rủi ro mà bên thamgia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời chấp nhận trả tiền bảo hiểm hoặc bồithường cho bên tham gia khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Đối lại DNBH thuđược phí bảo hiểm để hình thành quỹ dự trữ, bồi thường, trang trải các khoản chikhác có liên quan và có lãi.

KDBH thường gắn liền với hoạt động tái bảo hiểm Kinh doanh tái bảo hiểm

là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lời, theo đó DNBH nhận một khoảnphí bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.Hai loại hình này có thể tồn tại song song trong một DNBH

Ngoài mục đích sinh lời, kinh doanh tái bảo hiểm còn giúp DNBH mở rộngmối quan hệ với các bạn hàng, tranh thủ nguồn vốn, học hỏi kinh nghiệm, nắm bắtthêm thông tin, hỗ trợ đào tào cán bộ DNBH thực hiện tái bảo hiểm đi để đảm bảo

ổn định kinh doanh, tránh phá sản trong những trường hợp mà đối tượng tham gia

có số tiền bảo hiểm lớn, hoạt động ở địa bàn quá xa, doanh nghiệp không đủ khảnăng tài chính và khả năng kiểm soát

Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm có những đặc trưng là:

- Vốn pháp định áp dụng cho các doanh nghiệp là khá lớn, không phải cá nhân

hay tổ chức nào cũng có khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm

- Vấn đề an toàn tài chính cho khách hàng luôn phải đặt lên hàng đầu nên việckiểm tra, kiểm soát của Nhà nước trong hoạt động này rất chặt chẽ

- Tính quần chúng trong KDBH thể hiện rất rõ ở nhiều nghiệp vụ, nhiều loạihình bảo hiểm

1.1.2 Rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của các Doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.2.1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

Trong cuộc sống hàng ngày và công việc, rủi ro luôn luôn tiềm ẩn ở mọi lĩnh

Trang 10

vực và xuất hiện bất cứ lúc nào, nơi nào mà không loại trừ một ai, một quốc gia haymột dân tộc nào

Trong thời gian vừa qua, thế giới đã gặp rất nhiều những rủi ro như:

- Sự suy giảm của nền kinh tế Hoa Kỳ hay các quốc gia có nền kinh tế mạnh

- Sự bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu đe dọa môi trường kinh tế thế giới

- Sự bùng phát các loại dịch bệnh

- Những căng thẳng về chính trị, đặc biệt là các quốc gia Trung đông, giádầu tăng cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu

- Sự biến đổi của khí hậu trên trái đất

Tất cả những rủi ro trên đã gây ra cho các quốc gia những thiệt hại không thểkiểm soát được về mặt kinh tế Những thiệt hại đó được gọi là những tổn thất Nhưvậy, rủi ro là nguyên nhân, tổn thất là kết quả Rủi ro tồn tại khách quan, song hànhcùng với quá trình kinh doanh Các kế hoạch kinh doanh được lập ra dù có cẩn thận,

tỉ mỉ đến đâu cũng có thể thất bại Những hợp đồng bảo hiểm có giá trị bảo hiểmlớn, phí bảo hiểm cao thường liên quan đến rủi ro cao, mức độ rủi ro càng cao baonhiêu thì lợi nhuận có thể nhận được càng nhiều bấy nhiêu Bởi vậy, trước khi kí kếtcác hợp đồng bảo hiểm cần phải tìm hiểu về rủi ro, tổn thất để tìm ra biện pháp đềphòng

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro:

- Rủi ro là khả năng xảy ra một sự cố không may

- Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ

- Rủi ro là sự không thể đoán trước một khuynh hướng dẫn đến kết quả thựckhác với kết quả dự đoán

- Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất

Trang 11

Tóm lại, rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm là những sự kiện bất ngờ không

mong đợi khi xảy ra dẫn đến một sự sai lệch, trái nghịch với kết quả mong muốn gây lỗ trong kinh doanh bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm Nó luôn vận động,

luôn biến đổi theo môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội, khả năng làm chủcủa doanh nghiệp bảo hiểm

Nói tới rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm là nói tới các khái niệm liên quan sau:

- Nguy cơ rủi ro: là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra là những tình huống

có thể tạo nên rủi ro bất kỳ lúc nào Như vậy, nguy cơ rủi ro là những biến cố chưaxảy ra

- Tổn thất: là những thiệt hại, mất mát về con người, tài sản do nguyên nhân từcác rủi ro gây ra, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm Mốiquan hệ giữa rủi ro và tổn thất là mối quan hệ nhân quả, rủi ro là những sự kiện bấtngờ xảy ra còn tổn thất là những hậu quả, những thiệt hai, mất mát được xác định

do các rủi ro gây ra

- Chi phí rủi ro: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí trong việc phòngngừa, hạn chế rủi ro được phân chia thành chi phí vô hình và chi phí hữu hình Chiphí hữu hình là những chi phí chi ra cho việc phòng ngừa, hạn chế, bồi thường tổnthất và phục hồi sản xuất kinh doanh cho người được bảo hiểm Chi phí vô hình lànhững thiệt hại, mất mát, lợi nhuận mất hưởng, mất thời cơ, mất uy tín, mất kháchhàng và thị trường gây ra Những chi phí này có khi tốn gấp nhiều lần chi phí hữuhình

- Mức độ rủi ro: Rủi ro xảy ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau và mức độtổn thất cũng khác nhau Khi nói đến mức độ rủi ro là nói đến hai khái niệm liênquan là tần số và mức độ nghiêm trọng

1.1.2.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

- Căn cứ về mặt giá trị rủi ro được chia thành hai loại:

Trang 12

+ Rủi ro tài chính: là rủi ro mà doanh nghiệp có thể xác định hậu quả bằngtiền cũng như ấn định một số giá trị của hậu quả.

+ Rủi ro phi tài chính: là rủi ro gây ảnh hưởng gây ảnh hưởng chủ yếu vềmặt tinh thần và những vấn đề xã hội vì thế việc xác định hậu quả bằng một giá trịtài chính là không thể thực hiện được Đối với một doanh nghiệp bảo hiểm thì rủi rophi tài chính đó có thể là hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trong mắt khách hàng

và trên thị trường bảo hiểm

- Căn cứ vào tính chất của rủi ro có thể phân chia thành:

+ Rủi ro thuần túy: là rủi ro xảy ra chỉ dẫn đến thiệt hại, mất mát

Ví dụ: Người chủ một chiếc xe có rủi ro tổn thất tiềm ẩn liên quan đến một

vụ đụng xe Nếu có đụng xe người đó sẽ có tổn thất về tài sản, nếu không tình trạngtài chính của người đó sẽ vẫn như cũ Trong trường hợp này không hề có yếu tố thulợi

+ Rủi ro suy đoán: là những rủi ro có thể đưa đến kết quả trái ngược nhauliên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

Có thể nói rằng: Những rủi ro thuần túy thì luôn làm người ta khó chịunhưng những rủi ro suy đoán có mặt hấp dẫn nào đó

Trên thực tế, các rủi ro thuần túy thông thường có được bảo hiểm, còn rủi rosuy đoán thì không được bảo hiểm Bởi vì không ai muốn bảo hiểm các loại rủi rotrong đó hậu quả có thể là một món lời Người ta sẵn sàng mua bảo hiểm cho nhữngrủi ro đầu cơ với cơ hội kiếm lời Động lực thúc đẩy họ cố gắng đạt lợi nhuận này

sẽ là rất nhỏ nếu như họ biết được công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bất kể họ có cố gắnghay không Về phương diện nguy cơ chúng ta có thể nói rằng nguy cơ tinh thần làrất cao

- Căn cứ vào phạm vi tác động, chia thành:

Trang 13

+ Rủi ro cơ bản: là những rủi ro xuất phát từ những biến cố khách quan vàảnh hưởng đến toàn xã hội như chiến tranh, khủng bố, khủng hoảng kinh tế, lạmphát, thất nghiệp, bất ổn về chính trị xã hội…Các doanh nghiệp bảo hiểm không bảohiểm cho những loại rủi ro này.

+ Rủi ro riêng biệt: là các rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan, kháchquan của từng cá nhận, tổ chức là khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm Ví dụ,kho chứa hàng của doanh nghiệp bị cháy, bị mất trộm Rủi ro loại này thường nằmtrong phạm vi bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện chi trả chokhách hàng nhằm khắc phục những tổn thất

- Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro, gồm có:

+ Rủi ro thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như động đất,giông bão, …

+ Rủi ro do tai nạn bất ngờ: đâm va, lật đổ, …

+ Rủi ro do các hiện tượng xã hội: chiến tranh, đình công, bạo động, nổiloạn…

- Căn cứ vào tác động của môi trường gây ra rủi ro, chia thành:

+ Rủi ro kinh tế: là những rủi ro bắt nguồn từ kinh tế như lạm phát, kinh tếtoàn cầu bị suy thoái, khủng hoảng tài chính…Rủi ro này ảnh hưởng mạnh mẽ đếnkhâu khai thác của các doanh nghiệp bảo hiểm

+ Rủi ro về mặt pháp lý liên quan đến sự đầy đủ, rõ ràng, minh bạch củapháp luật và tính hiện thực của luật pháp Nếu luật pháp không đầy đủ, không rõràng, minh bạch… thì các doanh nghiệp bảo hiểm rất dễ gặp rủi ro trong kinhdoanh

+ Rủi ro từ môi trường cạnh tranh: số lượng các doanh nghiệp ngày càng

Trang 14

tăng làm gia tăng mức độ cạnh tranh cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

+ Rủi ro bắt nguồn từ thông tin về môi trường kinh doanh như doanh nghiệpkhông nhận được thông tin, thông tin chậm, thiếu thông tin hay thông tin sai lệch vềkhách hàng

- Căn cứ theo hoàn cảnh tác động chia thành:

+ Rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan: là rủi ro tác động từ môitrường vĩ mô mà doanh nghiệp bảo hiểm không kiểm soát được như suy thoái kinh

tế, lạm phát,…

+ Rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan: là những yếu kém của doanhnghiệp bảo hiểm trong kinh doanh như thiếu vốn, không cập nhật thông tin trongquản lý, không kiến thức và kinh nghiệm…

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM

1.2.1.Khái niệm về quản trị rủi ro.

Rủi ro tồn tại khách quan, song hành cùng với quá trình kinh doanh củadoanh nghiệp Bởi vậy, trong kinh doanh quản trị rủi ro là một nội dung cần thiếtkhông thể thiếu được trong quản trị doanh nghiệp Đó là chức năng, nhiệm vụ quantrọng của các nhà quản trị doanh nghiệp

Có rất nhiều khái niệm về quản trị rủi ro trong kinh doanh:

- Có tác giả thì cho rằng: Quản trị rủi ro là toàn bộ hoạt động của nhà quản trịthông qua nhận dạng, đo lường, kiểm soát rủi ro tổn thất để đưa ra biện pháp phòngngừa thích hợp nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp

- Có tác giả lại cho rằng: Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cáchkhoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa vàgiảm thiểu những

- Một quan điểm khác lại cho rằng: Quản trị rủi ro là những quyết định tài chính

và nên được đánh giá trong mối tương quan ảnh hưởng của chúng đến giá trị công ty

Trang 15

- Trong kinh doanh bảo hiểm, Quản trị rủi ro được hiểu là quá trình xác địnhcác rủi ro và tìm cách quản lý, hạn chế các rủi ro đó xảy ra đối với doanh nghiệp.Hay nói một cách khác là quá trình xác định các nguy cơ tiềm ẩn và khả năng xảy racác nguy cơ đó, từ đó có sự chuẩn bị các phương án thích hợp để hạn chế rủi ro đó ởmức thấp nhất.

Sự cần thiết phải thực hiện quản trị rủi ro trong doanh nghiệp kinh doanh:

- Quản trị rủi ro đảm bảo thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp trong kinhdoanh là có lợi nhuận, bảo đảm an toàn và tăng trưởng thế lực trong kinh doanh.Nhờ quản trị rủi ro, doanh nghiệp hạn chế bớt các nguy cơ xảy ra trong hoạt độngkinh doanh, bảo đảm an toàn Hạn chế rủi ro giúp doanh nghiệp hạn chế các chi phíliên quan đến rủi ro, giảm chi phí trong kinh doanh và tạo cơ hội tìm kiếm lợinhuận, ổn định kinh, giúp đảm bảo thu nhập của cán bộ nhân viên, ổn định đờisống, nâng cao lòng tin của nhân viên vào doanh nghiệp

- Quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết, hợpđồng với khách hàng trong và ngoài nước, gây dựng uy tín của doanh nghiệp trong conmắt khách hàng nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường

1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

Quy trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp bảo hiểm:

Nhận dạng và phân tích rủi ro

Đo lường rủi ro

Kiểm soát rủi ro

Tài trợ rủi ro

Quản lý và xem xét lại quy trình

Trang 16

1.2.2.1 Nhận dạng và phân tích rủi ro:

* Nhận dạng rủi ro: Để quản trị rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm phải nhậndạng được rủi ro Rủi ro của Người được bảo hiểm cũng là rủi ro của doanh nghiệpbảo hiểm, vì vậy, công ty bảo hiểm phải nhận dạng được rủi ro của Người được bảohiểm nhằm đưa ra những lựa chọn chính xác

Mục đích của nhận dạng rủi ro là nhằm phát hiện các thông tin về nguồn gốccủa rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng của rủi ro và các loại tổn thất

Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc: theo dõi rủi ro; xem xét các rủi ro;nghiện cứu môi trường hoạt động cụ thể của người được bảo hiểm và toàn bộ hoạtđộng nghiệp vụ của họ nhằm thống kê được tất cả các rủi ro đã và đang xảy ra, đồngthời còn dự báo được những dạng rủi ro mới xảy ra của họ để đề ra các biện phápkiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp

Các phương pháp nhận dạng rủi ro:

- Phương pháp lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra.Đây là phương pháp thông dụng mà các doanh nghiệp bảo hiểm dùng để đánh giárủi ro Các câu hỏi thường là:

+ Người được bảo hiểm là ai?

+ Ngành nghề kinh doanh là gì?

+ Đối tượng được bảo hiểm là gì? Mô tả đặc tính kỹ thuật

+ Địa điểm, phạm vi hoạt động của đối tượng?

+ Giá trị tài sản và số tiền bảo hiểm là bao nhiêu?

Trang 17

+ Khách hàng có sử dụng biện pháp nào để phòng ngừa và hạn chế tổn thấtkhông? Kết quả ra sao?

- Phương pháp phân tích báo cáo: Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện phântích bảng tổng kết tài sản, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, tài liệu bổ trợkhác, để có thể xác định được mọi nguy cơ rủi ro của khách hàng về tài sản, nguồnnhân lực và trách nhiệm pháp lý

- Phương pháp lưu đồ: là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi ro Đểthực hiện phương pháp này cần xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt độngnghiệp vụ của Người được bảo hiểm

- Phương pháp thanh tra hiện trường: Đây là công việc mà doanh nghiệp bảohiểm quy định phải thực hiện trước và trong toàn bộ quá trình nhận bảo hiểm Nhờquan sát theo dõi tại hiện trường, doanh nghiệp phân tích đánh giá và nhận dạng cácrủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp trong tương lai Ví dụ: trước khi chấp nhận bảohiểm chảy nổ cho một kho hàng, doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành chụp ảnhtoàn bộ kho hàng và những vật xung quanh, hệ thống phòng cháy chữa cháy, cáchthức sắp xếp hàng hóa trong kho…nhằm đánh giá khả năng rủi ro của kho hàng đó.Ngoài ra, trong thời gian thực hiện hợp đồng bảo hiểm, cán bộ bảo hiểm phảithường xuyên theo dõi tình hình của kho hàng

- Phương pháp phân tích hợp đồng: Phân tích cụ thể các hợp đồng có xảy rarủi ro để tìm ra sơ hở, thiếu sót, từ đó có biện pháp khắc phục trong tương lai Ví dụ:Trước khi chấp nhận bảo hiểm vận chuyển cho một chuyến hàng, doanh nghiệp bảohiểm nên yêu cầu khách hàng cung cấp hợp đồng mua bán và vận chuyển hàng hóanhằm tìm hiểu quy cách đóng gói, cách thức xếp hàng, phương thức vận chuyển Từ

đó, có thể đánh giá được rủi ro có thể gặp phải trong quá trình vận chuyển hàng và

Trang 18

đưa ra phương án bảo hiểm hợp lý.

- Làm việc với cơ quan nhà nước, cơ quan cấp trên, cơ quan lập pháp, để tìmhiểu các nguyên nhân xảy ra rủi ro cũng như các nhận định của cơ quan cấp trên vềrủi ro mà khách hàng gặp phải

Trên thực tế, để nhận dạng rủi ro một cách hiệu quả nhất các doanh nghiệpbảo hiểm thường phải kết hợp tất cả các biện pháp trên, đặc biệt là phương pháp lậpcâu hỏi điều tra và phương pháp thanh tra hiện trường

*, Phân tích rủi ro: Nhận dạng rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro là bướckhởi đầu, bước tiếp theo là phải phân tích rủi ro Phân tích rủi ro để xác định đượcnguyên nhân xảy ra để có biện pháp tích cực phòng ngừa Đây là công việc phức tạpbởi vì một rủi ro xảy ra thường có nhiều nguyên nhân: nguyên nhân trực tiếp,nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, nguyênnhân gần, nguyên nhân xa…

Quá trình nhận dạng và phân tích rủi ro có thể được khái quát bằng sơ đồsau:

1.3.2.2 Đo lường rủi ro:

Nếu nhận dạng rủi ro tổn thất là nhằm xác định mặt chất thì đo lường rủi rotổn thất là xác định về mặt lượng Đo lường rủi ro tổn thất là việc xác định xác suấtcủa chúng xảy ra ở mức độ nào? Tác hại của chúng ra sao? Nhằm xác định thái độ

để kiểm soát rủi ro Các tần số xuất hiện rủi ro có thể được phân chia thành các loại:

tần suất xuất hiện cao, trung bình và thấp Xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ronếu xảy ra ở các mức độ: mức độ nghiêm trọng cao, trung bình và thấp

Để đo lường rủi ro, tổn thất người ta có thể căn cứ vào các loại rủi ro xảy ra,

Nhận dạng rủi ro Phân tích rủi ro

Nguyên nhân

Các biện pháp phòng ngừa

Trang 19

mức độ tổn thất của rủi ro, điều kiện phương tiện thời gian và nguồn lực cụ thể củadoanh nghiệp để lựa chọn phương pháp cho phù hợp.

Công thức để đo lường rủi ro là:

Định lượng rủi ro = Xác suất xuất hiện x Mức độ nghiêm trọng

Các phương pháp dùng để xác định rủi ro gồm có:

+ Phương pháp thống kê kinh nghiệm

+ Phương pháp xác suất thống kê

+ Ứng dụng phân phối xác suất của đại lượng ngẫu nhiên

+ Áp dụng các quy luật phân phối xác suất chuẩn, quy luật phân phối nhịthức…

Để đo lường tổn thất xảy ra người ta dùng các phương pháp:

+ Phương pháp trực tiếp: là phương pháp xác định tổn thất hàng hóa bằngcân đo, đếm tổn thất, thường dùng để xác định tổn thất bộ phận, tổn thất toàn bộ

+ Phương pháp suy diễn: là phương pháp gián tiếp để xác định các lợi íchmất hưởng, chi phí cơ hội…

+ Phương pháp điều tra chọn mẫu, để xác định tổn thất trong trường hợp quy

mô tổn thất xảy ra rộng lớn

+ Phương pháp chuyên gia: sử dụng kinh nghiệm để ước lượng tổn thất

Để xác định mối quan hệ giữa tần số xuất hiện các rủi ro với mức độ nghiêmtrọng của rủi ro tổn thất, phương pháp thường được các doanh nghiệp sử dụng làphương pháp phân tổ các loại rủi ro tổn thất cùng mức độ nghiêm trọng của chúngtrên sơ đồ và lập bảng so sánh, đánh giá và cho điểm; tính giá trị trung bình và kếtluận

Ta có ma trận đo lường rủi ro, tổn thất:

Trang 20

Tần suất xuất hiện

Ma trận này cung cấp một số cấu trúc khái niệm cho vấn đề đánh giá rủi ro

Ô số I diễn tả các rủi ro có tần số và mức độ nghiêm trọng thấp, những rủi ro này ítgây ra tổn thất và nếu có tổn thất xảy ra cũng ở mức độ thấp Ô số II diễn tả nhữngrủi ro có tần số thấp và mức độ nghiêm trọng cao, tổn thất ít xảy ra nhưng nếu xảy

ra thì nghiêm trọng Ô số III có tần số cao và độ nghiêm trọng thấp, tổn thất thườngxảy ra nhưng tổn thất thì tương đối thấp Ô số IV diễn tả các rủi ro có tần số và độnghiêm trọng đều cao, tổn thất xảy ra thường xuyên và mỗi lần đều nghiêm trọng

Cả hai nhân tố tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất đều cần thiết đểđánh giá mức độ quan trọng tương đối của một nguy cơ rủi ro đối với tổn thất tiềmnăng Nhưng có một số ý kiến cho rằng, sự quan trọng của một số nguy cơ rủi rothường phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thất chứ không phải của tần số.Một rủi ro có thể gây ra thiệt hại to lớn dù hiếm khi xảy ra, đáng quan tâm hơn nhiều

so với rủi ro thường xảy ra nhưng tổn thất nhỏ hay không có tổn thất Việc phân chiatheo mức độ tổn thất cho ta thấy mức độ nghiêm trọng được quan tâm nhiều hơn làtần số tổn thất Để xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thất, nhà quản trị phảiđánh giá tất cả các loại tổn thất là hậu quả trực tiếp của một sự cố cũng như toàn bộhậu quả về tài chính mà tổ chức phải gánh chịu

Trang 21

1.2.2.3 Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro

- Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật,công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảmthiểu tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp bảo hiểm

- Kiểm soát rủi ro được ưu tiên sử dụng trong ba trường hợp sau:

+ Chi phí tài trợ rủi ro lớn hơn chi phí tổn thất

+ Tổn thất phát sinh gián tiếp hay những chi phí ẩn không được phát hiệntrong một thời gian dài

+ Tổn thất gây nên những tác động bên ngoài ảnh hưởng không tốt đến tổchức

- Các biện pháp cơ bản để kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro là: các biện pháp nétránh rủi ro, các biện pháp phòng ngừa tổn thất, các biện pháp đa dạng hóa rủi ro,các biện pháp chuyển giao rủi ro, …Áp dụng các biện pháp này là một nghệ thuậtđòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt, mềm dẻo của nhà quản trị rủi ro

* Né tránh rủi ro:

- Nội dung: là né tránh những hành động, con người, tài sản làm phát sinhtổn thất có thể có bởi không thừa nhận nó ngay từ đầu hoặc loại bỏ nguyên nhângây ra tổn thất đã được thừa nhận

- Ưu điểm của biện pháp này là: đơn giản, triệt để và chi phí thấp

- Nhưng cũng có những nhược điểm như: Doanh nghiệp có thể mất đi lợi ích

có được từ tài sản, hoạt động đó; doanh nghiệp có thể tránh được rủi ro này nhưnglại gặp phải rủi ro khác; có những tình huống mà doanh nghiệp không thể né tránhhoặc nguyên nhân tổn thất gắn liền với bản chất của hoạt động

Trang 22

* Ngăn ngừa tổn thất:

- Nội dung: biện pháp này tìm cách giảm bớt số lượng tổn thất xảy ra hoặcloại bỏ chúng hoàn toàn Ở đây, chuỗi rủi ro là rất quan trọng vì các hoạt động ngănngừa rủi ro tập trung vào ba mắt xích đầu tiên của chuỗi: sự nguy hiểm, môi trườngrủi ro, sự tương tác giữa mối nguy hiểm và môi trường Điều đó có nghĩa là các hoạtđộng ngăn ngừa tập trung vào: thay thể hoặc sửa đổi hiểm họa; thay thế hoặc sửađổi môi trường; thay thế hoặc sửa đổi cơ chế tương tác

- Ưu điểm của biện pháp này là: việc ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất trongkhi vẫn cho phép doanh nghiệp bảo hiểm bắt đầu hoặc tiếp tục hoạt động gây nênrủi ro đó

- Nhược điểm: biện pháp này chỉ hạn chế được một phần của rủi ro

* Giảm thiểu tổn thất:

- Nội dung: Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro bằngcách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra (tức giảm nhẹ sự nghiêm trọngcủa tổn thất) Những hoạt động giảm thiểu tổn thất là những biện pháp sau khi tổnthất đã xảy ra Mặc dù những biện pháp này được đặt ra trước khi một tổn thất nào

đó xuất hiện, những chức năng hoặc mục đích của những biện pháp này là làm giảmtác động của tổn thất một cách hiệu quả nhất Cụ thể các doanh nghiệp bảo hiểmphải tích cực cứu vớt tài sản còn sử dụng được; Chuyển nợ đòi bồi thường cho bênthứ ba; Xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro; Dự phòng: trích lập các quỹ dựphòng bồi thường

- Ưu điểm: làm giảm bớt giá trị hư hại do tổn thất gây ra

- Nhược điểm : thực hiện khi rủi ro đã xảy ra

* Đa dạng hóa rủi ro:

Trang 23

- Nội dung: Đây là một nỗ lực của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm làm giảm sựtác động của tổn thất lên toàn bộ doanh nghiệp Để thực hiện tốt biện pháp này đòihỏi doanh nghiệp phải đa dạng hóa thị trường khai thác, đa dạng hóa sản phẩm bảohiểm và đa dạng hóa kênh phân phối sản phẩm.

- Ưu điểm: doanh nghiệp có thể giảm được tổn thất bằng cách phân chia rủi

ro thành nhiều dạng khác nhau và tận dụng sự khác biệt để dùng may mắn của rủi ronày bù đắp cho rủi ro khác

- Nhược điểm: để thực hiện được biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải

có năng lực về mặt tài chính, nguồn nhân lực…tốt để đủ sức cạnh tranh

* Chuyển giao rủi ro:

- Nội dung: là công cụ kiểm soát rủi ro, tạo ra nhiều thực thể khác nhau thay

vì một thực thể phải gánh chịu rủi ro Cụ thể ở đây là các doanh nghiệp bảo hiểmthực hiện ký kết hợp đồng tái bảo hiểm với các công ty tái bảo hiểm hay một công

ty bảo hiểm khác Tái Bảo hiểm là phương pháp chuyển giao bớt rủi ro mà doanhnghiệp bảo hiểm sử dụng để nhượng một phần trách nhiệm trước đối tượng đượcbảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác hoặc công ty tái bảo hiểm bằng một hợpđồng tái bảo hiểm

- Ưu điểm: doanh nghiệp có thể giảm bớt được rủi ro một cách đáng kể

- Nhược điểm: đôi khi mất chi những phần lợi nhuận đáng ra doanh nghiệp

sẽ được hưởng thì phải chia sẻ bớt cho doanh nghiệp nhận chuyển giao rủi ro

1.2.2.4 Tài trợ rủi ro

Các biện pháp tài trợ rủi ro được chia thành hai nhóm:

- Nhóm 1: Tự khắc phục rủi ro Là biện pháp doanh nghiệp bị rủi ro tự mìnhthanh toán các tổn thất Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự có và nguồn vay có tráchnhiệm tự hoàn trả Vì vậy doanh nghiệp cần có kế hoạch dữ phòng tài chính để chi

Trang 24

trả cho những rủi ro và có kế hoạch tài trợ cho những nghiệp vụ có rủi ro cao.

- Nhóm 2: Chuyển giao rủi ro Đối với những nghiệp vụ có mức độ rủi ronghiêm trọng, các doanh nghiệp cần phải ký hợp đồng tái bảo hiểm tự động chonhững đối tượng đó với một các công ty tái bảo hiểm hay các công ty bảo hiểmkhác Và khi có tổn thất xảy ra sẽ khiếu nại đòi chi phí bồi thường từ các công ty

đó Những rủi ro có giá trị lớn hoặc chưa có trong danh mục hợp đồng tái bảo hiểm

tự động thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thu xếp tái bảo hiểm tạm thời

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM.

1.3.1 Nhân tố chủ quan

- Tổ chức bộ máy không hoặc chưa hợp lý, năng lực quản lý yếu kém, thiếuvốn, khả năng thích ứng với sự thay đổi hạn chế…làm cho hoạt động KDBH kémhiệu quả Những doanh nghiệp loại này sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh,thị phần bị thu hẹp, khả năng thanh toán bị giảm hoặc mất hoàn toàn, trách nhiệmpháp lý đối với Nhà nước không đáp ứng được

- Trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên, trình độ quản lý của các cấplãnh đạo: Một nhân viên khai thác hay một đại lý bảo hiểm có trình độ chuyên môntốt có thể lựa chọn những đối tượng bảo hiểm có khả năng tổn thất thấp, do đó giảmđược chi phí bồi thường Trình độ chuyên môn sẽ giúp cho các chuyên viên giámđịnh và giải quyết khiếu nại chính xác, nhanh chóng từ đó gây được lòng tin đối vớikhách hàng và giảm chi phí giám định…

- Nhận thức của nhà quản trị: Một DNBH thành công hay thất bại phụ thuộcrất nhiều vào người đứng đầu doanh nghiệp, người đứng đầu những đơn vị, họ lànhững nhà quản trị Từng đơn vị quản trị rủi ro tốt thì toàn công ty sẽ tốt Nhà quảntrị tốt phải đảm bảo được các kỹ năng về nhận thức, về quan hệ, về kiến thứcchuyên môn nghiệp vụ Nhà quản trị phải phân tích và chuẩn đoán được nguyênnhân gây ra nguy cơ rủi ro để có những quyết định đúng đắn trước khi chấp nhận

Trang 25

bảo hiểm cho một đối tượng nào đó Kỹ năng về quan hệ giúp họ nhận biết và kiểmtra hành vi của con người trong quá trình nhận dạng và phân tích rủi ro Kiến thứcchuyên môn giúp họ đánh giá mức độ rủi ro một cách chính xác và toàn diện hơn.Như vậy, trong công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp đòi hỏi những nhà quản trịphải vận dụng, kết hợp nhuần nhuyễn các kỹ năng nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất.

- Quy mô của DNBH lớn hay nhỏ, có phù hợp với trình độ quản lý hay khôngcũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả kinh doanh Thông thường cácdoanh nghiệp nhỏ khả năng tài chính yếu kém sẽ rất bị hạn chế trong việc nhận vànhượng tái bảo hiểm, trong hoạt động đầu tư và tăng cường các nguồn lực Tuynhiên, tính linh hoạt của loại hình doanh nghiệp này lại cao hơn và khả năng thíchứng của nó với những thay đổi trên thị trường sẽ tốt hơn…

- Ngoài ra còn một số yếu tố thuộc về doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến côngtác quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của chúng, chẳng hạn doanh nghiệpmới thành lập, tiếng tăm và uy tín trên thị trường còn hạn chế, kinh nghiệm ít…

1.3.2 Nhân tố khách quan

Cùng với những nhân tố chủ quan thuộc về doanh nghiệp thì những yếu tốkhách quan cũng tác động đến hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểmcủa doanh nghiệp bảo hiểm Đó là:

- Những quy định của Nhà nước mang tính pháp lý trong hoạt động KDBH

Có rất nhiều các quy định từ khi DNBH được thành lập cho đến khi thanh lý, phásản Cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động này luôn kiểm tra, giám sát khả năngthanh toán, tỷ lệ phí, các mẫu đơn và các sản phẩm bảo hiểm trước khi DNBH đưa

ra thị trường Những quy định này đôi khi cũng gây nên những khó khăn nhất địnhcho doanh nghiệp nếu công tác kiểm tra và giám sát bị lạm dụng

- Sự phát triển của thị trường bảo hiểm: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểmđang tăng lên nhanh chóng, thị trường đang hoạt động rất sôi động với sự cạnh tranh

Trang 26

gay gắt giữa các doanh nghiệp Điều này khiến cho các DNBH bất chấp mọi hìnhthức để giành giật thị phần và tăng doanh thu như hạ phí phi kỹ thuật, bất chấp mọirủi ro… Như vậy sẽ gây khó khăn trong quá trình kiểm soát và phòng ngừa rủi ro.

Cùng với sự phát triển của thị trường thì nhận thức của Người được bảo hiểmcũng ngày càng cao, kiến thức của họ về bảo hiểm ngày càng sâu, chính vì thế màhành vi trục lợi bảo hiểm của họ ngày càng tinh vi hơn khiến doanh nghiệp bảohiểm khó mà nhận biết được

- Những thay đổi về mặt kinh tế cũng có thể tác động đến các DNBH dướinhiều hình thức khác nhau Ví dụ, một ngành nghề mới ra đời cũng có thể tạo ramột hoặc một số sản phẩm bảo hiểm và ngược lại Hoặc lạm phát sẽ ảnh hưởng tớicác tổn thất phải bồi thường và một số sản phẩm bảo hiểm sức mua bị giảm sút

- Hệ thống phân phối sản phẩm cũng đóng vai trò quan trọng: Mỗi hệ thốngphân phối khác nhau sẽ đáp ứng được nhu cầu của những nhóm khách hàng khácnhau Cho nên, việc lựa chọn hệ thống phân phối và tổ chức kênh phân phối như thếnào cho hợp lý là vấn đề không đơn giản, đôi khi kinh nghiệm quản lý cũng chưahẳn đã giải quyết được

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY

BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG

Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Viễn Đông là Công ty Bảo hiểm Phi Nhân thọ tưnhân đầu tiên tại Việt Nam với các cổ đông chính là các cá nhân và các tổ chứcthương mại, tài chính Ngân hàng có tiềm năng và uy tín tại Việt Nam

Tên đầy đủ

 Tiếng Việt : Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Viễn Đông

 Tiếng Anh : Vien Dong Assurance Corporation

Tên viết tắt

 Tiếng Việt : Bảo Hiểm Viễn Đông

 Tiếng Anh : VASS

Tên giao dịch

 Tiếng Việt : Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Viễn Đông

 Tiếng Anh : Vien Dong Assurance Corporation

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Công ty Bảo Hiểm Viễn Đông (gọi tắt là VASS) được thành lập và hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật

có liên quan của Nhà nước

Căn cứ theo Luận chứng thành lập Công ty, phương án kinh doanh và điều lệcủa Công ty, ngày 07/11/2003 Bộ Tài chính đã cấp Giấy phép thành lập và hoạtđộng số 23 GP/KDBH cho Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Viễn Đông với vốn điều lệban đầu là 72 tỷ

Từ năm 2004 đến năm 2007, Vass lần lượt tăng vốn điều lệ lên 100 ty đồng

Trang 28

và 200 tỷ đồng Đầu năm 2007, Vass một lần nữa tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng

và trở thành một trong mười doanh nghiệp bảo hiểm có vốn điều lệ cao nhất tại thịtrường bảo hiểm Việt Nam

Ngày 03/11/2010, Bộ Tài chính đã cấp Giấy phép số 23/GPĐC18/KDBHđiều chỉnh Vốn điều lệ của công ty lên 400 tỷ đồng Công ty Bảo hiểm Viễn Đông

đã hoàn tất lộ trình tăng vốn đợt 1 với sự tham gia góp vốn của các cổ đông chiếnlược nhằm tiếp tục nâng cao năng lực tài chính đáp ứng các điều kiện theo quy định

để tham gia tất cả các dịch vụ bảo hiểm trên toàn thị trường

Với những nỗ lực phát triển, công ty đã ngày càng khẳng định được thươnghiệu của mình Trong thời gian qua, Công ty đã nhiều lần nhận được những giảithưởng, danh hiệu cao quý như:

- Top 20 thương hiệu uy tín năm 2005

- Nhãn hiệu cạnh tranh quốc gia năm 2006

- Quả Cầu Vàng Việt Nam 2007 - The Best Insurers 2007

- Thương hiệu mạnh Việt Nam” trong 02 năm liền 2007 và 2008

- Công ty Cổ phần hàng đầu Việt Nam 2008

- Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam - VNR500

- Công ty đại chúng chưa niêm yết hàng đầu Việt Nam 2009

- Doanh nghiệp vì cộng đồng 2009.

- Thương hiệu mạnh Việt Nam 2009.

Công ty Bảo hiểm Viễn Đông hiện đã có mặt tại 27/64 Tỉnh Thành với 1 Trụ

sở chính tại TP.HCM, Văn phòng II tại Hà Nội, Văn phòng III tại Miền Trung, 21Chi nhánh, hơn 30 Văn phòng Dịch vụ Khách hàng và hơn 2000 Đại lý, với mạnglưới hoạt động rộng khắp cả nước

Trang 29

Công ty Bảo hiểm Viễn Đông hiện có vốn điều lệ 400 tỷ đồng được huyđộng từ gần 900 cổ đông thuộc các tổ chức tài chính, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh và cá nhân Bên cạnh một số cổ đông là giảng viên có tên tuổi của các trườngđại học tại TP.HCM, các luật sư, chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng,bảo hiểm, chứng khoán,… Hội đồng Cổ đông của Công ty còn có sự góp mặt củacác Ngân hàng thương mại, các công ty có tiềm lực tài chính và uy tín lớn trênthương trường Việt Nam như:

 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (HABUBANK);

 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (MILITARY BANK);

 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông (EASTENBANK);

 Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn;

- Bảo hiểm trọn gói trong kinh doanh;

- Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng và lắp đặt;

- Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ, bảo hiểm mọi rủi ro tài sản;

- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu- hàng hóa vận chuyển nội địa;

- Bảo hiểm xe cơ giới;

- Bảo hiểm tai nạn con người;

- Bảo hiểm trách nhiệm;

Trang 30

- Bảo hiểm du lịch trong và ngoài nước;

- Nhận và nhượng tái bảo hiểm tất cả các loại hình bảo hiểm Phi nhân thọ

- Các hoạt động đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của Pháp luật

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng hoạt động

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ

- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh

Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty,trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị hoạt động theo cơ chế tập trung dân chủ, thông qua các

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN TỔNG GIÁM ĐỐC

BAN KIỂM SOÁT

CÁC ĐƠN VỊ KD CÁC PHÒNG

- 32 VP DVKH

- 1500 Đại lý

- Kế hoạch & thị trường

- Hành chính quản trị

- Nhân sự

- Chính sách pháp chế

- Công nghệ thông tin

- Tài chính kế toán & Đầu tư

- Đạo tạo & QL Đại lý

- Kiểm tra nội bộ.

Trang 31

phiên họp thường kỳ và bất thường Phiên họp thường kỳ diễn ra một quý một lần,các phiên họp bất thường diễn ra khi có vấn đề cần sự giải quyết của HĐQT dưới sựtriệu tập của Chủ tịch HĐQT Tại các phiên họp, quyết định của HĐQT có thể đượcthông qua bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản.

Giữa hai kỳ họp, Thường trực HĐQT theo sự ủy quyền va thay mặt HĐQT

xử lý các vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền của HĐQT, ngoại trừ những vấn đềphải tổ chức họp HĐQT hoặc lây ý kiến thành viên HĐQT bằng văn bản, và phảibáo cáo HĐQT trong phiên họp gần nhất

Các thành viên HĐQT chịu sự phân công của Chủ tịch HĐQT trong việcthực hiện nhiệm vụ của HĐQT Các thành viên HĐQT có trách nhiệm thực hiện cácnhiệm vụ của mình một cách trung thực, cẩn trọng tối đa quyền lợi của cổ đông vàcủa Công ty

- Ban kiểm soát: là cơ quan do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt cổ

đông để kiểm soát một cách độc lập, khách quan và trung thực mọi hoạt động kinhdoanh, quản trị và điều hành của Bảo hiểm Viễn Đông Ban kiểm soát chịu tráchnhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về hoạt động của mình

- Ban Tổng giám đốc: gồm 5 thành viên, 01 Tổng giám đốc và 04 Phó Tổng

giám đốc, mỗi Phó Tổng Giám đốc phụ trách một lĩnh vực hoặc khu vực hoạt động,chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và Hội đồng quản trị đối với lĩnh vực hoặckhu vực mà mình quản lý

Việc quản lý các chi nhánh, đơn vị trực thuộc của Bảo hiểm Viễn Đông đượcphân làm 04 khu vực: khu vực Miền Bắc, Miền Trung, Miền Đông Nam Bộ vàMiền Tây Nam Bộ Các Phó Tổng Giám đốc phụ trách khu vực chịu trách nhiệmquản lý, giám sát hoạt động cũng như tình hình tài chính của các chi nhánh, báo cáotheo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Tổng Giám đốc, Hội Đồng quản trị

- Các phòng nghiệp vụ: là đơn vị trực thuộc TSC, hoạt động theo sự chỉ đạo

Trang 32

và kiểm soát của Ban Tổng Giám đốc Các phòng nghiệp vụ này giúp Ban TổngGiám đốc hỗ trợ các đơn vị kinh doanh giải quyết các vấn đề nghiệp vụ phát sinh,tổng hợp và báo cáo lại với Ban Tổng Giám đốc, chịu trách nhiệm trực tiếp với BanTổng Giám đốc.

- Các đơn vị kinh doanh: có chức năng kinh doanh và hạch toán độc lập.

Tổng công ty phân công nhiệm vụ cho các Phó Tổng giám đốc phụ trách các đơn vịkinh doanh theo vùng, miền Lãnh đạo đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trước PhóTổng Giám đốc phụ trách đơn vị mình Những vấn đề vượt phân cấp về nghiệp vụ

sẽ được hỗ trợ từ các phòng ban nghiệp vụ từ Tổng công ty, những vấn đề khác sẽđược các phòng hỗ trợ trong Tông công ty giúp đỡ

- Các phòng hỗ trợ: các phòng này cũng thuộc TSC và hoạt động dưới

quyền của Ban Tổng Giám đốc Các phòng này phụ trách về việc đào tạo và quản lýnhân sự, lập kế hoạch kinh doanh, phát triển và mở rộng thị trường; các vấn đề vềpháp chế, công nghệ thông tin, tài chính kế toán… của Công ty, tập hợp số liệu từcác đơn vị trực thuộc và báo cáo với Ban Tổng Giám đốc

2.1.3 Một số sản phẩm dịch vụ chủ yếu mà Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đang khai thác.

2.1.3.1 Bảo hiểm xe cơ giới

Các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới hiện hành:

* Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:

- Đối tượng bảo hiểm: Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc theo nghị định103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệmdân sự của chủ xe cơ giới

- Phạm vi bảo hiểm: Những thiệt hại về người và tải sản của bên thứ 3, do lỗingười điều khiển phương tiện gây ra

Trang 33

- Phí bảo hiểm: Áp dụng biểu phí của Bộ tài chính ban hành kèm theo Thông

tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008

* Bảo hiểm lái, phụ xe và người ngồi trên xe:

- Đối tượng bảo hiểm: Lái, phụ xe và những người khác chở trên xe (gọichung là Người được bảo hiểm)

- Phạm vi được bảo hiểm: Thiệt hại thân thể đối với Người được bảo hiểm dotai nạn liên quan trực tiếp đến việc sử dụng xe trong quá trình tham gia giao thông

- Phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm: được thỏa thuận áp dụng theo biểu phí củaBảo hiểm Viễn Đông

* Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với hàng hóa vận chuyển trên xe:

- Đối tượng bảo hiểm: là hàng hóa vận chuyển trên xe theo hợp đồng vậnchuyển giữa chủ xe và chủ hàng trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam

- Phạm vi bảo hiểm: những thiệt hại về hàng hóa của chủ hàng do lỗi củ lái

xe (chủ xe) gây ra

* Bảo hiểm vật chất xe:

- Đối tượng bảo hiểm: là tất cả các xe được phép lưu hành trên lãnh thổ ViệtNam

- Phạm vi bảo hiểm: Bảo hiểm Viễn Đông bồi thường cho chủ xe những thiệthại vật chất xe do tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của Chủ xe, lái xe trongnhững trường hợp đâm, va, lật đổ, hỏa hoạn… Ngoài ra còn chịu trách nhiệm thanhtoán cho chủ xe những chi phí nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất; chi phí cứu hộ vềnơi sửa chữa gần nhất; chi phí giám định tổn thất

2.1.3.2 Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ:

Trang 34

- Đối tượng bảo hiểm: nhà xưởng kiến trúc, máy móc thiết bị bên trong,nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm.

- Phạm vi bảo hiểm: Tổn thất và tổn hại do hỏa hoạn, sét cháy , nổ, hoặc dorủi ro khác như: bão lụt, động đất, bạo động,đình công, ống hay bồn nước bị bể…

Ngoài ra, có thể bảo hiểm thêm cho rủi ro tài chính, gián đoạn kinh doanhsau khi xảy ra tổn thất

2.1.3.3 Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt

- Người được bảo hiểm: Các nhà đầu tư, các nhà thầu chính, nhà thầu phụ…

có liên quan đến đối tượng được bảo hiểm

- Đối tượng bảo hiểm: Các công trình xây dựng (nhà ở, trụ sở làm việc, bệnhviện, trường học, nhà hát, nhà máy, đường giao thông bộ, sân bay, cầu, cảng, cống,đập, đường hầm, công trình cấp nước, và một số công trình khác); Các công trìnhlắp đặt, máy móc

- Phạm vi bảo hiểm: Bảo hiểm Viễn Đông chịu trách nhiệm bồi thường choNgười được bảo hiểm những thiệt hại vật chất của công trình; thiệt hại về người vàtài sản đối với bên thứ ba gây ra trong quá trình thi công công trình

2.1.3.4 Nhóm bảo hiểm con người

- Đối tượng bảo hiểm: mọi công dân Việt Nam và người nước ngoài đanglàm việc tại Việt Nam có độ tuổi từ 18 – 65 đều có thể tham gia bảo hiểm

- Phạm vi bảo hiểm: Bảo hiểm cho mọi tai nạn bất ngờ gây thương tích haythiệt mạng cho Người được bảo hiểm, chi phí thuốc men, ốm đau bệnh tật…

Nhóm bảo hiểm con người bao gồm nhiều nghiệp vụ, mỗi một nghiệp vụ sẽ

áp dụng theo những điều kiện, điều khoản bảo hiểm riêng

2.1.3.5 Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa

Trang 35

- Đối tượng bảo hiểm: Mọi hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt,đường thủy trong lãnh thổ Việt Nam (các hàng hóa đi và về ở các nước lân cận cũng

có thể được bảo hiểm)

- Phạm vi bảo hiểm : Tổn thất và tổn hại của hàng hóa trong quá trình chuyênchở bị gây ra bởi cháy nổ, động đất, bão lụt, gió lốc, sóng thần,sét, hay phương tiệnvận chuyển bị đâm, lật , rơi, mắc cạn, đâm va, trật bánh, cây đổ, cầu đường bị sập,phương tiện chở hàng mất tích

2.1.3.6 Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

Hàng hóa xuất nhập khẩu thường gặp rất nhiều rủi ro gây ra những hư hỏng,mất mát Vì vậy để bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trongtrường hợp có tổn thất và tạo tâm lý an toàn trong kinh doanh cần thiết phải có bảohiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

- Đối tượng bảo hiểm: Hàng hóa xuất khẩu bao gồm cả lãi dự tính (cao nhất

10 %), phí bảo hiểm và cước vận chuyển cùng các tổn thất khác

- Điều kiện bảo hiểm:

Theo quy tắc về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển ban hành kèmtheo Quyết định số 45/2007/QĐ-Vass ngày 28/3/2007 của Tổng Giám đốc Công ty

CP Bảo hiểm Viễn Đông

Theo điều kiện bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển hoặc đường hàngkhông ICC 01/01/1982 của hiệp hội bảo hiểm Lôn Đôn

2.1.3.7 Bảo hiểm thân tàu biển, ven biển, tàu sông, tàu cá.

- Mục đích bảo hiểm thân tàu biển khôi phục tình trạng thân tàu khi tổn thấtxảy ra nhằm giúp chủ tàu tiếp tục vận chuyển kinh doanh

- Đối tượng bảo hiểm: Tàu biển các loại chạy tuyến trong và ngoài nước

- Phạm vi bảo hiểm: Tổn hại và tổn thất của thân tàu do hiểm họa trên biển,

Trang 36

trách nhiệm đâm va tàu khác, tổn thất chung và cứu hộ, chi phí tố tụng và đề phònghạn chế tổn thất.

2.1.3.8 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu

- Đối tượng bảo hiểm: Các chủ tàu , người quản lý, người điều hành, ngườithuê tàu ( không phải thuê tàu chuyến)

Trách nhiệm ô nhiễm dầu, chi phí tẩy rửa, tiền phạt

Trách nhiệm vớt xác tàu, các chi phí thắp sáng, trục vớt, di chuyển, phá hủy Trách nhiệm tiền phạt trong các trường hợp vi phạm hợp đồng về an toàn laođộng, luật hải quan, nhập cảnh

Chi phí tố tụng và các chi phí khác

2.1.4 Một số kênh khai thác Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đang áp dụng

2.1.4.1 Kênh khai thác trực tiếp

Đây là hình thức giúp công ty đưa sản phẩm đến với khách hàng mà khôngcần qua một kênh trung gian nào Với hình thức khai thác này, công ty luôn có mộtđội ngũ các khai thác viên làm việc tại các chi nhánh hay văn phòng khu vực Ngoài

ra, công ty còn triển khai bán hàng qua internet, qua điện thoại…

Trang 37

2.1.4.2 Kênh khai thác trung gian

Hiện nay công ty đang áp dụng những kênh khai thác trung gian sau:

- Đại lý: Họ là những cá nhân hay tổ chức đại diện cho quyền lợi của chínhcông ty Hàng năm công ty vẫn tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ và cấp chứngchỉ cho đại lý bảo hiểm nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh Tính đến nay, toàn

hệ thống đã có trên 800 đại lý

- Môi giới: Đó là những trung gian đại diện cho quyền lợi của khách hàng,

họ đóng vai trò là một khách hàng và lựa chọn các công ty bảo hiểm phù hợp có thểcung cấp dịch vụ một cách tốt nhất Hiện nay có rất nhiều công ty môi giới và Bảohiểm Viễn Đông đang hợp tác khai thác qua các công ty như: Công ty Cổ phần Môigiới bảo hiểm Á Đông, Công ty môi giới bảo hiểm Aon, Công ty cổ phần môi giớibảo hiểm Nam Á,…

- Một số kênh trung gian khác như đại lý bán xe ô tô, đại lý bán vé, cáccông ty du lịch…

2.1.4.3 Khai thác chéo qua hệ thống ngân hàng

Đây là hình thức cung cấp các sản phẩm bảo hiểm bởi các ngân hàng hoặccác định chế cho vay Ngân hàng và các định chế cho vay có thể hoạt động như mộtđại lý bảo hiểm hay một môi giới bảo hiểm Hiện nay, Bảo hiểm Viễn Đông đangkhai thác các dịch vụ bảo hiểm qua các ngân hàng và tổ chức tài chính là cổ đôngcủa công ty, ngoài ra còn khai thác rải rác qua một số ngân hàng khác

2.1.5 Quy trình khai thác và quy trình bồi thường của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông

2.1.5.1 Quy trình khai thác

Mỗi một sản phẩm bảo hiểm sẽ có quy trình khai thác riêng nhưng khi tiếnhành khai thác tất cả các sản phẩm đó đều phải theo những bước chung nhất định sau:

Trang 38

Bước 1: Thu thập, phân tích thông tin khách hàng, nhận đề nghị bảo hiểm.Khai thác viên nhận đề nghị bảo hiểm từ khách hàng và ghi vào nhật ký khaithác Nhận đề nghị bảo hiểm từ khách hàng bằng văn bản hay bằng hình thức khác.Thông tin thu được phải đảm bảo tính trung thực, đầy đủ.

Bước 2: Khảo sát và đánh giá rủi ro

Khai thác viên tiến hành kiểm tra, khảo sát và đánh giá rủi ro liên quan đến đốitượng bảo hiểm Có thể đánh giá thông qua hồ sơ kết hợp khảo sát đánh giá rủi ro tạiđịa điểm nhận bảo hiểm Bên cạnh đó cần tìm hiểu thông tin liên quan đến kháchhàng như: tình hình kinh doanh, tình hình tổn thất từ trước đến nay (nếu có)…

Bước 3: Xây dựng phương án bảo hiểm

Sau khi có đầy đủ thông tin và qua khảo sát đánh giá, căn cứ vào quy tắc bảohiểm, điều kiện bảo hiểm, biểu phí bảo hiểm, khai thác viên lập bản chào phí chuyểncho khách hàng

Bước 4: Trình lãnh đạo

Lập tờ trình khai thác: Căn cứ vào kết quả khảo sát, đánh giá rủi ro, khai thácviên tổng hợp thông tin lập phương án chào phí dự thảo và tờ trình khai thác Đối vớinhững tài sản trên phân cấp cần báo cáo vào các phòng nghiệp vụ của Công ty để xin

ý kiến

Bước 5: Chào bảo hiểm, đàm phán, ký kết hợp đồng

Khi nhận tờ trình được duyệt đồng ý của Lãnh đạo khai thác viên tiến hànhchào bảo hiểm ngay cho khách hàng Trường hợp khách hàng không đồng ý bảnchào thi khai thác viên phải thực hiện lại từ bước 3 Trường hợp khách hàng đồng ý,khai thác viên đề nghị khách hàng hoàn chình Giấy yêu cầu bảo hiểm và chuẩn bịhợp đồng

Bước 6: Phát hành và lưu trữ hợp đồng bảo hiểm

Trang 39

Căn cứ vào nội dung của Giấy yêu cầu bảo hiểm và các quy định chung củacông ty, khai thác viên tiến hành soạn thảo, trình ký và phát hành hợp đồng Vào sổtheo dõi đối với từng nghiệp vụ cụ thể.

Bước 7: Theo dõi thu phí bảo hiểm:

Khai thác viên có trách nhiệm yêu cầu khách hàng thanh toán phí bảo hiểmđúng hạn theo thông báo thu phí Trường hợp có thỏa thuận cho phép khách hàng trảphí thành nhiều kỳ, phải ghi rõ thỏa thuận này trong Hợp đồng bảo hiểm hoặc Giấychứng nhận bảo hiểm

Trường hợp nợ phí, nợ phí quá hạn: việc theo dõi tình hình nợ phí của kháchhàng được áp dụng theo quy định hiện hành của Công ty

Bước 8: Quản lý dịch vụ bảo hiểm

Khai thác viên tiếp tục theo dõi việc thực hiện hợp đồng, quản lý rủi ro và đềphòng hạn chế tổn thất để bổ sung các thông tin liên quan vào lý lịch khách hàng

Khai thác viên tư vấn cho khách hàng việc đề phòng hạn chế tổn thất, quytrình thông báo tổn thất và các thủ tục yêu cầu bồi thường

2.1.5.2 Quy trình bồi thường

Cũng giống như quy trình khai thác, mỗi một nghiệp vụ cũng có những quytrình bồi thường riêng nhưng về cơ bản vẫn phải tuân theo các bước sau:

Bước 1: Tiếp nhận thông tin tổn thất

Cán bộ nhân viên tiếp nhận thông tin tổn thất do khách hàng cung cấp quađiện thoại, email, fax hoặc báo trực tiếp Giám định viên được phân công thụ lý tổnthất tại đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng cung cấp thông tin chính thứccho Vass bằng “thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường” theo biểu mẫu trong vòng

05 ngày làm việc kể từ ngày xảy ra tổn thất, trừ khi có lý do chính đáng Khi tiếpnhận thông tin khai báo của khách hàng phải sử dụng “Giấy biên nhận hồ sơ bồi

Trang 40

thường kiêm phiếu hẹn” để tiếp nhận hồ sơ bồi thường Sau đó mỗi khi khách hàng

bổ sung thêm hồ sơ, chứng từ thì nhân viên GĐ-BT phải có trách nhiệm điều chỉnhvào giấy hẹn cho phù hợp với nội dung mới và yêu cầu khách hàng ký vào nội dungmới đó

Trường hợp ước bồi thường trên phân cấp của Đơn vị hoặc tôn thất phức tạp,mang tính chất nhạy cảm, Đơn vị phải thông báo ngay cho bộ phận BTKV để phốihợp giải quyết Bộ phận này có thể trực tiếp thực hiện các bước GĐBT hoặc cótrách nhiệm chỉ đạo Đơn vị thực hiện các bước tiếp theo và có trách nhiệm vớiCông ty về kết quả thực hiện tác nghiệp

Bước 2: Xử lý thông tin tai nạn

Nhân viên GĐ-BT có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng bảo vệ hiện trường

và thông báo cho cơ quan chức năng gần nhất để xử lý và lập hồ sơ Nếu có tổn thất

về người thì hường dẫn khách hàng chủ động đưa người bị nạn đi cấp cứu kịp thời

Khi tiếp nhận thông báo tổn thất nhân viên GĐ – BT có trách nhiệm tổ chứcgiám định hiện trường Trường hợp vì lý do địa lý không có mặt ở hiện trường kịpthời thì phải báo cáo lãnh đạo để được hướng dẫn

Bước 3: Tiến hành giám định

Sau khi đã thống nhất với khách hàng về thời gian và địa điểm giám định tổnthất, nhân viên GĐ-BT tiến hành giám định, chụp ảnh tổn thất và lập “Biên bảngiám định tổn thất”, kể cả trong trường hợp có thuê công ty giám định độc lập Hìnhảnh tổn thất trong hồ sơ bồi thường phải được in màu và thể hiện rõ chi tiết có liênquan đến đối tượng tổn thất, đồng thời hiển thị ngày tháng năm chụp hình lên hìnhảnh in ra

Trường hợp cần xác minh nguyên nhân tổn thất thì trưng cầu kết luận của cơquan chức năng như Cảnh sát giao thông, Cảnh sát điều tra, Phân viện khoa họchình sự…

Ngày đăng: 28/05/2015, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2010), Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2009, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2010), "Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2009
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Tàichính
Năm: 2010
2. Công ty Bảo hiểm Viễn Đông (2011), Tài liệu Hội nghị tổng kết năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Bảo hiểm Viễn Đông (2011)
Tác giả: Công ty Bảo hiểm Viễn Đông
Năm: 2011
3. Công ty Bảo hiểm Viễn Đông (2011), Tài liệu Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Bảo hiểm Viễn Đông (2011)
Tác giả: Công ty Bảo hiểm Viễn Đông
Năm: 2011
4. TS David Bland (1993), Nguyên tắc và thực hành bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS David Bland (1993), "Nguyên tắc và thực hành bảo hiểm
Tác giả: TS David Bland
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1993
5. TS Nguyễn Văn Định (2004), Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Nguyễn Văn Định (2004), "Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: TS Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2004
6. PGS.TS Hoàng Minh Đường; PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc, Giáo trình Quản trị Doanh nghiệp Thương mại - tập 2 (2005), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Hoàng Minh Đường; PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc, "Giáo trình Quảntrị Doanh nghiệp Thương mại - tập 2 (2005)
Tác giả: PGS.TS Hoàng Minh Đường; PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc, Giáo trình Quản trị Doanh nghiệp Thương mại - tập 2
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2005
7. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (2011), Số liệu thị trường bảo hiểm Việt Nam 6 tháng năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (2011), "Số liệu thị trường bảo hiểm Việt Nam6 tháng năm 2011
Tác giả: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
Năm: 2011
8. Tổng Công ty CP tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (2010), Hội nghị tái bảo hiểm lần thứ IV , Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng Công ty CP tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (2010), "Hội nghị tái bảohiểm lần thứ IV
Tác giả: Tổng Công ty CP tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam
Năm: 2010
9. PGS.TS Hồ Sỹ Sà (2003), Giáo trình bảo hiểm, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Hồ Sỹ Sà (2003), "Giáo trình bảo hiểm
Tác giả: PGS.TS Hồ Sỹ Sà
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tế quốcdân
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty - Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty (Trang 31)
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông 3 năm gần đây - Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông 3 năm gần đây (Trang 43)
Bảng 2.2: Doanh thu của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 Đơn vị tính: VNĐ - Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020
Bảng 2.2 Doanh thu của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 Đơn vị tính: VNĐ (Trang 45)
Bảng 2.3: Chi BT của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011                               Đơn vị tính: VNĐ - Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020
Bảng 2.3 Chi BT của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông từ năm 2008 đến 2011 Đơn vị tính: VNĐ (Trang 49)
Bảng 2.5: Những đơn vị có tỷ lệ bồi thường nghiệp vụ xe ô tô năm 2011 cao - Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020
Bảng 2.5 Những đơn vị có tỷ lệ bồi thường nghiệp vụ xe ô tô năm 2011 cao (Trang 58)
Bảng 2.6: Những đơn vị có tỷ lệ bồi thường xe mô tô năm 2011 cao - Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông đến năm 2020
Bảng 2.6 Những đơn vị có tỷ lệ bồi thường xe mô tô năm 2011 cao (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w