Tính cấp thiết của đề tài Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Vì vậy, có thể xem cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành trong một thời gian ở những điều kiện cụ thể. Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi cơ cấu kinh tế kể cả số lượng và chất lượng. Đối với mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển kinh tế cần phải xác định cho mình một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế này phải phù hợp với xu thế, đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá, khai thác được tiềm năng thế mạnh của đất nước trong thời kỳ hội nhập. Cơ cấu kinh tế thường gồm 3 phương diện hợp thành, đó là: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vị trí cốt lõi trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu kinh tế của từng vùng. Phát triển và xác định được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng kinh tế trọng điểm là cơ sở và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự phát triển của nền kinh tế nước ta và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới, là cơ hội lớn nhằm thu hút và phát huy tiềm lực của mọi thành phần kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế nội bộ của các vùng kinh tế trọng điểm phải tiếp cận được mục tiêu về cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Thừa Thiên Huế là một trong 5 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ nằm trên dải đất hẹp có chiều dài 126 km, chiều rộng trung bình 60 km nhưng có bờ biển dài 128 km, có cảng Thuận An, cảng nước sâu Chân Mây có khả năng tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn; sân bay Phú Bài; đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên qua… Vị trí này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tỉnh sản xuất hàng hoá, phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển, đồng thời mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế với các vùng trên cả nước cũng như quốc tế. Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế là xây dựng Tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, phấn đấu mức tăng trưởng GDP tăng bình quân trên 13% năm; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2500 USD; cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, đến năm 2015 cơ cấu kinh tế của Tỉnh sẽ là: Du lịch dịch vụ: 48%, công nghiệp: 43%, nông - lâm - thủy sản: 9%; năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu: 600 - 700 triệu USD . Để thực hiện được mục tiêu này, vấn đề xác định cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng của Tỉnh là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển. Vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế bao gồm các xã thuộc 5 huyện: Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền nằm trải dài dọc theo bờ biển, với nhiều sông ngòi, đầm phá lớn như phá Tam Giang với chiều dài 70 km, diện tích 22.000 ha là vùng đầm phá có diện tích lớn nhất Đông Nam Á, có khả năng nuôi trồng và đánh bắt nhiều loại thuỷ hải sản đặc biệt dành cho xuất khẩu. Ngoài ra, còn nhiều đầm phá khác như đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầm Thuỷ Tư (huyện Phú Vang)…Với những lợi thế về vị trí địa lý, vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều ưu thế về phát triển nuôi trồng, sản xuất thuỷ sản ở cả 3 vùng: vùng biển, vùng đầm phá và vùng nước ngọt, điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế biển. Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và dự báo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những cơ sở bền vững, hiệu quả triển khai kế hoạch đầu tư và phát triển kinh tế của Tỉnh giai đoạn 2011- 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Thực tế cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về xác định cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Với ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi cần có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn để xác định cụ thể cơ cấu kinh tế của vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế- đây chính là căn cứ xác thực trong việc tiếp cận nghiên cứu, đánh giá một cách logic, đúng đắn và đầy đủ về thực trạng cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng thời xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và dự báo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven biển của Tỉnh trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp triển khai khả thi nhằm tận dụng, khai thác tiềm năng và phát huy những lợi thế cho sự phát triển bền vững kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Do vậy, nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và xác định cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2015 và tầm nhìn 2020” là cần thiết và cấp bách đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ 10
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ 10
1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế 10
1.1.2 Mục tiêu và căn cứ đánh giá việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11
1.2 VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ 14
1.2.1 Vai trò của việc xác định cơ cấu kinh tế 14
1.2.2 Nội dung của việc xác định cơ cấu kinh tế 17
1.3 PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN 25
1.3.1.Tổng quan về phát triển ngành sản xuất 25
1.3.2 Phát triển kinh tế vùng ven biển 29
1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ KINH NGHIỆM TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 32
1.4.1 Nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên 32
1.4.2 Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội 33
1.4.3 Nhóm các nhân tố về tổ chức, kỹ thuật 34
1.4.4 Các nhân tố khác 35
1.4.5 Kinh nghiệm công nghiệp hóa và xác định cơ cấu kinh tế của một số quốc gia 35
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 41
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 41
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên các huyện vùng ven biển Thừa Thiên Huế 42
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 54
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THEO CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ CƠ BẢN 62
2.2.1.Thực trạng cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế 62 2.2.2 Cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế 71
Trang 22.3 THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN
THEO LÃNH THỔ VÀ NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ 74
2.3.1 Thực trạng cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế 74
2.3.2.Đánh giá tiềm năng phát triển các ngành kinh tế ở Thừa Thiên Huế 91
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ƯU ĐIỂM - NHƯỢC ĐIỂM CỦA CƠ CẤU KINH TẾ HIỆN HÀNH VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN 103
2.4.1 Những ưu điểm của cơ cấu kinh tế hiện hành 103
2.4.2 Những nhược điểm của cơ cấu kinh tế hiện hành 105
2.4.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 109
CHƯƠNG III: XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2011-2015 TẦM NHÌN ĐẾN 2020 111
3.1 QUAN ĐIỂM XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 111
3.1.1 Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ cấu kinh tế của vùng đồng bằng ven biển Tỉnh Thừa Thiên Huế phải quán triệt những định hướng lớn trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 111
3.1.2 Phát triển kinh tế vùng đồng bằng ven biển Tỉnh Thừa Thiên Huế phải khai thác tối đa những ưu thế về tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo khả năng kiểm soát về môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh 111
3.1.3 Xây dựng cơ cấu kinh tế trên địa bàn vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế phải đảm bảo phát huy thế mạnh đặc thù của các xã, huyện ven biển, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa 112
3.1.4 Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trên địa bàn các xã vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế phải đảm bảo sự thống nhất và cân bằng giữa các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng 112
3.1.5 Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trên địa bàn các xã đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa kinh tế với quốc phòng.113 3.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2020 113
3.2.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020 113
Trang 33.2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển Thừa
Thiên Huế thời gian tới 117
3.3 XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2011-2015 TẦM NHÌN 2020 120
3.3.1 Phương hướng chung 120
3.3.2 Dự báo và lựa chọn mục tiêu tăng trưởng kinh tế 122
3.3.3 Tính toán mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế 125
3.4 XÁC ĐỊNH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ 127
3.4.1 Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp 127
3.4.2 Cơ cấu kinh tế ngành nông - lâm - ngư nghiệp 129
3.4.3 Cơ cấu kinh tế ngành thương mại - dịch vụ 131
3.5 XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ THEO TIỂU VÙNG 133
3.5.1 Cơ cấu giá trị sản xuất 133
3.5.2 Cơ cấu các sản phẩm chủ yếu 134
3.6 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CƠ CẤU KINH TẾ ĐÃ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH 141
3.6.1.Những thuận lợi khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế .141
3.6.2 Những giải pháp vĩ mô 142
3.6.3 Những giải pháp vi mô 143
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu lao động theo ngành vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 12Bảng 1.2: Cơ cấu ngành theo GDP cho một số nhóm nước 21Bảng 1.3: Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010 22Bảng 2.1: Thông tin chung về 34 xã đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn
2009 - 2010 42Bảng 2.2: Số liệu tính bình quân 1 xã đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009 - 2010 42Bảng 2.3: Tình hình lao động chung của vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huếgiai đoạn 2005 - 2010 55Bảng 2.4: Giá trị sản xuất theo ngành của vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huếgiai đoạn 2005 - 2010……… 62Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản xuất theo hình thức tổ chức kinh tế vùng đồng bằng venbiển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 66Bảng 2.6: Cơ cấu giá trị sản xuất theo hình thức tổ chức kinh tế của các huyện đồng bằng ven biển năm 2010 67Bảng 2.7: Giá trị sản xuất theo hình thức tổ chức kinh tế tính bình quân 1 xã đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 68Bảng 2.8: Ý kiến về thu nhập từ các ngành chủ yếu của các huyện ven biển 69Bảng 2.9: Tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp của vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 75Bảng 2.10: Cơ cấu trồng trọt vùng đồng bằng ven biển giai đoạn 2005 - 2010 77Bảng 2.11: Giá trị sản xuất công nghiệp vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 81Bảng 2.12: Giá trị sản xuất trung bình của lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của một xã đồng bằng ven biển Huế 82Bảng 2.13: Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp vùng đồng bằng ven biển giai đoạn
2005 - 2010 83Bảng 2.14: Tổng giá trị sản xuất ngành thương mại - dịch vụ vùng đồng bằng ven biển giai đoạn 2005 - 2010 86
Trang 5Bảng 2.15: Tổng giá trị sản xuất sản phẩm Thương mại - Dịch vụ chủ yếu của một
xã đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 87
Bảng 2.16: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thương mại - dịch vụ của vùng đồng bằng ven biển giai đoạn 2005 - 2010 88
Bảng 2.17: Đánh giá của các hộ gia đình về nghề nghiệp hiện tại 90
Bảng 2.18: Chỉ số tiềm năng thị trường theo từng ngành hàng 94
Bảng 2.19: Chỉ số rủi ro của các ngành vùng ven biển 97
Bảng 2.20: Chỉ số năng lực và nguồn lực nội tại theo từng ngành kinh tế 101
Bảng 3.1: Các phương án tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế thời kỳ 2011 - 2020 122
Bảng 3.2: Dự báo sản lượng, cơ cấu kinh tế ngành vùng các xã đồng bằng ven biển (giá cố định 2010) 126
Bảng 3.3: Giá trị sản xuất vùng đồng bằng ven biển theo giá hiện hành 127
Bảng 3.4: Phương án điều chỉnh cơ cấu các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 129
Bảng 3.5: Phương án điều chỉnh cơ cấu các ngành nông nghiệp 130
Bảng 3.6: Phương án điều chỉnh cơ cấu ngành thương mại dịch vụ 133
Bảng 3.7: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo tiểu vùng 135
Bảng 3.8: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo tiểu vùng 137
Bảng 3.9: Cơ cấu giá trị sản xuất dịch vụ theo tiểu vùng 139
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Nội dung tổ chức cơ cấu ngành kinh tế……….26
Biểu đồ 2.1:Trình độ lao động của các xã đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế 55
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu ngành kinh tế của các xã ven biển huyện Phú Vang 64
Biểu đồ 2.3: Ý kiến về nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình hiện nay 68
Biểu đồ 2.4: Đánh giá của người dân về mức thu nhập (%) 70
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu lao động theo ngành của vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 72
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu lao động theo sản phẩm chủ yếu của vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010 72
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp vùng đồng bằng ven biển 76
Biểu đồ 2.8: Một số sản phẩm cây trồng chủ yếu của các hộ gia đình vùng ven biển Thừa Thiên Huế 77
Biểu đồ 2.9: Cơ cấu ngành chăn nuôi của các hộ gia đình vùng ven biển Thừa Thiên Huế 78
Biểu đồ 2.10: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản 84
Biểu đồ 2.11: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến nông sản 84
Biểu đồ 2.12: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp sản xuất các mặt hàng dân dụng 85
Biểu đồ 2.13: Chỉ số cơ hội thị trường xuất khẩu các sản phẩm vùng ven biển Thừa Thiên Huế 92
Biểu đồ 2.14: Chỉ số cơ hội thị trường nội huyện, nội tỉnh, miền Trung 93
Biểu đồ 2.15: Chỉ số rủi ro của các ngành kinh tế vùng ven biển Thừa Thiên Huế 96 Biểu đồ 2.16: Chỉ số năng lực và nguồn lực nội tại phát triển các ngành kinh tế vùng ven biển Thừa Thiên Huế 98
Biểu đồ 2.17: Chỉ số năng lực và nguồn lực nội tại theo ngành kinh tế 99
Biểu đồ 3.1:Tiềm năng, cơ hội và tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế 128
Trang 7Biểu đồ 3.2: Tiềm năng, cơ hội, và tỷ trọng giá trị các ngành nông nghiệp khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế 130Biểu đồ 3.3: Tiềm năng, cơ hội, và tỷ trọng giá trị các ngành nông nghiệp khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế 132Biểu đồ 3.4: Cơ cấu giá trị sản xuất theo tiểu vùng khu vực đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế từ nay đến năm 2020 134
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh
tế quốc dân, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả
về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế- xã hội cụthể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định Sự vận động và pháttriển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộphận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu Vì vậy, có thể xem cơ cấu kinh tế làtổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thànhtrong một thời gian ở những điều kiện cụ thể Quá trình phát triển kinh tế cũng đồngthời là quá trình làm thay đổi cơ cấu kinh tế kể cả số lượng và chất lượng
Đối với mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển kinh tế cần phải xác định chomình một cơ cấu kinh tế hợp lý Cơ cấu kinh tế này phải phù hợp với xu thế, đáp ứngđược các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá, khai thác được tiềm năngthế mạnh của đất nước trong thời kỳ hội nhập Cơ cấu kinh tế thường gồm 3 phương diệnhợp thành, đó là: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng lãnhthổ, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vị trí cốt lõi trong cơ cấu nền kinh tế quốc dâncũng như cơ cấu kinh tế của từng vùng Phát triển và xác định được sự chuyển dịch cơcấu kinh tế vùng kinh tế trọng điểm là cơ sở và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đấtnước Sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự phát triển của nền kinh tếnước ta và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thếgiới, là cơ hội lớn nhằm thu hút và phát huy tiềm lực của mọi thành phần kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế nội bộ của các vùng kinh tế trọng điểm phải tiếp cận đượcmục tiêu về cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân Thừa Thiên Huế là một trong 5tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộnằm trên dải đất hẹp có chiều dài 126 km, chiều rộng trung bình 60 km nhưng có bờbiển dài 128 km, có cảng Thuận An, cảng nước sâu Chân Mây có khả năng tiếp nhậncác tàu có trọng tải lớn; sân bay Phú Bài; đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyênqua… Vị trí này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tỉnh sản xuất hàng hoá, phát triểnkinh tế, đặc biệt là kinh tế biển, đồng thời mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế vớicác vùng trên cả nước cũng như quốc tế
Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế là xây dựngTỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, phấn đấu mức tăng trưởng GDP
Trang 9tăng bình quân trên 13% năm; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2500USD; cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, đến năm 2015 cơ cấukinh tế của Tỉnh sẽ là: Du lịch dịch vụ: 48%, công nghiệp: 43%, nông - lâm - thủysản: 9%; năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu: 600 - 700 triệu USD1 Để thực hiệnđược mục tiêu này, vấn đề xác định cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùngcủa Tỉnh là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển.
Vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế bao gồm các xã thuộc 5huyện: Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền nằm trải dài dọctheo bờ biển, với nhiều sông ngòi, đầm phá lớn như phá Tam Giang với chiều dài
70 km, diện tích 22.000 ha là vùng đầm phá có diện tích lớn nhất Đông Nam Á, cókhả năng nuôi trồng và đánh bắt nhiều loại thuỷ hải sản đặc biệt dành cho xuấtkhẩu Ngoài ra, còn nhiều đầm phá khác như đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầmThuỷ Tư (huyện Phú Vang)…Với những lợi thế về vị trí địa lý, vùng đồng bằng venbiển tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều ưu thế về phát triển nuôi trồng, sản xuất thuỷsản ở cả 3 vùng: vùng biển, vùng đầm phá và vùng nước ngọt, điều kiện thuận lợiphát triển kinh tế biển Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và dự báo hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những cơ
sở bền vững, hiệu quả triển khai kế hoạch đầu tư và phát triển kinh tế của Tỉnh giaiđoạn 2011- 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
Thực tế cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện vềxác định cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế Với ý nghĩasâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi cần có công trình nghiên cứu một cách hệthống, dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn để xác định cụ thể cơ cấu kinh tế củavùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế- đây chính là căn cứ xác thực trongviệc tiếp cận nghiên cứu, đánh giá một cách logic, đúng đắn và đầy đủ về thực trạng
cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng thời xác định cơcấu kinh tế hợp lý và dự báo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven biển củaTỉnh trong thời gian tới Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp triển khai khả thi nhằmtận dụng, khai thác tiềm năng và phát huy những lợi thế cho sự phát triển bền vữngkinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế Do vậy, nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và xác định cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2015 và tầm nhìn 2020” là cần thiết
1 Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh TTH lần thứ XIV nhiệm kỳ 2010 - 2015 - trg 558.
Trang 10và cấp bách đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh ThừaThiên Huế.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về các công trình nghiên cứu trong nước: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu về cơ
cấu kinh tế như các lý thuyết và mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lý thuyết về xácđịnh chỉ tiêu và lập kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế…, đã được đề cập rất
cụ thể ở một số giáo trình đã và đang được giảng dạy tại Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân như: giáo trình Kinh tế Phát triển (2008), giáo trình Kế hoạch hóa Phát
triển (2009)… Một số giáo trình, sách tham khảo lại đề cập tới các cơ sở lý thuyết về
kinh tế vùng như Tập bài giảng về Kinh tế Vùng (2007), Kinh tế vùng và đô thị (1999), Kinh tế vùng ở Việt Nam: từ lý luận đến thực tiễn (2007) Đây là cơ sở lý
thuyết đặt nền tảng cho nghiên cứu thực tiễn về cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấukinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã
chủ trì thực hiện đề tài và biên soạn cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới” Các tác giả cho rằng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với yêu cầu và bước
đi trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một trong nhữngnội dung cơ bản của đường lôi đổi mới đất nước do các đại hội Đảng đã đề ra Tuynhiên, trong điều kiện tình hình trong nước và thế giới đang có những biến đổi sâusắc như hiện nay thì việc xây dựng cơ cấu kinh tế của cả nước, của mỗi địa phương,của từng vùng là một nội dung phong phú và phức tạp, mục tiêu, yêu cầu và bước đicủa chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được xem xét gắn với mỗi giai đoạn phát triểncủa nền kinh tế
“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020” do Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Thiên Huế chủ trì thực hiện năm 2007
đã đánh giá các yếu tố và điều kiện tác động đến sự phát triển kinh tế- xã hội củatỉnh đến năm 2020, xác định phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2020 và các giải pháp thực hiện quy hoạch Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế trên địabàn toàn Tỉnh được đánh giá là đang chuyển dịch rõ nét theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa, cơ cấu nội bộ ngành chuyển đổi mạnh; cơ cấu lãnh thổ đang từngbước hình thành theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh; cơ cấuthành phần kinh tế đang chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng, thế mạnh của
Trang 11mỗi thành phần nhằm phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện từng bước tiến bộ vàcông bằng xã hội
Năm 2004, Ban Quản lý dự án biển Đông, Bộ Giáo thông Vận tải đã nghiên cứu
lập báo cáo “Quy hoạch, xây dựng công trình giao thông thích hợp đảm bảo việc đi
lại của nhân dân các xã thuộc dải cát ven biển và ven các đầm phá - Thừa Thiên Huế” Trong nghiên cứu này, Ban quản lý dự án biển Đông đã đánh giá toàn diện
tiềm năng tài nguyên và hiện trạng kinh tế, xã hội, giao thông vận tải của tỉnh ThừaThiên Huế và các xã thuộc dải cát ven biển và ven các đầm phá; xác định vị trí chiếnlược của vùng ven biển đối với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh; tínhtoán và dự báo nhu cầu giao thông vận tải về hàng hóa và hành khách khu vực venbiển làm cơ sở để thiết kế quy hoạch chi tiết mạng lưới giao thông ven biển Trong
đó, báo cáo cũng có đánh giá sơ bộ về thực trạng cơ cấu kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế
đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ trọng trong GDP của các ngànhcông nghiệp- xây dựng và dịch vụ tăng dần, tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệpgiảm dần Báo cáo cũng phác thảo quan điểm phát triển của tỉnh đến năm 2010: từngbước chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh, từng bước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủnghĩa với cơ cấu kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - du lịch, thương mại, dịch
vụ - nông lâm ngư nghiệp
Các tác giả với các công trình nghiên cứu nêu trên với những cách tiếp cận khácnhau đã nêu nhiều vấn đề có tính chất quy luật và những đặc trưng của quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như các chính sách kinh tế tác động tới quá trình đó.Các công trình nghiên cứu này đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề của thực tiễn.Tuy nhiên, nghiên cứu ở khía cạnh cơ cấu kinh tế, ở góc độ phạm vi nghiêncứu vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm đánh giá đúng thực trạng cơ cấu kinh
tế của vùng đồng bằng ven biển giai đoạn trước năm 2010 và dự báo hướng chuyểndịch giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020 cũng như xác định các giải pháptriển khai khả thi, các chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì cho đếnnay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện
Về các công trình nghiên cứu nước ngoài: Các nhà kinh tế thống nhất với
nhau rằng, cơ cấu kinh tế khu vực được hiểu là cơ cấu việc làm hay cơ cấu thu nhậptheo các ngành kinh tế ở khu vực (Porter, 2003; LIU & YAO, 2007) TheoArandjelović, Marjanović & Djordjević (2007), cơ cấu kinh tế thể hiện tỷ trọng củacác ngành kinh tế so với tổng sản phẩm quốc nội
Trang 12Cho đến nay, lý thuyết về các khu vực kinh tế (sectoral theory) là lý thuyết lâuđời nhất và đồng thời là lý thuyết được sử dụng rộng rãi nhất để phân loại các ngànhnghề được sử dụng để đánh giá và xác định cơ cấu kinh tế Theo lý thuyết về các khuvực kinh tế, các ngành kinh tế được chia thành ba nhóm: ngành kinh tế cơ bản (nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp); ngành kinh tế công nghiệp (khai khoáng, chế tạo,xây dựng, và dịch vụ công cộng); và ngành dịch vụ (bán sỷ, bán lẻ, vận tải, tài chínhngân hàng, dịch vụ cá nhân) Theo Parr (1998), cơ cấu của các ngành này thay đổitheo mức độ phát triển của nền kinh tế Trong giai đoạn ban đầu của quá trình pháttriển, các ngành kinh tế cơ bản chiếm vai trò chủ đạo Trong giai đoạn tiếp theo, tỷtrọng của ngành kinh tế cơ bản giảm dần, vai trò của các ngành công nghiệp tăng Ởgiai đoạn thứ ba, tỷ trọng của cả ngành kinh tế cơ bản và ngành kinh tế công nghiệpgiảm dần và vai trò của ngành dịch vụ trở nên ngày càng quan trọng.
Trên cơ sở sự phân bố của các hoạt động kinh tế về mặt địa lý, Porter (2003)đưa ra một cách phân loại mới, theo đó các ngành kinh tế được chia thành ba nhóm:nhóm ngành kinh tế địa phương (local industries), nhóm ngành kinh tế dựa vào cáctài nguyên (resource independent industries), và nhóm ngành kinh tế thông thương(traded industries) Về cơ bản, nhóm ngành kinh tế địa phương sản xuất sản phẩm
và cung cấp dịch vụ cho thị trường địa phương và sử dụng lao động ngay trong khuvực này Các ngành công nghiệp địa phương chủ yếu cạnh tranh trong khu vực, và
ít gặp phải sự cạnh tranh từ ngoài khu vực Một vài ví dụ về ngành công nghiệpđịa phương như dịch chăm sóc sức khỏe, dịch vụ hàng ngày (điện, nước), bán lẻ,xây dựng Các ngành kinh tế dựa vào tài nguyên là những ngành mà vị trí của nóđược xác định trên cơ sở sự sẵn có của các tài nguyên ở địa phương ví dụ như dulịch, nuôi trồng thủy sản Nhóm ngành thông thương là những ngành kinh tế đượchình thành không dựa hoàn toàn vào các tài nguyên tự nhiên, mà dựa vào lợi thếkinh tế có tính chất tổng quát của khu vực như trình độ lao động, cơ sở hạ tầnggiao thông vận tải
Các nghiên cứu chỉ ra rằng một cơ cấu kinh tế vùng (khu vực) hợp lý sẽ có tácđộng tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của vùng (khu vực) Theo Porter(2003), cơ cấu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với thành tựu kinh tế của các khu vực.Trong nghiên cứu này, cơ cấu kinh tế địa phương được thể hiện ở tỷ trọng của cácnhóm ngành kinh tế địa phương (local industries), nhóm ngành kinh tế dựa vào cáctài nguyên (resource independent industries), và nhóm ngành kinh tế thông thương(traded industries) trong cơ cấu GDP và việc làm của khu vực Thành quả kinh tế
Trang 13địa phương được xác định trên cơ sở bốn tiêu chí cơ bản: lương bình quân (thu nhậpbình quân) đầu người; tốc độ tăng trưởng tiền lương; tốc độ tăng trưởng việc làm(employment growth); và số lượng bằng phát minh, sáng chế được cấp cho 100.000dân Kết quả nghiên cứu 172 vùng kinh tế ở nước Mỹ, Porter (2003) phát hiện rarằng các ngành kinh tế địa phương là ngành kinh tế tạo ra nhiều việc làm nhất Tuynhiên, các ngành kinh tế thông thương lại có vai trò quan trọng nhất trong việc thúcđẩy thành quả kinh tế địa phương theo những cơ chế khác nhau Chẳng hạn nhưmức lương cao hơn ở các ngành kinh tế thông thương thường tạo ra động lực đểtăng lương ở các ngành kinh tế địa phương và các ngành kinh tế phụ thuộc vào tàinguyên Sự phát triển của các ngành kinh tế thông thương cũng góp phần nâng caotrình độ kinh tế địa phương thông qua tác động kinh tế ngoại lai tích cực của chúng.Bên cạnh đó, Porter (2003) cũng phát hiện ra rằng, mức độ phát triển của các ngànhkinh tế thông thương phụ thuộc rất lớn vào mức độ liên kết của chúng Các ngànhkinh tế thông thương có mức độ liên kết phụ thuộc lẫn nhau càng cao, thì có sứccạnh tranh cao hơn, và đóng góp tích cực hơn vào thành tựu kinh tế địa phương.
Về khía cạnh kỹ thuật, R oberts & Stimson (1998) đề xuất phương phápphân tích định tính đa ngành để đánh giá khả năng cạnh tranh của khu vực vàlàm cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế của các vùng kinh tế Nộidung cơ bản của chiến lược kinh tế vùng là xác định cơ cấu kinh tế hợp lý chovùng trên sở đánh giá năng lực cạnh tranh của vùng và tiềm năng thị trường cho
cơ cấu kinh tế được lựa chọn Theo phương pháp được đề xuất, quá trình xâydựng cơ cấu kinh tế khu vực được thực hiện theo các nội dung sau:
- Đánh giá năng lực chủ chốt của khu vực Năng lực chủ chốt của khu vực đượcxác định là tổng hợp các kỹ năng, công nghệ mà khu vực đang sở hữu trong phạm vịnguồn lực và điều kiện của khu vực để tạo ra những khả năng đặc biệt của khu vựcđối với từng ngành kinh tế Các tiêu chuẩn để đánh giá năng lực chủ chốt được chiathành các nhóm (1) sức mạnh kinh tế, (2) sức mạnh về mặt thương mại, (3) sức mạnh
về công nghệ và phát triển, (4) sức mạnh về nhân lực, (5) năng lực quản lý, (6) khảnăng tài chính, (7) quản lý nhà nước ở địa phương, (8) cơ sở hạ tầng Kết quả củabước một cho phép xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá năng lực của từng ngành ở khuvực Năng lực chủ chốt của khu vực được xác định trên cơ sở tổng hợp năng lực chủchốt của các ngành
- Đánh giá mức độ phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau của các ngành kinh tế trongquá trình phát triển Kết quả của nội dung này cho phép nhóm các ngành kinh tế
Trang 14theo tính chất và mức độ trong việc tạo ra năng lực chủ chốt của địa phương Ví dụ,ngành sản xuất quần áo và thiết bị thể thao của khu vực có thể thành công hơn nếungành du lịch của địa phương này cũng phát triển Sự phát triển đồng bộ của cácngành này sẽ cho phép tạo ra năng lực chủ chốt của địa phương trong cả sản xuấtquần áo, thiết bị thể thao và du lịch.
- Đánh giá cơ hội thị trường của các ngành Theo các tác giả, sự phát triển củacác nền kinh tế khu vực phụ thuộc rất lớn và khả năng của khu vực trong việc pháthiện và khai thác các cơ hội thị trường Trong điều kiện toàn cầu hóa thì cơ hội xuấtkhẩu của các ngành đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cơ cấu ngành nghề vì
sự phát triển kinh tế khu vực Việc đánh giá cơ hội thị trường cần được thực hiện chotừng thị trường cụ thể cho từng nhóm hàng hóa cụ thể
- Đánh giá rủi ro gắn liền với từng ngành kinh tế Có 25 tiêu chuẩn, chia thành
5 nhóm được sử dụng để đánh giá rủi ro của các ngành kinh tế Các nhóm này baogồm: các yếu tố ngoại lai, các yếu tố thuộc ngành kinh tế, năng lực cơ quan quản lýnhà nước, môi trường, và quan hệ cộng đồng
- Cuối cùng, cơ cấu kinh tế địa phương được xác định dựa vào những đánh giá vềnăng lực chủ chốt của địa phương, mức độ liên kết giữa các ngành kinh tế, cơ hội thịtrường của các ngành kinh tế, và những rủi ro gắn liền với từng ngành kinh tế
Trên cơ sở các đánh giá này, các tác giả đề xuất phương hướng để chuyển đổi
cơ cấu kinh tế tỉnh với những mục tiêu cơ bản là tạo ra một cơ cấu kinh tế hiện đạihơn và phản ánh một các tốt hơn sự thay đổi trong cơ cấu nhu cầu Những ưu tiên cơbản trong các đề xuất là giảm bớt sự phụ thuộc của GDP vào các ngành khai khoáng
và nông nghiệp, tăng hàm lượng công nghệ trong cơ cấu GDP, tăng tỷ trọng của cácngành dịch vụ nhằm đáp ứng sự mở rộng của nhu cầu dịch vụ, tăng tỷ trọng của cácngành công nghiệp có khả năng sản xuất hàng xuất khẩu
Tóm lại, mặc dù có những điểm khác biệt về điều kiện áp dụng, các nghiêncứu về đánh giá và xác định cơ cấu kinh tế địa phương (khu vực) ở nước ngoài cungcấp những cơ sở lý luận, phương pháp, và thực tiễn có giá trị phục vụ cho việcnghiên cứu, đánh giá thực trạng và xác định cơ cấu kinh tế kinh tế vùng đồng bằngven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài phân tích, đánh giá
Trang 15thực trạng cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển của Thừa Thiên Huế, chỉ ranhững điểm mạnh, điểm yếu, những nhân tố tác động, những cơ hội và tháchthức trong cơ cấu kinh tế theo các ngành kinh tế, thành phần kinh tế và các vùngkinh tế; từ đó đánh giá thực trạng, xác định cơ cấu kinh tế và đề xuất các quanđiểm, giải pháp triển khai giai đoạn 2011- 2015 và tầm nhìn 2020
Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biểntỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn trước năm 2010 và dự báo hướng chuyển dịch giaiđoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020
- Xác định được cơ cấu kinh tế và các giải pháp phát triển khả thi giai đoạn
2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Thừa ThiênHuế đến năm 2020; căn cứ vào quyết định số 158/2007/QĐ - TTg ngày 9 tháng 10năm 2007 về phê duyệt chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung
Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; căn cứ vàoNghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XIV nhiệm kỳ 2011 –
2015 và các quan điểm nghiên cứu khoa học cho rằng vùng đồng bằng ven biển làcác vùng có các xã ven biển Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng đồng bằng venbiển tỉnh Thừa Thiên Huế gồm các xã đồng bằng ven biển thuộc các huyện HươngTrà, Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang và Phú Lộc
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế: Trên cơ sở tổng hợp phân tích một
số công trình nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước để rút ra những vấn đề lýluận cơ bản về xác định cơ cấu kinh tế
- Phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp logic: nhằm phân tích, đánh giá, so sánh sự phát triển cơ cấu kinh tế giữa các ngành
kinh tế, các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế ở các vùng đồng bằng ven biểnThừa Thiên Huế
- Phương pháp điều tra, thống kê: để rút ra những kết luận có tính khoa học và
khái quát cao trong việc xác định và đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế Trên cơ sở đó
đề tài đề xuất các giải pháp cụ thể trên giác độ vĩ mô và vi mô với địa phương
Trang 16Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp chuyên gia, tổ chức các hộithảo, các buổi toạ đàm khoa học, các buổi thảo luận nhóm để thu thập ý kiến trựctiếp của các chuyên gia về thực trạng cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển ThừaThiên Huế.
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục xử lý các
số liệu điều tra khảo sát, đề tài kết cấu thành 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về xác định cơ cấu kinh tế.
Chương 2: Thực trạng cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển Tỉnh Thừa
Thiên Huế
Chương 3: Xác định cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển của Tỉnh Thừa
Thiên Huế giai đoạn 2011 - 2015 tầm nhìn đến 2020
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế
Sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia cũng như của một vùng là một trongnhững cơ sở quyết định sự ổn định về kinh tế và xã hội Yêu cầu của sự phát triển vàhội nhập quốc tế luôn luôn đòi hỏi một cơ cấu kinh tế hợp lý, xác định rõ mối quan hệgiữa các ngành, các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế… Những quan hệnày được biểu hiện cả về chất và lượng và luôn thay đổi cho phù hợp với yêu cầuphát triển kinh tế của đất nước và của địa phương trong từng thời kỳ
Khái niệm về cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn ở quan hệ giữa các ngành, cáclĩnh vực, mang tính cố định, mà luôn ở trong trạng thái động Nó tùy thuộc vàonhững điều kiện tất yếu, cụ thể theo không gian và thời gian
Đối với một vùng kinh tế, khái niệm kinh tế bao gồm ba nội dung chủ yếu: cơ cấukinh tế quốc dân, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế
Tùy thuộc góc độ mà quy mô của từng loại cơ cấu được thể hiện có tính tổngquát hoặc cụ thể Cơ cấu kinh tế ở một vùng lãnh thổ như vùng đồng bằng ven biểntỉnh Thừa Thiên Huế sẽ cụ thể hơn, chi tiết hơn so với cơ cấu toàn bộ nền kinh tếquốc dân có tính bao quát Tuy vậy, cơ cấu kinh tế vẫn thể hiện chủ yếu ở ba loạinội dung trên
Nội dung chính của cơ cấu kinh tế là xác định các bộ phận hợp thành và quan
hệ tỷ lệ giữa các bộ phận đó, đồng thời đề ra xu hướng phát triển giữa các bộ phận.Như vậy, xác định cơ cấu kinh tế cho một vùng đã bao hàm cả chuyển dịch cơcấu kinh tế Muốn xác định cơ cấu kinh tế phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, điềukiện kinh tế - xã hội - chính trị ở trong nước và chính sách phát triển kinh tế, đốingoại của đất nước
1.1.1.2 Tiêu chí xác định cơ cấu kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế thích ứng nhất với các điều kiện cụthể và đem lại hiệu quả kinh tế nhất định và phát triển bền vững
Trang 18Nói chung một cơ cấu kinh tế có hiệu quả phải tạo ra sự ổn định, tăng trưởng
và phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội Điều này được biểu hiện:
Một là, khai thác tối đa những ưu thế và thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên
trong vùng như: đất đai, địa hình, mặt nước, khí hậu, vị trí địa lý, ưu thế truyềnthống, tiềm năng vốn có về xã hội, chính trị, kể cả những ảnh hưởng từ các cơ hội,thách thức do hội nhập, mở cửa nền kinh tế mang lại
Hai là, cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các địa
phương phát triển với số lượng và sản phẩm, dịch vụ đa dạng, phong phú, đảm bảonhu cầu tiêu dùng của nhân dân và nhu cầu cho xuất khẩu
Ba là, bảo đảm và tạo điều kiện thúc đẩy phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng
và mỗi thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế hợp lý phải làm sao tạo khả năng pháttriển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường
Bốn là, nâng cao mức sống của mỗi người lao động tiến tới tạo tích lũy nhiều
nhất cho địa phương và cho nền kinh tế Đây là tiêu chuẩn tổng hợp Nó chứng tỏnền kinh tế vùng phát triển và tăng trưởng cao
Đối với vùng đồng bằng ven biển ở nước ta nói chung và ở tỉnh Thừa ThiênHuế nói riêng, cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao phải là mục tiêu phấn đấucho những ngành, những vùng có nhiều ưu thế, không những có khả năng bù đắpcho những ngành, những vùng không có điều kiện phát triển, tích lũy, mà còn gópphần làm tăng tích lũy cho ngân sách của địa phương và cả nền kinh tế
1.1.2 Mục tiêu và căn cứ đánh giá việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.2.1 Mục tiêu đánh giá việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Khi xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho vùng đồng bằng ven biểnphải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế Về mặt hiệu quả kinh tế, việc xây dựng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế phải xóa bỏ được tính tự túc, tự cấp, tạo ra nhiều sảnphẩm hàng hóa có chất lượng tốt, giá thành hạ, năng suất lao động cao Muốn vậy,khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo các yêu cầu về lựa chọn ngành nghề,cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường trongnước (tỉnh) và thị trường xuất khẩu, đưa lại giá trị cao tính trên mỗi đơn vị diện tíchđất đai nông nghiệp Ở đây, đòi hỏi chuyển từ cơ cấu kinh tế mang tính tự túc tự cấpsang cơ cấu kinh tế sản xuất hàng hóa và xuất khẩu
Trang 19b Khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho vùng đồng bằng ven biển không nhữngchỉ chú ý hiệu quả kinh tế (kinh doanh) mà còn phải đảm bảo cả về mặt hiệu quả xãhội Hiệu quả xã hội đòi hỏi chúng ta phải thực hiện cho được hai yêu cầu lớn.Trước hết, cơ cấu kinh tế phải tạo ra được việc làm cho người lao động trong nôngnghiệp và nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đời sốngcho người lao động và nhân dân mà hiện nay ở vùng đồng bằng ven biển còn thấp.Mặt khác, việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng yêu cầuphân công lại lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng xây dựng nôngthôn mới Hiện nay, ở vùng đồng bằng 34 xã ven biển Thừa Thiên Huế lao động nôngnghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu (xem bảng 1.1) Trong nhiều xã, lao động nông nghiệp
tỷ trọng còn cao hơn nhiều, lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ bé
Bảng 1.1: Cơ cấu lao động theo ngành vùng đồng bằng ven biển
Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2010
Nguồn: Kết quả điều tra, Viện nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, năm 2010
Cơ cấu lao động xã hội như trên là lạc hậu, ảnh hưởng đến tăng năng suất laođộng, tích lũy và đời sống Giải quyết tốt việc làm sẽ góp phần tạo lập nên những vùngdân cư ổn định, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào Đồng thời góp phầncủng cố an ninh quốc phòng ở các vùng ven biển, hải đảo Tổ quốc
c Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải cải thiện và nâng cao môi trường sinhthái Đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng ở một vùng nhiệt đới nước ta như ThừaThiên Huế, bão lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra, chịu tác động lớn của biến đổi khíhậu làm cho đất đai bị xói mòn, cát hóa đồng ruộng, khí hậu thủy văn xấu đi do tệnạn phá rừng nghiêm trọng Muốn thực hiện tốt tình hình trên phải có sự kết hợpchặt chẽ giữa các ngành nông, ngư, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong vùng Mặtkhác, phải có chế độ canh tác hợp lý ở các vùng ven biển, phát triển mạnh kinh tếbiển đến việc bố trí cây trồng thích hợp Đồng thời phải bố trí quy hoạch giao thông,thủy lợi, dịch vụ hậu cần biển phù hợp với địa phương trong vùng
Trang 20d Trong điều kiện hội nhập và mở cửa thị trường, việc chuyển dịch cơ cấukinh tế phải thực hiện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn mà nộidung của nó là theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹthuật phục vụ nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nâng cao trình độ văn hóa, khoahọc, công nghệ cho người lao động, áp dụng phương pháp sản xuất và phương phápquản lý kinh doanh nông - ngư nghiệp theo kiểu công nghiệp kết hợp hiện đại vớitruyền thống trong sản xuất và trong quản lý.
1.1.2.2 Yêu cầu quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Quá trình phát triển hoạt động kinh tế ở vùng đồng bằng ven biển, trong đó cócác ngành, các vùng và các thành phần kinh tế không phải bao giờ cũng đồng đều
và nhịp nhàng với nhau, vì trong quá trình ấy có nhiều yếu tố tác động đến xuhướng phát triển của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực Vì vậy, cơ cấu kinh tế cũng có sựchuyển dịch song với mức độ phức tạp khác nhau Điều chỉnh cơ cấu kinh tế chỉdiễn ra khi:
- Có những thay đổi lớn về điều kiện phát triển
- Có những khả năng và giải pháp mới làm thay đổi phương thức khai thác cácđiều kiện hiện tại của từng địa phương trong vùng
- Trong mối quan hệ phát triển giữa các bộ phận của cơ cấu kinh tế có nhữngtrở ngại dẫn đến hạn chế lẫn nhau, làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của vùng
và lãnh thổ
Yêu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế hiện nay:
Để đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở cửa thị trường hàng hóadịch vụ, chuyển nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất hàng hóa với nhiềuthành phần và loại hình tổ chức đòi hỏi phải thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, xây dựng nông thôn mới Quá trình này phải nhằm:
Một là, sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh Chẳng hạn, vùng đồng bằng ven
biển tỉnh Thừa Thiên Huế không chỉ là một vùng có tiềm năng về kinh tế biển, nôngnghiệp và có chất lượng so với nhiều địa phương khác, mà còn là nơi du lịch sinhthái, thừa hưởng sự lan tỏa của di sản thế giới cố đô Huế với các làng nghề nổitiếng Nếu biết khai thác lợi thế so sánh này, thì vùng đồng bằng ven biển ThừaThiên Huế không chỉ là trở thành vùng kinh tế phát triển, mà còn là một khu du lịch
vệ tinh, vùng thực phẩm hậu cần cho cố đô Huế
Trang 21Hai là, khai thác tối đa tiềm năng Đây là điều kiện thuận lợi cần phải có biện
pháp đúng đắn và mạnh dạn
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển,trong khi đó nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu lại có tính thường xuyên, nênthực tế sản xuất hàng hóa không đáp ứng nhu cầu Tình hình đó đòi hỏi phải pháttriển toàn diện vùng đồng bằng ven biển, xóa đói giảm nghèo ở một số xã trong vùng
Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tạo nên khối lượng nông sản hàng
hóa nhiều hơn, góp phần tích lũy ngày càng lớn trong vùng và toàn bộ nền kinh tếtrên địa bàn tỉnh theo mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứXIV đã đề ra
Bốn là, điều chỉnh cơ cấu kinh tế có nhiệm vụ quan trọng góp phần vào việc
phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội trong toàn vùng
Năm là, kết hợp kinh tế trong vùng với toàn bộ nền kinh tế trên địa bàn tỉnh và
nền kinh tế cả nước, kinh tế khu vực và kinh tế thế giới
1.2 VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ1.2.1 Vai trò của việc xác định cơ cấu kinh tế
1.2.1.1 Định hướng xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đạt hiệu quả cao
Kết cấu hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất - kỹ thuật mà kết quả hoạt độngcủa nó là những dịch vụ có chức năng phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất và đờisống dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định
Kết cấu hạ tầng là một yếu tố cấu thành nên cơ cấu kinh tế của vùng Việc xácđịnh cơ cấu kinh tế tổng thể sẽ giúp định hướng thống nhất cho xây dựng một hệthống kết cấu hạ tầng đạt hiệu quả cao Hệ thống kết cấu hạ tầng hiệu quả được biểuhiện thông qua việc cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất và đờisống Nó tạo điều kiện thuận lợi khai thác các nguồn tài nguyên quy tụ trên vùng.Thiếu kết cấu hạ tầng hoặc phát triển kết cấu hạ tầng không đồng bộ đều ảnh hưởngkhông tốt đến sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Kết cấu hạ tầng được chia thành các loại sau:
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật: là những công trình vật chất - kỹ thuật phục vụ trựctiếp cho quá trình sản xuất diễn ra trong vùng Đó là các cơ sở của các ngành nhưgiao thông, điện, nước sạch, thoát nước, thông tin liên lạc, hệ thống đê điều, hệthống thủy lợi…
Trang 22- Kết cấu hạ tầng xã hội: là những công trình vật chất - kỹ thuật phục vụ trựctiếp cho đời sống, sinh hoạt của công đồng dân cư trong vùng Đó là các công trìnhvăn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao…
- Kết cấu hạ tầng môi trường: là công trình vật chất - kỹ thuật phục vụ chocông tác bảo vệ môi trường Đó là các công trình xử lý chất thải rắn, nước thải, xử
lý ô nhiễm không khí, hệ thống quan trắc môi trường…
- Kết cấu hạ tầng thiết chế: bao gồm các viện, trung tâm, trường đào tạo vànghiên cứu khoa học - kỹ thuật, các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chínhtrị - xã hội…
1.2.1.2 Nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp
Quá trình phát triển các cơ sở của ngành luôn gắn liền với việc xây dựng cácdoanh nghiệp, các chi nhánh, phân xưởng, cửa hàng đại lý… Đối với mỗi doanhnghiệp, nếu lựa chọn địa điểm bố trí doanh nghiệp hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợicho doanh nghiệp hoạt động tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Xuất phát từ những yêu cầu, ý nghĩa đó, việc định hướng không gian của cơ sởngành là quá trình lựa chọn vùng và địa diểm bố trí doanh nghiệp nhằm đảm bảothực hiện mục tiêu chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với quy hoạch,xác định cơ cấu của vùng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung.Với mỗi loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau thì mục đích xác định vị trídoanh nghiệp cũng khác nhau: Đối với doanh nghiệp hoạt động với mục đích tối đahoá lợi nhuận thì địa điểm bố trí doanh nghiệp phải đảm bảo nâng cao khả năngcạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, do đó các mục tiêu định vị sẽ thể hiện những
ưu trội có được do xác định cơ cấu kinh tế vùng mang lại:
- Tăng doanh số bán hàng của doanh nghiệp
- Mở rộng thị trường (thị trường cung ứng và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra)
- Huy động được các nguồn lực tại chỗ cho họat động doanh nghiệp
- Hình thành cơ cấu sản xuất hợp lý, hiệu quả
- Tận dụng được những thuận lợi từ môi trường kinh doanh
Đối với các doanh nghiệp hoạt động có tính chất công ích, mục tiêu quantrọng nhất của định vị doanh nghiệp là đảm bảo sự cân đối giữa chi phí lao động xãhội cần thiết và mức thoả dụng nhu cầu khách hàng về các dịch vụ cung cấp côngcộng nhằm đảm bảo phục vụ tốt nhất cho sản xuất và đời sống dân cư trong xã hội
Trang 23Như vậy, việc xác định đúng vị trí bố trí doanh nghiệp là hết sức cần thiết và có
ý nghĩa cho phát triển lâu dài đối với doanh nghiệp và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, xácđịnh vị trí doanh nghiệp là một công việc phức tạp, nếu bố trí sai sẽ khó sửa chữahoặc khắc phục rất tốn kém Vì thế trong quá trình lựa chọn vị trí doanh nghiệp cầnphân tích một cách đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng như quy hoạch ngành, quy hoạchvùng, yếu tố vận chuyến đầu vào, đầu ra
1.2.1.3 Tạo dựng tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững
a) Phân bố hợp lý dân cư và nguồn lao động
Trong vùng kinh tế, dân cư và nguồn lao động đóng vai trò hai mặt: một mặt
là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, trực tiếp tham gia vào sản xuất tạo ra củacải vật chất cho xã hội, nhưng đồng thời mặt khác lại là người trực tiếp tiêu dùngnhững của cải vật chất ấy
Với tư cách là một yếu tố của quá trình sản xuất, dân cư và nguồn lao động cóảnh hưởng rất lớn đến quy mô, cơ cấu kinh tế của vùng, đến sự phát triển các đô thi,khu dân cư nông thôn Tất cả những vấn đề này đều chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu kinh
tế đã được xác định của vùng Với tư cách là yếu tố của quá trình tiêu dùng, dân cư
và nguồn lao động lại có ảnh hưởng đến lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ trongvùng Đến lượt mình, nhu cầu tiêu dùng của dân cư và lao động lại là động lực trựctiếp thúc đẩy phát triển sản xuất của vùng theo hướng chuyên môn hóa hay pháttriển tổng hợp
b) Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố quyết định đến việc hình thành và pháttriển cơ cấu ngành và cơ cấu không gian của vùng Trong điều kiện khoa học, côngnghệ phát triển thấp, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản quyết định cơ cấu sảnxuât của vùng, do đó ảnh hưởng đến cơ cấu dân cư và lao động
Quá trình phát triển kinh tế là quá trình làm thay đổi đối tượng lao động, biến cáctài nguyên thiên nhiên thành các sản phẩm tiêu dùng phục vụ nhu cầu con người Khibước vào công nghiệp hóa, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao thường dẫn đến sửdụng cạn kiệt tài nguyên, chất thải rắn, chất thải khí tăng lên gây ra nạn ô nhiễm môitrường Việc phát triển kinh tế ồ ạt, công nghiệp hóa bằng bất cứ giá nào đã ảnh hưởngđến môi trường dưới các tác hại sau:
- Nạn tàn phá rừng gây hiện tượng sa mạc hóa đất đai canh tác, làm thay đổikhí hậu, thời tiết, thiên tai hạn hán, lũ lụt tăng lên
Trang 24- Do công nghiệp và giao thông phát triển, các loại nhiên liệu như dầu lửa,than đá được sử dụng ngày càng nhiều đã thải vào khí quyển một lượng khổng lồkhí cacbonic và các loại khí độc hại khác làm suy giảm tầng ô zôn Do vậy, khảnăng ngăn cản tia cực tím của tầng bình lưu giảm, tác hại đến sự sinh trưởng củacác loài động thực vật và cũng là nguyên nhân gây bệnh ung thư da cho con người
- Các hỗn hợp khí có chứa lưu huỳnh thải vào khí quyển đã tạo ra các trậnmưa axit phá hoại các thảm thực vật và các sinh vật sống dưới nước, ảnh hưởng đếnsức khỏe con người
- Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản với việc sử dụng nguyên liệu, thức ăn khôngđảm bảo tiêu chuẩn, quy trình là tác nhân gây hủy hoại môi trường
- Sự săn bắn thú rừng, đánh bắt thủy hải sản bừa bãi làm cho nguồn lợi sinhvật nhanh chóng bị cạn kiệt, gây ra tình trạng mất cân bằng sinh thái
Như vậy, việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên luôn gắn bó hữu cơvới bảo vệ môi trường sinh thái Vì thế, cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật,chính sách về khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tổ chức thực thi có hiệulực luật pháp đã ban hành Một mặt, sử dụng các biện pháp sinh học để tái tạo, nângcao độ phì nhiêu của đất đai, duy trì và phát triển các loại thực vật, động vật, đảmbảo sự ổn định và cân bằng sinh thái Mặt khác, sử dụng các thành tựu khoa học,công nghệ tiên tiến để khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồnnước, xử lý các chất thải rắn; sử dụng các loại thiết bị lọc bụi, giảm thanh, chốngbức xạ, phóng xạ Biện pháp tích cực nhất là thực hiện trồng nhiều cây xanh
1.2.2 Nội dung của việc xác định cơ cấu kinh tế
1.2.2.1 Các xu hướng chuyển dịch cơ cầu kinh tế của vùng
Việc phân tích xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có vai trò rất quan trọng,
vì chỉ có lựa chọn và vận dụng các xu hướng chuyển dịch hợp lý mới đem lại một
cơ cấu hiệu quả cho nền kinh tế Trong xác định cơ cấu kinh tế có thể xem xét trênhai góc độ: “đóng” hoặc “mở”
a Cơ cấu kinh tế đóng
Theo quan điểm này, xác định cơ cấu kinh tế của vùng sẽ được hình thành dựavào xu hướng cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của mỗi vùng Điều đó có nghĩa là cơ cấusản xuất trùng với cơ cấu tiêu dùng cả về số lượng, chủng loại, quy mô… Đây là xuhướng phát triển kinh tế hướng nội và vấn đề xuất nhập khẩu không phải là mụctiêu phát triển của vùng
Trang 25Nếu xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng đóng, có các ưu điểm sau:
- Giúp vùng tránh được những ảnh hưởng tiêu cực của những biến động thịtrường bên ngoài như sự biến động về giá cả, về nhu cầu của thị trường, về khảnăng thu hút vốn đầu tư…
- Ngoài ra xu hướng này sẽ tạo ra một nền kinh tế có khả năng tự vận động,độc lập và hạn chế sự phụ thuộc vào bên ngoài
Nếu xét trên phạm vi quốc gia, cơ cấu theo xu hướng đóng thường phù hợpđối với các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây Bởi vì, nó tạo ra một nềntảng vững chắc cho sự đảm bảo sự độc lập chính trị, nhất là đối với các nước mớidành được độc lập, vừa thoát ra khỏi chiến tranh
Tuy nhiên, đối với phạm vi của mỗi vùng, mỗi địa phương thì khó xác định cơcấu kinh tế đóng, do tính thống nhất về thể chế chính trị mà mỗi quốc gia quy định
Do đó, độ mở của kinh tế vùng, kinh tế địa phương bao giờ cũng lớn hơn độ mở củanền kinh tế quốc gia
Xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng đóng đã bộc lộ những yếu điểm rất lớn,cần phải cân nhắc kỹ lưỡng:
- Xu hướng này sẽ đưa nền kinh tế đến chỗ khép kín và cách biệt với thế giớibên ngoài Điều này chẳng những đi ngược với xu hướng khu vực hóa, toàn cầuhóa, mà trong lúc nền kinh tế tìm cách tránh những tác động tiêu cực của bên ngoài,thì vô tình đã bỏ qua những ảnh hưởng tích cực, những cơ hội do bên ngoài mangđến như: những cơ hội thị trường, thu hút vốn đầu tư, áp dụng khoa học côngnghệ…nhằm khai thác một cách có hiệu quả hơn các nguồn lực bên trong
- Trong nội bộ nguồn lực của một nền kinh tế, rất khó có đủ khả năng về nhântài, vật lực để có thể thực hiện được các mục tiêu cơ cấu đã xác định ban đầu
Cách tiếp cận xác định cơ cấu kinh tế của một vùng theo xu hướng đóng sẽlàm phân tán các nguồn lực phát triển vốn đã rất có hạn, lại không tận dụng đượccác lợi thế, cũng như không thu hút được các nguồn lực, các cơ hội từ bên ngoài Vìvậy, cần phải tìm ra một xu hướng mới phù hợp hơn
b Cơ cấu kinh tế mở
Quan điểm này ngược với cách xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng đóng.Nghĩa là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng củavùng, của địa phương mà chủ yếu dựa vào tiềm lực phát triển các ngành kinh tếtrong vùng Như vậy, cơ cấu sản xuất sẽ khác với cơ cấu tiêu dùng
Trang 26Tổ chức mô hình cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng mở có thể được mô tảtheo hình 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Nội dung tổ chức cơ cấu ngành kinh tế
Qua hình này, ta thấy:
Thứ nhất, xác định các ngành “cực tăng trưởng” hay còn gọi là các ngành
chuyên môn hóa sâu, các ngành chủ chốt Đây phải là những ngành có phạm vitiêu thụ chủ yếu ngoại vùng, ngoại tỉnh và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngànhkinh tế
Thứ hai, xác định các ngành bổ trợ, tức là các ngành tạo điều kiện cho ngành
“cực tăng trưởng” phát triển mạnh Đây chính là các ngành có mối quan hệ ngượcvới ngành chuyên môn hóa
Thứ ba, xác định các ngành phụ trợ, tức là các ngành mang tính tận dụng năng
lực thừa của ngành chuyên môn hóa hay là các ngành sử dụng phế liệu của ngànhchuyên môn hóa
Thứ tư, xác định một số ngành mang tính “hậu cần tại chỗ” cho địa phương.
Đó là các ngành phục vụ các nhu cầu thuộc về tập quán tiêu dùng của địa phương,các hàng hóa vận chuyển và bảo quản khó khăn
Ngành bổ trợ
Ngành hậu cần tại chỗ
Ngành phụ
Ngành cực tăng trưởng (ngành chuyên môn hóa)
Trang 27Xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng mở ngày càng được áp dụng rộng rãi đốivới các quốc gia và các địa phương, bởi những ưu điểm do nó mang lại:
- Cơ cấu kinh tế mở sẽ tạo điều kiện khai thác và sử dụng triệt để các nguồnlực như: đất đai, lao động, tài nguyên khoáng sản, tiền vốn…
- Tùy thuộc vào đặc điểm về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của mỗivùng, mỗi địa phương mà trong quá trình phát triển sẽ tìm ra các ngành kinh tế có
ưu việt hoặc có những lợi thế hơn so với các vùng, các địa phương khác Các ngànhnày sẽ đóng vai trò là “cực tăng trưởng” không chỉ của địa phương, mà có thể là củatoàn ngành, đem lại lợi ích rất lớn cho nền kinh tế của vùng và của quốc gia
- Xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng mở sẽ tạo động lực kích thích tínhcạnh tranh mạnh mẽ, thúc đẩy các ngành kinh tế hoạt động hiệu quả hơn Các ngành
có khả năng cạnh tranh kém sẽ bị thải loại và ngược lại, các ngành có khả năngcạnh tranh cao sẽ tồn tại và phát triển tốt Do đó, vùng hay địa phương sẽ dần cóđược một cơ cấu kinh tế hợp lý
Bất lợi lớn nhất của quan điểm xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng mởchính là ở chỗ nền kinh tế luôn phải chịu tác động mạnh mẽ của những biến đổi từmôi trường bên ngoài, cũng như những áp lực cạnh tranh do bên ngoài mang lại.Tuy nhiên, đó cũng lại là điều kiện để có thể xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệuquả hơn
Với những ưu điểm nổi trội, quan điểm xác định cơ cấu kinh tế theo xu hướng
mở được thừa nhận và được áp dụng một cách rộng rãi đối với các nhà quản lý vàhoạch định chính sách
1.2.2.2 Tổng quan các loại hình cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể nềnkinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượnggiữa các bộ phận với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điềukiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụthể Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyểndịch cơ cấu kinh tế là thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình phát triển Việc đánhgiá sự phát triển kinh tế chúng ta cần xem xét một cách toàn diện các góc độ của cơcấu kinh tế
Trang 28a Cơ cấu ngành kinh tế
Về lý thuyết, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện cả mặt định lượng và định tính.Mặt định lượng chính là quy mô và tỷ trọng chiếm về GDP, lao động, vốn của mỗingành trong tổng thể kinh tế quốc dân Mặt định tính thể hiện vị trí và tầm quantrọng của mỗi ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân Các nước đang phát triển cóxuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nôngnghiệp của các nước này thường chiếm từ 20 - 30% GDP Trong khi đó ở cácnước phát triển, tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp chỉ chiếm từ 1 - 7% Bảng 1.2 sẽminh hoạ cơ cấu ngành kinh tế năm 2005 theo từng nhóm nước với các mức độthu nhập khác nhau
Bảng 1.2: Cơ cấu ngành theo GDP cho một số nhóm nước
Đơn vị tính: %
Nhóm nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
1 Các nước thu nhập cao
2 Các nước thu nhập trung bình
27382549252529
71515038526857
Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới 2005, ngân hàng thế giới
Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều có sựchuyển đổi theo một xu hướng chung là tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm đi,trong khi đó tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên.Sau 25 năm, cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam tuy có chuyển dịch nhưng vớitốc độ chậm và có đặc điểm khá khác biệt so với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của các nước Tỷ trọng ngành Nông nghiệp giảm xuống hơn 18% trong cả thời
kỳ, tỷ trọng ngành Công nghiệp tăng lên với nhịp độ tương ứng, trong khi tỷ trọngngành Dịch vụ hầu như không có thay đổi là mấy, dao động ở mức trên 38% trongtổng GDP (kéo dài gần một thập kỷ) Đây là một dấu hiệu cho thấy, ngành Dịch vụtăng trưởng với tốc độ chậm, xấp xỉ tốc độ tăng trung bình của hai ngành Nôngnghiệp và Công nghiệp hợp lại (Xem bảng 1.3)
Trang 29Bảng 1.3: Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Việc chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp còn chậm là mộtđiểm yếu của nước ta so với một số nước trong khu vực Nếu cứ tiếp tục theo đuổi
mô hình tăng trưởng dựa trên lợi thế so sánh tĩnh như hiện nay thì Việt Nam khó cóthể duy trì được mức tăng trưởng cao trong dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh hộinhập và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng
b Cơ cấu vùng kinh tế
Sự phát triển kinh tế được thể hiện ở cơ cấu vùng kinh tế theo góc độ thành thị
và nông thôn Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông thôn chiếm rất cao Theo sốliệu của WB vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, 45 nước có mức thu nhập thấp,
tỷ trọng dân số nông thôn chiếm 72%, còn 63 nước có mức thu nhập tiếp theo, con
số này là 65% Trong khi đó các nước phát triển có hiện tượng đối ngược lại, 80%dân số sống ở khu vực thành thị
Một xu hướng khá phổ biến của các nước đang phát triển là luôn có một dòng didân từ nông thôn ra thành thị Đó là kết quả của cả "lực đẩy" từ khu vực nông thônbởi sự nghèo khổ cũng như sự thiếu thốn đất đai ngày càng nhiều và cả "lực hút" từ
sự hấp dẫn của khu vực thành thị Dòng di dân ngày càng lớn đã tạo ra áp lực rấtmạnh đối với chính phủ các nước đang phát triển Mặt khác, việc thực hiện các chínhsách công nghiệp hoá nông thôn, đô thị hoá, phát triển hệ thống công nghiệp, dịch vụnông thôn làm cho tỷ trọng kinh tế thành thị ở các nước đang phát triển ngày càngtăng lên, tốc độ tăng dân số thành thị cao hơn so với tốc độ tăng trưởng dân số chung
và đó chính là xu thế hợp lý trong quá trình phát triển Ở Việt Nam số liệu thống kêgần đây cho thấy trong khi tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên bình quân năm làkhoảng 1,7% thì tốc độ tăng dân số khu vực thành thị khoảng 2,5%
Trang 30c Cơ cấu thành phần kinh tế
Đây là dạng cơ cấu phản ánh tính chất xã hội hoá về tư liệu sản xuất và tàisản của nền kinh tế Xét về nguồn gốc thì có 2 loại hình sở hữu là sở hữu côngcộng và sở hữu tư nhân Nhìn chung các nước phát triển và xu hướng ở các nướcđang phát triển, khu vực kinh tế tư nhân thường chiếm tỷ trọng cao và nền kinh tếphát triển theo con đường tư nhân hoá Ở nước ta, một thời gian dài tồn tại 6 thànhphần kinh tế là: thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thànhphần kinh tế cá thể, tiểu chủ, thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế
tư bản nhà nước và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phầnkinh tế nói trên không có sự phân biệt về thái độ đối xử, đều có môi trường vàđiều kiện phát triển như nhau, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Saunhiều năm thực hiện đổi mới, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có xu hướng phát triển tốt, đóng góp một phầnkhá lớn vào kinh tế đất nước Để tránh sự phân biệt đối xử, theo thành phần kinh
tế, hiện nay người ta phân thành khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh và khu vực kinh tế FDI
d Cơ cấu khu vực thể chế
Theo dạng cơ cấu này, nền kinh tế được phân chia dựa trên cơ sở vai trò các
bộ phận cấu thành trong sản xuất kinh doanh và qua đó đánh giá được vị trí của mỗikhu vực trong vòng luân chuyển nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trong quátrình thực hiện sự phát triển nền kinh tế Các đơn vị thể chế thường trú trong nềnkinh tế được chia thành 5 khu vực: Khu vực chính phủ bao gồm tất cả các hoạt độngđược thực hiện bằng ngân sách Nhà nước, khu vực tài chính, khu vực phi tài chính,khu vực hộ gia đình và khu vực vô vị lợi phục vụ hộ gia đình bao gồm các tổ chứchoạt động với mục đích từ thiện, phi lợi nhuận Mục tiêu của khu vực chính phủ làbảo đảm các hoạt động công cộng, tạo điều kiện bình đẳng cho các khu vực thể chế
và thực hiện công bằng xã hội Các đơn vị thuộc khu vực phi tài chính thực hiệnchức năng sản xuất hàng hoá và dịch vụ bán trên thị trường và với mục tiêu tối đahoá lợi nhuận trên thị trường hàng hoá và dịch vụ Khu vực tài chính cũng thực hiệnmục tiêu tối đa hoa lợi nhuận nhưng ở trên thị trường tài chính Các hộ gia đình hoạtđộng theo mục tiêu khác với các khu vực trên, chức năng và hành vi của họ là tiêudùng, tuy vậy họ cũng có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất dưới hình thứccung cấp sức lao động cho các doanh nghiệp hoặc tự sản xuất dưới dạng các đơn vịsản xuất cá thể Các tổ chức vô vị lợi phục vụ hộ gia đình với nguồn tài chính quyên
Trang 31góp tự nguyện như các tổ chức từ thiện, cứu trợ, các tổ chức giúp đỡ người tàn tật,v.v theo đuổi mục tiêu phục vụ không vì lợi nhuận, cung cấp hàng hoá và dịch vụthẳng cho các hộ gia đình không lấy tiền hoặc lấy với giá không có ý nghĩa kinh tế
e Cơ cấu tái sản xuất
Đây là cơ cấu kinh tế hiểu theo góc độ phân chia tổng thu nhập của nền kinh tếtheo tích luỹ - tiêu dùng Phần thu nhập dành cho tích luỹ tăng lên và chiếm tỷ trọngcao là điều kiện cung cấp vốn lớn cho quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh
tế Tỷ trọng thu nhập dành cho tích luỹ ngày càng cao chính là xu thế phù hợp trongquá trình phát triển, tuy vậy việc gia tăng tỷ trọng thu nhập dành cho tích luỹ tái đầu
tư phải có tác dụng dẫn đến gia tăng mức thu nhập dành cho tiêu dùng cuối cùngtrong tương lai vì đó là kết quả của quá trình tích luỹ Theo số liệu thống kê năm
2003 (Báo cáo phát triển thế giới 2005), Trung Quốc đã dành 42% thu nhập cho tíchluỹ, ở Hàn Quốc là 29%, Ấn Độ là 24%
Việt Nam trong những năm gần đây đã có những xu hướng tích cực trong việcgiải quyết mối quan hệ giữa tích luỹ với tiêu dùng Tỷ lệ tích luỹ nội bộ trong thunhập đã có xu hướng ngày càng tăng lên, năm 2000 con số này là 27,1%, thì năm
2010 đã lên tới 35,0% Cùng với sự gia tăng của tỷ trọng thu nhập dành cho tích luỹ,tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng ở Việt Nam cũng có xu thế tăng nhanh hơn tốc độtăng dân số Với con số tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng năm 2010theo giá thực tế 1.561,6 nghìn tỷ đồng tăng 24,5% (14% nếu loại trừ yếu tố giá) sovới năm 2009, tiêu dùng cuối cùng luôn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu GDP.Trong đó, tiêu dùng tư nhân chiếm tới trên 60% GDP, giữ vai trò chính trong tạođộng lực tăng trưởng
f Cơ cấu thương mại quốc tế
Trong quá trình phát triển kinh tế, những câu hỏi thường đặt ra đối với mỗinước là: nền kinh tế của quốc gia đã "mở" chưa, mở như thế nào và tính chất củahoạt động xuất nhập khẩu
Nhìn chung tất cả các nước giàu hay nghèo đều tham gia một cách đáng kểvào thương mại quốc tế Tuy vậy, thành phần hoạt động ngoại thương là dấu hiệuđánh giá sự phát triển của mỗi nước Các nước đang phát triển thường xuất khẩunhững sản phẩm thô như: nguyên liệu, nông sản, thực phẩm hay những sản phẩmthuộc các ngành dệt, may, công nghiệp nhẹ còn các nước phát triển thường xuấtkhẩu chủ yếu các sản phẩm chế biến, các hàng hoá vốn hay những hàng hoá lâu
Trang 32bền Cơ sở lý giải cho xu hướng này chính là lý thuyết về lợi thế so sánh Theo đó,các nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các hàng hoá mà nước đó có lợithế tương đối về chi phí sản xuất các mặt hàng đó Các nước đang phát triển trongkhi xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô với giá trị thấp thì lại phải nhập khẩu mộtkhối lượng lớn cả hàng hoá là nguyên liệu đầu vào, hàng hóa vốn cũng như một sốhàng hoá tiêu dùng cuối cùng Kết quả là ở các nước này, luôn phải chấp nhận tìnhtrạng thâm hụt thương mại quốc tế Tuy vậy, theo xu thế phát triển của mỗi nước,nền kinh tế có xu hướng mở ngày càng đa dạng, mức độ thâm hụt thương mại quốc
tế ngày càng giảm đi theo xu thế giảm dần tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá thô, hànghoá có dung lượng lao động cao và tăng dần các hàng hóa có giá trị kinh tế lớn.Ngoài các dạng trên, cơ cấu kinh tế của đất nước còn được hiểu theo nhữnggóc độ khác như: cơ cấu theo tính chất xã hội, cơ cấu theo tính chất kỹ thuật, theoquy mô sản xuất, v.v Mỗi dạng đều phản ánh những khía cạnh và tính chất của quátrình phát triển kinh tế mỗi quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ
1.3 PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN
1.3.1 Tổng quan về phát triển ngành sản xuất
1.3.1.1.Vai trò của ngành sản xuất đối với nền kinh tế
Các ngành sản xuất giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt
là đối với các nước đang phát triển Bởi vì ở các nước này đa số người dân laođộng trong các ngành sản xuất vật chất, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn Điềunày thể hiện rất rõ ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng ven biển tỉnh ThừaThiên Huế Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nhân dân, chính phủ
và chính quyền địa phương các cấp cần có sự quan tâm thích đáng và có chínhsách tác động vào sự phát triển của các ngành sản xuất để nâng cao năng suấtcũng như giá trị của các ngành này
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằngven biển thì một bộ phận lớn của dân số lao động chủ yếu làm việc trong cácngành sản xuất vật chất Vì vậy, vai trò giải quyết việc làm của các ngành sảnxuất là rất lớn Trước hết đối với ngành nông nghiệp với hơn 70% dân số ViệtNam, vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế là 60% thì đó quả là nguồn laođộng dồi dào Tuy rằng nhà nước Việt Nam có xu hướng chuyển dần một bộphận lao động của nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ thì vai trò
Trang 33của các ngành sản xuất đối với việc giải quyết việc làm cho người lao động vẫn
là rất lớn
Với đặc điểm của các nước đang phát triển, có tiền thân là các nước thuộcđịa, sau khi giành độc lập các quốc gia này khó khăn và thiếu thốn nên họ phảitập trung nguồn lực phát triển các ngành sản xuất đáp ứng được những yêu cầutrước mắt đó là những của sản phẩm tiêu dùng thiết yếu Do đó nền kinh tế củacác quốc gia này phụ thuộc rất lớn vào các ngành sản xuất Thu nhập của Chínhphủ, các doanh nghiệp, người lao động phụ thuộc rất lớn vào các ngành sản xuấtvật chất Do đó các ngành sản xuất là nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng củacác quốc gia đang phát triển
Các nguồn thu của các quốc gia đang phát triển phụ thuộc rất lớn vào sựtăng trưởng và phát triển của các ngành sản xuất vật chất Do đó nó cũng ảnhhưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân các quốc gia này
Khi các ngành sản xuất phát triển, sản xuất được nhiều hàng hoá chất lượngcao, đáp ứng được những nhu cầu trong nước và đủ tiêu chuẩn đem xuất khẩusang các quốc gia khác Các sản phẩm này lại mang về cho quốc gia một nguồnngoại tệ không nhỏ Nguồn ngoại tệ này là nguồn lực vô cùng quý giá, các quốcgia đang phát triển sử dụng nó để nâng cấp cơ sở hạ tầng vốn đã nghèo nàn lạchậu của mình, một phần trong số đó sẽ được các chính phủ của các quốc gia đemchi tiêu vào các hoạt động phúc lợi xã hội Qua đó người dân được hưởng nhiềuhơn các dịch vụ công mà Chính phủ mang lại cho họ
Về phía người lao động, khi các ngành sản xuất được phát triển, nguồn thunhập của họ cũng cải thiện đáng kể, và gần hơn nữa với mức thu nhập trung bìnhcủa thế giới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia Với nguồnthu nhập tăng thêm họ có điều kiện quan tâm đến sức khoẻ bản thân và gia đình,học vấn con cái Và cũng với khoản thu nhập tăng thêm này họ có điều kiệntiêu dùng những sản phẩm chất lượng cao mà trong nước sản xuất được cũngnhư nhập khẩu từ các quốc gia khác
1.3.1.2 Cơ cấu ngành và nội bộ ngành sản xuất
Loại cơ cấu này phản ánh số lượng và chất lượng cũng như tỉ lệ giữa cácngành và sản phẩm trong nội bộ ngành của nền kinh tế quốc dân Nền kinh tếquốc dân là hệ thống sản xuất bao gồm những ngành lớn như công nghiệp, nông
- lâm - ngư nghiệp, thương mại dịch vụ Trong mỗi ngành lớn lại hình thành các
Trang 34ngành nhỏ hơn thường gọi là các tiểu ngành Nhỏ hơn nữa là các ngành kinh tế
-kỹ thuật
a Các hướng phát triển ngành sản xuất
Khoa học kĩ thuật đã làm thay đổi những thói quen sản xuất, tiêu dùng củathế giới loài người trong thời gian qua Đối với đời sống dân sinh, khoa học kỹthuật đóng vai trò ngày càng lớn Các tiến bộ trong các lĩnh vực năng lượng, vậtliệu, điện tử - tin học, công nghệ sinh học trong thời gian qua đã mang lại chocon người những bước tiến dài trong quá trình phát triển Năng suất của cácngành tiếp tục tăng không giới hạn, chất lượng ngày càng cao, mẫu mã ngàycàng đổi mới và đổi mới với tốc độ chóng mặt
Thấy rõ được vai trò và vị trí của khoa học kĩ thuật trong quá trình pháttriển kinh tế nói chung cũng như đối với sự phát triển của các ngành sản xuất nóiriêng, Việt Nam phải có hướng đi riêng phù hợp với tình hình hình thực tế vàtrình độ phát triển của đất nước
Đặc điểm của công nghệ Việt Nam hiện nay là có trình độ thấp so với thếgiới Chúng ta lạc hậu từ 3 - 4 thế hệ công nghệ, hay chậm hơn từ 50 - 100 năm vềthời gian so với các nước công nghiệp trên thế giới So với các nước trong khuvực ASEAN công nghệ Việt Nam cũng lạc hậu từ 20 - 30 năm Để đổi mới côngnghệ cần có vốn, đây cũng là vấn đề nan giải của Việt Nam Nhưng chúng ta cótiềm năng về lao động, tài nguyên, vị trí địa lí của đất nước và có cơ hội tiếp thucông nghệ hiện đại của các nước đi trước
Lịch sử thế giới đã chứng kiến sự rút ngắn quá trình công nghiệp hoá quacác thời kỳ khác nhau Nếu nước Anh cần 120 năm, Tây Âu và Mỹ cần 80 năm,Nhật Bản cần 60 năm và các nước NICs châu á Hàn Quốc, Đài Loan, Singaporcần trên dưới 30 năm Lợi thế của các nước đi sau được thể hiện trên nhiều mặt:
về mặt công nghệ các nước đi sau không phải tập trung nhiều vốn và công sứcvào phát minh, quan trọng hơn là biết cách lựa chọn, tiếp thu, thích nghi và làmchủ các công nghệ sẵn có Những nước này có thể rút ngắn thời gian và mức độmạo hiểm khi sử dụng công nghệ mới Về mặt kinh tế, những nước này có thểlựa chọn công nghệ tiêu tốn ít năng lượng và nguyên liệu Về môi trường có thểrút kinh nghiệm bài học của những nước đi trước, có thể lựa chọn những côngnghệ phù hợp với điều kiện sinh thái của đất nước mình
Trang 35Tuy nhiên lịch sử cũng ghi nhận rằng, cùng trong những môi trường nhưnhau không phải tất cả các nước đi đầu về công nghiệp đều đưa đất nước pháttriển, rút hẹp khoảng cách công nghệ và kinh tế với các nước đi trước.
Phương hướng cơ bản phát triển công nghệ Việt Nam được xác định nhưsau: Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sản xuất, cácngành nghề truyền thống và dịch vụ có thể tận dụng lợi thế về lao động và tàinguyên Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành, các lĩnh vực sảnxuất then chốt có tác động sâu rộng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất và
có khả năng phát huy trong tương lai như các ngành điện tử - tin học, công nghệsinh học, vật liệu mới
Chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển ngành dịch vụ, công nghiệp chếbiến Với đặc điểm của Việt Nam hiện nay là hơn 70% dân số sinh sống ở nôngthôn và sản xuất nông nghiệp Trình độ sản xuất còn lạc hậu, tuy trong thời gianqua đã có những tiến bộ do khoa học công nghệ mang lại nhưng năng suất tínhtheo đầu người vẫn thấp do tỉ lệ người ở khu vực nông thôn quá cao mà lượngđất nông nghiệp có hạn Do đó chuyển lao động từ ngành có giá trị kinh tế thấp
là nông nghiệp sang các ngành có giá trị kinh tế cao là dịch vụ, thương mại, côngnghiệp, công nghiệp chế biến
Tuy lao động trong công nghiệp có hạn chế là trình độ văn hoá và chuyênmôn thấp nhưng có lợi thế là giá nhân công rẻ, chịu khó cần cù và ít đòi hỏi Đây
là một lợi thế lớn thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào đầu
tư phát triển Việc phát triển dịch vụ, thương mại, công nghiệp đã góp phầnkhông nhỏ vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, là mộtnguồn thu hút luồng di dân từ nông thôn, hình thành nên các khu công nghiệp,khu chế xuất và các đô thị cùng với các hoạt động dịch vụ kèm theo
Vì đặc điểm của lao động sản xuất nông nghiệp là thất nghiệp tương đốinên giải quyết thất nghiệp tại chỗ bằng việc phát triển tiểu thủ công nghiệp cũng
là một hướng đi đúng đắn Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp đã khẳng địnhđược vị trí và vai trò của mình trong thời gian qua Với lợi thế, giá trị hàng hoátiểu thủ công nghiệp cao, có giá trị xuất khẩu cao, giải quyết triệt để được tìnhtrạng thất nghiệp tương đối ở khu vực nông thôn, đem lại cho người lao độngnguồn thu nhập cao và ổn định hơn hẳn so với việc chỉ sản xuất nông nghiệp Vàhơn hết nó còn tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương
Trang 36Một trong những ngành đem lại giá trị xuất khẩu cao, có sức phát triểnmạnh mẽ trong thời gian qua và giành được sự quan tâm của nhà nước đó làngành thuỷ sản Những sản phẩm từ ngành thuỷ sản có giá trị cao trong xuấtkhẩu, đem lại nguồn thu lớn cho người lao động, cho các doanh nghiệp và chongân sách nhà nước Tuy thời gian gần đây gặp một số trở ngại mang lại donhững khó khăn trong việc tiếp cận thị trường ngoài nước Song ngành thuỷ sảnvẫn còn nhiều lợi thế và nếu có những điều chỉnh thích hợp từ phía các doanhnghiệp, từ phía nhà nước thì ngành thuỷ sản sẽ vẫn đóng vai trò quan trọng trongquá trình đổi mới của đất nước.
1.3.2 Phát triển kinh tế vùng ven biển
1.3.2.1 Ngành kinh tế vùng ven biển
a Ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản
Ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản có thể nói là một trong nhữngngành quan trọng nhất của kinh tế vùng ven biển Hoạt động đánh bắt và khaithác thuỷ sản có từ lâu đời, và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sốngcủa con người Hoạt động nuôi trồng mới xuất hiện gần đây do giá trị kinh tế củathuỷ sản là khá lớn và cũng do những tiến bộ về sinh học đã giúp người lao độnghiểu rõ về tập tính sinh hoạt, đặc điểm sinh học của thuỷ sản
Hoạt động khai thác thuỷ sản ở nước ta hiện nay vẫn ở trình độ thấp, quy
mô khai thác nhỏ lẻ Trình độ của người lao động chủ yếu hình thành trên cơ sởkinh nghiệm, cha truyền con nối Địa bàn đánh bắt gần bờ do các phương tiệnđánh bắt lạc hậu, tàu bè không thể ra khơi xa Chưa có sự hỗ trợ cần thiết củanhà nước trong vấn đề dự báo ngư trường, những thay đổi của tự nhiên dẫn đếnnhững thay đổi về ngư trường Do đó, chúng ta còn đang lãng phí nguồn tàinguyên quý giá này
Hoạt động nuôi trồng tuy mới phát triển mạnh trong một số năm gần đâynhưng lại là một lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, giải quyết công ăn việc làm và mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho ngườilao động Hoạt động nuôi trồng hiện nay của nước ta nói chung và vùng đầm phánói riêng là khá tốt, do chúng ta chủ động trong khoa học – kỹ thuật, tạo ra đượcnguồn con giống có chất lượng, tuyên truyền giáo dục được người lao động nắmbắt được quy trình sản xuất hiện đại Do đó năng suất là khá cao, giá trị kinh tếmang lại là rất lớn Tuy nhiên, một khó khăn nảy sinh mà nếu không có những
Trang 37chính sách giải quyết triệt để trong thời gian tới thì sẽ có ảnh hưởng nghiêmtrọng đến ngành nuôi trồng thuỷ sản Đó là vấn đề ô nhiễm, đặc biệt là môitrường nước của chúng ta đang ô nhiễm nghiêm trọng Các nguồn ô nhiễm chủyếu từ nguồn nước thải công nghiệp, từ lượng thuốc sâu, thuốc diệt cỏ mà nôngdân sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tạo ra.
b Công nghiệp cảng biển và hàng hải
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế thì công nghiệp cảng biển vàhàng hải là không thể thiếu Nó góp phần quan trọng trong việc giao lưu hànghoá, phát triển thương mại giữa các quốc gia và trong nội bộ một quốc gia Với
vị trí địa lí của Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng thì công nghiệpcảng biển và hàng hải còn có tiềm năng trở thành những ngành dịch vụ mang lạinguồn thu nhập lớn cho ngân sách nhà nước và tạo nhiều công ăn việc làm chongười lao động
Về cảng biển và hàng hải, địa lí Việt Nam mang lại nhiều thuận lợi ViệtNam có đường bờ biển dài trên 7000 km, Thừa Thiên Huế - 126 km, có nhiều vịtrí thuận lợi cho việc đặt cảng biển Việt Nam có nhiều cảng lớn có thể đón cáctàu có trọng tải lớn như: cảng Hải Phòng (Hải Phòng), cảng Cam Ranh (VũngTàu), cảng Cái Lân (Quảng Ninh), Cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế)
c Ngành khai thác muối
Ngành khai thác muối ra đời từ khá lâu, tuy giá trị kinh tế của ngành khôngcao nhưng ngành lại có vị trí khá quan trọng Khai thác muối cũng thu hút đượcmột số lượng lớn lao động dân cư ven biển Sản phẩm muối tuy giá trị kinh tếkhông cao nhưng lại là sản phẩm rất quan trọng trong cuộc sống và sản xuất Cácsản phẩm từ muối còn nằm trong chương trình y tế chống biếu cổ và còn cả trongsản xuất như đánh bắt cá
d Ngành du lịch biển và ven biển
Ngành du lịch nói chung và du lịch biển và ven biển nói riêng phát triển khiđời sống xã hội đã được nâng cao Nằm trong ngành dịch vụ và là ngành manglại cho ngân sách nhà nước những khoản thu lớn, giải quyết được một lượng lớnlao động, ngành du lịch biển có nhiều cơ hội để phát triển
Hàng năm, Thừa Thiên Huế đón hàng ngàn khách du lịch từ các nước trongkhu vực và trên thế giới Với lợi thế giá rẻ, du lịch Cố đô Huế và du lịch biển vàven biển nói riêng đang và sẽ là nguồn đem lại cho Tỉnh nguồn thu ngoại tệ lớn
Trang 38và ổn định Khi khách du lịch đến chúng ta còn có cơ hội xuất khẩu tại chỗ cácsản phẩm của chúng ta làm ra đặc biệt là các sản phẩm lưu niệm.
Ngành du lịch biển và ven biển là ngành có tiềm năng và cần phải phát triểnmạnh mẽ để tiếp tục là ngành thế mạnh của vùng ven biển Thừa Thiên Huế cólợi thế về đường bờ biển dài trên 120km, nhiều bờ biển đẹp có thể làm khu dulịch, đặc biệt là khu Lăng Cô nổi tiếng hiện nay
1.3.2.2 Vai trò của ngành kinh tế vùng ven biển đối với nền kinh tế
a Đóng góp vào ngân sách nhà nước
Kinh tế vùng ven biển có vai trò hết sức to lớn đối với nền kinh tế quốcdân Trước tiên, phải kể tới phát triển ngành kinh tế đánh bắt hải sản, với vùngbiển rộng thì đây là ngành phát triển kinh tế chiến lược và cơ bản vì trữ lượnghải sản được đánh bắt giúp thay đổi đáng kể nền kinh tế của nhân dân trongvùng Hơn nữa, ngành kinh tế vùng ven biển phát triển phải kể đến sự vậnchuyển hàng hoá bằng đường biển đem lại lợi ích kinh tế cao Khi vận chuyểnbằng đường biển sẽ giảm thời gian vận chuyển và quãng đường vận chuyển sẽngắn hơn so với đường bộ vì đường biển thường thẳng hơn so với đường bộ vàkhông gây ách tắc, đem lại lợi ích kinh tế đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.Những người dân ven biển có thể tổ chức nuôi trồng thuỷ hải sản theo lồng ở gần
bờ đem lại nguồn hải sản chủ động cho người dân và có thể tăng gia những loạihải sản cần thiết phục vụ cho đời sống của người dân trong khu vực và nhữngvùng lân cận
Ngành kinh tế vùng ven biển phát triển đóng góp vào ngân sách Nhà nướcmột lượng giá trị khá cao Hiện nay, ngành thuỷ sản đang là ngành xuất khẩuchiếm vị trí cao trong hoạt động xuất khẩu của nước ta, vì vậy giá trị mà ngànhthuỷ sản đem lại từ phát triển ngành kinh tế vùng ven biển là rất có ý nghĩa Hơnnữa, nhu cầu tiêu dùng mặt hàng thuỷ sản trong nước cũng rất lớn, người dânthích tiêu dùng hàng thuỷ sản nhiều vì hàm lượng đạm trong cá, tôm, cua, baba… là rất tốt, hơn nữa hiện nay thuỷ sản còn là một trong những món ăn được
ưa chuộng trong các món ăn của khách du lịch Nước ta đã có những cải thiệnđáng kể trong vấn đề bảo quản mặt hàng thuỷ hải sản, vì mặt hàng này rất dễ bị
ôi thiu nên việc bảo quản là rất khó, nhất là mỗi khi phải vận chuyển xa tớinhững vùng khác
Trang 39b Vai trò đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
- Vai trò trong giải quyết việc làm: Vấn đề giải quyết việc làm đang là vấn
đề hết sức nóng bỏng trong nền kinh tế thị trường Để giải quyết việc làm cầnphát triển nhiều ngành nghề kinh tế trong đó có kinh tế vùng ven biển và cáchoạt động của nó Hoạt động kinh tế vùng ven biển mỗi năm thu hút đượckhoảng 2 triệu lao động, đây là con số rất có ý nghĩa đối với thị trường lao độnghiện nay ở nước ta Do đó phát triển kinh tế vùng ven biển có thể coi là phươngpháp khá hiệu quả trong giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người laođộng vùng ven biển
- Vai trò trong việc xoá đói giảm nghèo dân cư vùng ven biển: Phát triểnkinh tế vùng ven biển tạo việc làm cho lao động, tạo thu nhập cho người laođộng, người lao động có thu nhập sẽ tự cải thiện đời sống của mình, tạo cho đờisống ổn định Còn đối với xã hội, người lao động có việc làm thì xã hội bớt đượcmột gánh nặng về trợ cấp xã hội, tránh được tệ nạn xã hội do tình trạnh thấtnghiệp tạo ra, cũng có nghĩa là làm cho tỷ lệ đói nghèo của nước ta giảm đi mộtphần Cho nên có thể nói phát triển kinh tế vùng ven biển có một vai trò rất quantrọng trong xoá đói giảm nghèo
1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÁC ĐỊNH CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ KINH NGHIỆM TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
1.4.1 Nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tếvùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế gồm: vị trí địa lý của các xã vùngđồng bằng ven biển, điều kiện đất đai của các vùng, điều kiện khí hậu của các vùng,các nguồn tài nguyên khác của các vùng lãnh thổ như nguồn nước, đầm phá, biển,khoáng sản…
Riêng vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích chiếm trên 10%tổng diện tích cả tỉnh, có địa hình trải dài và có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, thuận lợicho giao thông vận tải đường biển Tuy nhiên ở đây thường xuyên là nơi gánh chịu nhữngtrận bão, lũ có sức tàn phá nặng nề Tại đây có chợ nổi rất nổi tiếng
Các yếu tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành, vậnđộng và biến đổi của việc tổ chức các cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnhThừa Thiên Huế Tuy nhiên, sự tác động và ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên
Trang 40tới mỗi nội dung của tổ chức các cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển tỉnh ThừaThiên Huế không phải như nhau Trong các nội dung của tổ chức các cơ cấu kinh tếvùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế thì các hình thức tổ chức mang tínhngành hàng chịu ảnh hưởng nhiều hơn Trong các điều kiện tự nhiên nêu trên, cácđiều kiện về đất đai, khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng trưc tiếp tới sự phát triển củanông nghiệp (theo nghĩa rộng gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) và qua nông nghiệpảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành khác Các nguồn tài nguyên tự nhiênkhác vừa ảnh hưởng tới nông nghiệp vừa ảnh hưởng tới các ngành kinh tế kháctrong nông thôn Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên dẫn đến sự khác biệt về các môhình tổ chức sản xuất nông thôn, cơ cấu ngành nghề giữa các vùng lãnh thổ, đặc biệt
là giữa các địa phương của vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế
Ngoài sự tác động và ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biểntỉnh Thừa Thiên Huế thì sự phát triển của các ngành kinh tế, của các thành phầnkinh tế nhờ các điều kiện tự nhiên thuận lợi, đến lượt nó lại tạo điều kiện và làm nảysinh nhu cầu ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ và kỹ thuật tiến bộ vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh, làm cho tỷ trọng của công nghệ kỹ thuật tiến bộ hiện đạingày càng được nâng cao trong cơ cấu kỹ thuật của các ngành kinh tế trong nôngthôn vùng ven biển
1.4.2 Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới việc hình thành cơ cấu kinh tế baogồm: thị trường (cả thị trường trong và ngoài nước), hệ thống các chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng trong nông thôn
Trong nền kinh tế hàng hóa, nhân tố thị trường có ảnh hưởng quyết định tới sựphát triển kinh tế nói chung và sự hình thành, biến đổi của mô hình tổ chức sản xuất
và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng, bởi vì suy đến cùng cơ cấu kinh tế và môhình tổ chức sản xuất nông thôn tồn tại và vận động thông qua hoạt động của conngười Những người sản xuất hàng hóa chỉ sản xuất và đem ra trao đổi những sảnphẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuận thỏa đáng Như vậy, thị trườngthông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả hàng hóa, thúc đẩy hay ngăn cảnngười sản xuất tham gia hay không tham gia vào thị trường Với cơ chế đó ngườisản xuất tự xác định khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trường những loạisản phẩm có lợi nhất Do đó trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hàng hóa, dịch vụvới quy mô và cơ cấu phản ánh mô hình tổ chức sản xuất nông thôn ở từng vùng,từng địa phương Trong nền kinh tế mở, cần chú trọng sự tác động và ảnh hưởng