Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Khoa học-công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sản xuất, kéo theo sự thay đổi lớn trong các lĩnh vực kinh doanh cũng như trong quản lý của mỗi một đơn vị doanh nghiệp. Sự phát triển của khoa học công nghệ cũng làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các quốc gia trở nên khốc liệt. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuất kinh doanh và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển mạnh. Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học- công nghệ và khẳng định: “Cùng với giáo dục, đào tạo khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế- xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, công nghệ”. Hiện nay, Thừa Thiên Huế cũng như các địa phương khác trong cả nước đang tích cực đẩy mạnh CNH-HĐH, trong đó chú trọng đến vai trò của khoa học và công nghệ. Hơn một thập kỷ qua, kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển tương đối toàn diện và liên tục tăng trưởng với nhịp độ cao hơn mức trung bình của cả nước, chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng nhanh hơn so với mục tiêu đề ra. Điều này có sự đóng góp không nhỏ của khoa học và công nghệ. Đặc biệt năm 2010, trong bối cảnh cả nước và toàn tỉnh còn nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mang lại, thiên tai, dịch bệnh xảy ra... Song nền kinh tế thành phố Huế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, có 13/16 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng đạt 13,5% GDP bình quân đầu người đạt 1.350 USD. Tổng mức bán lẽ hàng hóa và dịch vụ đạt 10.383 tỷ đồng, tăng 35,2%. Hoạt động du lịch có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng khá với doanh thu đạt 831 tỷ đồng, tăng 21,47%, tổng lượt khách đến Huế đạt 1.451,6 nghìn lượt, tăng 12%. Thu ngân sách đạt 417,535 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn đạt 2.887 tỷ đồng...; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Để tiếp tục đà tăng trưởng và thực hiện mục tiêu “xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao”, việc xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế thành trung tâm khoa học và công nghệ được coi như là một giải pháp mang tính đột phá để đạt được mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Thừa Thiên Huế, trong lịch sử đã từng đóng vai trò trung tâm vùng miền và thủ đô của cả nước, kéo dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20; vào thời kỳ Việt Nam bị chia cắt sau hiệp định Genève, Huế cũng là một tiền đồn quan trọng về mặt văn hóa, vì thế, chính quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng ở Huế một trung tâm đại học, quy tụ nhiều nhà khoa học danh tiếng của miền Nam thời bấy giờ. Ngày nay Thừa Thiên Huế được cả nước biết đến như là một trung tâm đào tạo đa ngành và nghiên cứu khoa học có uy tín ở khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và cả nước với 13 trường Đại học và 6 trường Cao đẳng, xếp thứ ba trong cả nước về số lượng sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó đại học Huế là trung tâm đào tạo lớn của miền Trung và cả nước với 11 trường thành viên, 2 khoa và 5 trung tâm trực thuộc, với 93 chuyên ngành đào tạo bậc đại học, 64 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 22 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Có 30 viện, phân viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, 16 thư viện lớn và hàng chục thư viện nhỏ. Trung tâm Học liệu thuộc Đại học Huế là một trong những thư viện điện tử hiện đại nhất ở Việt Nam. Thư viện Tổng hợp tỉnh là một trong những thư viện có nguồn lực thông tin lớn nhất trong các thư viện cấp tỉnh trong cả nước. Đội ngũ khoa học hùng hậu, , với trên 400 tiến sĩ, tiến sỹ khoa học, 165 giáo sư, phó giáo sư, chuyên ngành đào tạo khá đa dạng. Nhiều nhà khoa học đã có những phát minh, sáng chế, có các công trình khoa học xuất sắc, có những bài báo đăng trên tạp chí khoa học thế giới. Nhiều đề tài nghiên cứu thử nghiệm và ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất tạo tiền đề cho việc chuyển đổi phương thức canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh. Đặc biệt, hoạt động ứng dụng các kỹ thuật mới trong lĩnh vực y học, khám chữa bệnh có sự phát triển vượt bậc. Một số kỹ thuật hiện đại đã được sử dụng thành công ở Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Bên cạnh những thành tựu đạt được, Thừa Thiên Huế vẫn còn đang gặp một số hạn chế như: hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ còn ở mức rất thấp, không đồng bộ; đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong những ngành, những lĩnh vực mũi nhọn còn mỏng, nguồn nhân lực KHCN hiện chưa được tận dụng triệt để. Số lượng các bài báo đăng trên các tạp chí uy tín quốc tế còn khiêm tốn. Sự gắn kết giữa nhà khoa học với nhà doanh nghiệp, nhà sản xuất chưa chặt chẽ và cơ chế chính sách để tạo động lực cho các nhà khoa học đam mê với công việc còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư các thiết bị công nghệ mới làm giảm khả năng cạnh tranh, công tác chuyển giao công nghệ ít được chú trọng...Ngoài ra, ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ của tỉnh còn thấp, đạt xấp xỉ 2% nên chưa thu hút được đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao, nhất là các tầng lớp tri thức Việt Kiều. Từ những thành tựu và hạn chế trên cho thấy, để xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nhưng cũng rất khó khăn . Do vậy, để tìm kiếm các giải pháp và nắm bắt cơ hội, phát huy những lợi thế vốn có, việc “ Nghiên cứu đánh giá các điều kiện và đề xuất mô hình phát triên khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế” là đề tài mang tính cấp bách và thực tiễn cao.
Trang 1đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh
nghiên cứu đánh giá các điều kiện và đề xuất mô hình phát triển khoa học và công nghệ
của tỉnh thừa thiên huế
Mã số: .
BáO CáO TổNG HợP
Chủ nhiệm đề tài : GS.TS Đặng Đình Đào
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Nghiên cứu Kinh tế & Phát triển
Hà Nội, năm 2012
Trang 2đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh
nghiên cứu đánh giá các điều kiện và đề xuất mô hình phát triển khoa học và công nghệ
của tỉnh thừa thiên huế
Mã số: .
BáO CáO TổNG HợP
Chủ nhiệm đề tài : GS.TS Đặng Đình Đào
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Nghiên cứu Kinh tế & Phát triển
Thành viờn tham gia đề tài
1 GS.TS Đặng Đỡnh Đào Viện NCKT & PT Đại học Kinh tế quốc dõn Chủ nhiệm
2 TS Đặng Thu Hương Viện NCKT & PT Đại học Kinh tế quốc dõn Thư ký
3 TS Vũ Thị Minh Loan Viện NCKT & PT Đại học Kinh tế quốc dõn Thành viờn
4 TS Nguyễn Bớch Ngọc Viện NCKT & PT Đại học Kinh tế quốc dõn Thành viờn
5 ThS Phạm Minh Thảo Viện NCKT & PT Đại học Kinh tế quốc dõn Thành viờn
6 ThS Lờ Thị Thu Hà Viện NCKT & PT Đại học Kinh tế quốc dõn Thành viờn
7 ThS Nguyễn Xuõn Hảo Trường Kinh tế Quảng Bỡnh Thành viờn
8 PGS.TS Nguyễn Khắc Hoàn Trường ĐH Kinh tế Huế Thành viờn
9 PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn Trường ĐH Kinh tế Quốc dõn Thành viờn
10 ThS Đặng Thị Thỳy Hà Trường ĐH Kinh tế Quốc dõn Thành viờn
Hà Nội, năm 2012
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KH&CÔNG NGHIệP 10
1.1 Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới và ở Việt Nam - những yêu cầu đặt ra trong phát triển KH&CN đối với Thừa Thiên Huế 10
1.1.1 Xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới 10
1.1.2 Xu hướng và các mục tiêu chủ yếu phát triển KH&CN ở Việt Nam 18
1.1.3 Những yêu cầu đặt ra trong phát triển KH&CN của Thừa Thiên Huế 20
1.2 .Phát triển khoa học và công nghệ và những tiêu chí đánh giá sự phát triển của KH&CN 22
1.2.1 Phát triển KH&CN và xây dựng trung tâm KH&CN 22
1.2.2 Các mô hình phát triển KH&CN hiện nay của thời đại 31
1.2.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá sự phát triển KH&CN 37
1.3 .Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố và kinh nghiệm phát triển KH&CN trong nức và quốc tế 43
1.3.1 Nghiên cứu các nhân tố nọi sinh, ngoại sinh tác động đến sự phát triển KH&CN 43
1.3.2 Thực tiễn và kinh nghiệm phát triển KH&CN ở Việt Nam 45
1.3.3 Thực tiễn và kinh nghiệm KH&CN ở các nước trong khu vực 49
1.3.4 Bài học đối với phát triển KH&CN Thừa Thiên Huế 55
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KH&CN TẠI THỪA THIÊN HUẾ 57
2.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 57
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 57
2.1.2 Về phát triển kinh tế - xã hội và định hướng đến năm 2020 60
2.1.3 Về phát triển khoa học và công nghệ 66
2.1.4 Đặc trưng về lịch sử vùng đất, cảnh quan và con người 67
2.2 Phân tích thực trạng và điều kiện phát triển KH&CN tại Thừa Thiên Huế 68
2.2.1 Thực trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế 68
2.2.2 Đánh giá các nhân tố và điều kiện của Thừa Thiên Huế tác động đến sự phát triển KH&CN 70
2.3 Thực trạng và tiềm lực phát triển KH&CN của Thừa Thiên Huế 90 2.4 Một số kết luận, đánh giá về thực trạng và tiềm lực phát triển KH&CN
Trang 4HUẾ THÀNH TRUNG TÂM KH&CN QUỐC GIA VÀ KHU VỰC 98
3.1 Dự báo nhu cầu phát triển và ứng dụng KH&CN của tỉnh Thừa Thiên Huế 98
3.1.1 Dự báo và định hướng phát triển khoa học và công nghệ của Thừa Thiên Huế 98
3.1.2 Dự báo phát triển cơ sở hạ tầng cho phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế 101
3.1.3 Dự báo phát triển nguồn nhân lực của Thừa Thiên Huế 103
3.1.4 Dự báo phát triển thị trường khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế 104
3.2 Quan điểm và định hướng phát triển KH&CN Thừa Thiên Huế 105
3.2.1 Quan điểm phát triển 105
3.2.2 Định hướng phát triển 106
3.3 Lựa chọn mô hình phát triển KH&CN Thừa Thiên Huế 107
3.3.1 Lựa chọn mô hình KH&CN để phát triển tại tỉnh Thừa Thiên Huế 107
3.3.2 Mô hình trung tâm khoa học và công nghệ quốc gia Thừa Thiên Huế 109
3.3.3 Lựa chọn và cơ cấu lĩnh vực khoa học và công nghệ để phát triển tại Thừa Thiên Huế 116
3.4 Đề xuất một số chương trình trọng tâm xây dựng và phát triển khoa học và công nghệ Thừa Thiên Huế đến năm 2020 122
3.4.1 Thành lập khu công nghệ cao tỉnh Thừa Thiên Huế 123
3.4.2 Đầu tư phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ (thiết chế khoa học và công nghệ) 123
3.4.3 Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 123
3.4.4 Phát triển công nghệ thông tin và truyền thông 124
3.4.5 Phát triển thị trường khoa học và công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn 125
3.5 Giải pháp thực hiện 125
3.5.1 Nâng cao vai trò, nhận thức về vị trí, vai trò của Thừa Thiên Huế trong phát triển khoa học và công nghệ quốc gia 125
3.5.2 Khẩn trương thành lập khu công nghệ cao quốc gia Thừa Thiên Huế 126
3.5.3 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích ứng dụng và phát triển KH&CN tại Thừa Thiên Huế 127
3.5.4 Phát triển và nuôi dưỡng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 129
3.5.5 Tạo lập và huy động vốn đầu tư 131
3.5.6 Tăng cường các hình thức phát triển khoa học và công nghệ tại Thừa Thiên Huế 132
3.5.7 Sự sẵn sàng cho nền kinh tế tri thức, nâng cao chỉ số kinh tế tri thức (KEI) và chỉ số tri thức (KI) tại Thừa Thiên Huế 134 3.5.8 Tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ Bảng 2.1: Dân số và lao động giai đoạn 2005 - 2010 60
Bảng 2.2: Tốc độ tăng và cơ cấu GDP của tỉnh Thừa Thiên Huế 61
Bảng 2.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (% trong GDP) 62
Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế tỉnh và các lĩnh vực (%) 61
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Khoa học-công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt các cơhội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanh quá trình hộinhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sản xuất, kéo theo sựthay đổi lớn trong các lĩnh vực kinh doanh cũng như trong quản lý của mỗi một đơn
vị doanh nghiệp Sự phát triển của khoa học công nghệ cũng làm cho quá trình cạnhtranh giữa các doanh nghiệp và các quốc gia trở nên khốc liệt Điều này đòi hỏi cácnhà quản lý kinh tế phải có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuấtkinh doanh và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển mạnh.Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng vềkhoa học- công nghệ và khẳng định: “Cùng với giáo dục, đào tạo khoa học côngnghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế- xã hội, là điều kiện cầnthiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Côngnghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, công nghệ”
Hiện nay, Thừa Thiên Huế cũng như các địa phương khác trong cả nước đangtích cực đẩy mạnh CNH-HĐH, trong đó chú trọng đến vai trò của khoa học và côngnghệ Hơn một thập kỷ qua, kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển tương đốitoàn diện và liên tục tăng trưởng với nhịp độ cao hơn mức trung bình của cả nước,chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịchtích cực, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng nhanh hơn so với mục tiêu đề ra.Điều này có sự đóng góp không nhỏ của khoa học và công nghệ Đặc biệt năm
2010, trong bối cảnh cả nước và toàn tỉnh còn nhiều khó khăn, thách thức do hậuquả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mang lại, thiên tai, dịch bệnh xảy ra Song nền kinh tế thành phố Huế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, có 13/16 chỉtiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch Tốc độ tăng trưởng đạt 13,5% GDP bìnhquân đầu người đạt 1.350 USD Tổng mức bán lẽ hàng hóa và dịch vụ đạt 10.383 tỷđồng, tăng 35,2% Hoạt động du lịch có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng khá vớidoanh thu đạt 831 tỷ đồng, tăng 21,47%, tổng lượt khách đến Huế đạt 1.451,6 nghìnlượt, tăng 12% Thu ngân sách đạt 417,535 tỷ đồng Tổng vốn đầu tư trên địa bànđạt 2.887 tỷ đồng ; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng đã có nhữngchuyển biến mạnh mẽ
Trang 7Để tiếp tục đà tăng trưởng và thực hiện mục tiêu “xây dựng Thừa Thiên Huế
trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm của khu vực miền Trung
và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao”, việc xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế thành trung tâm khoa học và công nghệ
được coi như là một giải pháp mang tính đột phá để đạt được mục tiêu trở thànhthành phố trực thuộc trung ương
Thừa Thiên Huế, trong lịch sử đã từng đóng vai trò trung tâm vùng miền vàthủ đô của cả nước, kéo dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20; vào thời kỳ Việt Nam bịchia cắt sau hiệp định Genève, Huế cũng là một tiền đồn quan trọng về mặt văn hóa,
vì thế, chính quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng ở Huế một trung tâm đại học, quy
tụ nhiều nhà khoa học danh tiếng của miền Nam thời bấy giờ Ngày nay ThừaThiên Huế được cả nước biết đến như là một trung tâm đào tạo đa ngành và nghiêncứu khoa học có uy tín ở khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và cả nước với 13trường Đại học và 6 trường Cao đẳng, xếp thứ ba trong cả nước về số lượng sau HàNội và thành phố Hồ Chí Minh Trong đó đại học Huế là trung tâm đào tạo lớn củamiền Trung và cả nước với 11 trường thành viên, 2 khoa và 5 trung tâm trực thuộc,với 93 chuyên ngành đào tạo bậc đại học, 64 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 22chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Có 30 viện, phân viện, trung tâm nghiên cứu khoahọc, 16 thư viện lớn và hàng chục thư viện nhỏ Trung tâm Học liệu thuộc Đại họcHuế là một trong những thư viện điện tử hiện đại nhất ở Việt Nam Thư viện Tổnghợp tỉnh là một trong những thư viện có nguồn lực thông tin lớn nhất trong các thưviện cấp tỉnh trong cả nước Đội ngũ khoa học hùng hậu, , với trên 400 tiến sĩ, tiến sỹkhoa học, 165 giáo sư, phó giáo sư, chuyên ngành đào tạo khá đa dạng Nhiều nhà khoahọc đã có những phát minh, sáng chế, có các công trình khoa học xuất sắc, có những bàibáo đăng trên tạp chí khoa học thế giới Nhiều đề tài nghiên cứu thử nghiệm và ứngdụng kỹ thuật mới vào sản xuất tạo tiền đề cho việc chuyển đổi phương thức canhtác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, phù hợp với điều kiện tựnhiên của tỉnh
Đặc biệt, hoạt động ứng dụng các kỹ thuật mới trong lĩnh vực y học, khám chữabệnh có sự phát triển vượt bậc Một số kỹ thuật hiện đại đã được sử dụng thành công ởBệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế Bên cạnhnhững thành tựu đạt được, Thừa Thiên Huế vẫn còn đang gặp một số hạn chế như:
hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển
Trang 8giao công nghệ còn ở mức rất thấp, không đồng bộ; đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật trong những ngành, những lĩnh vực mũi nhọn còn mỏng, nguồn nhân lựcKHCN hiện chưa được tận dụng triệt để Số lượng các bài báo đăng trên các tạp chí
uy tín quốc tế còn khiêm tốn Sự gắn kết giữa nhà khoa học với nhà doanh nghiệp,nhà sản xuất chưa chặt chẽ và cơ chế chính sách để tạo động lực cho các nhà khoahọc đam mê với công việc còn hạn chế Nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tưcác thiết bị công nghệ mới làm giảm khả năng cạnh tranh, công tác chuyển giaocông nghệ ít được chú trọng Ngoài ra, ngân sách đầu tư cho khoa học và côngnghệ của tỉnh còn thấp, đạt xấp xỉ 2% nên chưa thu hút được đội ngũ cán bộ khoahọc có trình độ chuyên môn cao, nhất là các tầng lớp tri thức Việt Kiều
Từ những thành tựu và hạn chế trên cho thấy, để xây dựng tỉnh Thừa ThiênHuế trở thành trung tâm khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ hết sức quan trọngnhưng cũng rất khó khăn Do vậy, để tìm kiếm các giải pháp và nắm bắt cơ hội,
phát huy những lợi thế vốn có, việc “ Nghiên cứu đánh giá các điều kiện và đề xuất
mô hình phát triên khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế” là đề tài mang
tính cấp bách và thực tiễn cao
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xâydựng một trung tâm khoa học và công nghệ
- Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khoa học và côngnghệ và xu hướng phát triển khoa học và công nghệ ở một số các nước trên thế giới
và ở Việt Nam; đặc biệt là nghiên cứu các tiêu chí đánh giá sự phát triển khoa học
và công nghệ cũng như tiêu chí về một trung tâm khoa học và công nghệ nhữngnhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học và công nghệ hiện nay (bao gồmnhững nhân tố nội sinh và những nhân tố ngoại sinh)
- Phân tích, đánh giá thực trạng và các điều kiện phát triển khoa học và côngnghệ tại tỉnh Thừa Thiên Huế, thông qua điều tra khảo sát các tổ chức, doanhnghiệp và các nhà nghiên cứu
- Đưa ra dự báo nhu cầu phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ ; quanđiểm và phương hướng phát triển và một số chương trình đầu tư trọng điểm
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng trên (các điều kiện), đề tài đề xuất
mô hình và giải pháp phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 93 Tổng quan các công trình nghiên cứu
3.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Để khoa học và công nghệ nhanh chóng phát huy được vai trò là nền tảng và
động lực đẩy mạnh mẽ cho CNH, HĐH đất nước, “ Chiến lược phát triển khoa học
và công nghệ Việt Nam đến năm 2010” đã đưa ra các quan điểm: Phát triển khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Phát triển khoa học và công nghệ phải địnhhướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh; Bảo đảmgắn kết giữa khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo; giữa khoa học và côngnghệ với khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học ký thuật; Đẩymạnh tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ thế giới, đồng thời phát huy nănglực khoa học và công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm lực khoa học
và công nghệ của đất nước; Tập trung đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực trọngđiểm, ưu tiên, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ.Những năm gần đây, để đẩy nhanh tốc độ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa, nhiều địa phương đã đưa ra chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
Nhiều hội thảo đã được tổ chức như: “Hội thảo khoa học định hướng phát triển
khoa học công nghệ đến năm 2020” của tỉnh Phú Yên, ngày 9 tháng 6 năm 2010;
Dự án “Chiến lược phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường tỉnh Hải
Dương đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”; Đề án: “Quy hoạch tổng thể khoa học, công nghệ tỉnh Quảng Bình”; “Kế hoạch hành động về phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020” của UBND tỉnh An Giang;
Đề án “Quy hoạch phát triển khoa học công nghệ giai đoạn đến năm 2020 “
của tỉnh Nghệ An Nội dung chủ yếu tập trung vào những những vấn đề như: Địnhhướng đầu tư tiềm lực khoa học và công nghệ; Định hướng hoạt động khoa họccông nghệ của các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; Định hướng phối hợptrong công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; Các giải pháp pháttriển thị trường khoa học và công nghệ trên địa bàn của địa phương; Các cơ chếchính sách tạo điều kiện cho cán bộ khoa học có cơ hội tham gia phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học; Các chính sách thu hút cán bộ khoa học, kỹ thuật; đào tạo độingũ cán bộ làm công tác khoa học và công nghệ; Vấn đề đào tạo và sử dụng nguồnnhân lực các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hiện có để bảođảm nguồn cán bộ khoa học, kỹ thuật và kỹ thuật viên cho địa phương Ứng dụng
Trang 10các công nghệ về giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; đẩy mạnhứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ cho nông dân và khu vực nông thôn, côngnghiệp và kết cấu hạ tầng; Áp dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến, trong sảnxuất vật liệu mới; Vấn đề đầu tư chiều sâu, thay dần công nghệ cũ bằng công nghệmới tiên tiến, hiện đại vào các ngành, các cơ sở sản xuất quan trọng như: chế biếnnông, lâm, thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng…
Dự án “Chiến lược phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường tỉnh
Hải Dương đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” cũng đã nhấn mạnh đến vấn đề
ưu tiên cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm của một số doanh nghiệp vừa vànhỏ; cải tiến và hiện đại hoá các ngành nghề truyền thống để nâng cao chất lượng sảnphẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường, tạo việc làm cho người lao động; phát triển kinh
tế, phát triển khoa học công nghệ, khai thác tài nguyên phải gắn với bảo vệ môitrường sinh thái Theo đó, việc phát triển khoa học công nghệ phải có hướng tậptrung, ưu tiên trên một số lĩnh vực mũi nhọn, coi trọng yêu cầu thị trường, đồng thờiphải khai thác tối đa năng lực khoa học công nghệ trong và ngoài tỉnh nhằm phục
vụ có kết quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong từng giai đoạn; Xâydựng luận cứ khoa học cho các qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội, lựa chọn cácvấn đề ưu tiên, cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Trung ương phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của tỉnh, bảo tồn, khai thác, phát huy văn hoá truyền thống để phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
3.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Về mặt nội dung xây dựng mô hình khoa học công nghệ, tác giả Martin (2006)
đã đề cập đến các vấn đề sau: (1) tầm nhìn và thách thức đối với phát triển khoa học– công nghệ; (2) mục tiêu của chiến lược khoa học công nghệ; (3) quy hoạch chiếnlược để triển khai nghiên cứu, bảo vệ, và ứng dụng các kết quả nghiên cứu (thươngmại hóa kết quả nghiên cứu); (4) gắn hoạt động cơ sở nghiên cứu với các cơ sở ứngdụng theo hướng tập trung vào các dự án nghiên cứu được định hướng bởi doanhnghiệp; (5) phát triển hệ thống giáo dục đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khảnăng nghiên cứu sáng tạo công nghệ, có khả năng ứng dụng các công nghệ mới vàohoạt động sản xuất kinh doanh; (6) phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động nghiêncứu ở các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế; (7) các biện pháp nhằm phát triểnkhoa học công nghệ
Trang 11Về mặt phương pháp xây dựng mô hình khoa học công nghệ, theo tác giảWong, Yeo và DeVol (2006), phát triển khoa học công nghệ của địa phương cầnđược xây dựng trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng nhưcác đánh giá về đóng góp của các lĩnh vực khoa học công nghệ đối với từng ngànhkinh tế Tiếp đến, xác định điểm mạnh, điểm yếu năng lực khoa học công nghệ cầnđược thực hiện phát huy và khắc phục Vì vậy, để xây dựng mô hình phát triển khoahọc công nghệ địa phương được dựa trên việc xác định cơ cấu kinh tế địa phương vàyêu cầu khoa học công nghệ nhằm hỗ trợ cho việc phát triển các ngành kinh tế này.
Về mặt mục tiêu, xây dựng mô hình phát triển khoa học công nghệ địa phương phảitạo lập được môi trường khoa học công nghệ thuận lợi cho sự phát triển của cácngành kinh tế Để thực hiện và triển khai được mô hình phát triển khoa học côngnghệ, cần xây dựng chính sách hợp lý nhằm thu hút cán bộ tri thức phục vụ cho địaphương; xác định hợp lý vai trò của chính quyền, các trường đại học, và các doanhnghiệp trong việc thực hiện các nghiên cứu; đặc biệt có chính sách để khuyến khíchcác doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có hàm lượng công nghệ cao
Về phương pháp đánh giá năng lực khoa học công nghệ của địa phương, tác giảWong, Yeo và DeVol (2006) tập trung vào hai nhóm vấn đề chính: các vấn đề vĩ mô
và các vấn đề vi mô Các vấn đề về năng lực khoa học công nghệ ở tầm vĩ mô baogồm: năng lực nghiên cứu và phát triển, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; quy mô,năng lực nghiên cứu, năng lực đào tạo của hệ thống giáo dục; sự phù hợp của môitrường kinh doanh trong việc thu hút các doanh nghiệp công nghệ cao vào khu vực.Các vấn đề vi mô bao gồm: cơ cấu doanh nghiệp theo trình độ công nghệ ứng dụngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh; tỷ trọng các doanh nghiệp mới được thành lậptrên cơ sở các kết quả nghiên cứu; cơ cấu nền kinh tế địa phương theo các ngànhnông nghiệp, công nghiệp, và dịch vụ; và năng suất lao động của các doanh nghiệp.Nghiên cứu của tác giả Menendez và Castro (2005) về kinh nghiệm xây dựng
và triển khai chính sách khoa học công nghệ ở năm khu vực thuộc Tây Ban Nhacũng cung cấp những bài học hữu ích cho việc đề xuất mô hình phát triển khoa họccông nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế Trong nghiên cứu này, các tác giả lần lượt mô
tả các chính sách khoa học công nghệ nghệ được thực thi bởi chính quyền địaphương Sau đó, các tác giã đã phân tích các nhân tố tác động động đến việc lựachọn các chính sách Theo Menendez và Castro (2005), chính sách khoa học côngnghệ ngày càng nhận được sự quan tâm lớn hơn trong các chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của các chính phủ khu vực ở Tây Ban Nha Các chính phủ khu vực đang
Trang 12có gắng để xây dựng một hệ thống nghiên cứu – khoa học – công nghệ có ảnhhưởng lớn hơn đối với sự phát triển kinh tế
Menendez và Castro (2005) đã đưa ra những cách giải thích khác nhau vềnhững thay đổi trong chính sách phát triển khoa học công nghệ Trước hết là tácđộng của các hoạt động nghiên cứu của các trường đại học và các hoạt động nghiêncứu ở doanh nghiệp đến sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Hoạt độngnghiên cứu ở trường đại học thường ít đóng góp trực tiếp đến sự phát triển côngnghệ cụ thể ở các doanh nghiệp nhưng lại có tác động quan trọng đến việc tạo ra độingũ lao động tri thức vì vậy có tác động trong đến nền kinh tế dưới dạng tiềm nănghay trong dài hạn Trong khi đó, các nghiên cứu ở các doanh nghiệp tạo ra tác độngtrực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở dạngtiềm năng
Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng: Các đơn vị thực hiện nghiên cứu có cácđịnh hướng nghiên cứu khác nhau Thông thường các trường đại học có khuynhhướng tập trung thực hiện các nghiên cứu cơ bản (khoa học), trong khi đó cácdoanh nghiệp có thiên hướng thực hiện các nghiên cứu ứng dụng (công nghệ) Tuynhiên với tư cách là một chính sách công, chiến lược phát triển khoa học công nghệphụ thuộc rất lớn vào mức độ tác động của các hoạt động nghiên cứu đến nền kinh
tế khu vực hay địa phương Hay nói cách khác, các chính sách khoa học công nghệcần được xây dựng trên cơ sở những lợi ích mà các đối tượng khác nhau đượchưởng Vì vậy, để thực hiện tốt định hướng phát triển khoa học công nghệ, cácchính quyền địa phương cần có chính sách phân bỗ ngân sách phát triển khoa họccông nghệ cho các cơ sở nghiên cứu phản ánh được các ưu tiên của mình
Theo các tác giả, các nội dung chính được đề cập trong các chiến lược khoa học công nghệ khu vực bao gồm:
- Quan điểm phát triển khoa học công nghệ: hoặc là tăng cường hoạt độngnghiên cứu ở các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu công; hoặc là tăngcường hoạt động nghiên cứu ứng dụng và các quy trình đổi mới công nghệ ở cáccông ty; hoặc là kết hợp giữa hai hướng trên theo đó các cơ sở kinh doanh sẽ tài trợcho các hoạt động nghiên cứu của các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu,đổi lại các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu sẽ tạo tiến hành các nghiêncứu có tính ứng dụng cao cho doanh nghiệp Mặc dù có những sự khác biệt vềhướng phát triển, chính quyền địa phương đang có xu hướng phát triển mô hình
Trang 13nghiên cứu theo định hướng kinh doanh – gắn hoạt động nghiên cứu với yêu cầuphát triển kinh tế địa phương;
- Các quyết định nhằm thực hiện các quan điểm: các quan điểm phát triểnkhoa học trên thực tế được thể hiện thành các quyết định cơ bản như: ngân sách củachính phủ phân bổ cho các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu công và ngânsách chính phủ phân bổ cho các nghiên cứu ở các cơ sở kinh doanh; các hoạt độngđược tài trợ (kế hoạch hóa, các chương trình, hay biện pháp cụ thể trong nghiêncứu); xây dựng các trung tâm nghiên cứu và hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp vớibản chất của hoạt động nghiên cứu (trường đại học hay doanh nghiệp) Theo kết quảnghiên cứu, mặc dù các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu đang được phân bổ
tỷ trọng ngân sách khá lớn, nhưng có một xu hướng là họ đang tăng dần tỷ trọngngân quỷ phát triển khoa học công nghệ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trongviệc phát triển các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) hay nâng cao năng lựccông nghệ ở các doanh nghiệp
- Về các kế hoạch hay chương trình nghiên cứu, các tác giả nhận thấy rằngcác kế hoạch nghiên cứu của các địa phương được thực hiện theo hai hướng chínhlà: nghiên cứu theo định hướng của chính phủ (phụ trợ cho các chương trình nghiêncứu của chính phủ) hoặc nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ở địa phương.Ngoài ra các tác giả cũng nhận thấy rằng, các hướng nghiên cứu chịu ảnh hưởngnhiều bởi người thực hiện là các trường đại học hay các doanh nghiệp Thôngthường, hoạt động nghiên cứu của các trường đại học ít phản ánh được mối quantâm của của doanh nghiệp Nếu các trường đại học được phân bổ nhiều kinh phíhơn, các hoạt động nghiên cứu sẽ ít có tác động trực tiếp hơn đến sự phát triển côngnghệ ở các doanh nghiệp
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu và yêu cầu đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp tiếpcận thực tế thông qua điều tra khảo sát nhằm đánh giá đúng thực trạng khoa học vàcông nghệ của Tỉnh Thừa Thiên Huê Ngoài những thông tin thứ cấp thu được từcác nguồn , các công trình nghiên cứu, đề tài đặt trọng tâm vào việc thu thập cácthông tin sơ cấp về tình hình phát triển khoa học và công nghệ hiện nay trên địa bàntỉnh và coi đó là nguồn thông tin quan trọng và tin cậy cho việc tiến hành nghiêncứu và đánh giá đúng thực trạng khoa học công nghệ và đề xuất mô hình phát triển
Trang 14khoa học công nghệ tại tỉnh Thừa Thiên Huế Những thông tin này được thu thậpthông qua điều tra khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp và các nhà quản lý liênquan đến nội dung đề tài trên địa bàn điều tra
Với phương pháp tiếp cận trên, đề tài sẽ đảm bảo tính trung thực các thông tin
về thực trạng phát triển khoa học và công nghệ hiện nay để đánh giá các điều kiện
và đề xuất mô hình phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế
4.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
Với cách tiếp cận như trên và để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra,
đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế: Trên cơ sở tổng hợp phân tích một
số công trình nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước để rút ra những vấn đề lýluận cơ bản và nghiên cứu đánh giá các điều kiện, đề xuất mô hình phát triển khoahọc và công nghệ trên địa bàn tỉnh
- Phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp logic:
nhằm phân tích, đánh giá, so sánh sự phát triển khoa học và công nghệ của Thừ
- Phương pháp điều tra, thống kê: để rút ra những kết luận có tính khoa học và
khái quát cao trong việc nghiên cứu đánh giá điều kiện và đề xuất mô hình pháttriển khoa học và công nghệ của Tỉnh
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp chuyên gia, tổ chức các hội thảo,các buổi toạ đàm khoa học, các buổi thảo luận nhóm để thu thập ý kiến trực tiếp củacác chuyên gia về thực trạng phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KH & CN
Chương 2: Đánh giá thực trạng và điều kiện phát triển KH &CN tại Thừa
Thiên Huế
Chương 3: Giải pháp phát triển và xây dựng Thừa Thiên Huế thành trung
tâm KH &CN quốc gia và khu vực
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN KH&CÔNG NGHIệP
1.1 Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới và ở Việt Nam - những yêu cầu đặt ra trong phát triển KH&CN đối với Thừa Thiên Huế
1.1.1 Xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới
Ngày nay, KH&CN đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sản xuất và đờisống con người Và do đó, sự phát triển của KH&CN có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của một nền kinh tế, một đất nước
Nghiên cứu xu hướng phát triển KH&CN trên thế giới cho thấy:
Thứ nhất, Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới sẽ tiếp tục phát triển với nhịp
độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dựbáo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người
Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v , xã hội loài người đangtrong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nềnkinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơhội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá
-Thứ hai, Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
hàng đầu Do đó, sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lựcKH&CN Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ítquan trọng hơn Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sángtạo, ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế
Thứ ba, Thời gian đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ
ngày càng rút ngắn Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợidụng các công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đadạng và luôn thay đổi của khách hàng Với tiềm lực hùng mạnh về tài chính vàKH&CN, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ và chi phối thịtrường các công nghệ tiên tiến
Thứ tư, Để thích ứng với bối cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ
Trang 16cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượngcông nghệ cao, công nghệ thân môi trường Trong khi đó, nhiều nước đang pháttriển cũng đang dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăngmức đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nhất là một số hướng công nghệcao chọn lọc; tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông; nhằm tạo lợi thếcạnh tranh và thu hẹp khoảng cách phát triển.
Mới đây, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc(UNESCO) vừa công bố bản báo cáo phân tích những xu hướng mới trong lĩnh vựckhoa học công nghệ trên thế giới, trong đó cũng khẳng định xu hướng tăng đầu tư chocác hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt ở châu Á Đồngthời, phát triển KH&CN giờ đây đã trở thành mũi nhọn của quốc gia, góp phần thúcđẩy sự tiến bộ kinh tế, xã hội ở mỗi nước Sự phát triển của KH&CN cùng với tiếntrình toàn cầu hóa đã và đang mang lại triển vọng mới cho việc tăng cường hợp tácquốc tế, giúp đỡ nhiều nước có điều kiện hội nhập phát triển
Thứ năm, Trong lịch sử phát triển của nhân loại, mỗi chuyển biến cách mạng của
hình thái kinh tế - xã hội đều bắt nguồn từ đột biến cách mạng của lực lượng sản xuất
với các bước nhảy vọt về công nghệ sản xuất Và xu hướng mới trong phát triển
KH&CN sẽ là sự phát triển của hệ thống các ngành công nghệ cao (CNC)
Hệ thống các ngành CNC gồm các CNC cơ bản và các CNC chuyên ngành.Gọi là CNC vì ngành khoa học công nghệ này mới xuất hiện từ sau cách mạng khoahọc công nghệ hiện đại, có nguồn gốc là các tri thức khoa học của thuyết tương đối
và thuyết lượng tử và có thể ứng dụng để sản xuất ra các sản phẩm mà trước đókhông có Một ngành CNC gọi là cơ bản khi có thể ứng dụng nó vào trong hầu hếtcác ngành sản xuất Khi một số CNC cơ bản phối hợp với nhau để áp dụng vào mộtngành sản xuất cụ thể thì gọi là CNC chuyên ngành Số CNC chuyên ngành pháttriển ngày càng nhiều và càng tinh vi
Số ngành CNC cơ bản hiện nay xác định có 8 ngành, đó là : Công nghệ thôngtin và truyền thông (CNTT); công nghệ sinh học (CNSH); công nghệ vật liệu mới –còn gọi là vật liệu tiên tiến hoặc nano (CNVL mới – nano); công nghệ năng lượngmới (CNNLM); Công nghệ môi trường (CNMT); công nghệ vũ trụ (CNVT); côngnghệ hải dương (CNHD) và công nghệ quản lý hoặc khoa học quản lý (CNQL) Ởnước ta, tám ngành CNC cơ bản và một số CNC chuyên ngành khác đã được tiếpthu ứng dụng ngày càng nhiều, nhất là từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới So với cácnước trong vùng và các nước công nghiệp phát triển khác trên thế giới, nền sản xuấtcủa Việt Nam còn ít ứng dụng CNC, do đó sức cạnh tranh của nền kinh tế và giá trị
Trang 17gia tăng trong sản xuất còn rất thấp.
Công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại là đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới.
Như đã thấy rõ trong thực tế CNTT là ngành CNC cơ bản dựa trên thành tựu
cơ bản nhất là máy điện toán Máy điện toán là loại máy móc hoàn toàn mới vềchất, khác hẳn các loại máy móc cơ khí - điện trước đây vì nó mô phỏng được bộnão của người với ba chức năng: biết tiếp thu và lưu trữ thông tin, tri thức; biết xử
lý thông tin, tri thức để sản xuất ra tri thức mới, biết tính toán; biết gọi ra, chuyểncho đối tượng khác các thông tin, tri thức dưới dạng chữ viết, âm thanh, hình vẽ… Ngày nay hầu hết các loại máy móc đều chuyển sang hoạt động theo côngnghệ số: các máy móc hiện đại của sản xuất, chữa bệnh, thông tin, truyền hình,truyền thanh v.v… đều chuyển sang công nghệ số nên tốt hơn, chính xác hơn, hiệuquả hơn và sản phẩm rẻ hơn với chất lượng cao hơn Internet, thương mại điện tử,hành chính điện tử, học từ xa, thực tại ảo, đa truyền thông v.v… đều hoạt động theocông nghệ số Cuộc sống ngày càng gắn với công nghệ số, tốc độ xã hội tăng cao,các kênh giao tiếp nhiều lên, cùng với thông tin và tri thức ngày càng phong phú,dẫn tới càng nhiều cơ hội và càng nhiều thử thách
Trong thập niên đầu của thế kỷ 21, những đột phá công nghệ quan trọng trongCNTT đã khởi đầu thêm 2 kỷ nguyên mới Đó là dịch chuyển từ Kỷ nguyên địnhhướng vào máy vi tính (1981-1994) sang Kỷ nguyên định hướng vào mạng (1994-2005) Kỷ nguyên thứ hai là dịch chuyển từ Kỷ nguyên định hướng vào mạng(1994-2005) sang Kỷ nguyên định hướng vào nội dung (2005-2015)
Các nhà khoa học cũng phải thừa nhận, khó có thể hình dung hết được nhữnglĩnh vực sẽ áp dụng của công nghệ mạng hay tác động của Internet trong tương lai
Dự báo trong khoảng từ năm 2010 đến 2020, CNTT và truyền thông có thể tạo ranhững máy tính xử lý các vấn đề về đạo đức; Robot vượt người về mặt tinh thần vàthể chất; quần thể người máy ngoài trái đất; Không gian điều khiển học bao quát tới75% thế giới có người ở
Xu thế phát triển của CNTT trong vài thập kỷ tới, tuy rất khó dự báo, nhưngchắc chắn sẽ có nhiều đột phá quan trọng Do yêu cầu của xã hội các luồng thôngtin sẽ rất dày đặc và đòi hỏi được xử lý cực nhanh với tốc độ và thông lượng caochưa từng có Thương mại điện tử trở nên thông dụng, hành chính điện tử (chínhphủ điện tử) trở thành phổ cập cho mọi quốc gia phát triển hoặc đang phát triển có
Trang 18thu nhập cao v.v… Kinh tế tri thức lan truyền khắp thế giới toàn cầu hoá, trên cơ sởcác luồng thông tin, tri thức thông qua hệ thống máy móc thông minh của lực lượngsản xuất mới, kết hợp với công nhân và lao động tri thức, hình thành nền sản xuấthiệu quả, chất lượng cao và thân thiện môi trường, đảm bảo một xã hội không khanhiếm mọi loại sản phẩm
Công nghệ sinh học cũng có xu thế phát triển mạnh trong vài thập kỷ tới
Công nghệ sinh học (CNSH) là ngành CNC cơ bản mà cốt lõi là công nghệgen (phân tử di truyền DNA), có vai trò quyết định trong sản xuất dựa trên các tácnhân sinh học của sinh vật (vi sinh…), mô, tế bào và phân tử sinh học (dưới tế bào:DNA, RNA…) CNSH rất quan trọng trong cả ba lĩnh vực công nghiệp, nôngnghiệp và dịch vụ, đặc biệt có vai trò quyết định đối với sự sống của loài ngườitrong bảo vệ sức khoẻ, bảo đảm nguồn dinh dưỡng, thuốc chữa bệnh v.v… và nângcao chất lượng cuộc sống
Mở đầu thế kỷ 21, thế giới đã công bố hoàn thiện việc xác định trình tự cácphân tử nền (gọi là bazơ) của Bộ gen người Trong mọi sinh vật, từ nấm, thực vật đến
vi khuẩn, động vật, bộ gen của loài nào cũng chỉ có 4 loại phân tử nền như nhau, chỉkhác nhau ở chỗ trình tự sắp xếp chúng và số lượng chúng trong suốt chiều dài của bộgen (bộ gen của một sinh vật gọi là genôm) Bộ gen người có trên 3 tỷ phân tử nềnxếp thành trên 30.000 gen quyết định mọi cấu trúc, thần thái của mỗi con người (chứkhông phải chỉ có 1 trăm “sao” chiếu mệnh như trong lá số tử vi)
Tiếp tục là trình tự bộ gen của nhiều loài thực vật trong đó có cây lúa, của nhiềuvirus, vi khuẩn và của nhiều động vật trong đó có nhiều gia súc được xác định
Trong khoảng 3 thập niên gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của ngành CNSH
đã thực sự là chất xúc tác cho các nỗ lực chủ yếu về khoa học và kinh tế Tính đếnnay, CNSH đã trải qua 3 “làn sóng” phát triển Làn sóng CNSH thứ nhất xuất hiện ở
Mỹ vào thập niên 70 của thế kỷ 20 và tập trung chủ yếu vào ứng dụng trong y tế.Làn sóng thứ 2 bắt đầu vào giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 khởi đầu bằng nhữngchuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp Và thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 này làkhởi đầu của làn sóng thứ ba bằng việc tập trung vào các ứng dụng và các ngànhkhoa học có liên quan tới y tế và phúc lợi với cốt lõi là các CNSH công nghiệp vàmôi trường
Trong vài thập kỷ tới, trên cơ sở các thành tựu kiệt xuất của CNTT nhất là cácmáy siêu tính, sẽ lần lượt giải mã các thông tin khác chứa trong các bộ gen Đây làđột phá vĩ đại có ảnh hưởng quyết định đến tương lai của nhân loại
Trang 19Việc ứng dụng các thành tựu của sinh học phân tử dựa trên các tri thức về cácphân tử di truyền (DNA, RNA…) về các protein, về các tế bào v.v… sẽ tạo ranhững đột biến tích cực cho nhiều ngành sản xuất.
Trong nông nghiệp (bao gồm lâm nghiệp, thủy sản) sẽ xuất hiện các loại giốngcây, con thuộc loại siêu việt: cho hiệu suất, chất lượng cao; miễn nhiễm và chốngchịu các loại sâu bệnh; thích nghi cao với thời tiết và biến đổi khí hậu; tự cố địnhđạm không cần phân bón hóa học; giữ cân bằng hệ sinh thái và bảo đảm tính bềnvững… bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm an toàn và dồi dào, nguồn nguyênliệu phong phú cho công nghiệp Loài người sẽ thoát khỏi nạn đói với nguồn dinhdưỡng đầy đủ và an toàn
Trong công nghiệp, các chế phẩm sinh học như chế phẩm enzim, chế phẩm sinhhọc bảo vệ thực vật, chế phẩm vi sinh vật, các chủng vi sinh vật qua lựa chọn và biếnđổi gen… được ứng dụng rộng rãi để nâng cao hiệu suất và chất lượng của các sảnphẩm trong chế biến, bảo quản thực phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm công nghiệp nhẹ, sảnphẩm công nghiệp hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y nguồn gốc sinh học,phân bón hữu cơ, các tiền chất của dược phẩm sinh học, các mỹ phẩm sinh học cao cấpv.v…
Đặc biệt trong lĩnh vực y tế sẽ xuất hiện nhiều loại kháng sinh mới có hoạt lựcmạnh để trị các loại vi khuẩn, virus biến chủng trở thành kháng thuốc (loại cũ) ; cácvacxin chống lại các loại vi rút như SARS, H5N1… và nhiều loại biến thể của chúngcũng như các chủng mới sẽ lan truyền; nhiều hi vọng trong hai thập kỷ tới sẽ có thuốc
và phương pháp điều trị để kiểm soát và chữa khỏi các bệnh nan y như ung thư, AIDS,Parkinson, Alzheimer, tiểu đường v.v… Những thành tựu kỳ diệu trong nghiên cứu tếbào mầm sẽ mở ra chân trời rộng lớn cho việc chế “sẵn phòng khi cần thiết” các bộphận cơ thể của mỗi người cụ thể để thay thế như một loại “phụ tùng gin chính hiệu”,một trái tim chẳng hạn, tránh được hiệu ứng thải loại vốn có của con người
Công nghệ vật liệu tiên tiến-công nghệ nano
Công nghệ vật liệu tiên tiến (CNVLTT) là ngành CNC cơ bản dựa trên việcứng dụng các quy luật tương tác giữa các hạt vi mô (nguyên tử, phân tử, ion, các hạt
cơ bản) và các điều kiện vật lý, hoá học (áp suất, nhiệt độ, liên kết hoá học…) đểđiều khiển sự sắp xếp chúng thành các cấu trúc, cấu hình hoặc kiểu dáng kết cấu…làm cho vật liệu được tạo ra có các tính chất hoặc thực hiện được các chức năngđịnh trước Vật liệu tiên tiến thường là các vật liệu mới, chế tạo được cách nay chưa
Trang 20lâu, mới khoảng 5 – 10 năm trở lại, có nhiều tính chất kỳ diệu mà trước đây chưa
có, ví dụ chịu nhiệt cao kỷ lục, siêu dẫn ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ azôt lỏng v.v…Vật liệu nano, loại vật liệu tiên tiến chế tạo bằng công nghệ nano, là loại vật liệu cócấu trúc nano là các hạt có kích thước khoảng từ vài nanomét – nm đến 100 nm,chứa khoảng vài trăm nguyên tử Vật liệu nano với nhiều tính năng kỳ lạ đang là đốitượng hàng đầu của các vật liệu tiên tiến
Nhờ các máy siêu tính có thể thiết kế mô phỏng cấu trúc các vật liệu tiên tiến vật liệu nano theo các tính chất đặc biệt của vật liệu cần có, nghĩa là có thể địnhtrước các tính chất này Vì vậy có thể đạt tới nhiều tính chất kỳ diệu mà trước đâychưa từng có, ví dụ vật liệu “nhớ” được hình dạng
-Trong các thập kỷ tới, sản phẩm từ CNVLTT – CNC sẽ rất phong phú, đủ đểđáp ứng mọi ý tưởng sáng tạo về công nghệ cao Đó là: các loại polime dẫn điện,polime siêu dẫn, các loại tinh thể lỏng; các siêu hợp kim, vật liệu siêu cứng (nhưkim cương), gốm chịu nhiệt độ siêu cao cho tàu vũ trụ; compozit tàng hình,compozit làm áo giáp chống đạn; vật liệu nano làm vải không ướt, lớp nano trênkính ô tô không ướt, vật liệu nano y sinh, sợi nano – cácbon để làm thang leo lên vũtrụ v.v và nhiều vật liệu kỳ diệu khác khó kể hết ở đây
Xu thế phát triển công nghệ năng lượng mới
Công nghệ năng lượng mới (CNNLM) bao gồm công nghệ năng lượng tái tạo
và năng lượng hạt nhân Đây là ngành CNC cơ bản nhằm mục tiêu giải quyết cácvấn đề khoa học công nghệ phức tạp của giai đoạn sắp tới, khi sự cạn kiệt các nguồnnăng lượng hoá thạch (dầu, khí) đang tới gần có thể chỉ còn khoảng 5 thập kỷ nữa,
và khí CO2 phát thải từ chế biến và tiêu thụ năng lượng gây biến đổi khí hậu toàncầu đã dẫn tới nhiều thảm hoạ
Vì năng lượng là yếu tố vật chất có tầm quan trọng bậc nhất trong lực lượngsản xuất để phát triển kinh tế - xã hội, do đó an ninh năng lượng có vị trí hàng đầuđối với nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba này
Để vượt qua những tác hại nghiêm trọng mà nguồn năng lượng cổ điển (dầukhí, than) gây ra, công nghệ năng lượng mới sẽ giải quyết được các bài toán khókhăn như:
- Nguồn năng lượng mới (NNLM) phải rất dồi dào, gần như vô tận cho sựphát triển của nhân loại
Trang 21- NNLM phải được phân bố tương đối đồng đều sao cho không có tranh chấp
mà mọi quốc gia, cộng đồng đều có thể tiếp cận với giá rẻ phải chăng, không hạnchế phát triển
- Việc khai thác, chế biến và sử dụng các NNLM này phải sạch, không gây ô nhiễm
Để đạt được ba tiêu chí trên đây cần phải nghiên cứu, thử nghiệm lâu dài.Trước mắt để đáp ứng yêu cầu phát triển CNNLM cần phải tập trung vào phát triểncác biện pháp tiết kiệm năng lượng trong khai thác, chế biến và tiêu dùng Đồngthời CNNLM phải tìm kiếm tối đa các nguồn năng lượng cổ điển (các dạng nhiênliệu có triển vọng) Đó là các loại dầu cực nhớt, cực nặng, đá phiến chứa bitum,hydrat mêtan (chất khí đốt ngậm trong băng ở địa cực và đáy đại dương, có thể xemnhư vô tận; có thông tin rằng ở đáy Biển Đông loại hydrat mêtan này là vô cùngphong phú)
Mặt khác, CNNLM đồng thời đẩy mạnh tìm kiếm phát hiện các nguồn NLMthoả mãn ba tiêu chí trên đây Đó là các dạng năng lượng tái tạo và năng lượng hạtnhân Về các năng lượng tái tạo có thể khai thác, như: năng lượng mặt trời (cả ởtrên Trái Đất và trong Vũ trụ), năng lượng gió (nước Đức : điện gió chiếm 7% nănglượng điện cả nước), năng lượng nhiệt điện, năng lượng đại dương, năng lượngnhiên liệu sinh học, pin nhiên liệu v.v… Ngày nay, xu hướng sử dụng năng lượngtái tạo ngày càng tăng và chi phí đang hạ xuống dần
Về năng lượng hạt nhân có hai loại: năng lượng phân rã hạt nhân mà chủ yếu
là hạt nhân urani và tổng hợp hạt nhân đồng vị của khí hydro có điều khiển
Loại năng lượng hạt nhân do phân rã urani đã được sớm ứng dụng để phátđiện và hiện đã có tới 441 nhà máy điện hạt nhân do phân rã urani trên thế giới,cung cấp khoảng 16,1% năng lượng điện toàn cầu Tuy nhiên việc phát triển loạiđiện hạt nhân này bị chững lại do thảm hoạ nổ lò hạt nhân cả ở Mỹ và Nga(Checnobyl) Hơn nữa quặng urani trong vỏ Trái Đất cũng khan hiếm và sẽ chóngcạn kiệt Do đó năng lượng hạt nhân do phân rã urani, nếu quá khó khăn, cũng chỉ
có thể đáp ứng trong một giai đoạn tạm thời
Hướng quan trọng là năng lượng do tổng hợp hạt nhân Hiện đã có nhiều thựcnghiệm chứng tỏ rằng khi làm tổng hợp các đồng vị của hydro và điều khiển được
sự tổng hợp này thì sẽ có triển vọng rất to lớn Các nhà khoa học Nga (Liên Xôtrước đây) đã chế tạo ra máy có tên là Tokamak có thể tạo ra một lò có nhiệt độ tới
100 triệu độ (như ở tâm của Mặt Trời) làm cho hạt nhân D và hạt nhân T tổng hợp
Trang 22với nhau theo sự điều khiển (nghĩa là không gây nổ như bom khinh khí – bom H) vàphát ra năng lượng điện Các máy Tokamak của Nga, Anh, Mỹ sau nhiều năm thựcnghiệm đã hoạt động có hiệu quả, phát ra điện năng Vừa qua (17-10-2006) TrungQuốc cũng công bố máy Tokamak ở An Huy (có tên là EAST) cũng đã phát ra điệnnăng Các nước đã hợp tác dự kiến xây dựng máy Tokamak thực nghiệm (ITER) ởmiền Nam nước Pháp, với công suất nửa triệu kw, sẽ đưa vào hoạt động trong thập
kỷ sau và tiến tới thương mại hóa
Nói chung, CNNN sẽ tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp mới, có tiềmnăng làm thay đổi toàn bộ các ngành công nghiệp, tạo ra các ngành mới hoặc làmbiến mất các ngành hiện có Những công nghệ như vậy thường đem lại sự thay đổitrong cán cân quyền lực toàn cầu về kinh tế và quân sự, có tác động quan trọng tớimột số ngành công nghiệp như điện tử, dược phẩm, năng lượng và vận tải Khảnăng tác động của CNNN có thể sánh với những biến đổi trước đây mà các côngnghệ lớn đem lại như điện khí hoá và kỹ thuật số hoá toàn xã hội
Theo dự báo của các nhà khoa học, đến khoảng từ năm 2020- 2030, các ứngdụng của CNNN có thể tạo ra các robot Nanô làm việc trong phòng thí nghiệm, cóthể thử nghiệm, đánh giá và trắc nghiệm để đưa vào ứng dụng; Ngành Y học Nanô
có thể thay thế các loại hình y học trước đây như phẫu thuật, dược truyền thống,thiết kế dược phẩm hợp lý,
Đối với các ngành CNC cơ bản khác:
Công nghệ môi trường (CNMT) sẽ hướng tới việc tạo ra tính bền vững của sựphát triển Đồng thời phát triển những ngành khoa học công nghệ cao giảm nhẹ tácđộng của biến đổi khí hậu và của các thảm họa thiên tai…, thúc đẩy một nền sảnxuất tái chế, không gây ô nhiễm và giữ gìn cân bằng các hệ sinh thái
Công nghệ vũ trụ hướng tới việc khám phá vũ trụ, đưa con người vào vũ trụ,chế tạo các con tầu vũ trụ, vệ tinh, các trạm không gian… Hướng lâu dài là khaithác tài nguyên vũ trụ, mở rộng hoạt động của con người ra ngoài vũ trụ Từ tầmnhìn vũ trụ có thể nhận thức đầy đủ hơn về Trái Đất, như các hệ thông tin địa lý, các
hệ định vị toàn cầu (GPS), các vệ tinh viễn thám, vệ tinh viễn thông v.v…
Công nghệ hải dương (CNHD) hướng tới nghiên cứu, thăm dò, khai thác tàinguyên, phòng, chống các thảm hoạ thiên nhiên từ biển (bão, sóng thần…), có vaitrò quan trọng trong phát triển của thế kỷ 21 này Hướng tới các kim loại đã cạn kiệt
ở đất liền, dầu – khí, hải sản…
Trang 23Công nghệ quản lý (CNQL) ứng dụng mạnh mẽ CNTT vào các lĩnh vực phứctạp của quản lý để đạt các giải đáp tối ưu, làm giảm lãng phí và nâng cao tốc độ củahoạt động xã hội Nền hành chính điện tử (chính phủ điện tử) là một ứng dụng quantrọng của CNQL Trong thực tế CNQL cũng là thành phần của lực lượng sản xuất
có giá trị cao
1.1.2 Xu hướng và các mục tiêu chủ yếu phát triển KH&CN ở Việt Nam
Đại hội lần thứ X của Đảng ta đã quyết định đường lối phát triển đất nướctrong giai đoạn tới, để sớm đưa nước ta ra khỏi khu vực các nước đang phát triểnthu nhập thấp và tới 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Đó là một tiến trình phức tạp đòi hỏi những cố gắng to lớn, trong đó việc phát huytối đa nội lực, tranh thủ tiếp thu phát triển những thành tựu khoa học công nghệ hiệnđại, đặc biệt là những công nghệ cao, có một ý nghĩa rất quan trọng cho việc đạt tớicác mục tiêu như nêu ở trên
Trong xu thế phát triển chung của KH&CN trên thế giới, Việt Nam với lợi thếcủa nước đi sau sẽ tiếp thu, chọn lọc, ứng dụng và phát triển các KH&CN hiện đại,thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước Do đó, trong thời gian tới, xu hướng
và mục tiêu phát triển KH&CN ở Việt Nam được xác định như sau:
Thứ nhất, trong thời gian tới, nước ta phải đổi mới quản lý và phát triển KHCN
mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn, góp phần tích cực nhất sớm đưa nước ta ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, bằngđường lối công nghiệp hoá - hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức (2020).Đồng thời trình độ nền KH&CN nước ta phải được nâng lên mức tiên tiến trong khuvực, trước hết trong các lĩnh vực quan trọng và đặc thù của đất nước
Thứ hai, hoạt động KHCN trong thời gian tới được đặt lên hàng đầu và tiếp
thu phát triển các CNC hướng vào nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả và sứccạnh tranh của sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng, góp phần trựctiếp làm tăng nhanh tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Việt Nam cần chuyển từ giai đoạn xuất khẩu chủ yếu là nông sản thô sang hànghóa nông sản tinh chế trình độ cao, cạnh tranh vững vàng trên thị trường quốc tế.Muốn như vậy trước hết phải ứng dụng đại trà CNSH, công nghệ cao vào tất cả cáckhâu của quá trình sản xuất nông nghiệp Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thếgiới (WTO), nông nghiệp nước ta phải đối phó với các đối thủ mạnh hơn Để cânbằng được cuộc cạnh tranh cam go này phải đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hóa
Trang 24gắn với chuyển giao tri thức tiên tiến cho nông dân và nông thôn.
Trong công nghiệp và xây dựng, mặc dù nước ta đã có trên 100 khu côngnghiệp, khu chế xuất, nhưng công nghiệp CNC còn chậm phát triển, hàm lượngCNC và tri thức trong sản phẩm còn thấp, những sản phẩm công nghiệp có sảnlượng lớn và giá trị cao còn mang tính gia công - lắp ráp, nên giá trị nội địa thấp (ví
dụ : xe máy, ôtô, tàu thuỷ…) Thời gian tới KHCN phải phát triển hoàn thiện vànâng cấp các ngành CNC trong các lĩnh vực quan trọng của công nghiệp, như: nănglượng điện, than, dầu – khí, xi măng, cầu đường – giao thông, máy móc cơ - điện tử,đóng tàu thuỷ lớn, công nghiệp sắt – thép, các công nghiệp chế biến chất lượngcao… Cần sớm tiếp cận ngay các công nghệ cao đang dẫn đầu như công nghệ tếbào mầm, công nghệ y sinh nano… ứng dụng phát triển công nghiệp dược, côngnghệ năng lượng tái tạo (Mặt trời, gió, nhiên liệu sinh học…) để phát triển năng lượngmới; công nghệ chíp – nhúng cho chế tạo máy móc cơ - điện tử; công nghệ kết nối vi
ba băng rộng (WiMAX) cho công nghiệp thông tin - truyền thông thế hệ mới…
- Thứ ba, hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, đủ sức
tổ chức nghiên cứu và giải quyết những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểmquốc gia ở trình độ quốc tế; vận hành có hiệu quả một số phòng thí nghiệm trọngđiểm quốc gia Xây dựng các nhóm nghiên cứu, tìm kiếm bí quyết công nghệ làm cơ
sở để hình thành và phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Với xu hướng và mục tiêu đặt ra như vậy, một số nhiệm vụ chính cần thựchiện đó là:
- Xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin: Thời gian qua chúng ta đã có
nhiều cố gắng để xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin bao gồm mạng viễn thông,mạng máy tính, internet… Đây là những yếu tố hàng đầu của kinh tế tri thức tạođiều kiện để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ Bên cạnh mạng phải phát triểnphần nội dung (content) Muốn vậy phải nghiên cứu các phần mềm xử lý tiếng Việt
và tiếng các dân tộc, phiên dịch máy, máy đọc v.v… Đồng thời phải phát triển việcxây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, các thư viện điện tử lớn nối mạngquốc tế và bảo đảm an toàn cho cơ sở hạ tầng thông tin trong hoạt động giao dịch,nhất là của các ngân hàng, các tài khoản cá nhân Trên đây đều là các vấn đề đòi hỏitrình độ cao về công nghệ thông tin và truyền thông mà KHCN phải tập trungnghiên cứu
Trang 25- Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KHCN: Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ : “Đổi
mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợpvới đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động khoa học công nghệ”
Vừa qua Nhà nước đã có một số chính sách mới về cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm, về phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Các nhà KHCN
đã gắn liền với đồng ruộng, nhà máy… và đã đạt được nhiều kết quả thực tế Nhữngchợ công nghệ đã thường xuyên thu hút các doanh nhân Thị trường khoa học vàcông nghệ đã bước đầu khởi động trong cơ chế thị trường
Việt Nam hội nhập với tinh thần chủ động và tích cực, tuy nhiên còn nhiềulúng túng, ví dụ vấn đề xử lý tốt việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn chưa nề nếp.Nhiều vấn đề trong hoạt động KHCN còn thiếu “tính chuyên nghiệp”, nên hiệu quảcòn thấp Vì vậy, phải nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp trong quản lý hoạtđộng KHCN thì mới có thể sớm đưa nền KH&CN nước ta vươn lên mức tiên tiếnsánh vai với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời hướng tới và thực hiện
có hiệu quả mục tiêu mà Đại hội X của Đảng đã đề ra
1.1.3 Những yêu cầu đặt ra trong phát triển KH&CN của Thừa Thiên Huế
Theo Kết luận số 48-KL/TW, ngày 25/5/2009 của Bộ Chính trị về xây dựng,phát triển Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, đã xác định: “Xây dựngThừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới, làtrung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của
cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học và công nghệ (KH&CN)…” Với mục tiêu đó,yêu cầu đẩy mạnh phát triển KH&CN của Thừa Thiên Huế càng trở nên cấp thiết
Và do đó, sự phát triển của KH&CN Thừa Thiên Huế phải đáp ứng những yêu cầunhất định Cụ thể:
- Thừa Thiên Huế hội đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho xây dựngkhu CNC như vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế, điều kiện giao thông thuận lợi; đấtđai, nguồn nước sạch dồi dào; có đa dạng sinh học; kinh tế - xã hội của địa phươngphát triển nhanh và bền vững; có Đại học Huế đa ngành, đa lĩnh vực với đội ngũ cán
bộ nghiên cứu có trình độ cao; có được các bài học kinh nghiệm cả thành công vàthất bại của các khu CNC trên thế giới và trong nước Tuy nhiên, bên cạnh đó, ThừaThiên Huế cũng gặp phải không ít khó khăn trong việc phát triển KH&CN như:Việt Nam là nước đang phát triển, nguồn lực đầu tư cho các khu CNC sẽ hạn chế.Hoạt động CNC đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nghiên cứu tâm huyết, các chuyên
Trang 26gia đầu ngành Mặc dù có Đại học Huế, nhưng đội ngũ cán bộ nghiên cứu vàchuyên gia đầu ngành ở khu vực miền Trung còn quá mỏng; nguồn nhân lực chohoạt động CNC cả hoạt động nghiên cứu và hoạt động quản lý đều thiếu Do đó,yêu cầu cấp thiết để Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương vàtrung tâm KH&CN thì ngay từ bây giờ cần đầu tư cho tiềm năng về nhân lực, pháttriển mạnh mẽ đội ngũ cán bộ nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành; thu hút nhânlực chất lượng cao về làm việc tại Huế,
- Để Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm KH&CN của cả nước, và khu vựcĐông Nam châu Á thì việc xây dựng và phát triển CNC là yếu tố quan trọng, làđộng lực phát triển KHCN cho cả miền Trung và Tây Nguyên
- Cần quan tâm đúng mức tới chức năng R&D và ươm tạo, trong đó đặt ra cácđiều kiện liên quan đến thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khi thành lập Kếthợp giữa KH&CN với nhu cầu thị trường, đặc biệt là phải dựa vào nguồn lựcKH&CN của địa phương; gắn với nhu cầu, mục tiêu phát triển KT-XH Bên cạnh
đó, phát triển các khu CNC phải phù hợp với điều kiện địa phương, tập trung pháttriển một vài lĩnh vực CNC chủ đạo mang sắc thái riêng để có thể khai thác hiệuquả tiềm lực của địa phương
Một điều rất quan trọng là phát triển các Khu CNC phải theo lộ trình, kết hợpphát triển có trọng điểm trong ngắn hạn (phát triển một số khu công nghiệp CNC,nông nghiệp CNC tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, theo hướng chuyên mônhóa) với phát triển tổng thể và toàn diện trong dài hạn (tập trung phát triển hoạtđộng R&D, ươm tạo và mạng lưới các khu CNC)
- Danh mục “CNC được ưu tiên đầu tư phát triển” ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ gồm 46 côngnghệ, trong đó có: Công nghệ chế tạo hệ điều hành cho máy tính và các thiết bị diđộng; Công nghệ màn hình độ phân giải cao; Công nghệ gen ứng dụng trong chuẩnđoán, giám định, điều trị; Công nghệ gen ứng dụng trong chế tạo, sản xuất proteintái tổ hợp; Công nghệ sản xuất enzym, protein; Công nghệ vi sinh trong xử lý ônhiễm môi trường; Công nghệ vật liệu nano Cũng trong danh mục này, có các sảnphẩm như: Hệ thống vi cơ điện tử, hệ thống nano cơ điện tử và thiết bị sử dụng hệthống vi cơ điện tử, hệ thống nano cơ điện tử; Màn hình độ phân giải cao; Dịch vụứng dụng công nghệ GPS/GIS trong công tác quản lý phương tiện; Protein, enzymtái tổ hợp sử dụng trong dược phẩm, thực phẩm công nghiệp và xử lý môi trường;
Trang 27Vắcxin ADN tái tổ hợp, vắc-xin protein tái tổ hợp dùng cho người, gia súc, gia cầm
và thủy sản; Các giống cây trồng, vật nuôi mới, sạch bệnh, năng suất cao, chấtlượng cao được sản xuất ở quy mô công nghiệp; Nhiên liệu sinh học được sản xuấtbằng công nghệ sinh học từ tảo, phế phẩm nông nghiệp, chất thải; Thiết bị y tế kỹthuật số; Vật liệu nano cho công nghiệp, nông nghiệp, y tế, sinh học và môitrường; Đây chính là những lĩnh vực và sản phẩm CNC mà Thừa Thiên Huế cóđiều kiện và có lợi thế Vì vậy, chúng nên được tập trung xem xét ưu tiên đầu tưphát triển trong tương lai
1.2 Phát triển khoa học và công nghệ và những tiêu chí đánh giá sự phát triển của KH&CN
1.2.1 Phát triển KH&CN và xây dựng trung tâm KH&CN
1.2.1.1.Sự phát triển KH&CN trên thế giới
Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy sự phát triển của con người luôn dựavào tri thức và khả năng sáng tạo, tức là dựa vào khoa học - công nghệ Ở các thời
kỳ khác nhau thì tác động của khoa học - công nghệ ở mức rất khác nhau
Theo quan điểm trước đây, khoa học với công nghệ là hai lĩnh vực táchriêng Nói khoa học là nói đến phần kiến thức, phần con người hiểu biết các qui luậtkhách quan, khám phá (phát minh) ra những điều chưa biết Còn công nghệ là sựhiểu biết mới, được sử dụng vào hoạt động lao động, làm ra của cải, là cái chưa có,
do vậy nói sáng tạo ra công nghệ, là sáng chế ra những cái mới Trong một thời gianrất dài, khoa học, công nghệ hay còn gọi là kỹ thuật, và sản xuất là ba lĩnh vực táchrời nhau Bất cứ sản phẩm mới nào ra đời cũng phải theo con đường từ khoa họcđến công nghệ rồi mới ra sản xuất Giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII, khoa học chủ yếutập trung vào việc giải thích các hiện tượng tự nhiên đã được tìm ra và áp dụng vàosản xuất Chức năng chủ yếu của khoa học khi đó là tập hợp kinh nghiệm và đi sâuvào lý thuyết nhằm giải thích, dự đoán phương hướng phát triển, xác định quyluật… Bắt đầu từ thế kỷ XIX, vai trò và sự tác động thực tế của khoa học đối với sựphát triển kỹ thuật, công nghệ và thông qua chúng tới lĩnh vực sản xuất vật chất đãđược thừa nhận rộng rãi Khoa học đã giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong thực tế
Từ đây, hoạt động khoa học đã tách khỏi lao động trực tiếp và trở thành lĩnh vựcđặc biệt Ngược lại, vào nửa sau thế kỷ XIX, hoạt động kỹ thuật, công nghệ bắt đầudựa ngày càng nhiều vào khoa học, cụ thể là lý thuyết vật lý, các kết quả của ngànhhóa học và vật lý thực nghiệm… Trong suốt thế kỷ XX, quá trình gắn kết chặt chẽ
Trang 28giữa khoa học và công nghệ đã không ngừng tăng lên Nửa sau thế kỷ XX, khoa học
đã vượt lên trước so với công nghệ Nền sản xuất xã họi đã thay đổi hẳn về cơ cấu,quy mô và tốc độ phát triển, đặt ra nhiều nhiệm vụ đòi hỏi khoa học phải giải quyết,cũng như đòi hỏi phải tạo ra các phương tiện lao động khoa học
Đến nay, nhân loại đã trải qua 3 cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật làm thayđổi diện mạo khoa học công nghệ của loài người Cuộc cách mạng khoa học kỹthuật đầu tiên hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra vào cuối thế kỷXVIII đầu thế kỷ XIX ở nước Anh, sau đó lan rộng ra toàn thế giới Cuộc cáchmạng này là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất, là sự thay đổi căn bản cácđiều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹ thuật Cuộc cách mạng công nghiệp này đãbiến đổi nền kinh tế thế giới từ nông nghiệp giản đơn, quy mô nhỏ dựa trên laođộng chân tay là chính sang nền kinh tế công nghiệp, chế tạo máy móc quy mô lớn.Cuộc cách mạng này được coi là giai đoạn 1 của cuộc cách mạng công nghiệp Giaiđoạn hai hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 tiếp tục ngay sau đó
từ nửa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Cuộc cách mạng lần này được chuẩn bị bằngquá trình phát triển hàng trăm năm của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở của nềnsản xuất đại cơ khí và bằng sự phát triển của khoa học gắn liền với kỹ thuật Yếu tốquyết định của cuộc cách mạng này là chuyển nền sản xuất trên cơ sở cơ khí sangnền sản xuất điện- cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất Nhờ
đó, đã tạo ra những ngành mới có tính khoa học, biến khoa học trở thành một ngànhlao động đặc biệt
Cuộc cách mạng lần thứ ba bắt đầu vào những năm 40 của thế kỷ XX tại Mỹ.Những phát minh khoa học kỹ thuật vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là tiền đềcho cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này Tiêu chí chủ yếu của cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật lần này là sự phát triển và áp dụng rộng rãi kỹ thuật nguyên tử vàđiện tử, khoa học- công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mở đầu thời đại
tự động hóa toàn bộ Cuộc cách mạng lần này được gọi là cuộc cách mạng khoa họccông nghệ thay vì tên quen gọi là cách mạng khoa học kỹ thuật Bởi lẽ, ở giai đoạnnày, những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến hình thành các nguyên lýcông nghệ sảm xuất mới, chứ không chỉ dừng ở mặt công cụ sản xuất ra của cải vậtchất như ở các giai đoạn trước Cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần này pháttriển sâu rộng chưa từng có, trực tiếp tác động đến mọi ngành kinh tế quốc dân, mọilĩnh vực xã hội của các nước phát triển, và hiện nay vẫn đang tiếp tục tác độngmạnh mẽ, với ảnh hưởng ngày càng to lớn, sâu sắc Cuộc cách mạng này chủ yếu về
Trang 29công nghệ với sự ra đời của máy tính điện tử thế hệ mới, vật liệu mới (titan,composite…), các dạng năng lượng mới (năng lượng điện tử) và công nghệ sinhhọc, sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế và đời sống xã hội Việc áp dụng nhữngcông nghệ hoàn toàn mới đã tạo điều kiện cho sản xuất phát triển theo chiều sâu,giảm hẳn tiêu hao năng lượng và nguyên liệu, giảm tác hại cho môi trường, nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất.Một đặc điểm nổi bật của cuộc CMKH - KT ở giai đoạn này là nó diễn ra trên cơ sởnhững thành tựu của khoa học hiện đại, trên cơ sở kết hợp rất chặt chẽ khoa học và
kĩ thuật, khoa học và sản xuất vật chất Song song với việc đi sâu vào từng khoa họcriêng lẻ là sự xuất hiện của những lí thuyết ngày càng bao trùm hơn, của càng nhiềukhoa học cụ thể khác nhau, cho phép sử dụng các thành tựu của khoa học này phục
vụ khoa học kia, dù các ngành khoa học có khi rất xa nhau Cho nên ngày nay, sảnxuất chịu ảnh hưởng không phải là của những ngành khoa học riêng biệt nữa Cácthành quả của sản xuất là sản phẩm của một phạm vi nghiên cứu rộng lớn, và ngàycàng rộng lớn hơn, bao trùm không chỉ các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật vàcông nghệ, mà còn cả các ngành khoa học xã hội nữa: kinh tế học, quản lí sản xuất,quản lí xã hội, xã hội học, tâm lí học xã hội, mĩ học sản xuất, dự báo tiến bộ xã hội
và khoa học kĩ thuật
1.2.1.2 Sự hình thành các trung tâm KH&CN trên thế giới
Chính sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã dẫn đến việc hìnhthành các trung tâm KH&CN trên thế giới Các trung tâm KH&CN còn được gọi làCông viên khoa học hay Khu Công nghệ cao (Khu CNC) Khu Công nghệ cao cóthể được hiểu là nơi nuôi dưỡng khả năng đổi mới công nghệ, ươm tạo phát minh,tạo ra những sản phẩm công nghệ và có khả năng liên kết dễ dàng với các Khu CNCkhác để trở thành một hệ thống thực sự cho những ý tưởng được hưng thịnh KhuCNC được coi là hình ảnh phản chiếu rõ ràng và cao độ nhất trình độ phát triển kinh
tế của một quốc gia Chính vì vậy, hầu hết các nước phát triển và đang phát triểntrên thế giới đều mong muốn xây dựng được các Khu CNC này nhằm mục đích thuhút nguồn nhân lực trình độ cao, tạo ra những sản phẩm giá trị kinh tế cao, thúc đẩyphát triển kinh tế
Mỹ là quốc gia đầu tiên xây dựng thành công Khu công nghệ cao và đến nayvẫn là một trong những KCNC nổi tiếng nhất, đó là “Công viên nghiên cứu đại họcStanford” vào năm 1951 Khu CNC này đã tạo ra tác động lan tỏa, mở đầu cho cuộc
Trang 30cách mạng điện tử trên thế giới và địa chỉ của nó được gọi là “Thung lũng Silic”.Thung lũng Silicon được xây dựng từ năm 1971 ám chỉ đến độ tập trung cao độ củacác ngành công nghiệp liên quan đến công nghệ bán dẫn và công nghệ vi tính trongvùng Santa Clara thuộc vịnh San Francisco, Hoa Kỳ Tại đây, nhiều ngành côngnghiệp khác cũng phát triển một cách nhanh chóng Hiện nay, có hơn 3000 công tyđang hoạt động tại thung lũng này trong đó các các công ty hàng đầu thế giới nhưMicrosoft, Apple…Sau Mỹ, Anh cũng bắt đầu xây dựng các khu CNC trên khuônviên của các trường đại học nhằm tạo ra những mối quan hệ mạnh mẽ giữa cáctrường đại học sự phát triển của các ngành công nghiệp bằng việc điều chỉnh đểkhuyến khích phát triển kinh tế trên cơ sở tăng cường phát triển công nghiệp và tạocông ăn việc làm Trong khi đó, vào những năm 60 ở Pháp, Khu CNC đầu tiên cũng
đã được chính phủ xây dựng nhằm mục đích xây dựng một Khu CNC có uy tín trênđất Pháp Nhưng đến những năm 80 thì hàng loạt các Khu CNC đã mọc lên ở Phápvới một nội dung đơn giản là bất kỳ khu đất nào được chuyên môn hóa về các hoạtđộng CNC đều được coi là Khu CNC Ở Nhật, Khu CNC lại được hiểu là những cơ
sở KHCN có nhiệm vụ hỗ trợ cho việc CNH các kết quả nghiên cứu Khác với một
số nước châu âu,Khu CNC được xây dựng nhằm tạo ra các xí nghiệp CNC- KhuCNC ở Nhật lại được thành lập nhằm hỗ trợ cho các xí nghiệp vừa và nhỏ
Một số trung tâm KH&CN nổi tiếng hiện nay trên thế giới là1:
Bangalore - Thung lũng Silicon thứ hai thế giới :Bangalore được coi là trung
tâm công nghệ của Ấn Độ và được ghi nhận là thành phố dẫn đầu thế giới về đổimới công nghệ, vượt trên cả nhiều thành phố của Mỹ, Nhật và Đông Nam Á Sựphát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm ở quốc gianày đã làm cho Bangalore trở thành một khu công nghệ cao khác biệt với các khucông nghệ cao khác trên thế giới Theo đánh giá, thành phố công nghệ này đóng gópkhoảng 36% trong tổng xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ
Với nguồn tài nguyên nhân lực khổng lồ, nhiều công ty đa quốc gia đổ xô vềđây xây dựng đại bản doanh của mình, tiến hành hàng loạt các hoạt động Nghiêncứu và Phát triển ( Research - Development : R&D ) Không chỉ có những “ônglớn” như IBM, Microsoft, Intel, HP, EMC, Google, Trilogy, Cisco, Dell, Yahoo,NetApp, Covansys, Sun, Adobe…mà cả những công ty của Ấn Độ như TCS,Infosys, Wipro cũng xúc tiến xây dựng những trung tâm Nghiên cứu và Phát triển( Research - Development : R&D ) Hiện nay, khoảng 250 công ty đa quốc gia công
1 Theo http://niemtin.free.fr/siliconthegioi.htm
Trang 31nghệ cao và 1500 công ty phần mềm đóng đô ở Bangalore đã thu hút một lượng lớntài năng Ấn Độ với điều kiện làm việc và mức lương hấp dẫn Ngày càng nhiềunhững tài năng công nghệ thông tin của Ấn Độ ở khắp nơi trên thế giới trở vềBangalore làm việc Ước đoán, có khoảng 40% tài năng công nghệ thông tin Ấn Độtập trung ở trung tâm công nghệ này.
Công nghệ thông tin luôn là lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất Ấn Độ
và đã góp phần tăng tốc nền kinh tế quốc gia Nguyên Thủ tướng Ấn Độ Atal BihariVajpayee từng tuyên bố “Ấn Độ sẽ trở thành siêu cường về công nghệ thông tin và
đi đầu trong kỷ nguyên công nghệ thông tin” Chính vì vậy, ngay từ ban đầu, chínhphủ Ấn Độ đã đầu tư xây dựng những trung tâm đào tạo và nghiên cứu về côngnghệ thông tin để cung cấp nguồn nhân lực, đồng thời thu hút những nhà đầu tưnước ngoài đến đóng đô ở đây Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) đãxếp Bangalore vào một trong bốn trung tâm công nghệ tốt nhất thế giới
Z-Park : Trung tâm kinh tế tri thức của Trung Quốc: Z-Park (Zhongguancun
Science Park) được mệnh danh là Công viên khoa học Stanford của Trung Quốc.Cũng giống như Thung lũng Silicon của Mỹ, Z-Park là sản phẩm của sự phát triểnnền kinh tế thị trường Chính phủ Trung Quốc coi đây như là một nơi thử nghiệm sự
tự do hóa nền kinh tế quốc gia và tạo môi trường thuận lợi cho triển khai những dự
án mạo hiểm công nghệ cao Z-Park là khu công nghệ cao lớn và lâu đời nhất trongtổng số 53 khu công nghệ cao quốc gia hiện nay của Trung Quốc Thực tế, đây làmột khu liên hợp gồm 7 công viên và bao phủ hơn 100 km2 Hiện nay, Z-Park làđại bản doanh của hơn 18.000 công ty, trong đó có hơn 15.000 công ty nước ngoài
Có thể thấy những công ty máy tính hàng đầu của Trung Quốc như Founder,Legend cũng như nhiều tập đoàn nước ngoài như Microsoft, Siemens, NEC,Goolge, Adobe đang hiện diện ở đây
Ngay kề Z-Park là những viện nghiên cứu và trường đại học danh tiếng nhưĐại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh và Viện Khoa học Quốc gia Trung Quốc.Trong khuôn viên của khu công nghệ cao này, những tòa nhà mới được xây dựngvới phương tiện nghiên cứu hiện đại sẽ hình thành nên vườn ươm công nghệ hàngđầu thế giới
Những tập đoàn đa quốc gia và những công ty đại lục đã tiến hành xây dựnghàng loạt trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ( Research - Development : R&D )biến Z-Park trở thành trung tâm kinh tế tri thức số một của Trung Quốc Các hoạtđộng Nghiên cứu và Phát triển ( Research - Development : R&D ) trong nhiều lĩnh
Trang 32vực đã và đang tạo ra những công nghệ mới và sản phẩm cung cấp cho thị trườngtoàn cầu Năm 2006, tổng thu nhập của Z-Park đạt 85,75 tỷ USD và xuất khẩu đạt12,6 tỷ USD Tính từ tháng 1 đến tháng 11 năm trước, chỉ tính riêng lĩnh vực côngnghiệp công nghệ thông tin đạt tổng thu nhập 45 tỷ USD
Trong tương lai, khu công nghệ cao này đang hướng tới trở thành công viênkhoa học và công nghệ hàng đầu thế giới
Dublin - Công viên công nghệ của châu Âu: Dublin được coi là trái tim kinh
tế của Ireland và viên ngọc của châu Âu Ngày nay, thành phố này không chỉ làtrung tâm tài chính, thương mại mà còn là đại bản doanh của công nghiệp côngnghệ cao Chính điều này đã làm cho Ireland vươn lên trở thành nước xuất khẩuphần mềm lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ Thế giới đã biết đến quốc gia này như là
“Thung lũng silicon” của châu Âu
Trong khi rất nhiều công ty đang chuyển ra ngoài lãnh thổ châu Âu, thìngược lại, cũng có nhiều “ông lớn” chuyển đến đóng đô ở Dublin như Intel, Google,Yahoo, eBay, Amazon…và tạo cho Ireland nhiều dấu ấn đặc sắc của công nghệ cao.Đây là một nơi vừa mới mẻ nhưng đầy hấp dẫn đối với những công ty đa quốc gia,
7 trong số 10 công ty công nghệ lớn nhất thế giới đã hiện diện ở đây Có hơn 1000công ty đa quốc gia đang hoạt động ở Ireland, trong đó khoảng một nửa là các công
ty Mỹ, và khoảng một phần ba số công ty tiến hành Phát triển (Research Development : R&D) Hiện tại có khoảng 210 công ty nước ngoài hoạt động tronglĩnh vực IT (Information Technology) ở Ireland thu hút khoảng 100.000 lao động
-Phần lớn các công ty đa quốc gia sử dụng Ireland như là cơ sở ở châu Âu của
họ Chính điều này đã giúp ngành công nghiệp công nghệ thông tin ở đây tăngtrưởng nhanh chóng Hiện tại, Intel là nhà sử dụng lao động tư nhân lớn nhất ởIreland với 5500 nhân viên Google cũng chọn Dublin là cơ quan đầu não của họ ởchâu Âu và đây cũng là hoạt động lớn nhất của tập đoàn này bên ngoài nước Mỹ vớiđội ngũ nhân viên đến từ hơn 40 nước
Dublin đang hưng thịnh và đầy kiêu hãnh về tốc độ tăng trưởng trong xuấtkhẩu và GDP lớn hơn bất cứ một quốc gia châu Âu nào khác Lượng vốn đầu tưmạo hiểm lên đến 0,04% GDP của nước này Dublin tiếp tục tỏa sáng và tự tin đểbiến Ireland trở thành “Thung lũng Silicon” của châu Âu
Công viên khoa học Hsinchu - “ Thung lũng Silicon ” của Đài Loan:
Thường được ví von là “thành phố của gió” và nổi tiếng với những đặc sản như thịt
Trang 33băm viên và mì gạo, Hsinchu nổi nên mạnh mẽ với Công viên Khoa học Hsinchu(HSP) - " Thung lũng Silicon" của Đài Loan Công viên khoa học này được xâydựng vào năm 1980, bao phủ 1100 ha và ngày nay trở thành ngôi nhà lớn của gần
400 công ty công nghệ cao Những lĩnh vực tập trung chủ yếu ở Công viên Khoahọc Hsinchu (HSP) bao gồm bán dẫn, máy tính, viễn thông và công nghiệp quangđiện tử Ngoài ra, nơi đây còn là trụ sở của nhiều công ty công nghệ sinh học và ydược Lân cận công viên này bao gồm những viện nghiên cứu và trường đại họcthanh thế như Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI), Đại học Quốc giaThanh Hoa, Đại học Quốc gia Chiao Tung là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dàocho công viên khoa học
Ngày nay, Công viên Khoa học Hsinchu (HSP) được coi là một trong nhữngđịa điểm quan trọng nhất thế giới trong lĩnh vực chế tạo các linh kiện bán dẫn, và làngôi nhà của hai nhà sáng lập ngành bán dẫn đứng đầu thế giới là TSMC và UMC.Những công ty như PS và ASE đang tạo ra những tiến triển lớn lao trong việc sảnxuất ra những chip điện tử dùng trong máy tính, điện thoại di động và tự tin chiếmlĩnh thị trường bán dẫn thế giới trị giá 227 tỷ USD Nhiều tập đoàn lớn như IBM,Dell, Compad, Texas Instrument đang là những khách hàng đặt mua những sảnphẩm công nghệ thông tin của Đài Loan
Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của Công viên Khoa học Hsinchu(HSP) đạt 6,49% Với những thành quả đạt được, HSP đã đóng một vai trò quantrọng thúc đẩy nền kinh tế của Đài Loan hơn 20 năm qua và trở thành mô hình côngviên khoa học kiểu mẫu toàn cầu
Phát triển KH&CN ngày nay đã trở thành nhu cầu bức bách và động lực trựctiếp quyết định tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng tác động mạnh mẽ tới tiến bộ xãhội Khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin hiện nay đã thâm nhậpvào tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến văn hoá nghệthuật, y tế, văn hoá, giáo dục, an ninh và quốc phòng Các cường quốc hàng đầu thếgiới như Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước Tây Âu cũng như các nước công nghiệp mới(NIC) và một số nước mới nổi lên, nhờ nắm bắt, nghiên cứu và sử dụng khoa họccông nghệ vào phát triển kinh tế và xã hội nên đã trở thành những nước kinh tế pháttriển nhất, thu nhập cao và quốc phòng hùng mạnh Đây cũng là những nước dẫnđầu đang bước vào nền kinh tế tri thức Nhờ khoa học và công nghệ mà các sảnphẩm hàng hoá và dịch vụ của các nước này có giá trị gia tăng cao (trong đó hàm
Trang 34lượng khoa học và công nghệ chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị hàng hoá), sức cạnhtranh lớn và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và dân số với quy mô theo cấp sốnhân trên hành tinh chật hẹp với nguồn tài nguyên có hạn, đang đặt ra những tháchthức lớn đòi hỏi khoa học và công nghệ phải giải quyết Than, dầu mỏ và cáckhoáng sản khác đến một ngày nào đó cũng sẽ được khai thác hết, môi trường sống
bị suy thoái nghiêm trọng, lương thực canh tác theo kiểu truyền thống không đủnuôi sống con người Theo tính toán, thế giới cần sản xuất một lượng lương thựcgấp đôi số lượng lương thực hiện nay để nuôi 8 tỷ người vào năm 2025, và gấp 3lần để nuôi 10 tỷ người vào năm 2050 Do đó kỹ thuật tạo giống hữu tính không cònkhả năng tăng năng suất như trước đây mà chỉ còn tăng được 1,5% mỗi năm Trongkhi đó, kỹ thuật biến đổi gen có khả năng tạo bước nhảy vọt không chỉ trong việctăng năng suất và chất lượng mà còn bảo tồn đa dạng sinh học, giảm tác hại của cáchoạt động nông nghiệp đối với môi trường và giảm tác hại đối với biến đổi khí hậu.Không nghi ngờ gì nữa, có thể khẳng định rằng, khoa học và công nghệ hiệnnay đã trở thành cứu cánh giải quyết nhiều vấn đề nan giải và bức xúc của thời đạiđặt ra đối với loài người, từng quốc gia, từng doanh nghiệp, cơ quan trong cuộc đấutranh sinh tồn, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là trong bối cảnh toàn cầuhoá và cạnh tranh gay gắt trên phạm vi toàn cầu
Chính vì thế mà buộc các quốc gia phải quan tâm đến sự phát triển của khoahọc và công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp vànền kinh tế, cũng như đối với các lĩnh vực khác Để thúc đẩy phát triển khoa học vàcông nghệ, các nước đã chú trọng xây dựng các mô hình phát triển KH&CN Hiệnnay, trên thế giới có rất nhiều mô hình phát triển khoa học và công nghệ khác nhau.Trong đó có trung tâm khoa học và công nghệ quốc gia và khu vực Nhưng, thế nào
là Trung tâm khoa học và công nghệ quốc gia (hay khu vực, thế giới) thì chưa cóđịnh nghĩa Do đó, trước hết chúng ta cần phải làm rõ và hiểu thống nhất khái niệmnày, sau đó mới bàn về mô hình phát triển và những vấn đề khác liên quan đến nó.Trung tâm khoa học và công nghệ là nơi tập trung các tổ chức khoa học vàcông nghệ, có đủ năng lực nghiên cứu và tổ chức thực hiện các hoạt động khoa học
và công nghệ quan trọng, có tác dụng quyết định, có ảnh hưởng lớn và chi phốinhững nơi khác về lĩnh vực đó với mức độ và phạm vi khác nhau, tuy theo cấp độ
Trang 35trung tâm.
Tổ chức khoa học và công nghệ, theo Luật khoa học và công nghệ, bao gồm:
a Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển)
b Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (sau đây gọi chung là Trường đại học)
c Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
Khái niệm khoa học để cập đến trên đây được hiểu là hệ thống tri thức về cáchiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Khái niệm công nghệ được hiểu là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng,
bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Trung tâm khoa học và công nghệ có các cấp độ khác nhau tuỳ theo quy môtrình độ và phạm vi ảnh hưởng chi phối của nó, như trung tâm khoa học và côngnghệ quốc gia, trung tâm khoa học và công nghệ khu vực, trung tâm khoa học vàcông nghệ thế giới
Trung tâm khoa học và công nghệ quốc gia là địa bàn tập trung (quy tụ) nhiều
tổ chức khoa học và công nghệ, có thể đặt ở thủ đô, thành phố lớn hoặc một địaphương nào đó trong lãnh thổ quốc gia Ở đây tập trung các tổ chức khoa học vàcông nghệ hàng đầu; có đội ngũ nhân lực khoa học trình độ cao; có cơ sở vật chất
kỹ thuật, trang thiết bị nghiên cú tiên tiến, hiện đại; có công trình, sản phẩm khoahọc và công nghệ có giá trị và uy tín; nơi tập trung nhiều cuộc hội thảo, hội nghịkhoa học và công nghệ tầm cỡ quốc gia, quốc tế v v… Trung tâm cũng là nơi đàotạo nhân lực khoa học và công nghệ cho đất nước
Chức năng của Trung tâm khoa học và công nghệ quốc gia là nghiên cứu khoahọc và công nghệ, bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ,dịch vụ, khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lýhoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ
Trung tâm khoa học và công nghệ gồm nhiều tổ chức khoa học và công nghệđộc lập, tự chủ về tài chính Trung tâm làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiêncứu và phát triển công nghệ theo đơn đặt hàng của Chính phủ và theo hợp đồng củadoanh nghiệp, khách hàng
Trang 36Hình thành và phát triển một trung tâm khoa học và công nghệ là một quátrình, song nhất thiết phải có quy hoạch phát triển và đầu tư xây dựng của nhà nước,nhằm tạo những tiền đề cơ bản ban đầu cho sự hình hình và phát triển đúng hướng
và đủ tầm vóc của một trung tâm quốc gia
1.2.2 Các mô hình phát triển KH&CN hiện nay của thời đại
Quá trình phát triển khoa học và công nghệ là sự kết hợp giữa sáng tạo độc lập
và học hỏi lẫn nhau giữa các quốc gia Cho đến nay, trên thế giới đã hình thànhnhững mô hình mang tính chất chung được áp dụng ở nhiều nước khác nhau Nhưng
mô hình phát triển khoa học và công nghệ cụ thể ở mỗi quốc gia có thể khác nhau,tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi nước Song nếu xét một cách tổng thể, bao gồm cácthành phần (tức là các loại hình tổ chức khoa học và công nghệ) sau đây:
a Hệ thống trường đại học, học viện, trường cao đẳng (sau đây gọi tắt là Đại học)
Giáo dục đại học trên thế giới hiện nay đã có những thay đổi mang tính độtphá cả về nội dung, mô hình tổ chức và phương thức quản lý, và nó vẫn đang tiếptục đổi mới, hoàn thiện dần nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình
độ khoa học và công nghệ cao, phù hợp với đòi hỏi phát triển kinh tế xã hội trongthời đại loài người đang tiến vào nền kinh tế tri thức Giáo dục ngày nay không chỉ
là sự truyền bá kiến thức đơn thuần mà phải thực sự gắn chặt với sản xuất và thúcđẩy phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục phải trở thành công cụ quan trọng tạo ra lợinhuận cho xã hội và đào tạo, bồi dưỡng những nhân tài mới cho xã hội Theophương thức đó, đã xuất hiện một xu hướng trường đại học trở thành Công ty, gọi làCông ty đại học Công ty đại học đang trở thành xu thế phát triển tất yếu tạo thời cơphát triển cho trường đại học và doanh nghiệp Trường đại học đầu tiên bước vàocon đường “Công ty đại học” từ năm 1969 là Trường đại học Cambridge có cả 700năm lịch sử Năm 1970 trường đại học Cambridge xây dựng vườn khoa họcCambridge Trong 10 năm trường đã tập kết đa số các công ty kỹ thuật và các ngànhnghề của nó, bao gồm phần cứng và phần mềm của máy tính, các máy móc về điện
tử, kỹ thuật sinh học v v … đồng thời lắp đặt các loại thiết bị có thể sử dụng chung.Nhờ các công ty kỹ thuật này có đủ năng lực nghiên cứu và chế tạo, thiết kế, sảnxuất những sản phẩm chất lượng cao với số lượng ít, nên làm cho tỷ lệ lợi nhuậncủa vườn khoa học Cambridge vọt lên và tiếp tục duy trì mức ấy Những công ty kỹthuật cao này và học Viện Cambridge độc lập về tài chính, suốt 30 năm nay vẫn giữđược quan hệ mật thiết Sự liên kết giữa trường đại học với công ty có thể sáng tạo
ra những sản phẩm kỹ thuật phong phú và chất lượng cao, tạo ra hàng loạt nhân tài
Trang 37và kinh nghiệm giảng dạy phong phú.
Ngày nay, các nước đều đang lập các vườn khoa học, các khu công nghiệpxung quanh trường đại học, các trường đại học liên kết với xí nghiệp ngày càngnhiều và trở thành một khối gắn kết
Mỹ cũng thành lập các công ty đại học Các công ty đại học ở Mỹ có nhữngđặc điểm sau: Một là, hiệu trưởng là người có kinh nghiệm công tác ở doanhnghiệp Dùng phương thức thị trường để thu hút sinh viên Mời các học giả nổitiếng đến giảng dạy Hai là, Công ty hoá các trường đại học tức là có thể làm choviệc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất, về quản lý kinhdoanh, càng có thể gia tăng thu nhập tài chính và nhân đó không ngừng cải thiệnđiều kiện xây dựng trường, nâng cao vị trí của trường Ba là, công ty hoá trường họclàm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và giáo dục ngày càng mật thiết, trường đạihọc và xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương diện dịch vụ
kỹ thuật Bốn là, xí nghiệp thu nạp nhà trường để nhà trường trực tiếp cung cấp chocông ty những công nhân hợp quy cách
Hình thức công ty hoá trường đại học có muôn hình vạn trạng, một trongnhững hình thức đó là giữa công ty, xí nghiệp và trường đại học ký với nhau mộtkhế ước cung cấp nhu cầu và đảm bảo việc làm cho sinh viên tốt nghiệp
Do những ưu điểm trên, “Công ty đại học” đang mọc lên như nấm, từ nước
Mỹ đến Châu Âu, rồi tiến tới toàn thế giới Những công ty đại học với những hìnhthức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hoá trường đại học là xu thế quan trọngcủa phát triển giáo dục ngày nay
b Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứ khoa học và phát triển
công nghệ (gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển).
Hệ thống này bao gồm các Viên nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiêncứu và phát triển, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thửnghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác
Các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc hệ thống này nếu căn cứ vào mụctiêu, quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động để phân loại thì có thể phân thành 3 loại:
Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp quốc gia Tổ chức nghiên cứu và phát triểncấp bộ ngành Trung ương và địa phương (trực thuộc trung ương) và tổ chức nghiêncứu và phát triển cấp cơ sở
Dưới đây trình bày một số tổ chức chính của hệ thống
Trang 38- Viện nghiên cứu và phát triển
Để mở đường và tạo động lực thúc đẩy phát triển nghiên cứu khoa học vàcông nghệ phục vụ phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế, nhiều nước đã thànhlập Viên nghiên cứu khoa học và công nghệ quốc gia làm đầu tàu nghiên cứu khoahọc và phát triển công nghệ quốc gia Viện được Chính phủ tập trung đầu tư nhântài vật lực xứng đáng, cùng với các chính sách khuyến khích ưu tiên phát triển lâudài theo mục tiêu, lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng được lựa chọn mang tầm chiếnlược và các chương trình nghiên cứu rõ ràng đã được xác định Mục tiêu của việnnghiên cứu và phát triển công nghệ là tiếp cận nghiên cứu, ứng dụng và phát triểnkhoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất, nhằm tạo những sản phẩm hàng hoá
có giá trị gia tăng ngày càng cao, có sức cạnh tranh ngày càng lớn và hiệu quả kinh
tế cao
Muốn thực hiện được mục tiêu đó thì, ngoài việc đầu tư ban đầu cùng với cácchính sách khuyến khích đặc biệt của Chính phủ, Viện cần có một cơ chế độc lậptrong nghiên cứu, sáng tạo, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, nghiên cứu theohợp đồng
Trên thế giới, nhiều nước đã thành công rực rỡ về phát triển khoa học và côngnghệ nhờ dựa chủ yếu vào mô hình Viện nghiên cứu khoa học công nghệ quốc gia,như Viện MIT (Hoa Kỳ) và Viện KIST (Hàn Quốc)
- Khu công nghệ cao: Khu công nghệ cao là hình thức tổ chức của nơi tiến
hành tạo ra các sản phẩm công nghệ cao
Hiện nay trên thế giới xu thế hình thành khu công nghệ cao trở nên phổ biến
Có khoảng 800 khu được xếp vào loại khu công nghệ cao Khu công nghệ cao đượcchia thành 5 loại:
* Công viên khoa học truyền thống (Traditional Science park) Trong đó có:Trung tâm ươm tạo (incubation center)
Công viên khoa học/công viên công nghệ (Science/Technology park)
Công viên nghiên cứu (Research park)
* Thành phố khoa học (Science City hay Technopolis) Trong đó có:
Thành phố khoa học (Science City hay Technopolis)
Chuỗi đổi mới theo vùng (Regional Innovation Cluster)
* Công viên đổi mới công nghệ (Technologi Innovation park – TIP)
Trang 39* Trung tâm công nghệ (Technology Center)
* Công viên khoa học chuyên biệt (Special Science park)
Khu công nghệ cao là nơi gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - sản xuất – đào tạonguồn nhân lực Khu công nghệ cao khép kín ở các nước công nghiệp mới (NIC) đượcxây dựng trên cơ sở gắn kết 3 khâu này Đây là nơi tạo ra các sản phẩm công nghệ cao
có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới trong thời đại toàn cầu hoá Trong khu côngnghệ cao của các nước NIC có sự liên kết chặt chẽ giữa 3 trụ cột:
Nghiên cứu và triển khai
Đào tạo và cung ứng nhân lực
Doanh nghiệp công nghệ cao
Dưới đây nêu tổng quan 6 khu công nghệ cao, trong đó có 3 khu nằm ở ViệtNam và 3 khu còn lại nằm ở các quốc gia Châu Á khác:
Tổng quan các khu công nghệ cao
Tên và địa điểm Thời điểm
thành lập
Khu vực phát triển Kế hoạch sử dụng đất
Khu công nghệ cao: 316 Khu đào tạo/NC&TK 96 Khu hỗ trợ công nghệ cao 19 Thành thị tự do 55 Trung tâm điều hành 34 Khu dân cư 62 Kiến trúc phong cảnh 176 Bãi đỗ xe và vận chuyển 104 Khu khác 51 Tổng cộng: 913 (Dựa trên bản quy hoạch tổng thể)
TT thương mại và trưng bày Biệt thự
Nhà trẻ Bãi đỗ xe Khu giải trí
Khu công nghệ
cao Hòa Lạc 10/1998
Tổng diện tích:
1.650 ha Bước 1 là 200 ha
Khu công nghiệp công nghệ cao Khu nghiên cứu & Triển khai (R&D)
Khu Giáo dục – Đào tạo Khu phần mềm
Khu trung tâm Khu nhà ở Khu Dịch vụ hỗ trợ
Trang 40Tên và địa điểm Thời điểm thành lập Khu vực phát triển Kế hoạch sử dụng đất
Khu công nghệ cao 405 ha Khu NC&TK 157 ha
Đô thị 113 ha Nhà ở 470 ha Khu vực tiện nghi 248 ha Khu cơ quan 55 ha
Công viên khoa
TT thương mại và trưng bày Biệt thự
Nhà trẻ Bãi đỗ xe Khu giải trí Thành phố khoa
học Tsukaba
(Tsukuba, quận
Ibaraki, Nhật Bản
9/1963 (chính phủ quyết định cho xây dựng)
Tổng cộng 28.400
ha (2.700 ha cho khu đào tạo và nghiên cứu, 25.700
ha cho khu giáo dục
Khu NC&ĐT 1.465 ha Khu dân cư 665 ha Đường, công viên, 449 ha Các khu khác 121 ha Tổng cộng 2.700 ha ( Khu nghiên cứu và đào tạo)
Tiến trình phát triển của các khu công nghệ cao
Tên và địa điểm Ngành công nghiệp Giáo dục, NC&TK Cơ sở hỗ trợ
Trung tâm NC&TK: Bao gồm
5 phòng thì nghiệm: Công nghệ nano, CNSH,
cơ khí chính xác và
tự động, phòng CNTT
Trung tâm ươm tạo ( hiện tại nằm ở thành thị)
ty Việt Nam, 17 – công ty châu Á,
10 - công ty châu
Âu, 7 – công ty Mỹ
6 trung tâm đào tạo CNTT:
Đại học mạng Cisco, NIIT ( của
Ấn Độ), hệ thống cao đẳng cộng đồng Houston (Mỹ), trung tâm đào tạo CNTT HCMC, SDE và cao đẳng Hoa Sen
30 nhà đầu tư đã đầu tư vào nhiều lĩnh vực như cơ sở NC&TK, trung tâm đào tạo, trung tâm ươm tạo, ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, vv
Khu công nghệ
cao Hòa Lạc
Các ngành công nghiệp chính Công nghệ thông tin, truyền thông
và công nghệ phần mềm; Công nghệ sinh học phụ
- Khu Nghiên cứu& triển khai (R&D): Là nơi có môi trường thuận lợi để tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và
- Khu Trung tâm: Nơi xây dựng khu hành chính của Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hoà Lạc và các đơn vị cung cấp dịch vụ trong Khu Công nghệ cao Hoà Lạc.
- Khu nhà ở: Bao gồm khu nhà