1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ - NCS. Nguyễn Thị Vân Anh

24 731 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một lí do nữa là ý thức hướng về cội nguồn truyền thống văn hóa dân gian mà cụ thể là đi vào tìm hiểu tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ, chúng tôi muốn hiểu hơn về lịch

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa, ngữ dụng và về tín hiệu của ngôn ngữ, nhưng những vấn đề về mối quan hệ giữa lí thuyết tín hiệu học với góc độ tạo nghĩa của ngôn ngữ, giữa ngôn ngữ với những đặc trưng văn hóa dân tộc vẫn chưa được nghiên cứu triệt để Đó là lí do thứ nhất chúng

tôi chọn đề tài “Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ” để nghiên cứu với mong

muốn đóng góp một tiếng nói chung cho vấn đề này

Lí do thứ hai là văn hóa địa phương vừa mang trong mình những nét chung của văn hóa dân tộc, vừa có những nét riêng biệt độc đáo đậm đà bản sắc riêng Tìm hiểu ca dao Nam Trung Bộ dưới góc nhìn của tín hiệu học, chúng tôi muốn khám phá cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc, độc đáo về phương thức thể hiện, cũng như nội dung hiện thực và nghệ thuật biểu hiện của nó

Một lí do nữa là ý thức hướng về cội nguồn truyền thống văn hóa dân gian mà cụ thể là đi vào tìm

hiểu tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ, chúng tôi muốn hiểu hơn về lịch sử dựng

nước và giữ nước của dân tộc, hiểu hơn về một thể loại văn học truyền thống Lí do thứ tư, chúng tôi mong muốn góp thêm một cách tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn tín hiệu học Các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học chính là “chìa khóa” để khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.Với những lí

do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ” nhằm phác

họa một bức tranh toàn cảnh về hệ thống tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao của vùng đất này

2 Lịch sử vấn đề

Ở Việt Nam, vấn đề tín hiệu (TH) và tín hiệu thẩm mĩ (THTM) đã được nhiều nhà nghiên cứu đề

cập như Đỗ Hữu Châu với bài viết: Lý thuyết hệ thống trong ngôn ngữ học dưới ánh sáng của phương pháp luận khoa học của Mác [26] và Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học [19], Nguyễn Lai: Từ một số luận điểm của Mác suy nghĩ về bản chất tín hiệu của ngôn ngữ [60], Hoàng Trinh: Từ kí hiệu học đến thi pháp học [148] Năm 1977 trên báo Văn nghệ, tác giả Hoàng Tuệ có bài nghiên cứu “Tín hiệu và biểu trưng”

Trong những năm gần đây, nhiều luận án triển khai theo hướng nghiên cứu này cũng đã khẳng định được ý nghĩa thực tiễn của hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ học, đồng thời đã có những đóng góp quan trọng cho lí thuyết THTM Việc vận dụng lý thuyết THTM và nghiên cứu văn

chương phát triển nhanh với những luận án, luận văn của các tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh: Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Xuân Quỳnh (1990), Lê Thị Hồng: Tìm hiểu vấn đề tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Huy Cận (1993), luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Nhàn “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao”, Tác giả Phạm Thị Kim Anh “Hình thức ngôn ngữ và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ “Liễu” trong thơ mới” Tác giả Hoàng Trinh trong “Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh” (2003) ở phần thứ hai “Kí hiệu học: những vấn đề liên quan đến thi pháp học” đã nêu những

vấn đề: đặc thù của một kí hiệu, tính một nghĩa và tính đa nghĩa của kí hiệu ngôn ngữ

Tác giả Bùi Minh Toán với bài nghiên cứu “Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương” [141,1] đã đề cập đến sự chuyển hóa của TH ngôn ngữ thành THTM có sự thay đổi về chất Kết

quả của những công trình đó sẽ là cơ sở, tiền đề để chúng tôi tham khảo thực hiện đề tài của mình

Thể loại ca dao có rất nhiều công trình nghiên cứu Chẳng hạn như: “Về một phương diện nghệ

thuật trong ca dao tình yêu” (1990) của Trần Thị An, “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam” (1991) của Mai Ngọc

Chừ, “Hình tượng khăn, nón, áo trong ca dao- dân ca Việt Nam” (1991) của Nguyễn Văn Hùng, “Con thuyền trong ca dao dân ca Việt Nam” (1991) của Lê Minh Tiệp Có thể thấy, các công trình nghiên cứu

về ca dao dưới góc độ của văn học vô cùng phong phú và tập trung chủ yếu ở mảng ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ Số lượng các công trình nghiên cứu về ca dao Nam Trung Bộ nói chung còn rất hạn chế Như vậy có thể khẳng định những công trình nghiên cứu về ca dao Nam Trung Bộ dưới góc nhìn ngôn ngữ, cụ

Trang 2

thể là dưới góc độ lí thuyết THTM vẫn còn vắng bóng Nghiên cứu đề tài “Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ” chúng tôi mong muốn góp thêm một tiếng nói mới cho hướng nghiên cứu

về hiện tượng văn học rất đỗi phức tạp và lý thú vẫn còn để ngỏ này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là tiến hành tìm hiểu các hình tượng nghệ thuật được thể hiện qua các tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ Từ đó, đưa ra những nhận định chung về một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ được chuyển hóa như thế nào để trở thành một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ biểu đạt những giá trị thẩm mĩ - nghệ thuật ca dao

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể trước hết là hệ thống hóa các lý thuyết về TH, TH ngôn ngữ, TH ngôn ngữ thẩm mĩ, các nội dung về trường nghĩa, ngữ cảnh, mối quan hệ giữa trường nghĩa với các vấn đề về văn học, ngôn ngữ học, THTM, TH ca dao

Tiếp đến, áp dụng lý thuyết trên vào miêu tả các đơn vị ngôn ngữ thuộc các trường nghĩa cụ thể trong ca dao Nam Trung Bộ đó là: trường nghĩa hiện tượng tự nhiên, trường nghĩa vật thể nhân tạo,

trường nghĩa thực vật và trường nghĩa động vật về hình thức biểu đạt và nội dung ý nghĩa, miêu tả và

phân tích xem chúng đã được sử dụng, vận hành và biến đổi như thế nào qua mỗi hình thức biểu đạt Việc

nghiên cứu hình thức biểu đạt và ý nghĩa thẩm mĩ của các THNN trong ca dao Nam Trung Bộ nhằm chỉ ra được mối quan hệ gắn bó giữa con người với môi trường cũng như vai trò của tự nhiên trong tư duy nghệ

thuật của những sáng tác dân gian Cũng từ đó chỉ ra những đặc trưng của các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ Những THTM điển hình được nghiên cứu trong ca dao Nam Trung Bộ chúng ta sẽ

nhận thấy dấu ấn văn hóa của vùng đất này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do số lượng các bài ca dao khảo sát rất lớn và các TH khảo sát có tính chất đa dạng, phức tạp nên chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu những THTM điển hình, tiêu biểu, những TH có tần suất cao và có giá trị

biểu trưng phong phú đại diện cho mỗi trường nghĩa trong ca dao Nam Trung Bộ Chúng được coi là các

“tiêu điểm”, các từ trung tâm, từ điển hình để xét toàn diện các mặt ngôn ngữ - văn hóa - văn học của

một trường nghĩa cụ thể Hay có thể nói, những TH chúng tôi nghiên cứu được xem như một hệ thống THTM đặc thù, phản ánh bản sắc văn hóa Nam Trung Bộ bằng hình thái thẩm mĩ - ngôn ngữ ca dao

Trong quá trình phân tích các THTM trong ca dao Nam Trung Bộ, chúng tôi có đối sánh với những TH ca dao ở các vùng miền khác để thấy được tính chất dung hợp của chúng cũng như những sự khác biệt nhất định Chính sự khác biệt đó góp phần giúp cho ta nhận ra bản sắc văn hóa phong phú đa dạng của mỗi cộng đồng người Việt, mà cụ thể ở đây là văn hóa của người dân Nam Trung Bộ

Nguồn tư liệu được sử dụng trong luận án là: 1.Nhiều tác giả, (2006), Ca dao, dân ca đất Quảng, Nxb Đà Nẵng, 2 Hoàng Chương, Nguyễn Có, (1997), Bài chòi và dân ca Bình Định, Nxb Sân khấu, 3 Nguyễn Định, chủ biên, (2002), Văn học dân gian Sông Cầu, UBND Huyện Sông Cầu, 4 Nguyễn Đình

Tư, (1965), Non nước Phú Yên, Nxb Tiền Giang, 5.Nguyễn Đình Tư, (2003), Non nước Khánh Hòa, Nxb Thanh niên, 6 Thạch Phương - Ngô Quang Hiển, (1994), Ca dao Nam Trung Bộ, Nxb KHXH, H, 7 Bùi Nguyễn Hương Trà, (2004), Sắp xếp và phân loại ca dao lưu truyền ở Huyện Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa, Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Quy Nhơn, 8 Trương Thị Kim Chánh, (2010), Phân loại và bước đầu đánh giá ca dao sưu tầm và lưu truyền ở tỉnh Bình Định, Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Quy Nhơn, 9 Nhiều tác giả - Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Quy Nhơn, (2011), Ca dao Nam Trung Bộ

Dựa vào những tư liệu trên, chúng tôi thu được 4.537 bài ca dao chứa tín hiệu cần nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là các THTM ca dao Các THTM này tồn tại luôn luôn gắn

chặt với môi trường văn hóa, gắn liền với những yếu tố về địa lí, lịch sử Vì vậy cần phải sử dụng

phương pháp nghiên cứu liên ngành

Trang 3

5.2 Vận dụng các phương pháp, thủ pháp, thao tác nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù: thống kê, phân

loại

5.3 Luận án vận dụng phương pháp miêu tả và phân tích Để làm sáng tỏ cái hay, cái đẹp trong

khả năng thực hiện nghĩa của các THTM, chúng tôi đã vận dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh

5.4 Luận án còn sử dụng phương pháp so sánh

6 Ý nghĩa và đóng góp của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ nhìn từ góc độ thực tiễn: bản chất THTM mà cụ thể ở đây là THTM trong ca dao Nam Trung Bộ.Cũng là lần đầu

tiên, các THTM điển hình của các trường nghĩa: hiện tượng tự nhiên, vật thể nhân tạo, thực vật, động vật

trong ca dao Nam Trung Bộ được miêu tả cả bề rộng lẫn chiều sâu, từ hình thức biểu đạt đến nội dung ý nghĩa, từ bình diện ngôn ngữ thông thường đến bình diện ngôn ngữ nghệ thuật, từ các ý nghĩa cơ sở đến những ý nghĩa nghệ thuật cụ thể, mới mẻ, sinh động Và cũng từ những ý nghĩa chung và riêng đó, luận

án chỉ ra những đặc trưng của các THTM trong ca dao Nam Trung Bộ có so sánh với ca dao các vùng miền khác Kết quả nghiên cứu, một mặt góp phần làm cụ thể hơn việc đọc ca dao theo thi pháp tín hiệu học, mặt khác góp thêm tiếng nói vào công cuộc nghiên cứu lịch sử phát triển ngôn ngữ thơ ca, phát triển nhận thức thẩm mĩ của dân tộc Qua đó còn góp phần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quan hệ liên ngành

Trong xu thế dạy học tích hợp: ngôn ngữ- văn chương - văn hóa, một vấn đề trọng tâm là phương pháp giải mã ngữ nghĩa nghệ thuật- văn hóa ( YNTM) của các THTM, các hình tượng nghệ thuật phải tiến hành như thế nào để đạt hiệu quả Đặc biệt với ca dao- thể loại văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nền văn học của dân tộc Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ

là những gợi dẫn hữu ích góp phần nâng cao chất lượng dạy học các bộ môn hữu quan

7 Cấu trúc của luận án

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Các định hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu

1.1.1 Tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ

1.1.1.1 Tín hiệu

a Khái niệm tín hiệu: Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lấy định nghĩa rộng

của F Guiraud làm xuất phát điểm bởi vì nó có tác dụng phát hiện ra những đặc trưng TH học của các TH

ngôn ngữ Như vậy, một sự vật muốn trở thành TH phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: TH phải có tính vật chất.; TH phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó; TH phải được chủ thể tiếp nhận

và lý giải được; TH phải nằm trong một hệ thống nhất định và có đặc điểm khác biệt với các yếu tố khác

cùng hệ thống

b Phân loại tín hiệu: Các nhà nghiên cứu TH học đã phân các TH thành những phạm trù khác

nhau K.Buhler chia các TH thành: Symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng), Symptome (TH bộc lộ trạng thái tâm sinh lí, tư tưởng, tình cảm của người nói), Signal (TH gây tác động tâm sinh lí cho người nghe) [17, 711] Ch.S.Pierce phân chia TH thành ba loại chính: Hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index), và ước hiệu

(symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa cbđ và cđbđ mà F.de Saussure đã đưa ra Morris dựa vào mối

quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị để chia TH thành hai loại: các chỉ hiệu và định hiệu [17,712] A.Schaff xuất phát từ cơ sở chỉ xem TH gắn liền với chức năng giao tiếp, nên ông tiến hành phân loại như sau: đầu tiên ông phân TH thành TH nhân tạo và TH tự nhiên (TH đích thực)[17,713]

P.Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH Ông phân chia TH dựa trên mối quan hệ giữa thực

tế với nhận thức của con người P.Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân

tạo[17,714]

Trang 4

Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa ra bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2/ Dựa vào nguồn gốc của tín hiệu, 3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, 4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của tín hiệu [17,716-718] Dựa vào mặt thể chất của TH có thể phân chia ra được các loại TH như: TH màu sắc, TH âm thanh Trong đó THNN được coi là một loại TH đặc biệt

1.1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ: F.de Saussure xác định THNN như sau: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền

thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh, hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này phải có cái kia Trong đó khái niệm được gọi là cái

được biểu đạt (cđbđ) và hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu đạt (cbđ )” [112,121]

Ch.S Pierce cũng có quan niệm tương tự Ông cho rằng đại đa số THNN thuộc loại ước hiệu, loại

TH mà mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên do Loại TH này

sẽ mất tư cách là TH nếu không có cái lí giải F.de Saussure chỉ rõ rằng “Thường người ta không nói bằng

TH riêng lẻ, mà bằng từng nhóm TH, từng khối có tổ chức, vốn cũng là TH ” [17, 221] Sau này, Ch.W

Morris cũng đồng tình với F de Saussure về quan điểm cho rằng tất cả các TH đều nằm trong quan hệ với các TH khác và quy định lẫn nhau [17, 712] Do đó, các TH luôn nằm trong một hệ thống nhất định Ngôn ngữ là một loại TH đặc biệt nên nó cũng lập thành một hệ thống với những cấp độ và quan hệ đặc thù của ngôn ngữ

1.1.1.3 Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ

a Khái quát về tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ: Ch.Morris cho rằng THTM là: “Một thuật ngữ của

tín hiệu để phân biệt nó với tín hiệu khác ở chức năng thẩm mĩ và đặc trưng miêu tả hoặc tạo hình”[Dẫn

theo 50, 218] Tác giả Lại Nguyên Ân quan niệm về THTM trong “150 thuật ngữ văn học” như sau:“Là

những hệ thống vật chất truyền tải các thông báo Đại diện cho các hình thái hoạt động vật chất và các mối quan hệ của con người, các hệ thống ngôn ngữ kí hiệu ở nghệ thuật trở thành “vật tải” các nội dung khách quan can dự vào quá trình phản ánh thực tại bằng nghệ thuật” [4,127] Theo Bùi Minh Toán: “Tín hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc

về cái đẹp Nó cũng như mọi loại tín hiệu khác, cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nhưng

cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ” [141, 1] Đỗ Hữu Châu đã có những kiến giải cụ thể về THTM

ngôn ngữ: THTM là phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - THTM, cú pháp - THTM THNN tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức- cbđ của THTM [15,18]; THTM phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực Chẳng hạn như một con

thuyền, một dòng sông, hay một nỗi buồn nào đó [17, 576]

Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất tên gọi tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ cũng

là tín hiệu thẩm mĩ Từ những điều đã được trình bày trên đây, để làm rõ hơn mối quan hệ giữa THNN và

THTM, có thể minh họa bằng sơ đồ sau:

Cbđ hình thức

TH ngôn ngữ

THTM

Cđbđ nội dung (ý nghĩa thẩm mĩ)

Từ sơ đồ này, chúng ta thể thấy rằng cả cái hợp thể cbđ và cđbđ tạo thành THNN đã trở thành cbđ cho một cđbđ mới là ý nghĩa thẩm mĩ của THTM trong tác phẩm văn học Hay nói một cách khác, THTM

là tổng hòa tính hai mặt của THNN Theo quan niệm của chúng tôi, hình thức là tất cả các phương tiện ngôn ngữ được tổ chức thành văn bản ca dao Hình thức ở đây liên quan chặt chẽ với hình tượng nghệ thuật và tư tưởng, quan niệm của tác giả Điều đáng chú ý ở đây nếu mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ trong

ngôn ngữ tự nhiên có thể là võ đoán thì mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ trong THTM lại là luôn có lí do

Trang 5

và là lí do liên hội Thẩm mĩ: 審美 có nghĩa là “cái đẹp” Mác - Lênin cho rằng: “Cái đẹp là sự tác động

qua lại giữa đối tượng thẩm mĩ và chủ thể thẩm mĩ tạo nên hứng thú phổ biến cho chủ thể từ tính hình tượng, tính hoàn thiện, toàn vẹn, cân xứng, hài hòa”[Dẫn theo 57,90]

Trên cơ sở các ý kiến nêu trên cùng với những điểm đã trình bày, chúng tôi đề xuất định nghĩa về

THTM như sau: Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện được lựa chọn và sáng

tạo trong tác phẩm nghệ thuật nhằm biểu hiện nội dung thẩm mĩ Tính thẩm mĩ của các tín hiệu thẩm

mĩ biểu hiện ở sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng nằm ở cả nội dung và hình thức của tín hiệu

b Đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ: đặc tính về nguồn gốc, đặc tính về cấp độ, đặc tính tác động, đặc tính biểu hiện, đặc tính biểu cảm, đặc tính biểu trưng, tính hệ thống , tính trừu tượng và cụ thể: đây cũng

chính là vấn đề hằng thể và biến thể của THTM Trong TH học, người ta phân biệt điển dạng và hiện dạng của mỗi TH Điển dạng là TH trong tính trừu tượng bất biến của nó, còn gọi là hằng thể của TH Hiện dạng là TH trong tính cụ thể, khả biến của nó, còn gọi là các biến thể của TH Biến thể của TH nói chung,

THTM nói riêng được thể hiện ở 2 dạng sau: Biến thể từ vựng (BTTV): Đây là tập hợp những từ ngữ gần

nghĩa hoặc cùng trường nghĩa có thể thay thế cho nhau Đây là cơ sở cho sự lựa chọn của các nhà văn, nhà

thơ; Biến thể kết hợp (BTKH): Cùng một TH nhưng nó có sự biến đổi ít nhiều do kết hợp với những TH

khác nhau ở trước và sau nó

1.1.1.4 Một số vấn đề tín hiệu văn chương - tín hiệu ca dao

a Ưu thế của các TH văn chương không phải ở chỗ miêu tả, biểu hiện trực tiếp đối tượng mà ở

chỗ gợi ra các “biểu hiện” hết sức phong phú, sâu sắc về đối tượng.TH ca dao nói riêng ngay từ đầu, mối quan hệ giữa cbđ - cđbđ đã mang tính ước lệ - gián tiếp cho nên YNTM, hình tượng nghệ thuật chỉ hiện ra trong ý thức, trong trường liên tưởng của các chủ thể giao tiếp

b.Về khả năng miêu tả những cái vô hình trong thế giới hữu hình, THVC cũng tỏ rõ lợi thế hơn hẳn

các THTM khác

c TH ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, có cả “văn bản” tạo hình

và văn bản biểu hiện Ca dao là sản phẩm của quần chúng, đó chính là điểm xuất phát để TH ca dao mang những đặc trưng riêng so với các THVC khác Vì thế, nó có phần hồn nhiên, mộc mạc hơn

d Quá trình lưu truyền của ca dao có thể làm cho những TH ca dao sâu sắc hơn về nội dung, trau

chuốt hơn về nghệ thuật ngôn từ nhưng cũng có thể làm cho chúng bị thay đổi, bị phá vỡ Như vậy có thể thấy, từng năm tháng, từng địa phương, từng nhóm người, từng cá nhân tiếp thu TH ca dao, ghi nhớ TH

ca dao, lưu truyền TH ca dao đều “in dấu ấn” vào nó, làm cho nó biến đổi

e Không phải TH ca dao nào cũng được coi là THTM Theo định nghĩa về THTM chúng tôi đã

nêu, những TH được chúng tôi lựa chọn là những THTM có những đặc trưng sau: Những TH có mối quan

hệ mật thiết với cuộc sống của người dân Nam Trung Bộ, những TH được lựa chọn sử dụng với tần số cao trong ca dao vùng đất này; Những TH này phải phản ánh chân thực cuộc sống; Là những TH phải xây dựng được những điển hình phong phú, những biểu tượng nghệ thuật đẹp nhiều tầng, nhiều lớp nghĩa, nói

hộ cho nhiều cái được biểu đạt; Phải là những TH mang tính gợi mở, tính không bao giờ kết thúc Chúng tác động vào tiềm thức của người tiếp nhận và “bắt” người tiếp nhận phải liên tưởng để tạo lập những cái được biểu đạt mới; Chúng là những TH có nội dung biểu hiện cái đẹp, “chứa” những khát vọng vươn tới cái đẹp

1.1.2 Lí thuyết tri nhận

Nhiệm vụ trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người, nghiên cứu cách con người nhận thức thế giới qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa Mục đích của ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu ngôn ngữ một cách bao quát và toàn diện chức năng nhận thức của ngôn ngữ Các hình thức ngôn ngữ cần phải được nghiên cứu trong mối tương liên của

Trang 6

chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích mang tính tri nhận về các hình thức này, phải tính đến sự tham gia của chúng vào các quá trình tri nhận và tất cả các dạng hoạt động với thông tin Những sự khác biệt về hình thức phản ánh sẽ là những sự khác biệt về ngữ nghĩa Tiếp cận thêm lý thuyết tri nhận nêu trên khi nghiên cứu THTM trong ca dao Nam Trung Bộ, sẽ giúp chúng tôi phân tích sâu hơn những ý nghĩa biểu trưng của các THTM, sẽ lý giải được vì sao ở vùng đất này, những THTM đó lại được lựa chọn Từ đó, chúng tôi sẽ chỉ dẫn được dấu ấn văn hóa vùng miền qua những THTM này

1.2 Cơ sở phân chia các trường tín hiệu thẩm mĩ

1.2.1 Khái niệm về trường nghĩa: Trường nghĩa là một tập hợp các từ có mối quan hệ nào đó với

nhau về ngữ nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ

1.2.2 Các tiêu chí phân lập trường: Cơ sở phân lập một trường nghĩa chúng tôi dựa trên quan niệm của Đỗ Hữu Châu, cụ thể là các tiêu chí sau đây: tiêu chí ngôn ngữ - những ý nghĩa ngôn ngữ; tiêu

chí đặc trưng từ vựng - ngữ nghĩa; tiêu chí dựa vào lớp ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ; tiêu chí nét

nghĩa, tiêu chí tuyến tính, tiêu chí liên tưởng

1.2.3 Các loại trường nghĩa: Trường nghĩa biểu vật: là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật; Trường nghĩa biểu niệm: là một tập hợp các từ có cùng chung cấu trúc biểu niệm; Trường

nghĩa tuyến tính: cơ sở xác lập trường tuyến tính là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn của các đơn vị ngôn ngữ; Trường nghĩa liên tưởng: Cơ sở xác lập trường liên tưởng là hệ thống ngữ nghĩa mới của từ nảy

sinh do liên tưởng khi từ đi vào hoạt động hành chức Trong quá trình hành chức các ý nghĩa mới được hình thành từ bên ngoài do sự sử dụng ấy sẽ bổ sung, “làm đầy” thêm thành ý nghĩa liên hội cho từ bên

những ý nghĩa đã cố định trong hệ thống cấu trúc của từ

1.2.4 Ngữ nghĩa của trường nghĩa: Ngữ nghĩa trường nghĩa thực chất là cấu trúc nghĩa vị và

đặc điểm ngữ pháp đặc hữu của trường, tất cả đều do từ trung tâm, điển hình cho trường đại diện Chúng tôi tiến hành phân lập các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ thành những trường nghĩa: hiện

tượng tự nhiên, vật thể nhân tạo, thực vật và động vật

1.3 Một số vấn đề về ngữ cảnh của các tín hiệu thẩm mĩ

Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu của mình, chúng tôi quan niệm như sau: ngữ cảnh là thế giới môi trường chi phối đến hoạt động cả bên ngoài lẫn bên trong của hệ thống TH ngôn ngữ Nó là cái không hạn định, liên tục mở ra về không gian và thời gian Tùy từng trường hợp xem xét, nó có thể rộng bao gồm các đối ngôn và các hợp phần hiện thực ngoài diễn ngôn Nó có thể hẹp là những từ đứng gần hay kèm một từ tạo cho nó tính xác định về nghĩa

1 4 Vùng đất và ca dao Nam Trung Bộ

1 4.1 Vùng đất Nam Trung Bộ: Vùng duyên hải NamTrung Bộ gồm có 8 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận

1.4.1.1 Thiên nhiên: Nam Trung Bộ có hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều

đoạn khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp Mảnh đất Nam Trung Bộ là nơi gánh nhiều đợt bão lũ thiên tai, là nơi nắng khô hạn mùa hè, là mưa to gió lớn bão lũ vào mùa đông Sức nặng của thiên tai, hạn hán, lũ lụt, mùa

màng thất bát, cái nóng lạnh, đói nghèo, cơ cực đều đổ dồn vào nơi đây

1.4.1.2 Lao động sản xuất: Vốn được hình thành từ buổi đầu khi làng mới được thành lập đòi hỏi

phải huy động sức lực cả cộng đồng do đó người nông dân không thể không nương tựa vào nhau, cưu mang và đoàn kết giúp đỡ nhau Sự phát triển về kinh tế, trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa đã tác động mạnh mẽ tới sự thay đổi về nhận thức, tình cảm góp phần phá vỡ tính khép kín của làng nông nghiệp

truyền thống

1.4.1.3 Con người: Thế hệ sau tiếp nối thế hệ đi trước ở một vùng đất mới - những khắc nghiệt

mới của thiên nhiên, những va chạm và tiếp xúc mới với các chủng tộc bản địa cộng với sự bảo lưu ở họ những đặc tính văn hóa từ nơi xuất phát đã hình thành nên tính cách quyết liệt, táo bạo của những con

Trang 7

người vùng đất này Thật thà, chất phác, thẳng ngay là những phẩm chất nổi bật của người nông dân Nam Trung Bộ được bộc lộ rõ trong những câu ca dao ân tình

1.4.2 Ca dao Nam Trung Bộ: Ca dao Nam Trung Bộ mang tính chất địa phương, đặc thù rõ nét

Ca dao miền Trung nói chung và ca dao Nam Trung Bộ nói riêng không mượt mà, bóng bẩy như ca dao Bắc Bộ, không có cái tôi cô đơn, khắc khoải và sâu thẳm như ca dao Nam Bộ nhưng thật da diết và nhiều lắm những trăn trở, những nỗi buồn Một trong những điểm nổi bật của ca dao Nam Trung Bộ là hệ thống

từ địa phương rất phong phú Đây là yếu tố góp phần sắc thái hoá tâm hồn, tình cảm của người bình dân

Tiểu kết

Chương 2: BIỂU HIỆN HÌNH THỨC CỦA CÁC TÍN HIỆU

NGÔN NGỮ THẨM MĨ TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ

Sự hài hòa giữa hình thức và nội dung của các TH trong ca dao Nam Trung Bộ là một trong những biểu hiện tính thẩm mĩ của THTM Biểu hiện hình thức của các THTM trong ca dao Nam Trung Bộ được

chúng tôi trình bày với 2 nội dung chính Thứ nhất, chúng tôi chỉ trình bày đặc điểm hình thức - thể thơ

ca dao Còn những biểu hiện như: âm điệu, nhịp điệu, vần điệu, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu mà

vận dụng những kết quả đã có của các nhà nghiên cứu về ca dao vào quá trình phân tích nội dung biểu

hiện của các THTM Thứ hai, luận án khảo sát các phương tiện ngôn ngữ làm thành bình diện hình thức

vật chất biểu đạt của các THTM trong ca dao Nam Trung Bộ Đây là biểu hiện hình thức trọng tâm để

chúng tôi nghiên cứu đối tượng của mình, vì vậy sẽ được chúng tôi trình bày chi tiết

2.1 Biểu hiện của các THTM qua thể thơ

Đại đa số ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát Bởi thể lục bát có một phẩm chất thẩm mĩ đặc

biệt kết tinh tinh hoa văn hóa - ngôn ngữ của dân tộc ta Vì thế: “Thể thơ này đồng hành cùng với tiến trình phát triển văn hóa - xã hội Nó bền bỉ và sâu lắng Mỗi con chữ hằn rõ dấu ấn những trạng thái tâm

lí tinh tế, phức tạp của mọi cá nhân trong cộng đồng xã hội” [47,40] Tuy nhiên khi khảo sát ca dao Nam

Trung Bộ, chúng tôi có được những kết quả “bất ngờ” đối với ca dao vùng đất này Từ 4.537 bài ca dao

Nam Trung Bộ, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Thể ca dao Số bài ca dao Tỉ lệ %

Lục bát biến thể 1.376 30,3 Song thất lục bát 173 3,81

Bài ca dao

Số bài Tỉ lệ %

2 dòng 1.765 38,9

4 dòng 1.584 34,91 Trên 4 1.188 26,19

Trang 8

Cái khuôn mẫu ngàn năm của thể lục bát càng đi vào vùng đất đàng trong càng bị phá bỏ dần Ở vùng đất mới, nhân vật trữ tình đã tìm cho mình một hình thức phù hợp Mặc dù ca dao vùng đất này sử dụng nhiều lục bát biến thể và thể hỗn hợp nhưng vẫn giữ được âm hưởng, nhịp điệu, gieo vần của thể lục bát Tính chất ngắn gọn là đặc trưng của ca

dao Chúng ta thường thấy những bài ca dao 2 dòng tuy nhiên ở ca dao Nam Trung Bộ số bài 4 dòng và

trên 4 dòng chiếm tỉ lệ cao Phải chăng điều này rất phù hợp với thể hỗn hợp Từ 4.537 bài ca dao, chúng

tôi thu được kết quả như sau:

Sự xuất hiện nhiều dòng trong một bài ca dao sẽ góp phần truyền tải được nhiều nội dung Vì thế, tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây có “cơ hội” được bộc lộ cụ thể hơn, sâu sắc hơn Đồng thời, chất sống ở vùng đất này cũng được thể hiện rõ hơn, xông xáo hơn và người ta dám nói thật hơn, thẳng hơn, bộc lộ nhiều hơn những điều cảm nghĩ

2.2 Biểu hiện của các THTM qua các trường nghĩa

Theo chúng tôi, đối với một cộng đồng diễn ngôn, hiện tượng, sự vật nào gần gũi, quen thuộc

nhất thì xuất hiện trước nhất, xuất hiện nhiều nhất và chúng có tầm tác động lớn nhất Ở mỗi THTM,

chúng tôi xem xét các TH cùng xuất hiện trên trục dọc, trục ngang; các TH kết hợp giúp cụ thể hóa đặc

điểm, trạng thái, hoạt động của mỗi THTM Khảo sát 4.537 bài ca dao Nam Trung Bộ, chúng tôi thu được: 1.956 bài ca dao có THTM chỉ hiện tượng tự nhiên, chiếm 43,1%; 1.362 bài ca dao có THTM chỉ vật thể nhân tạo, chiếm 30%; 1.103 bài ca dao có THTM chỉ thực vật, chiếm 24,31%; 1.065 bài ca dao có THTM chỉ động vật, chiếm 23,47% Mối tương quan của 4 trường nghĩa được biểu hiện bằng biểu đồ sau:

Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những THTM có tần suất cao trong

mỗi trường nghĩa và những THTM mang “dấu ấn” Nam Trung Bộ Ngoài việc nghiên cứu hằng thể

của các trường THTM này, chúng tôi nghiên cứu các BTTV, cũng như BTKH, BTQH của chúng trong phạm vi kết hợp với những TH cùng dòng ca dao, TH có tần suất cao, TH được coi là “nhãn tự” của bài

ca dao, TH có vai trò bổ sung ý nghĩa quan trọng đối với THTM đang xem xét Ở mỗi THTM điển hình của từng trường nghĩa, chúng tôi trình bày các dạng thức biểu hiện của THTM qua những dạng thức sau:

1/Tên gọi của THTM; 2/Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất của THTM (BTKH 1); 3/Từ ngữ chỉ hoạt động của THTM (BTKH 2); 4/Từ ngữ chỉ thời gian, không gian của THTM (BTQH 1); 5/Từ ngữ chỉ sự vật nhân tạo, hiện tượng tự nhiên liên quan đến THTM (BTQH 2); 6/Từ ngữ chỉ thực vật, động vật liên quan đến THTM (BTQH 3); 7/Từ ngữ chỉ con người, hoạt động của con người, sự việc xã hội liên quan đến THTM (BTQH 4); 8/Từ ngữ chỉ tính chất, tâm lí con người liên quan đến THTM (BTQH 5)

2.2.1 Biểu hiện hình thức của các THTM thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

0 20 40 60

THTM chỉ hiện tượng

tự nhiên

THTM chỉ vật thể nhân tao

THTM chỉ thực vật THTM chỉ động vật

43.1

30 24.31 23.47

dòng

Tổng cộng

4.537 100%

Trang 9

Hiện tượng tự nhiên và hiện tượng xã hội được phân biệt chủ yếu ở chỗ: có tồn tại độc lập hay

không trong mối quan hệ với xã hội loài người Tỉ lệ của 5 THTM thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên được nghiên cứu: trời, núi, biển, gió, trăng / tổng số 1.956 bài ca dao được biểu hiện bằng biểu đồ sau:

Số lần xuất hiện của 5 THTM trời, núi, biển, gió, trăng được biểu hiện bằng biểu đồ dưới đây:

2.2.1.1 Cách định danh THTM trời, núi, biển, gió, trăng: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục

1, trang 1

2.2.1.2 Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động của THTM trời, núi, biển, gió, trăng (BTKH

1và BTKH 2): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 2, trang 3

2.2.1.3 Từ ngữ chỉ thời gian, không gian của THTM trời, núi, biển, gió, trăng (BTQH 1): được

trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 3, trang 5

2.2.1.4 Từ ngữ chỉ sự vật nhân tạo, hiện tượng tự nhiên và thực vật, động vật liên quan đến

THTM trời, núi, biển, gió, trăng (BTQH 2, BTQH 3): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 4, trang 8

2.2.1.5 Từ ngữ chỉ con người, hoạt động của con người, sự việc xã hội liên quan đến THTM

trời, núi, biển, gió, trăng (BTQH 4): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 5, trang 13

2.2.1.6 Từ ngữ chỉ tính chất, tâm lí con người liên quan đến THTM trời, núi, biển, gió, trăng

(BTQH 5): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 6, trang 18

2.2.2 Biểu hiện hình thức của các THTM thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo

Từ 4.537 bài ca dao, chúng tôi thu được 1.362 bài ca dao chứa THTM chỉ vật thể nhân tạo, chiếm 30% 5 nhóm THTM của trường nghĩa vật thể nhân tạo có tần suất cao nhất: nhà, áo, thuyền - đò - ghe,

bát - đĩa - nồi - chén và mâm - đũa, cầu được biểu hiện bằng biểu đồ sau:

Số lần xuất hiện của THTM nhà, áo, thuyền - đò - ghe, bát - đĩa - nồi - chén và mâm - đũa, cầu

được biểu hiện bằng biểu đồ dưới đây:

13.19 12.06 10.02 9.04 8.64 47.05

THTM trời THTM núi THTM biển THTM gió THTM trăng Các THTM khác

THTM trời THTM núi THTM biển THTM gió THTM trăng

13.02 12.03 9.85 8.76 8.29

20.5 14.24 11.23 11.52

5.21

37.3

THTM nhà THTM nhóm phương tiện THTM áo

THTM nhóm vật dụng sinh hoạt gia đình

THTM cầu Các THTM khác

THTM nhà THTM nhóm phương tiện

THTM áo THTM nhóm vật dụng gia đình

THTM cầu

20.95 17.06 11.63 12.92 5.6

Trang 10

2.2.2.1 Cách định danh THTM nhà, áo, thuyền - đò - ghe , bát - đĩa - nồi - chén - mâm - đũa,

cầu: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 7, trang 19

2.2.2.2 Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động của THTM nhà, áo, thuyền - đò - ghe , bát -

đĩa - nồi - chén - mâm - đũa, cầu:: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 8, trang 22

2.2.2.3 Từ ngữ chỉ thời gian, không gian của THTM nhà, áo, thuyền - đò - ghe , bát - đĩa - nồi

- chén - mâm - đũa, cầu: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 9, trang 24

2.2.2.4 Từ ngữ chỉ sự vật nhân tạo, hiện tượng tự nhiên và thực vật, động vật liên quan đến

THTM nhà, áo, thuyền - đò - ghe , bát - đĩa - nồi - chén - mâm - đũa, cầu: được trình bày chi tiết ở

bảng phụ lục 10, trang 27

2.2.2.5 Từ ngữ chỉ con người, hoạt động của con người, sự việc xã hội liên quan đến THTM

nhà, áo, thuyền - đò - ghe , bát - đĩa - nồi - chén - mâm - đũa, cầu: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục

11, trang 32

2.2.2.6 Từ ngữ chỉ tính chất, tâm lí con người liên quan đến THTM nhà, áo, thuyền - đò - ghe,

bát - đĩa - nồi - chén - mâm - đũa, cầu: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 12, trang 37

2.2.3 Biểu hiện hình thức của các THTM thuộc trường nghĩa thực vật

Theo Từ điển tiếng Việt, thực vật được hiểu là “các cây, cỏ và các sinh vật bậc thấp có tính chất như cây cỏ nói chung” [164,1616] Từ 4.537 bài ca dao, chúng tôi thu được 1.103 bài chứa THTM chỉ thực vật, chiếm 24,31% Sau đây là biểu đồ của 5 THTM có tần suất cao nhất: cây, lúa, dừa, cau, tre

Số lần xuất hiện của 5 THTM cây, lúa, dừa, cau, tre được biểu hiện bằng biểu đồ dưới đây:

2.2.3.1 Cách định danh THTM cây, lúa, dừa, cau, tre: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 13, trang 38

2.2.3.2 Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động của THTM cây, lúa, dừa, cau, tre (BTKH

1và BTKH 2): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 14, trang 40

2.2.3.3 Từ ngữ chỉ thời gian, không gian của THTM cây, lúa, dừa, cau, tre (BTQH 1): được

trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 15, trang 42

2.2.3.4 Từ ngữ chỉ sự vật nhân tạo, hiện tượng tự nhiên và thực vật, động vật liên quan đến

THTM cây, lúa, dừa, cau, tre (BTQH 2, BTQH 3): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 16, trang 46

2.2.3.5 Từ ngữ chỉ con người, hoạt động của con người, sự việc xã hội liên quan đến THTM

cây, lúa, dừa, cau, tre (BTQH 4): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 17, trang 50

2.2.3.6 Từ ngữ chỉ tính chất, tâm lí con người liên quan đến THTM cây, lúa, dừa, cau, tre

(BTQH 5): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 18, trang 54

2.2.4 Biểu hiện hình thức của các THTM thuộc trường nghĩa động vật

Theo Từ điển tiếng Việt, động vật được hiểu là “sinh vật có cảm giác và tự cử động được” [164,668] Sau đây là biểu đồ của 5 THTM có tần suất cao nhất của trường nghĩa động vật: chim, cá, gà, rồng, heo

14.05 10.15 6.8 5.53 4.9 58.57

THTM cây THTM lúa THTM dừa THTM cau THTM tre Các THTM khác

THTM cây THTM lúa THTM dừa THTM cau THTM tre

14.67 11.21 7.33 5.93

4.94

Trang 11

Số lần xuất hiện của 5 THTM chim, cá, gà, rồng, heo được biểu hiện bằng biểu đồ dưới đây:

2.2.4.1 Cách định danh THTM chim, cá, gà, rồng, heo: được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục

19, trang 55

2.2.4.2 Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động của THTM chim, cá, gà, rồng, heo (BTKH

1và BTKH 2): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 21, trang 59

2.2.4.4 Từ ngữ chỉ sự vật nhân tạo, hiện tượng tự nhiên và thực vật, động vật liên quan đến

THTM chim, cá, gà, rồng, heo (BTQH 2, BTQH 3): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 22, trang 62

2.2.4.5 Từ ngữ chỉ con người, hoạt động của con người, sự việc xã hội liên quan đến THTM

chim, cá, gà, rồng, heo (BTQH 4): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 23, trang 66

2.2.4.6 Từ ngữ chỉ tính chất, tâm lí con người liên quan đến THTM chim, cá, gà, rồng, heo

(BTQH 5): được trình bày chi tiết ở bảng phụ lục 24, trang 71

Tiểu kết

Chương 3: BIỂU HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN HIỆU

NGÔN NGỮ THẨM MĨ TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ 3.1 Ý nghĩa - cái được biểu đạt của tín hiệu ca dao

Ý nghĩa TM của các THTM thuộc các trường nghĩa trong ca dao Nam Trung Bộ phải được nghiên

cứu trong toàn bộ tính phức hợp các chức năng của nó Nghiên cứu về YNTM của các TH thuộc các

trường nghĩa trong ca dao Nam Trung Bộ chính là nghiên cứu những lần biểu hiện của những THTM trung tâm Khi nghiên cứu ý nghĩa THNN nói chung, THTM thuộc các trường nghĩa nói riêng thì việc

nghiên cứu các quan hệ giữa các TH là một công việc rất quan trọng Bởi, giá trị của THTM trung tâm

ngoài việc được xác định bằng các đặc trưng của cđbđ- mặt ngữ nghĩa của THTM- thì còn được xác định bằng các đặc điểm phân bố của các THTM đó trong các câu ca dao khác nhau

3.2 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ

Đây chính là việc chúng ta nghiên cứu sự hành chức có tính đặc thù của một hệ thống THTM

-THVC nhằm rút ra các YNTM của chúng: Thứ nhất là ý nghĩa cơ sở Thứ hai là ý nghĩa thẩm mĩ hằng

thể của các THTM thuộc các trường nghĩa trong ca dao Nam Trung Bộ

3.2.1 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

3.2.1.1 Ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ trời

a Ý nghĩa cơ sở trong hệ thống của tín hiệu ngôn ngữ trời: Theo Từ điển tiếng Việt trời là: 1

khoảng không gian nhìn thấy như hình vòm úp trên mặt đất, 2 Thiên nhiên, 3 Lực lượng siêu nhân trên

trời cao, có vai trò sáng tạo và quyết định mọi sự ở trần gian [163,1722]

30.5

19.53 8.54

5.35 3.85

32.23

THTM chim THTM cá THTM gà THTM rồng THTM heo

THTM chim THTM cá THTM gà THTM rồng THTM heo

30.78 18.87 8.64 5.45 4.36

Trang 12

b.Ý nghĩa thẩm mĩ hằng thể của tín hiệu trời: THTM trời luôn “đồng hành” với cuộc sống của

người dân Nam Trung Bộ, trời tạo dựng muôn vật và trông coi, gìn giữ Chính vì xuất phát từ kinh tế

nông nghiệp, cuộc sống người dân Nam Trung Bộ phụ thuộc rất nhiều vào các hiện tượng tự nhiên do

“trời cho” Vì vậy, trong tâm thức họ, trời là một đấng tối cao, một lực lượng siêu nhiên đem đến cho con

người mọi thứ THTM trời mang ý nghĩa thẩm mĩ so sánh với công ơn cha mẹ chiếm tỉ lệ cao, và cũng là

nơi mà con cái bộc lộ, chia sẻ tình thương của mình với đấng sinh thành và nuôi dưỡng Một giá trị thẩm

mĩ chiếm tỉ lệ cao trong các YNTM đã trình bày ở các THTM trên đó là trời đóng vai trò là nguyên cớ, là

bối cảnh, là cái nền tạo dựng để người chủ thể trữ tình giãi bày tâm trạng, cảm nghĩ Âm hưởng ca dao Nam Trung Bộ mang một nỗi buồn da diết, buồn vì thời cuộc, buồn vì tha hương, buồn vì những khó khăn của cuộc sống vùng đất mới Nhưng nỗi buồn của những con người nơi đây không đồng nghĩa với bi

quan, ở họ vẫn là niềm lạc quan, tâm tư đó được gửi gắm vào hình ảnh của “trời xanh”,“núi xanh”,“biển xanh” biểu trưng cho cuộc sống hạnh phúc, yên bình với nhiều hy vọng của con người ở mọi thời đại Với

tư cách là một đối tượng khách thể, trời trước hết được tri nhận, miêu tả, biểu hiện theo lối trực quan đúng như thực tế nó tồn tại Với tư cách là một đối tượng giúp biểu hiện tâm hồn, tâm linh chủ thể, trời được miêu tả qua cái nhìn tượng trưng, siêu thực, đậm tính chủ quan THTM trời hữu hình sống động, có linh

hồn đầy tình tứ

3.2.1.2 Ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ núi

a.Ý nghĩa cơ sở trong hệ thống của tín hiệu ngôn ngữ núi: Núi được nêu trong từ điển như sau:

dạng địa hình lồi, sườn dốc, có độ cao lớn hơn đồi [163,1286 ]

b.Ý nghĩa thẩm mĩ hằng thể của tín hiệu núi: Khi nhắc đến núi, thông qua các câu ca dao, chúng

ta đều thấy được sự yêu quý, nâng niu rất mực của người dân nơi đây, điều đó thể hiện một sự gắn bó

hướng về nguồn cội, về hồn thiêng đất nước trong tiềm thức sâu xa Núi là hình ảnh biểu trưng cho cuộc đời của bao thế hệ con người của vùng đất suốt đời cần cù, chịu thương, chịu khó, gắn bó vất vả bởi núi là biểu tượng của trở ngại, khó khăn Núi ở đây vì thế nó được dùng làm biểu trưng cho sức mạnh chở che vững chãi, to lớn và vĩ đại, dù mưa nắng hay giông tố, bão lũ thì núi vẫn sừng sững giữa trời xanh.Trong tâm thức người Việt, cặp đôi này có chức năng sản sinh, duy trì sự sống, nơi nào có cặp đôi sông - núi nơi

đó được xem là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sinh ra những bậc hiền tài, những anh hùng bất khuất, có

sức sống mãnh liệt Núi còn được biểu trưng cho công lao sinh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ, biểu

trưng cho tình cảm của con cái với những bậc sinh thành cũng là lời khuyên răn con cái sống cho đúng

đạo làm con Đó chính là triết lí, quan điểm sống của người dân nơi đây Núi trong môtip núi - sông, núi -

mây cùng với nghĩa chuyển, hay được dùng để biểu trưng cho tình yêu trai gái Núi cao biểu trưng cho sự

thử thách trong tình yêu THTM núi còn biểu trưng cho tình yêu nhớ nhung trong xa cách Núi biểu tượng cho sự tương ứng, hài hòa trong tình cảm Khảo sát các YNBT phổ quát của núi, một cách chung nhất,

núi biểu tượng cho vẻ đẹp của quê hương đất nước - biểu tượng khí phách anh hùng và gan dạ của con

người nơi đây - vùng đất Nam Trung Bộ

3.2.1.3 Ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ biển

a.Ý nghĩa cơ sở trong hệ thống của tín hiệu ngôn ngữ biển: Nghĩa của biển trong từ điển là: vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt trái đất; biển cả: biển rộng lớn, đại dương; khơi: vùng biển xa bờ

[163,158]

b.Ý nghĩa thẩm mĩ hằng thể của tín hiệu biển: Trong tâm thức và cả trong thực tế, đối với người

dân Nam Trung Bộ thì biển có thế mạnh về kinh tế cùng với vùng đồi núi và đồng bằng Cùng với những khó khăn thử thách của biển và với nhiều thiên tai, bão lụt hằng năm liên tiếp xảy ra, con người Nam

Trung Bộ muốn bám trụ nơi đây không chỉ có siêng năng, lao động cần cù, mà còn luôn phải tìm tòi cái mới, phải có những phương thức hay để xử lí một cách chủ động, thông minh trong mọi tình huống So với các vùng miền khác, ca dao ở đây khỏe khoắn, mạnh mẽ, ít được đẽo gọt, sức sống còn sù sì, nhưng chất

Ngày đăng: 28/05/2015, 16:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phụ lục 10, trang 27. - Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ - NCS. Nguyễn Thị Vân Anh
Bảng ph ụ lục 10, trang 27 (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w