Nói cách khác, nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình là góp phần nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa địa phương, góp phần vào việc nghiên cứu vùng lãnh thổ, một cách tiếp cận đang được ưa chuộng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐÌNH HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐÌNH HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62220101 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN TRÍ DÕI
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và hoàn toàn không trùng lặp với bất kỳ một công trình nào đã công bố trong hoặc ngoài nước
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Đình Hùng
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BT Huyện Bố Trạch BTB Bắc Trung Bộ CTNT Công trình nhân tạo DTTS Dân tộc thiểu số
ĐH Thành phố Đồng Hới ĐHTN Địa hình tự nhiên ĐVHC Đơn vị hành chính
TH Huyện Tuyên Hóa TVM Tiền Việt Mường TPT Tiếng Việt phổ thông TQB Tiếng địa phương Quảng Bình
Trang 5BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH QUẢNG BÌNH
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3
2.1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới 3
2.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 5
2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở tỉnh Quảng Bình 7
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 9
5 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHI TIẾP CẬN ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 9
5.1 Nguồn tư liệu và phương thức thu thập 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 11
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN VỀ ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 12
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH 12
1.1.1 Về khái niệm địa danh 12
1.1.2 Vấn đề phân loại địa danh 13
1.1.2.1 Một số cách phân loại địa danh của các tác giả nước ngoài 13
1.1.2.2 Cách phân loại địa danh của các tác giả trong nước 14
1.1.3 Về chức năng của địa danh 17
1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 19
1.1.5 Hướng tiếp cận khi nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình 20
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỊA BÀN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 20
1.2.1 Những đặc điểm chính về địa lý, lịch sử tỉnh Quảng Bình 20
1.2.1.1 Về địa lý 21
1.2.1.2 Địa giới hành chính 22
Trang 71.2.1.3 Về lịch sử 24
1.2.2 Đặc điểm văn hóa, dân cư 26
1.2.2.1 Về văn hóa 26
1.2.2.2 Đặc điểm dân cư 28
1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ 30
1.2.3.1 Cấu trúc âm tiết tiếng địa phương Quảng Bình 30
1.2.3.2 Âm đầu 31
1.2.3.3 Phần vần 36
1.2.3.4 Phần cuối âm tiết 37
1.2.3.5 Thanh điệu 38
1.2.3.6 Từ vựng 39
1.2.3.7 Vấn đề thổ ngữ trong tiếng địa phương Quảng Bình 39
1.3 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 40
1.3.1 Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên 41
1.3.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ 42
1.4 TIỂU KẾT 45
Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 48
2.1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ CẤU TẠO ĐỊA DANH VÀ PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH 48
2.2 CẤU TẠO ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 50
2.2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Quảng Bình 50
2.2.2 Thành tố chung 53
2.2.2.1 Khái niệm thành tố chung 53
2.2.2.2 Cấu tạo của thành tố chung trong địa danh tỉnh Quảng Bình 53
2.2.2.3 Chức năng của thành tố chung 56
2.2.2.4 Khả năng kết hợp và chuyển hóa của thành tố chung với tên riêng 58
2.2.3 Tên riêng địa danh 65
Trang 82.2.3.1 Về số lượng các âm tiết trong tên riêng 65
2.2.3.2 Các kiểu cấu tạo tên riêng 67
2.3 PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH 72
2.3.1 Phương thức tự tạo 73
2.3.2 Phương thức chuyển hóa 76
2.4 ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU TẠO ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 79
2.4.1 Vấn đề ý nghĩa của địa danh 79
2.4.2 Cách thức xác định nghĩa của địa danh 82
2.4.3 Đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh 83
2.4.3.1 Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố thể hiện qua nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh tỉnh Quảng Bình 83
2.4.3.2 Về hiện tượng địa danh chưa được xác định rõ ràng về nghĩa 84
2.4.3.3 Vấn đề phân loại ý nghĩa địa danh tỉnh Quảng Bình 85
2.5 TIỂU KẾT 92
Chương 3 MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 95
3.1 DẪN NHẬP 95
3.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH 97
3.2.1 Về khái niệm về văn hóa 97
3.2.2 Ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hóa 98
3.2.3 Địa danh và văn hóa 99
3.3 ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA THỂ HIỆN TRONG ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH 101
3.3.1 Thành tố chung trong phức thể địa danh phản ánh đặc trưng địa - văn hóa của vùng đất 101
3.3.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua ý nghĩa và sự phản ánh hiện thực của tên riêng địa danh 104
Trang 93.3.2.1 Sự phản ánh phương diện không gian văn hoá trong địa danh 104
3.3.2.2 Sự phản ánh các giá trị văn hóa lịch sử của địa danh ở Quảng Bình 109
3.3.2.3 Sự phản ánh đặc điểm chủ thể văn hóa của địa danh ở Quảng Bình 123
3.3.2.4 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua các yếu tố ngôn ngữ của địa danh ở Quảng Bình 129
3.4 TIỂU KẾT 145
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 165 PHỤ LỤC
Trang 10MỤC LỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1.1 Hệ thống phụ âm đầu trong tiếng địa phương Quảng Bình 31
Bảng 1.2 Kết quả thu thập địa danh tỉnh Quảng Bình 41
Bảng 1.3 Kết quả thống kê địa danh theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên 42
Bảng 2.4 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh tỉnh Quảng Bình 52
Bảng 2.5 Thống kê cấu tạo thành tố chung của địa danh tỉnh Quảng Bình 54
Bảng 2.6 Thống kê tần số xuất hiện của các địa danh tỉnh Quảng Bình đi kèm với các loại thành tố chung 55
Bảng 2.7 Kết quả tổng hợp sự chuyển hóa của các thành tố chung 57
Bảng 2.8 Kết quả thống kê tên riêng địa danh theo số lượng âm tiết 66
Bảng 2.9 Kết quả thống kê tên riêng trong địa danh theo kiểu cấu tạo 67
MỤC LỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 19
Sơ đồ 1.2 Cấu tạo âm tiết tiếng địa phương Quảng Bình 31
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH
Địa danh là một hiện tượng xã hội, nhằm để phân biệt các thực thể địa lý mà trong sinh hoạt, sản xuất con người đã tạo nên Địa danh có quan hệ mật thiết với cuộc sống thường nhật của chúng ta, có liên hệ rộng rãi, gắn bó với các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, thương mại, dân chính, trắc họa và nghiên cứu khoa học, ghi lại dấu ấn phản ánh các giá trị văn hóa lịch sử và đời sống xã hội Thông qua nghiên cứu địa danh, chúng ta có thể hiểu được nhiều vấn đề như sự phân bố và di chuyển dân cư, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lịch sử văn hóa, sự biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội của một vùng đất Do vậy, nghiên cứu địa danh không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt thực tiễn mà còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt văn hóa học
Địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, địa
lý, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học Xét về bản chất cấu tạo, địa danh là một đơn vị từ ngữ, có chức năng định danh sự vật, do đó, địa danh là một bộ phận
của từ vựng và vì vậy, trước hết, là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Trong
công trình Địa danh học là gì?, A.V Superanskaja cũng đã xác định: “Địa danh học
là một chuyên ngành của ngôn ngữ học, nghiên cứu các tên gọi địa lý, giải thích sự cấu tạo, lịch sử xuất hiện của chúng và phân tích ý nghĩa ban đầu của các từ cấu tạo nên địa danh” [114, tr.3]
Đi theo khuynh hướng của ngôn ngữ học, người ta nghiên cứu địa danh ở ba bình diện: bình diện nghiên cứu cấu tạo (tức là nghiên cứu địa danh ở mặt đồng đại); bình diện nghiên cứu “nghĩa” của địa danh, tức là ở mỗi địa danh nó cho chúng ta biết cái gì; và bình diện nghiên cứu nguồn gốc địa danh
Như vậy, nếu xem xét địa danh trong mối quan hệ với các bộ môn của ngôn ngữ học, chúng ta thấy, địa danh không chỉ là đối tượng của từ vựng học mà còn là
cứ liệu nghiên cứu của ngữ âm học Bởi vì địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm, chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm Nhiều địa danh ghi bằng tiếng
Trang 12Việt ngày nay là kết quả của quá trình biến đổi cách phát âm các địa danh trước đây
như: xóm Chỉ (trước đây là xóm Trĩ), Bà Môn (trước đây là Bàu Môn) ở thành phố
Hồ Chí Minh; Nam Ô (trước đây là Năm Ổ) ở Đà Nẵng [121] Địa danh còn là tài
liệu nghiên cứu của ngữ pháp học, vì địa danh là những danh từ, danh ngữ tuân theo những phương thức cấu tạo từ, ngữ của tiếng Việt Chẳng hạn, những địa danh được
cấu tạo theo các mô hình (động từ + tính từ: cầu Đúc Nho, danh từ + số từ: khu Ngã
Bảy, khu Ngã Sáu, danh từ + tính từ: cầu Mũi Lớn, rạch Cầu Đen, danh từ + danh
ngữ: cầu Giồng Ông Tố, rạch Tắt Mương Lớn, danh ngữ + tính từ: khu Cây Da
Còm, rạch Cầu Chông Nhỏ )
Địa danh cũng là đối tượng nghiên cứu của phương ngữ học Bởi vì nó là sản phẩm do người bản địa tạo ra, gắn chặt với lời ăn tiếng nói của từng vùng, từng địa
phương Trong các địa danh tiếng Việt, ta có thể gặp các từ địa phương như: cù lao
Chuông, hồ Ba Kiểng, động Sai, sông Chắt Chắt (ở Quảng Trị), rõng Nước Ngọt, ngoẹo Giằng Xay, bùng binh Trường Tiền (ở Huế), đồng Cây Hợp, rậy Ông Cáp, rào Ba Đa, bàu Chẹp, rú Cấm, đồng Troọt, đồng Trữa (ở Quảng Bình) Đây chính
là cách tốt nhất để chúng ta nhận diện về “nghĩa” của địa danh ở từng vùng lãnh thổ
Đặc biệt, địa danh còn là tư liệu đáng quan tâm của ngôn ngữ học và lịch sử Mỗi một địa danh sinh ra trong một thời điểm lịch sử nhất định Vì vậy nó đã trở thành “vật hóa thạch”, là “tấm bia” bằng ngôn ngữ độc đáo về thời đại mà nó ra đời
Và từ “những hóa thạch ngôn ngữ ấy”, người ta có thể đưa ra những chứng cứ để lý giải hay chứng minh cho một hiện tượng văn hóa, lịch sử nhất định mà nếu thiếu chúng, những nhận định có liên quan đến văn hóa hay lịch sử ấy chỉ thuần túy là
những kết luận mang tính giả định [38, tr 99] Chẳng hạn, tên gọi Chợ Lớn ở TP
HCM có từ đầu thế kỷ XIX gắn liền với sự phát triển về thương mại của một khu
phố thị sầm uất nhất vùng Nam Bộ lúc bấy giờ, tên gọi Lũy Thầy ở Đồng Hới (QB)
ra đời trong thời điểm lịch sử diễn ra cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh, “ huynh đệ tương tàn” thế kỷ XVII, XVIII và gắn liền với tên tuổi của vị quan của chúa Nguyễn là Đào Duy Từ, người đã thiết kế, xây dựng nên thành lũy này
Trang 13Tỉnh Quảng Bình, một vùng đất thuộc miền Trung Việt Nam, là nơi ghi nhận nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng của đất nước, nơi giao thoa tiếp biến của nhiều nền văn hóa Từ thế kỷ thứ X trở về sau, vùng đất này từng bước hội nhập vào nền văn hóa Đại Việt (Việt Nam hiện nay) Chính vì thế, địa danh - một chứng tích ngôn ngữ học - sẽ phản ánh những biến đổi văn hóa ở vùng đất mở đầu cho sự thống nhất
văn hóa Việt Nam như ngày nay Nói cách khác, nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng
Bình là góp phần nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa địa phương, góp phần vào việc
nghiên cứu vùng lãnh thổ, một cách tiếp cận đang được ưa chuộng hiện nay trong các khoa học xã hội và nhân văn
Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực hấp dẫn của ngôn ngữ học Tuy nhiên ở nước ta, những nghiên cứu đã có cũng chỉ có thể là những công trình giải quyết những nội dung cụ thể thuộc một vùng lãnh thổ Vì thế, nghiên cứu địa danh ở tỉnh Quảng Bình mà chúng tôi tiến hành cũng đi theo định hướng ấy, và như thế là để góp phần từng bước hoàn thiện lý thuyết nghiên cứu địa danh trên phạm vi cả nước
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu Sách lịch sử, địa lý của Trung Quốc không những ghi chép địa danh mà còn chỉ ra cách đọc, ý nghĩa, vị trí, diễn biến và quy luật của tên gọi Đầu thời Đông Hán (32 - 92 SCN), Ban Cố đã ghi chép hơn 4.000 địa danh (một số được giải thích rõ ý nghĩa và nguồn gốc) Đến
thời Bắc Ngụy (380 - 535), Lịch Đạo Nguyên viết Thuỷ kinh chú sớ, ghi chép và mô
tả hơn hai vạn địa danh [98]
Địa danh học thực sự trở thành một môn khoa học bắt đầu ở phương Tây vào cuối thế kỷ XIX với việc xuất bản những tác phẩm có liên quan đến địa danh học và
thành lập các cơ quan nghiên cứu địa danh Năm 1872 ở Thụy Sĩ có cuốn Địa danh
học của Eggli, năm 1903 ở Áo có công trình Địa danh học của Nagh Năm 1890
thành lập Ủy ban Địa danh Hoa Kỳ, năm 1902 thành lập Ủy ban Địa danh Thụy Điển, năm 1919 thành lập Ủy ban Địa danh Anh Quốc v.v Những tác phẩm về địa danh và địa danh học ở thời kỳ đầu đều chú trọng về khảo chứng nguồn gốc ngôn
Trang 14ngữ và ghi chép địa danh Bắt đầu từ thế kỷ XX, J.Gilliéron (1854 - 1926) đã viết
Atlat ngôn ngữ Pháp, nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lý học A.Dauzat
[176] với tác phẩm Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh, đề xuất phương pháp địa
lý học để nghiên cứu niên đại của địa danh Từ đó có thể thấy phương pháp nghiên cứu địa danh đã mang tính khoa học, việc phân loại và xác định đối tượng địa danh đã tương đối hợp lý
Đi tiên phong trong lĩnh vực xây dựng hệ thống lý thuyết về nghiên cứu địa
danh là các nhà địa danh học Xô Viết N.I Niconov với Các khuynh hướng nghiên
cứu địa danh (1964); A.I Popov nêu ra Những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh (1964) trong đó chú trọng hai nguyên tắc chính là phải dựa vào
tư liệu lịch sử của các ngành ngôn ngữ học, địa lý học, lịch sử học và phải thận trọng khi sử dụng phương pháp thành tố để phân tích ngữ vĩ của địa danh [dẫn theo
93, tr.9]; Công trình nghiên cứu địa danh một địa phương như Địa danh Matxcơva [178] của G.P Xmolixkaja và M.V Gorbanhexki Đáng chú ý nhất là tác phẩm Địa
danh học là gì? của A.V Superanskaja (1985), đã đặt ra những vấn đề liên quan
đến nghiên cứu địa danh vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát cao Có thể nói đây
là công trình “mang tính tổng hợp, trình bày toàn diện những kết quả nghiên cứu
địa danh” [141, tr.12-13], làm cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu địa danh trong
những năm tiếp theo ở Liên bang Xô Viết (trước đây)
Ngoài các nhà địa danh học Xô Viết, ở châu Âu, Mỹ, Trung Quốc cũng có những công trình nghiên cứu về nguồn gốc ý nghĩa của địa danh Chẳng hạn như công
trình “Les noms de lieux” của Ch.Rostaing (1965) chú trọng đến các hình thức cổ của
các từ cấu tạo địa danh và dựa vào kiến thức ngữ âm học địa phương để tìm hiểu từ nguyên địa danh [dẫn theo 63, tr.12], nghiên cứu về ý nghĩa của địa danh của
William Bright trong What is a Name? Reflections on Onomastics [168], về vấn đề
kế hoạch hóa ngôn ngữ và địa danh trong Language Planning and Placenaming in
Australia của Flavia Hodges [169], về công cụ phân tích và ứng dụng của nó trong nghiên cứu địa danh sông hồ, làm sáng tỏ và chính thức hóa các tên gọi trong
Analytical Tools for Toponymy:Their Application to Scottish Hydronymy của Jacob
Trang 15King [171], về sự phát triển trong nghiên cứu cách phân loại loại hình địa danh
trong Motivations for Naming: The Development of a Toponymic Typology for
Australian Placenames của Jan Tent and David Blair [172]… Đây là những hướng nghiên cứu địa danh theo phương pháp tiếp cận liên ngành mà các nhà địa danh học
đang quan tâm Đặc biệt, với công trình Toponymy - the Lore, Laws and Language of
Geographical Names, Naftali Kadmon [170] đã đưa ra hệ thống lí luận chi tiết cho
việc nghiên cứu địa danh về cả lý thuyết lẫn thực tiễn, cách phân chia các nhóm ý nghĩa của địa danh, được xem là cẩm nang về nguyên tắc và ngôn ngữ đặt tên cho các đối tượng địa lý, có giá trị cao về mặt phương pháp luận đối với người nghiên cứu địa danh hiện nay
Những công trình nghiên cứu địa danh trên thế giới nói trên đã tạo nên một khung lý thuyết tương đối khái quát, từ cách phân loại đến việc miêu tả các lớp địa danh, phương thức định danh và giá trị phản ánh hiện thực qua địa danh của từng vùng lãnh thổ, là cơ sở quan trọng đối với chúng tôi khi thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu địa danh ở tỉnh Quảng Bình
2.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở nước ta, địa danh cũng đã được đề cập đến nhiều trong các công trình về
lịch sử, địa lý, địa chí như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú (1821), Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán
triều Nguyễn (1878), Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Việt sử xứ Đàng Trong
của Phan Khoang, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên…
Cùng với xu hướng phát triển của địa danh học trên thế giới, vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam được chính thức đặt ra từ những năm 60 của thế kỷ trước
Tác giả Hoàng Thị Châu với Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua
một vài tên sông” [23] đã đánh dấu cột mốc quan trọng cho việc nghiên cứu địa
danh từ góc nhìn ngôn ngữ học Bằng cách tiếp cận ngôn ngữ học lịch sử, tác giả đã cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến nguồn gốc và quá trình hình thành địa danh ở khu vực Đông Nam Á nói chung, địa danh tiếng Việt nói riêng Những
Trang 16công trình tiêu biểu khác về địa danh có thể kể đến là: Địa danh ở thành phố Hồ
Chí Minh (1991) và Địa danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa, Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh, Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 - 1997 của Nguyễn Quang Ân, Một số vấn đề địa danh học Việt Nam của Nguyễn Văn Âu Nói về địa danh làng xã có Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra của Dương Thị The và Phạm Thị
Thoa Tiếp sau đó là luận án Phó tiến sĩ hay tiến sĩ Khảo sát địa danh thành phố
Hải Phòng của Nguyễn Kiên Trường; tác giả Từ Thu Mai Nghiên cứu địa danh Quảng Trị; tác giả Trần Văn Dũng Nghiên cứu địa danh Đắc Lắc; tác giả Phan
Xuân Đạm với luận án Khảo sát các địa danh ở Nghệ An; tác giả Trần Văn Sáng với công trình Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở phía tây Thừa
Thiên-Huế v.v
Liên quan đến các khuynh hướng, các phương pháp nghiên cứu địa danh, tác giả Trần Trí Dõi đã có nhiều công trình về địa danh theo hướng nghiên cứu
so sánh lịch sử: Một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa
(2000), Về địa danh Cửa Lò (2000), Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam) và Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam: Một vài nhận xét và những kiến nghị (2001), Tên gọi thánh
“Dóng” và lễ hội “Phù Đổng”: góc nhìn từ ngữ âm lịch sử tiếng Việt (2012)…Tác
giả Lê Trung Hoa cũng đã có những nghiên cứu về địa danh theo hướng liên ngành
ngôn ngữ - lịch sử - văn hóa như: Địa danh - những tấm bia lịch sử (2009), Thử giải
mã một số địa danh Việt Nam (2012), Xác định nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh ở Bà Rịa - Vũng Tàu (2013), và tác giả cũng đã dày công biên soạn Từ điển từ nguyên địa danh Việt Nam (2013) Những công trình trên đã có những đóng
góp sâu sắc khi tiếp cận vấn đề địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học, cung cấp một cách khá toàn diện về phương pháp nghiên cứu địa danh theo hướng khoa học liên ngành
Trang 172.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở tỉnh Quảng Bình
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến địa danh ở tỉnh Quảng Bình
Trước hết phải kể đến Ô Châu cận lục của Dương Văn An đời nhà Mạc [2], chép về
sông núi, thành trì, phong tục của xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng
Nam Sau đó là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn [53], tập hợp những tài liệu về địa
lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian ông làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế
kỷ XVIII Sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định (1806), Đồng
Khánh dư địa chí (1885) của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng Bình lục của Trần Kinh và Nguyễn Kinh Chi (1998) cũng giới thiệu nhiều về địa danh
thắng-tích-làng xã Quảng Bình thời phong kiến, tên sông, tên núi mô tả cảnh quan vùng đất Quảng Bình xưa, liệt kê danh mục địa danh được đặt qua các thời kỳ Những tác phẩm trên là nguồn tư liệu quí giá để người nghiên cứu tìm hiểu lai lịch nguồn gốc địa danh gắn với các giá trị văn hóa, lịch sử của một vùng lãnh thổ
Các tác phẩm Địa lý - Lịch sử Quảng Bình (1986) của Lương Duy Tâm, công trình khoa học Làng xã văn hóa Quảng Bình (Báo Quảng Bình - 2001) của Tạ Đình Nam, Quảng Bình Nước non và Lịch sử (1998) của Nguyễn Tú, các công trình, bài báo Đồng Hới những sự kiện lịch sử của Lại Văn Ly, Tản mạn qua thị xã Đồng Hới của Phan Xuân Thiết, Biên soạn địa danh văn hóa - lịch sử Quảng Bình phục vụ du
lịch của Hoàng Tất Thắng và sách địa chí, lịch sử đảng bộ các địa phương trong
tỉnh [91], [92], [142], [143], [144], [146], [154], [155], [156], [157], [116], đã đề cập đến nhiều địa danh ở tỉnh Quảng Bình dưới góc độ văn hóa, địa lý, lịch sử và du lịch
Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách qui mô, toàn
diện về địa danh ở tỉnh Quảng Bình theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học Chính vì thế, nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình sẽ là một công trình tiếp cận với một
vùng lãnh thổ hoàn toàn mới mẻ
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích
Trang 18- Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng ta sẽ góp phần bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của một vùng lãnh thổ
- Thông qua việc miêu tả và phân tích địa danh ở tỉnh Quảng Bình trên các mặt: đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi địa danh, những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa gắn với địa danh ở Quảng Bình, đề tài sẽ góp phần nghiên cứu văn hóa xã hội của vùng đất này, cung cấp những dữ liệu góp phần cho việc nghiên cứu lý thuyết về địa danh trên địa bàn của cả nước
- Trong điều kiện cho phép, từ những cứ liệu được thu thập, thống kê, miêu
tả, tiếp tục đi sâu nghiên cứu để xây dựng từ điển từ nguyên địa danh và từ điển bách khoa địa danh tỉnh Quảng Bình
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận án có 4 nhiệm vụ cần được giải quyết:
- Trình bày cơ sở lí luận về địa danh học và tổng quan nghiên cứu địa danh, vấn đề địa danh, địa bàn nghiên cứu, phương pháp, cách tiếp cận đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa các địa danh ở tỉnh Quảng Bình
- Điền dã, khảo sát địa danh thuộc các loại hình khác nhau được phân bố và tồn tại theo các đối tượng địa lí trong phạm vi địa bàn tỉnh Quảng Bình, kể cả những vùng rừng núi có dân tộc thiểu số sinh sống
- Thống kê, miêu tả đặc điểm cấu trúc các địa danh ở tỉnh Quảng Bình trên các phương diện: mô hình phức thể địa danh, các đặc điểm ngữ pháp, nguồn gốc của thành tố chung và tên riêng địa danh
- Miêu tả đặc điểm định danh các địa danh tỉnh Quảng Bình ở các khía cạnh phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh; đặc trưng văn hóa thể hiện qua thành tố chung và tên riêng của phức thể địa danh
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tên gọi các đối tượng địa lý tồn tại trên địa bàn toàn tỉnh, gồm các xã, phường, thị trấn của 6 huyện, 1 thành phố trực thuộc tỉnh Luận án sẽ tập trung khảo sát các địa danh chỉ địa hình thiên nhiên, địa danh
Trang 19các đơn vị cư trú hành chính và địa danh chỉ các công trình xây dựng thuộc địa bàn
4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Quảng Bình là một vùng đất có vị trí đặc biệt của miền trung Việt Nam Nó vừa là vùng đất của người Việt cổ, vừa là vùng đất khởi đầu của sự mở mang bờ cõi
Đại Việt về phía nam Vì thế địa danh của Quảng Bình sẽ là sự phản ánh chung địa
danh của người Việt, vừa là sự phản ánh nét kế thừa của cư dân đã cư trú ở vùng
đất này từ thời xa xưa
- Luận án sẽ lập được danh mục địa danh tỉnh Quảng Bình và phân loại địa
danh theo các tiêu chí cụ thể Lần đầu tiên, bức tranh tổng thể về địa danh tỉnh
Quảng Bình được mô tả và khái quát ở các mặt: đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa, các phương thức định danh Luận án cũng chỉ ra một số đặc điểm về sự hình thành, biến đổi và đặc trưng ngôn ngữ-văn hóa trong địa danh ở tỉnh Quảng Bình
- Luận án sẽ góp phần thể hiện một vài đặc điểm riêng của tiếng địa phương Quảng Bình và các vấn đề chung của lịch sử tiếng Việt
5 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHI TIẾP CẬN ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
5.1 Nguồn tư liệu và phướng thức thu thập
Nguồn tư liệu:
Để có được những điều cơ bản nhất về hệ thống địa danh hiện đang tồn tại trên địa phận Quảng Bình, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, tập hợp ở mức độ cao nhất Các cứ liệu địa danh được chúng tôi thu thập từ các nguồn:
- Tư liệu điền dã thực tế ở các thôn bản ở địa phương, tìm hiểu nguồn gốc địa danh, quá trình hình thành làng xóm, tên cũ, tên mới qua lời kể của người già, qua văn bia, hương ước, gia phả các dòng họ
- Tư liệu từ các tài liệu: Tổng tập địa chí tỉnh Quảng Bình, Địa chí Đồng Khánh, Địa bạ Quảng Bình, địa chí các địa phương trong tỉnh, Lịch sử Đảng bộ các
Trang 20huyện thị, các loại bản đồ, sách tham khảo về địa lý, lịch sử, văn hóa Quảng Bình, các bài viết có liên quan đến văn hóa - lịch sử Quảng Bình
Phương thức thu thập:
Sau khi lập phiếu điều tra về danh mục các đối tượng địa lý cần khảo sát (các danh mục này có thể được bổ sung trong quá trình điền dã), chúng tôi đã tiến hành trực tiếp đến các địa phương điều tra khảo sát tư liệu về địa danh trong vùng Trong lần điền dã thứ nhất, chúng tôi đến trụ sở tất cả các xã trong tỉnh đặt vấn đề với cán
bộ phụ trách địa chính, văn hóa, hội người cao tuổi, hội nông dân tập thể về các nội dung cần khảo sát, nhờ họ thu thập tư liệu địa danh trên địa bàn Trong lần điền
dã thứ hai, chúng tôi tiến hành thu thập tư liệu do các đơn vị như đã nêu cung cấp, đồng thời trực tiếp đến các địa điểm, phỏng vấn các bậc cao niên am hiểu về địa bàn theo sự giới thiệu của chính quyền sở tại
Các nguồn ngữ liệu tồn tại trong dân gian như gia phả các dòng họ, các văn bản của trí thức ở địa phương, các văn bản về hành chính, địa chính của các địa phương chưa thành ấn phẩm xuất bản cũng là một nguồn cung cấp tư liệu cho luận
án
Xử lý tư liệu:
- Thống kê, chọn lọc, sắp xếp, phân loại và tổng hợp theo chủ đề
- Tìm hiểu những yếu tố liên quan đến nội dung địa danh v.v
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện các nội dung của luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp
nghiên cứu điền dã của ngôn ngữ học Phương pháp này là công cụ không thể thiếu
để chúng tôi tập hợp tư liệu địa danh phục vụ cho nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả nội dung của địa danh trên cơ sở vận dụng tri thức
của nhiều ngành như văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ, địa lý Đồng thời, để lý giải những nội dung được tích hợp trong từng địa danh, chúng tôi dùng thủ pháp phân tích, thống kê, tổng hợp
- Trong một mức độ có thể, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh - lịch sử
trong ngôn ngữ học để nghiên cứu và nhận diện giá trị văn hóa của địa danh ở tỉnh Quảng Bình
Trang 216 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận án sẽ có ba chương nghiên cứu sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về địa danh và những vấn đề hữu quan về địa danh tỉnh Quảng Bình
Chương 2: Những đặc điểm về cấu tạo và ý nghĩa của địa danh tỉnh Quảng Bình Chương 3: Một vài đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh tỉnh Quảng Bình
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU
QUAN VỀ ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
1.1.1 Về khái niệm địa danh
Địa danh (toponym) là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó Thuật ngữ địa danh trong
tiếng Hy Lạp có cấu tạo gồm hai bộ phận: topos (địa điểm) và onoma/onima (tên
gọi chung nhất với ý nghĩa “ tên gọi địa lý”) Địa danh, hiểu theo nghĩa hẹp, là tên gọi của các đối tượng địa lý gắn với từng vùng đất cụ thể
Hiện vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh, vì mỗi định nghĩa đều có điểm riêng tùy theo cách lập luận và hướng tiếp cận của từng tác giả Theo A.V Superanskaja, địa danh là “toàn bộ những tên gọi địa lý, đôi khi còn có những tên gọi khác ” [114, tr.3] và “những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể
tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị, xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [114, tr 13] Theo quan niệm của tác giả, địa danh là tên gọi các đối tượng địa lý khác nhau, địa hình trên bề mặt trái đất Địa danh đánh dấu các tên gọi địa lý bằng các từ Địa danh gần gũi với tên người, tên động vật Tác giả Từ Thu Mai cũng đồng ý với quan điểm của Superanskaja: “ Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [93, tr.21]
Ở Việt Nam, với cách hiểu từ Hán Việt, địa danh có nghĩa là tên đất Quan
niệm về địa danh nhìn từ góc độ địa lý - văn hóa, Đào Duy Anh cho rằng: “ Địa
danh là tên gọi các miền đất” [9, tr.220] Còn trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên lại giải thích địa danh là “tên đất, tên địa phương” [99, tr.320] Nguyễn Văn Âu cũng cho rằng: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc,
Trang 23hay là tên địa phương, làng mạc” [13, tr.18]
Tác giả Lê Trung Hoa đã đưa ra quan niệm về địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ
loại địa danh đó: sông Sài Gòn, đường Ba Tơ, ấp Bàu Trăm,…” [68, tr.22]
Nguyễn Kiên Trường thì xác định: “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa
lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [141, tr.16]
Từ những quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước như đã nêu, chúng tôi xin trình bày cách hiểu của mình về địa danh như sau để tác nghiệp trong luận
án: Địa danh là những từ, cụm từ dùng làm tên riêng cho các đối tượng địa lý khác
nhau, có vị trí xác định thiên về không gian hai chiều trên bề mặt trái đất
Dù có những quan niệm chưa thống nhất về địa danh, nhưng các nhà nghiên cứu địa danh học đều nhất trí rằng địa danh, ở một mức độ nào đó, chính là những vật chứng đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về dân tộc, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Địa danh được xem là những “di chỉ khảo cổ học” không nằm trong lòng đất, hiện hữu với tư cách là những bằng chứng, hiện tượng đồng đại nhưng lại chứa nhiều thành tố thuộc về lịch đại Đó chính là cơ sở, là xuất phát điểm để chúng tôi khảo sát, mô tả nội dung địa danh ở tỉnh Quảng Bình trong mối liên hệ với sự phản ánh hiện thực về một vùng lãnh thổ
1.1.2 Vấn đề phân loại địa danh
1.1.2.1 Một số cách phân loại địa danh của các tác giả nước ngoài
Hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học có những cách phân loại khác nhau về địa danh Dưới đây là một số cách phân loại địa danh của các tác giả nước ngoài
Trong tác phẩm Địa danh Matxcơva [178], các tác giả G.P.Xmolixkaja và
M.V Gorbanhexki đã chia địa danh thành 4 loại: 1 Tên gọi các điểm dân cư (phương danh); 2 Thuỷ danh; 3 Sơn danh; 4 Phố danh (tên gọi đối tượng trong thành phố) Tác giả A.V.Superanskaja [114] chia địa danh thành 8 loại: 1 Phương
Trang 24danh; 2 Thuỷ danh; 3 Sơn danh; 4 Phố danh; 5 Lộ danh; 6 Viên danh; 7 Đạo danh; 8 Nơi cư dân ít A Dauzat [176] phân chia các địa danh cụ thể thành 4 phần: 1 Những vấn đề chung cơ sở ngôn ngữ tiền Ấn - Âu; 2 Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học; 3 Các từ nguyên Gôloa - La Mã; 4 Địa danh học Gôloa-La Mã của vùng Auvergne và Velay Còn Ch.Rostaing [177], thì xem xét các vấn đề trong địa danh như: 1 Những cơ sở tiền Ấn - Âu; 2 Các lớp tiền Xêtích; 3 Lớp Gôloa; 4 Những phạm vi Gôloa - La Mã; 5 Những sự hình thành
La Mã; 6 Những đóng góp của tiếng Giécmanh; 7 Các hình thức của thời phong kiến; 8 Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo; 9 Những hình thái hiện tại; 10 Các địa danh và tên đường phố; 11 Tên sông núi
Có thể thấy, các nhà địa danh học phương Tây và Xô Viết trước đây đã phân loại địa danh dựa theo hai tiêu chí: Nguồn gốc ngôn ngữ cấu thành địa danh và đối tượng địa lý mà địa danh phản ánh Trong đó, cách phân chia địa danh của tác giả A.V.Superanskaja [114] là cụ thể và rõ ràng nhất
1.1.2.2 Cách phân loại địa danh của các tác giả trong nước
Tác giả Nguyễn Văn Âu [13] tiến hành sắp xếp địa danh thành các kiểu khác nhau, theo đối tượng địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội Ông chia địa danh ra: 2 loại,
7 kiểu và 12 dạng địa danh Loại địa danh: 1 Địa danh tự nhiên như sông Hồng, Trường Sơn, Côn Đảo… 2 Địa danh kinh tế - xã hội như: làng Thượng Cát, huyện
Sa Pa… Các kiểu địa danh: 1 sơn danh; 2 lâm danh; 3 làng; 4 xã; 5 huyện; 6 thị
và 7 thành phố và quốc gia Các dạng địa danh như: sông ngòi, hồ, đầm, đồi núi,
hải đảo, rừng Cách phân chia này chưa đề cập đến tên các vùng lãnh thổ và tên các
công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, chỉ dựa vào đặc điểm địa lí - xã hội, chưa có tính chất khái quát để nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học
Trần Thanh Tâm [117] đã phân chia các loại hình địa danh Việt Nam thành 6 loại: 1 Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; 2 Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian; 3 Loại đặt theo tên người, tôn giáo và lịch sử; 4 Loại đặt theo hình thái, chất đất và khí hậu; 5 Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; 6 Loại đặt theo sinh hoạt xã hội Cách phân loại này chưa bao quát hết
Trang 25các loại hình địa danh, chưa chú ý đến phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, chưa thật sự đặt việc nghiên cứu địa danh theo cách nhìn ngôn ngữ học
Tác giả Lê Trung Hoa [67], với cách trình bày các vấn đề địa danh dưới góc
độ của ngôn ngữ học, hướng đến tính hệ thống, tính lý thuyết, căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, chia địa danh ra 2 loại: Địa danh chỉ các đối tượng địa lí tự nhiên và Địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân tạo Trong đó các đối tượng địa lí tự
nhiên như: núi, đồi, sông, rạch… Địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân tạo gồm 3 kiểu loại: địa danh chỉ các công trình xây dựng (phố danh, viên danh, đạo danh); địa
danh chỉ các đơn vị hành chính (ấp, xã, phường …); và địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng Căn cứ vào nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa
danh ở thành phố Hồ Chí Minh thành 2 nhóm lớn: địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt (gốc Hán - Việt, gốc Khơme, gốc Pháp…)
Tác giả Nguyễn Kiên Trường [141], ngoài sự vận dụng 2 tiêu chí mà Lê
Trung Hoa đã áp dụng, bổ sung thêm tiêu chí chức năng giao tiếp của địa danh đã
đưa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh:
- Dựa vào thuộc tính của đối tượng, tác giả chia địa danh Hải Phòng ra 2 nhóm: a Địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên và b Địa danh chỉ đối tượng địa
lý nhân văn Trong đó, địa danh tự nhiên được chia làm 2 tiểu nhóm: nhóm đất
liền và vùng biển giáp ranh Địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn gồm 2 tiểu
nhóm: địa danh cư trú hành chính và địa danh gắn với hoạt động của con người
tạo nên: di chỉ, di tích, khu tập thể, trại, trấn, xứ đạo…, địa danh đường phố
(đường, ngã tư, ngõ) và địa danh chỉ công trình xây dựng (bể bơi, bến cảng, chợ, chùa, nhà thờ, khách sạn, khu du lịch, xí nghiệp….)
- Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòng ra các loại: địa danh có nguồn gốc Hán Việt; địa danh có nguồn gốc thuần Việt; địa danh
có nguồn gốc Pháp; địa danh có nguồn gốc Tày - Thái - Việt - Mường, Khơme, Chăm, Mã Lai; địa danh có nguồn gốc hỗn hợp; địa danh chưa xác định nguồn gốc
Trang 26- Dựa vào đặc điểm giao tiếp, địa danh được chia thành: Tên gọi chính thức, tên gọi dân gian, tên cổ, tên cũ và tên khác
Cách phân loại địa danh của Từ Thu Mai [93] trong Nghiên cứu địa danh
Quảng Trị cũng gần với quan điểm của tác giả Lê Trung Hoa Dựa vào tiêu chí tự
nhiên - không tự nhiên, tác giả chia địa danh ra làm làm 2 loại hình: a Địa danh tự nhiên, b Địa danh không tự nhiên Địa danh tự nhiên gồm: sơn danh, thuỷ danh,
vùng đất nhỏ Địa danh không tự nhiên gồm 2 nhóm: đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo Nhóm địa danh đơn vị dân cư gồm: địa danh cho chính quyền hành chính
đặt và địa danh có từ thời phong kiến Nhóm địa danh các công trình nhân tạo gồm: công trình giao thông, công trình xây dựng Dựa vào nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tố, tác giả phân chia địa danh làm 4 loại: a Địa danh là thuần Việt; b Địa danh Hán Việt; c Địa danh kết hợp các yếu tố thuần Việt và Hán Việt; d Địa danh thuộc các ngôn ngữ dân tộc thiểu số Trong địa danh thuần Việt tác giả phân làm 2 loại: địa danh thuần Việt toàn dân và địa danh thuần Việt là tiếng địa phương Quảng Trị
Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu trước đó, Phan Xuân Đạm [50, tr.103-109] đã khắc phục những chỗ chưa hợp lý trong cách phân loại địa danh, phân
chia địa danh theo thành tố chung và các trường từ vựng - ngữ nghĩa Theo tiêu chí tự
nhiên và không tự nhiên, tác giả chia địa danh Nghệ An thành 2 loại lớn, 5 kiểu loại nhỏ
và 91 dạng Theo tiêu chí ngữ nghĩa, tác giả chia hệ thống địa danh thành 6 trường từ
vựng ngữ nghĩa: trường từ vựng - ngữ nghĩa về núi non sông nước; trường từ vựng - ngữ nghĩa về đồng ruộng; trường từ vựng - ngữ nghĩa về công trình xây dựng; trường từ vựng
- ngữ nghĩa về đường phố; trườngtừ vựng - ngữ nghĩa về các đơn vị dân cư; trường từ vựng - ngữ nghĩa các địa danh gắn với đời sống văn hoá tinh thần
Như vậy, vấn đề phân loại địa danh thực sự không đơn giản Mỗi tác giả tùy theo mục đích và phương pháp nghiên cứu riêng mà đưa ra những tiêu chí phân loại khác nhau Có thể thấy, cho dù với mục đích và phạm vi nghiên cứu nào thì người nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học đều phải dựa vào 2 tiêu chí cơ bản:
tự nhiên – không tự nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ Dù rất khó khăn nhưng việc phân
Trang 27loại theo ngữ nguyên là rất cần thiết, là cơ sở để chứng minh được nhiều vấn đề, từ nguồn gốc tộc người (chủ thể định danh) đến ngôn ngữ - văn hoá của vùng đất chứa địa danh Cách phân loại này sẽ giúp chúng ta thấy rõ đặc điểm cấu tạo của địa danh, cũng như lí do định danh, sự thay đổi, chuyển hoá và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh
Xét theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên, chúng tôi đồng ý với quan điểm của
Lê Trung Hoa, không xếp tên gọi các công trình nhân tạo thiên về không gian ba chiều
như: am, chùa, đình, đền, miếu, mộ, nhà thờ… vào “khu vực” địa danh, mà gọi chúng là
hiệu danh Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng hiệu danh và địa danh có quan hệ mật
thiết với nhau, đều thuộc phạm trù tên riêng, và trong nhiều trường hợp giữa chúng có sự
chuyển hóa qua lại Chẳng hạn như hiệu danh chuyển hóa vào địa danh: núi Chùa Non (QN), cồn Chùa (ĐH); địa danh chuyển hóa vào hiệu danh: đình Lý Hòa (BT), nhà thờ
Kim Lũ (TH)…
Từ những kiến giải trên, căn cứ vào mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tình hình thu thập cứ liệu địa danh ở tỉnh Quảng Bình, chúng tôi phân loại
địa danh tỉnh Quảng Bình theo 2 tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên và nguồn gốc
ngôn ngữ Theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên địa danh ở Quảng Bình được
chia thành: địa danh chỉ địa hình tự nhiên gồm những đối tượng địa lý nổi trên bề mặt như: rú (núi), đồi, cồn, đôộng, bại và những đối tượng lõm so với bề mặt quả đất như: sông, hồ, đầm, phá, hói, khe ; địa danh không tự nhiên gồm: địa danh cư
trú-hành chính (tên gọi dân gian, tên gọi hành chính cũ, tên gọi hành chính hiện nay) và địa danh công trình xây dựng (gồm địa danh công trình xây dựng liên quan đến đời sống vật chất, địa danh công trình xây dựng liên quan đến đời sống tinh thần)
Theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, địa danh tỉnh Quảng Bình được phân chia thành: địa danh Hán Việt, địa danh thuần Việt (tiếng Việt phổ thông và tiếng địa phương Quảng Bình), địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số
1.1.3 Về chức năng của địa danh
Là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý, địa danh có ba chức năng cơ bản:
- Chức năng cá thể hóa đối tượng
Trang 28Cũng như mọi danh từ, danh ngữ khác, địa danh (danh từ riêng) có chức năng cơ bản là định danh sự vật Song vì đặc thù của địa danh là tên riêng đặc biệt cho nên nó có chức năng mà danh từ chung không có, đó là chức năng cá thể hóa đối tượng Chức năng này làm cho địa danh trở thành tượng đài ngôn ngữ ghi dấu
ấn văn hóa lịch sử riêng biệt Mọi hoạt động và sự liên hệ trong xã hội sẽ thuận lợi hơn nhờ có tên gọi của các địa danh
- Chức năng phản ánh hiện thực
Mỗi địa danh được khai sinh trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, lưu lại dấu
ấn lịch sử văn hóa Do đó mỗi địa danh là một “bộ từ điển sống” về một vùng đất, phản ánh sinh động nhiều mặt về đặc điểm địa hình, điều kiện tự nhiên và đời sống
xã hội xung quanh bằng những từ ngữ Ngữ nghĩa của từ phần nào phản ánh những
thông số lịch sử, văn hóa của địa danh Ví dụ: đèo Ngang là nơi chỉ dãy núi Trường Sơn cắt ngang, ăn thông ra biển Địa danh làng Thổ Ngọa, làng Thọ Đơn (QT) gắn liền với nghề nón lá Làng An Xá, Lộc An của huyện Lệ Thủy phản ánh mong muốn
sự bình yên, an cư lạc nghiệp của người dân Có những địa danh phản ánh quá trình
biến đổi của một vùng đất như làng Lý Hòa ngày nay nguyên là làng Cô, đổi thành
Thuận Cô, sau chia làm hai: Thuận Cô Nam, Thuận Cô Bắc, về sau đổi thành Lý Hòa
- Chức năng bảo tồn
Địa danh có chức năng bảo tồn bởi nhiều biến cố lịch sử, văn hóa được lưu giữ trong địa danh Ở Quảng Bình có hàng trăm địa danh tồn tại bất biến qua năm tháng, kể cả khi lớp cư dân cũ với ngôn ngữ riêng của họ đã di chuyển đi nơi khác Mỗi địa danh, xét từ góc độ từ nguyên, đều chứa đựng những ý nghĩa lịch sử, văn hóa về thời điểm nó ra đời, gắn bó với vùng đất, tình người Vì thế, địa danh lưu giữ dấu ấn lâu bền trong tâm tư tình cảm của người dân địa phương, nghĩa là có tính
bảo lưu, bảo tồn mạnh mẽ Có biết bao địa danh ở Quảng Bình như: Trung Thuần là
dấu tích nơi chúa Trịnh đóng quân, chỉ huy trận tuyến sông Gianh trong thời gian
phân tranh Trịnh - Nguyễn Sông Nhật Lệ, dòng sông diễm lệ, là địa danh ghi lại
chiến tích hơn 300 năm chiến tranh thời Lý, Trần với quân Chiêm Thành và sau đó
Trang 29là giai đoạn Trịnh - Nguyễn với những sự tích bi hùng suốt chiều dài lịch sử mở mang bờ cõi của đất nước
1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ học truyền thống có ba ngành chính là ngữ
âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Mỗi ngành này lại có những ngành nhỏ
khác nhau Trong từ vựng học có một phân ngành là danh xưng học, chuyên nghiên cứu tên riêng Danh xưng học lại có hai ngành nhỏ hơn là: nhân danh học
và địa danh học Trong đó, nhân danh học chuyên nghiên cứu về tên người, địa
danh học nghiên cứu về tên gọi địa lý gồm các mặt chính: lịch sử hình thành, biến đổi về cấu tạo, chức năng phản ánh hiện thực (ý nghĩa) Trên lý thuyết, trong danh
xưng học còn có một ngành khoa học nữa là hiệu danh học, nghiên cứu tên riêng
các thiên thể, các nhãn hiệu sản phẩm, các biển hiệu Đến lượt nó, địa danh có thể chia ra nhiều ngành nhỏ hơn như: thủy danh học (đối tượng sông, suối…), sơn danh học (tên núi, đồi ), phương danh học (các địa điểm quần cư), phố danh học (các đối tượng thuộc thành phố) Chúng ta có thể mô hình hóa vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học, đã được tác giả Lê Trung Hoa [67] xác định theo sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học
Từ vựng học Ngữ pháp học Ngữ âm học
Trang 301.1.5 Hướng tiếp cận khi nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình
Nghiên cứu địa danh, như đã trình bày ở trên, là nghiên cứu cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của các tên gọi chỉ các đối tượng địa lý Mỗi người nghiên cứu đều xác định một hướng tiếp cận chủ yếu tùy theo mục đích, nội dung, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể của mình Từ góc độ ngôn ngữ học, có thể khái quát các hướng tiếp cận chung, cơ bản trong nghiên cứu địa danh hiện nay như sau:
- Tiếp cận theo hướng đồng đại khi phân tích, tìm hiểu các đặc điểm về mặt cấu tạo và ý nghĩa của địa danh [93], [50]
- Tiếp cận theo hướng lịch đại khi truy tìm nguồn gốc và nghiên cứu sự biến đổi của địa danh qua các thời kỳ [23], [33], [36], [40], [41]
- Tiếp cận địa danh dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa, xem xét giá trị phản ánh hiện thực của địa danh, thể hiện qua thành tố chung và tên riêng trong mỗi phức thể địa danh [32], [34], [36], [39], [63], [68]
- Nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa địa danh trong văn bản tiếng Việt, đặc biệt đối với địa danh tiếng nước ngoài, địa danh tiếng Việt cổ, tiếng các dân tộc thiểu số
Từ đó, đề ra giải pháp ghi địa danh thống nhất phục vụ công tác lập bản đồ, chuẩn hóa tên riêng tiếng Việt trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng [111], [151]
Hướng tiếp cận địa danh dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa là vấn đề thời sự hiện nay, đang được giới nghiên cứu địa danh quan tâm Thực chất của việc nghiên cứu địa danh theo hướng liên ngành này là xem địa danh đã phản ánh những đặc điểm văn hóa và thực tiễn cuộc sống như thế nào, và ngược lại văn hóa được phản ánh qua địa danh ra sao Nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình trong sự tìm hiểu khả năng tương tác giữa địa danh và các thành tố văn hóa là điểm đến của chúng tôi với mong muốn góp phần bổ sung cho sự nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong từng vùng lãnh thổ, thể hiện qua từng vùng địa danh
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỊA BÀN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
1.2.1 Những đặc điểm chính về địa lý, lịch sử tỉnh Quảng Bình
Trang 311.2.1.1 Về địa lý
Quảng Bình, một tỉnh nhỏ hẹp ở miền Trung Việt Nam, nằm trong vùng tọa
độ 18005’12” - 17005’02” vĩ độ Bắc, 105036’55” - 106059’37” kinh độ Đông, phía bắc giáp Hà Tĩnh với dãy Hoành Sơn chạy từ tây sang đông, dài 129 km, phía nam giáp Quảng Trị với chiều dài 75 km, phía tây giáp tỉnh Khăm Muộn (Lào) với đường biên giới dãy Trường Sơn phân cách chạy dài 201,87km, phía đông là bờ biển với những bãi cát trắng nối liền nhau dài 116,04km [29]
Quảng Bình có diện tích tự nhiên 8.065 km2 được chia thành sáu huyện và một thành phố Trong đó có năm huyện và một thành phố có vùng đồng bằng lớn hơn là Đồng Hới, Lệ Thủy, Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch và hai huyện miền núi Tuyên Hóa, Minh Hóa Thiên nhiên ưu đãi cho Quảng Bình một cảnh quan địa hình đa dạng, với sự hội tụ đầy đủ rừng núi, đồi bãi, đồng bằng, đầm phá, sông biển…
Vùng rừng núi Quảng Bình có diện tích tự nhiên 4.497 km2, nằm dọc theo triền đông của dãy Trường Sơn, nghiêng dần theo hướng tây - đông và có độ dốc không đều nhau Các dãy núi nối liền nhau trùng điệp tạo thành hình vòng cung có một đầu nhô ra sát biển (dãy Hoành Sơn), giữa chúng có khi gián đoạn bởi những
thung lũng karst Cũng vì địa hình karst hoạt động mạnh nên ở đây đã hình thành
nhiều hang động nổi tiếng, như động Phong Nha, động Tiên Sơn và các hệ thống hang động trong khối đá vôi Kẻ Bàng: Minh Cầm, Yên Lạc, Chân Linh…
Núi rừng ở Quảng Bình với những dãy núi cao như đỉnh Giăng Màn, đèo Mụ Giạ, Ba Rền, Đầu Mâu, Kê Quan, Thần Đinh cùng với sông Nhật Lệ, Linh Giang,… tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình [116, tr 23]
Song song với đồi núi, đồng bằng Quảng Bình nhỏ hẹp nằm ven hạ lưu các con sông, chiếm khoảng 10% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh Đồng bằng ở đây được hình thành bởi sự bồi đắp phù sa của các con sông chảy từ thượng nguồn ra biển cả Ví như đồng bằng Quảng Ninh, Lệ Thủy xưa kia là một vùng đầm phá rộng lớn, nhưng được phù sa của sông Kiến Giang, Long Đại bồi tụ thường xuyên, đã tạo nên một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ, thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp
Trang 32Bờ biển Quảng Bình có chiều dài 116,04 km, vùng ven biển chiếm 3,3% diện tích toàn tỉnh, chủ yếu là những bãi cát trắng, rừng phi lao từ đèo Ngang đến
Hạ Cờ Vùng biển Quảng Bình vừa đẹp về thắng cảnh như Cảnh Dương, Đá Nhảy, Nhật lệ…vừa thuận tiện cho tàu bè đánh cá đi lại Biển Quảng Bình có nguồn lợi hải sản phong phú, trong đó có những đặc sản quý như: tôm hùm, hải sâm, cửu khổng
Sông ngòi Quảng Bình ngắn và dốc, tất cả đều xuất phát từ dãy Trường Sơn
và đổ ra biển Từ thượng nguồn, hàng trăm khe suối đổ vào năm con sông lớn: sông Gianh, sông Roòn, sông Lý Hòa, sông Dinh và sông Nhật Lệ Sông ngòi Quảng Bình vừa là nguồn lợi kinh tế với tài nguyên thiên nhiên dồi dào, vừa là môi trường
tự nhiên thuận lợi cho các hoạt động du lịch sinh thái
Về khí hậu, Quảng Bình cũng như toàn vùng Bắc Trung Bộ, chịu sự tác động mạnh mẽ của chế độ nhiệt đới gió mùa, nên thường xuyên lũ bão trong mùa mưa và hạn hán vào mùa khô
Với điều kiện địa lí tự nhiên như thế, Quảng Bình vừa có nhiều thuận lợi lại vừa có nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
1.2.1.2 Địa giới hành chính
Trước đây Quảng Bình có những tên gọi và địa giới hành chính khác nhau
Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi [136] và Việt sử xứ Đàng Trong của Phan
Khoang [80], vùng đất Quảng Bình thời sơ sử thuộc bộ Việt Thường, một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang - Âu Lạc Đầu thời Bắc thuộc, Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam Thời Chiêm Thành, Quảng Bình thuộc các châu Bố Chính, Địa Lý,
Ma Linh Năm 1075, dưới thời nhà Lý, cương giới lãnh thổ của Quảng Bình thuộc các châu Bố Chính và Lâm Bình Năm 1306, dưới triều Trần Anh Tông, nhà Trần đổi châu Lâm Bình thành phủ Lâm Bình, kiêm cả hai châu Bố Chính và Minh Linh
Cuối đời Trần, các đơn vị hành chính của Quảng Bình là: lộ Tân Bình gồm huyện Thượng Phú, huyện Nha Nghi, huyện Tư Kiến Châu Bố Chính có huyện Bố Chính, huyện Đặng Gia, huyện Tùng Chất [7, tr 98]
Trang 33Đầu thế kỉ XV, nhà Hồ lên thay nhà Trần đổi lộ Tân Bình thành trấn Tân Bình Vào năm Khai Đại thứ I (1403) Hồ Hán Thương đặt là phủ Tân Bình Đến năm 1558, vùng đất Quảng Bình trở thành chiến địa của cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn Năm 1604, Thái tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Hoàng đổi phủ Tân Bình thành
phủ Quảng Bình Trong thời gian Trịnh - Nguyễn phân tranh, từ năm 1630 nhà
Nguyễn chỉ có chủ quyền từ nam sông Gianh trở vào Lúc này phủ Quảng Bình bị thu hẹp lại còn châu Nam Bố Chính và ba huyện Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long Về mặt hành
chính, Gia Long đặt vùng đất Quảng Bình là Doanh trực lệ Quảng Bình, gồm có:
Phủ Quảng Bình lĩnh hai huyện Phong Lộc, Lệ Thủy và hai châu Bố Chính Nội, Bố Chính Ngoại Huyện Minh Linh cắt về dinh Quảng Trị
Năm 1822, vua Minh Mạng đổi châu Bố Chính Nội thành huyện Bố Chính, châu Bố Chính Ngoại thành châu Bố Chính Đến năm 1827, đổi doanh Quảng Bình
thành trấn Quảng Bình, bỏ hai chữ trực lệ, đổi châu Bố Chính thành huyện Bình
Chính
Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn Quảng Bình thành tỉnh Quảng Bình Lúc này tỉnh Quảng Bình có địa giới từ dãy Hoành Sơn (đèo Ngang) đến huyện Lệ Thủy Tỉnh Quảng Bình lúc thành lập gồm một phủ Quảng Bình với bốn huyện Phong Lộc, Lệ Thủy, Bố Chính và Bình Chính, sau đó đổi huyện Bình Chính thành
Trang 34huyện Bố Trạch Năm 1833 đặt thêm một phủ và hai huyện mới là phủ Quảng Trạch, huyện Phong Đăng và huyện Minh Chính Đến năm 1936, tỉnh Quảng Bình gồm có 29 tổng và 368 làng xã [103, tr 105]
Trong những năm 1940, Quảng Bình có hai phủ: phủ Quảng Ninh có hai huyện Phong Lộc và Phong Phú, phủ Quảng Trạch có năm huyện: Bình Chánh, Minh Chánh, Lệ Thủy, Bố Trạch, Tuyên Hóa và tỉnh lỵ Đồng Hới
Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954) đến đầu năm 1976, Quảng Bình
có sáu huyện: Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy và tỉnh lỵ Đồng Hới Tháng 6/1976 Quốc hội và Hội đồng Nhà nước quyết định hợp nhất ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế thành tỉnh Bình Trị Thiên Ở Quảng Bình các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh được sát nhập thành huyện
Lệ Ninh, các huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa sát nhập thành huyện Tuyên Hóa Ngày 01 tháng 07 năm 1989, tại kì họp thứ V, Quốc hội khóa VIII, tỉnh Bình Trị Thiên tách thành ba tỉnh như ban đầu: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Ranh giới Quảng Bình trở lại như cũ, từ Đèo Ngang đến Hạ Cờ
Ngày 01 tháng 07 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 190 tách huyện Lệ Ninh thành hai huyện: Lệ Thủy và Quảng Ninh; huyện Tuyên Hóa thành hai huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa Hiện nay tỉnh Quảng Bình có sáu huyện : Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy và thành phố Đồng Hới nằm bên bờ sông Nhật Lệ - trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh [29]
Mặc dù về tên gọi và địa giới hành chính có khác nhau, lúc là một châu, một trấn, lúc là một phủ hoặc một tỉnh…nhưng trong suốt chiều dài lịch sử, Quảng Bình vẫn là vùng đất thân yêu của Tổ quốc Việt Nam, là nơi có truyền thống văn hóa lâu đời, đóng góp một phần đáng kể vào quá trình mở mang bờ cõi, dựng nước và giữ nước của dân tộc
1.2.1.3 Về lịch sử
Lịch sử Quảng Bình là lịch sử đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập của dân tộc, vì quê hương đất nước Dưới ách thống trị của nhà Hán, nhân dân quận Nhật
Trang 35Nam đã vùng lên đánh giặc ngoại xâm, hưởng ứng mạnh mẽ cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng Tiếp theo nhiều cuộc nổi dậy sau đó của nhân dân, cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Khu Liên vào năm 192 đã dẫn đến việc thành lập vương quốc Lâm Ấp - một nhà nước độc lập trên vùng đất từ đèo Ngang trở vào đến miền cực nam Trung Bộ
Về sau Lâm Ấp lấy tên là Chiêm Thành, trong đó các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh là vùng đất tiền tiêu của vương quốc này về phía bắc [118, tr.210] Hiện nay vẫn còn nhiều thành lũy để lại dấu tích như: Lũy Hoàn Vương ở Quảng Trạch, thành Khu Túc ở Bố Trạch (còn gọi là thành Lồi Cao Lao Hạ), thành Nhà Ngo(Ninh Viễn thành) ở Lệ Thủy…
Thời ấy, vùng đất ba châu này thường xảy ra tranh chấp Đến năm 1306, dưới thời Trần Anh Tông, nhà Trần đã mở rộng cương giới về phía nam kéo theo làn sóng di dân từ bắc vào nam khai phá đất đai, làm ăn sinh sống
Hết chiến tranh với Chiêm Thành, tiếp đến Trịnh - Nguyễn phân tranh, từ
năm 1558, năm Nguyễn Hoàng đặt chân lên dải đất “ Hoành Sơn nhất đái vạn đại
dung thân”, sông Gianh trở thành ranh giới chia cắt giữa Đàng Trong với Đàng
Ngoài Các chúa Nguyễn (ở Đàng Trong) đã có chính sách kinh tế xã hội tích cực
hơn so với tập đoàn phong kiến Đàng Ngoài, đặc biệt chính sách chiêu hiền đãi sĩ
của chúa Nguyễn đã lôi kéo một số nhân tài từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong, trong
đó có Đào Duy Từ, người đã giúp chúa Nguyễn xây dựng hệ thống Lũy Thầy nổi tiếng trên đất Quảng Bình Đây là tuyến phòng thủ quan trọng giúp nhà Nguyễn ngăn chặn các cuộc tấn công của chúa Trịnh từ ngoài vào
Năm 1774, quân Trịnh chọc thủng lũy Thầy, tiến quân đánh chiếm Phú Xuân Chúa Nguyễn bỏ chạy vào Nam Xứ Thuận Hóa lúc này thuộc quyền kiểm soát của chúa Trịnh Đến năm 1786, sau khi đánh bại chế độ thống trị của chúa Nguyễn, giải phóng Thuận Hóa, tiến quân ra Bắc tiêu diệt chính quyền nhà Trịnh, Nguyễn Huệ (lãnh tụ của phong trào Tây Sơn) đã xóa bỏ giới tuyến sông Gianh, chấm dứt thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh trên đất Quảng Bình
Như vậy sau khi thuộc về Đại Việt, vùng đất từ Đèo Ngang đến Hạ Cờ qua
các triều đại từ nhà Lý đến nhà Nguyễn đã nhiều lần thay đổi tên gọi Năm 1604,
Trang 36Nguyễn Hoàng đổi phủ Tân Bình thành phủ Quảng Bình, địa danh Quảng Bình
ra đời từ đó Đến năm 1831(triều Minh Mạng), phủ Quảng Bình được đổi tên thành
tỉnh Quảng Bình [dẫn theo 118, tr.214]
Năm 1885, sau gần 30 năm tiến hành chiến tranh, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc chinh phục Việt Nam Cũng từ đây Quảng Bình đã dấy lên phong trào Cần Vương và vùng rừng núi Tuyên Hóa (QB) đã trở thành vùng căn cứ địa chống Pháp của vua Hàm Nghi Đặc biệt từ năm 1930 trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào cách mạng diễn ra liên tục, sôi nổi và dẫn đến Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Nhân dân Quảng Bình đã vùng lên cướp chính quyền, bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Quảng Bình trở thành chiến trường ác liệt, nhân dân Quảng Bình đã vượt qua hy sinh gian khổ, “xe chưa qua, nhà không tiếc”, giành thắng lợi vẻ vang, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập thống nhất nước nhà Năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, Quảng Bình cùng với Quảng Trị và Thừa Thiên hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên Đến 1/7/1989, Quảng Bình lại tách ra thành một tỉnh riêng với địa giới và tên gọi vốn có trong lịch sử
1.2.2 Đặc điểm văn hóa, dân cư
1.2.2.1 Về văn hóa
Với những phát hiện mới của khoa học lịch sử về khu vực Bình Trị Thiên nói chung, Quảng Bình nói riêng, nhất là những thành tựu của ngành khảo cổ học, cho phép các nhà nghiên cứu khẳng định: thời tiền sử ở Quảng Bình có tồn tại một nền văn hóa có cùng niên đại với niên đại văn hóa Hòa Bình trên dưới một vạn năm về trước [102, tr.197] Nền văn hóa Hòa Bình ấy còn lưu lại nhiều dấu tích ở vùng núi hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa Chủ nhân của nền văn hóa tiền sử này thường chọn những hang động, mái đá cao ráo, nhiều ánh sáng để sinh sống Món ăn quan
trọng nhất của họ lúc ấy là ốc…cho nên người ta gọi văn hóa thời này là tầng văn
hóa vỏ ốc
Trang 37Tiếp đó, cách đây khoảng 5 - 6 nghìn năm, dân cư ở đây sáng tạo nên một
nền văn hóa tiêu biểu của thời kì đồ đá mới ven biển miền Trung là văn hóa Bàu
Tró [102, tr 198] Đó chính là cội nguồn tạo nên bản sắc văn hóa và giá trị tinh thần
của cư dân Quảng Bình Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ, văn hóa Bàu Tró có mối liên hệ với văn hóa Sa Huỳnh, phân bố trên một vùng rộng lớn từ Quảng Bình đến Đồng Nai và Tây Nguyên…[102, tr 50] Cùng với thời văn hóa Sa Huỳnh và tiền Sa Huỳnh, ở vùng đồng bằng Quảng Bình còn phân bố các di tích khảo cổ học thời kì
sơ kì kim khí có mối liên hệ với văn hóa Đông Sơn như làng Khương Hà, Cổ Giang, Quảng Lưu, Long Đại, Thanh Trạch…
Bên cạnh nền văn hóa bản địa, văn hóa Quảng Bình còn là kết quả của sự giao thoa của hai trung tâm văn hóa lớn ở hai đầu đất nước, đó là sự kết hợp các xu hướng và sắc thái văn hóa vốn có từ thời đồ đá mới được đắp bồi bằng sự hội nhập
từ hai miền, hai quốc gia cổ đại song lập (Văn Lang - Đại Việt, Lâm Ấp - Chiêm Thành) Ở giai đoạn sau này, Quảng Bình là nơi pha trộn của nhiều luồng văn hóa
khác nhau: văn hóa Đàng Trong - văn hóa Đàng Ngoài, văn hóa Phú Xuân - văn
hóa Thăng Long Ngày nay vẫn còn nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian ở
Quảng Bình có dáng dấp của văn hóa làng ở các tỉnh Bắc Bộ, Nghệ - Tĩnh và Thừa Thiên Huế
Đặc biệt, các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã cho thấy văn hóa Quảng Bình còn có vết tích của văn hóa Chăm, có sự du nhập của văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ Trong quá trình “Chămpa hóa” và “Đại Việt hóa”, dân cư Quảng Bình đã tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của hai nền văn hóa lớn đó Cùng với sự tác động về chính trị, quân sự, kinh tế…văn hóa phương Bắc tràn xuống phương Nam theo con đường lục địa vào bắc Đông Dương Văn hóa Ấn Độ theo con đường biển xuống nam Đông Dương Văn hóa Hán muốn vươn vào phía Nam, văn hóa Ấn Độ cũng muốn vươn ra phía Bắc Sự gặp nhau giữa hai nền văn hóa đó chính là Quảng Bình - “ vĩ tuyến giao tiếp văn hóa” Các yếu tố giao lưu tiếp biến, hội nhập đan xen giữa các nền văn hóa ấy từ nhiều tuyến, qua các thời kì, tạo nên những giá trị văn hóa Quảng Bình phong phú, đa dạng và độc đáo
Trang 38Trên con đường phát triển văn hóa Việt Nam, có thể xem Quảng Bình là
“ga” trung chuyển các giá trị văn hóa truyền thống từ Bắc vào Nam và ngược lại
Nó vừa mang tính sàng lọc, vừa là nơi tàng trữ những giá trị lẫn khiếm khuyết Văn hóa làng xã Quảng Bình do đó cũng là sự giao thoa, hội tụ nhiều yếu tố văn hóa khác nhau Chính ở một nơi giao thoa của các nền văn hóa nên đây cũng là nơi mà việc học hành khoa cử đã đạt được những thành tựu đáng kể, tạo nên những giá trị văn hóa riêng biệt Các làng văn vật nổi tiếng của vùng quê Quảng Bình với “bát
danh hương”: Lệ Sơn - La Hà - Cảnh Dương - Thổ Ngọa - Văn La - Võ Xá - Cổ
Hiền - Kim Nại cũng xuất phát từ đó
Qua dấu vết của các lớp văn hóa đã tìm thấy, có thể nói rằng đặc điểm nổi bật của văn hóa Quảng Bình là sự phân chia, hội tụ, giao thoa, tiếp biến qua các thời
kỳ và sự ảnh hưởng của nó đến các tầng ngôn ngữ đang chồng lên nhau hoặc giao nhau Sự ảnh hưởng này tất yếu được thể hiện dù ít hay nhiều trong địa danh ở Quảng Bình như là “những tấm bia lịch sử - văn hóa của đất nước” [68, tr.166]
1.2.2.2 Đặc điểm dân cư
Quảng Bình là nơi con người đã tụ cư sinh sống từ ngàn xưa, chứa đựng nhiều dấu tích văn hóa của các lớp cư dân trong quá trình lịch sử Các nhà khảo cổ
học đã tìm thấy dấu tích cư trú của người nguyên thủy tại các hang động như: hang
Hùm, hang Khái, hang Lèn Bảng…Sau này người ta biết đến lớp cư dân có mặt rất
sớm ở vùng phía tây Quảng Bình là người Chứt, bao gồm các nhóm Rục, Mày, Sách, Arem, Mã Liềng Đây là một bộ phận dân cư còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ nhất
về văn hóa và ngôn ngữ tiền Việt Mường
Về sau, nhiều luồng thiên di của các nhóm dân cư thuộc ngôn ngữ Khơme như người Khùa, Macoong, Trì của tộc người Bru-Vân Kiều, và nhóm người Nguồn (nhóm địa phương của dân tộc Việt theo cách gọi của một số nhà Việt ngữ học và Dân tộc học) vào vùng Tây bắc Quảng Bình Người Nguồn hiện nay có khoảng 3,5 vạn người, phân bố chủ yếu ở các thung lũng lớn ở vùng núi thuộc hai huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa [130, tr.15]
Trang 39Môn-Cư dân Quảng Bình có một bộ phận có nguồn gốc từ các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh di cư vào khai hoang, lập ấp ở thời kì Lý-Trần Nhiều nhất là thế kỉ XV, khi
Lê Lợi đánh tan quân Minh (1427) và thực hiện công cuộc khai khẩn mở mang bờ cõi về phương Nam Một bộ phận cư dân khác đến Quảng Bình vào thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh (thế kỉ XVI) Ở giai đoạn này, chúa Trịnh lấn quyền vua Lê, nhân dân Bắc Hà nhiều người không tâm phục chúa Trịnh, đã cùng nhau di cư vào Đàng Trong với chúa Nguyễn Hoàng sinh cơ lập nghiệp
Hiện nay, ở Quảng Bình có 3 tộc người cùng cư trú: người Việt, người Vân Kiều (có 10155 người, gồm 4 nhóm: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong) và người Chứt (có 3369 người, gồm 5 nhóm: Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng) Về người Nguồn ở Minh Hóa, ý kiến chính thức hiện có cho là thuộc tộc người Việt
Bru-Dù họ là “dân tộc thiểu số” hay chỉ là một “nhóm địa phương” của dân tộc nào thì
sự hiện diện những nét bản sắc văn hóa trong đời sống của họ đã và đang góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Quảng Bình [130, tr 35] Người Chứt và người Bru-Vân Kiều sống thành từng bản, làng bên cạnh các triền núi của dãy Trường Sơn Họ làm kinh tế nương rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn và hái lượm, luôn phải vật lộn với những khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên vùng núi rừng đá vôi hiểm trở để lao động, sinh tồn
Người Việt ở Quảng Bình chiếm khoảng 98% dân số toàn tỉnh, sinh sống trên khắp các địa bàn của tỉnh, tập trung đông nhất ở vùng đồng bằng, thành phố Đồng Hới và các thị trấn Nhìn chung dân cư người Việt ở Quảng Bình sống bằng kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Do nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp nên dân cư các làng thường làm nhiều ngành nghề khác nhau
Ở một số làng, dòng họ này làm nghề thủ công như nghề rèn, nghề dệt, nghề đan lát, dòng họ khác lại làm ngư nghiệp, nông nghiệp…Tuy nhiên về cơ bản, mỗi làng đều có một ngành kinh tế chính, ví như làng nông nghiệp, làng thủ công nghiệp, làng ngư nghiệp
Tóm lại, dân cư Quảng Bình có nguồn gốc khác nhau Họ làm nhiều nghề và cũng từ nhiều địa phương khác đến sinh sống, trong đó có nhiều cư dân từ Bắc Bộ
Trang 40và Bắc Trung Bộ di chuyển vào đây Tất cả những thành phần cư dân ấy, không phân biệt tầng lớp, đẳng cấp đều có chung một nguyện vọng thiết tha: xây dựng một cuộc sống ấm no, tươi đẹp trên vùng đất mới Do sinh sống lâu đời ở một vùng đất nắng gió, luôn phải đối phó với bão tố, hạn hán, lũ lụt để tồn tại và phát triển, cư dân Quảng Bình là những người lao động cần cù, dũng cảm, không chịu khuất phục trước thiên tai địch họa Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của người Quảng Bình trong lịch sử đã nói lên điều đó [69, tr.45]
1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ
Ngôn ngữ người Việt ở Quảng Bình là một biến thể của tiếng Việt, được các nhà Việt ngữ học xem là một tiếng địa phương trong vùng phương ngữ Trung bao gồm các tiếng địa phương Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị
và Thừa Thiên-Huế v.v Phương ngữ, xét về mặt địa lý, là biến thể địa phương của
một ngôn ngữ có địa bàn phân bố trên một phạm vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh [118, tr.1397]
Bên cạnh sự thống nhất là chủ yếu so với tiếng Việt phổ thông, ngôn ngữ người Việt ở Quảng Bình vẫn có những sự khác biệt Để thấy được những sự khác biệt này như một bản sắc riêng của tiếng địa phương Quảng Bình (TQB), cần thiết
phải miêu tả những nét riêng về mặt ngữ âm (phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu),
từ vựng của TQB so với tiếng Việt phổ thông (TPT)
1.2.3.1 Cấu trúc âm tiết tiếng địa phương Quảng Bình
Cũng giống như âm tiết TPT, âm tiết TQB gồm có: thanh điệu, âm đầu, phần vần Trong đó, phần vần bao gồm âm đệm, âm chính, âm cuối Các thành tố của âm tiết được sắp xếp theo thứ bậc Có thể hình dung cấu tạo âm tiết TQB như Sơ đồ 1.2