Riêng hội họa ở miền Nam nói chung và Nam bộ nói riêng, do điều kiệnlịch sử đặc biệt, nên có những nét đặc trưng riêng với dòng hội họa Cách mạng ởvùng Giải phóng vừa có giá trị mỹ thuật
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề bản sắc dân tộc (BSDT) trong văn hóa nghệ thuật trong hai thập
kỷ qua được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt và vẫn đang là một vấn đềvăn hóa cần được luận giải một cách thấu đáo Trong thực tế, các ý kiến đánh giá
và nhận diện về BSDT trong văn hóa nghệ thuật còn rất trái ngược nhau
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trongsáng tác và nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật Chúng ta “có rất ít tác phẩmđạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dântộc và thành quả đổi mới”1. Trong một bộ phận công chúng xuất hiện “tệ sùng báinước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo thị hiếu và lốisống thực dụng”2
Nguy hiểm hơn nữa có những lúc còn “nảy sinh khuynh hướng phủ nhậnthành tựu văn hóa cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn
xã hội với thái độ bi quan, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức nănggiáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học nghệ thuật bị suy giảm” 3
Riêng hội họa ở miền Nam nói chung và Nam bộ nói riêng, do điều kiệnlịch sử đặc biệt, nên có những nét đặc trưng riêng với dòng hội họa Cách mạng ởvùng Giải phóng vừa có giá trị mỹ thuật, vừa có giá trị lịch sử và giá trị nhân văn.Còn hội họa ở vùng Tạm chiếm, dù được tiếp cận với các xu hướng hội họa mớivẫn mang bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT) thể hiện ở tinh thần yêu nước, ý chí
tự lập tự cường, tính nhân đạo, lòng nhân ái khoan dung, lối sống giản dị, cần cùsáng tạo Vì vậy, nghiên cứu hội họa giai đoạn này có thể góp phần xóa đinhững quan điểm chưa xác đáng về nghệ thuật tạo hình miền Nam nói chung vàNam bộ nói riêng Các công trình nghiên cứu mang tính khoa học có thể góp phầnkhẳng định và phát huy giá trị di sản văn hóa nghệ thuật thời kỳ này, đồng thờigiúp cho các bảo tàng, đặc biệt là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minhtrong công tác sưu tầm, trưng bày giới thiệu với công chúng về các giá trị của hộihọa miền Nam giai đoạn 1954 - 1975
Hội họa Việt Nam thế kỷ XX đã có những bước phát triển quan trọng, luôngắn với từng giai đoạn lịch sử của dân tộc, phản ánh đời sống xã hội một cáchsinh động, phát huy những giá trị truyền thống của nghệ thuật dân tộc và tiếp thunhững cái mới, tiến bộ của nền hội họa thế giới Song, cho đến nay việc nghiêncứu, đánh giá về hội họa thế kỷ XX, đặc biệt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ chưathực sự tương xứng với tầm vóc của nó Hơn nữa, khi đánh giá về những tác phẩmhội họa được sáng tác tại vùng Tạm chiếm, nhất là Sài Gòn trong giai đoạn 1954 –
1975, có ý kiến chưa khách quan vì cho rằng hội họa ở khu vực bị ảnh hưởngnặng nề của hội họa phương Tây, mang tính chất thực dân,
1, 2 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần IX, Hà Nội, tr.43
3 Hồ Chí Minh (1967), Bàn về văn hóa, văn nghệ, NXB Sự thật, Hà Nội, tr.48
không thể so sánh với hội họa ở miền Bắc về chất lượng nghệ thuật và nội dung
Trang 2không sát với đời sống thực tế, không quan tâm đến vấn đề dân tộc.
Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi rất chútrọng đến việc sưu tầm những tác phẩm hội họa giai đoạn này Nhưng công việclàm hồ sơ, cung cấp thông tin, tư liệu về tác giả, tác phẩm còn gặp rất nhiều khókhăn vì còn quá ít công trình nghiên cứu về hội họa giai đoạn này
Xuất phát từ những yêu cầu trên, đặc biệt là những yêu cầu về việc khẳngđịnh giá trị của hội họa Nam bộ giai đoạn 1954-1975; cũng như khuyến khích sựđầu tư sáng tác những tác phẩm hội họa có giá trị tương xứng mang đậm
BSVHDT nên chúng tôi chọn vấn đề “Bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam
giai đoạn 1954-1975” làm đề tài luận án của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề BSDT trong hội họa Việt Nam đã được đề cập trong một số côngtrình nghiên cứu, bài viết về văn hóa cũng như các công trình nghiên cứu về mỹthuật
Về hội họa hiện đại Việt Nam cũng đã có một số nhà nghiên cứu, phê bình
mỹ thuật quan tâm trong thời gian vừa qua
Tại Sài Gòn, trước năm 1975 có các bài viết về mỹ thuật thường được in
trong một số báo, tạp chí như: “Tạp chí Bách Khoa”, “Ánh đèn dầu”, “Tạp chí
Văn hóa”…
Sau năm 1975 có một số bài viết về hội họa miền Nam trong các báo, một
số tạp chí Tạp chí Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật, Cục Mỹthuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật của ViệnVăn hóa…
Nhìn chung, về hội họa miền Nam nói chung và Nam bộ nói riêng giai đoạn1954-1975 hiện chưa được nghiên cứu sâu và ít được đề cập hay đề cập chưa đủ,thiếu khách quan, với những nhận xét thiên lệch trong một số sách, tư liệu về lịch
sử mỹ thuật Việt Nam Vấn đề này chưa trở thành đối tượng trình bày trong mộtcông trình chuyên biệt nào nhìn từ góc độ văn hóa cũng như mỹ thuật
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu những tác phẩm để làm rõ BSDT tronghội họa miền Nam giai đoạn 1954 – 1975, khẳng định những giá trị tinh thần vànhững tác động của những giá trị đó đến đời sống xã hội trong quá khứ, hiện tạicũng như trong tương lai
Đối tượng nghiên cứu của luận án là BSDT trong hội họa được thể hiện quanội dung và hình thức các tác phẩm ra đời tại Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975
Phạm vi nghiên cứu của luận án là những tác phẩm hội họa giai đoạn
1954-1975 được sáng tác tại Nam bộ, cụ thể là ở vùng Giải phóng và vùng Tạm chiếm
Do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, nên trong luận án này chúng tôichỉ tập trung ở các tác phẩm được sáng tác bởi các họa sĩ được đào tạo trongtrường lớp, mà không đề cập đến mảng mỹ thuật dân gian
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Các phương pháp nghiên cứu chúng tôi vận dụng trong luận án gồm:
Trang 3- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: xem hội họa như một hệ thống cấu trúcnhỏ và là thành tố trong hệ thống cấu trúc văn hóa.
- Phương pháp thống kê: thống kê các yếu tố thể hiện bản sắc trong nhữngnhóm tác phẩm được khảo sát thông qua việc tìm hiểu, phân tích các chủ đề,các hình tượng nghệ thuật và hình thức thể hiện tác phẩm
- Phương pháp so sánh: so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữanhững tác phẩm cùng thể loại của các họa sĩ Việt Nam và một số họa sĩ thếgiới, giữa vùng Giải phóng và vùng Tạm chiếm để làm nổi BSDT trong hội họaNam bộ giai đoạn 1954 – 1975
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhất là các chuyên ngành văn hóahọc, mỹ thuật học để làm cơ sở cho quá trình phân tích, so sánh ở các chươngtiếp theo
- Phương pháp thực nghiệm: với thuận lợi về vị trí công tác nên trực tiếpxem, nghiên cứu các bộ sưu tập tranh của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố HồChí Minh, các trưng bày chuyên đề tại đây trong 28 năm qua
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu các tácgiả
Chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam, đặc biệt là những tác phẩm
ra đời tại Nam bộ trong giai đoạn 1954 -1975
- Các sách chuyên khảo, những công trình nghiên cứu, các tạp chí chuyênngành, các bài viết của các tác giả Việt Nam và nước ngoài về văn hóa, bản sắcvăn hóa, nghệ thuật học, mỹ thuật học và lịch sử mỹ thuật
- Những thông tin lưu lại từ các cuộc phỏng vấn sâu
- Nguồn tư liệu trên mạng internet gồm: các bài viết, video về chuyênngành văn hóa học, mỹ thuật học
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Từ góc nhìn văn hóa, luận án trình bày một cách có hệ thống, chuyên sâu
về BSVHDT trong các tác phẩm hội họa Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975
- Khẳng định vai trò của văn hóa – nghệ thuật trong kháng chiến cũng nhưxây dựng đất nước
- Luận án góp phần khẳng định sự cần thiết khách quan phải nghiên cứu,gìn giữ và phát huy những di sản văn hóa nghệ thuật để góp phần gìn giữBSDT trong thời đại hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần định hướng cho chuyênngành sáng tác và ngành nghiên cứu phê bình lý luận mỹ thuật
- Kết quả nghiên cứu có thể góp phần khuyến khích các họa sĩ sáng tácnhững tác phẩm mỹ thuật vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại quanội dung cũng như hình thức thể hiện
- Luận án có thể sử dụng như một trong những tài liệu giảng dạy về vănhóa và mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 trong các trường trung học
và đại học
Trang 4- Luận án là một tài liệu có ý nghĩa quan trọng mang tính chất thực tiễn đốivới các bảo tàng, đặc biệt đối với Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,trong việc nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày Bộ sưu tập mỹ thuật Nam bộ giaiđoạn 1954-1975
- Luận án là một tài liệu sinh động và hấp dẫn có ý nghĩa quan trọng trongcông tác tuyên truyền giáo dục về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
và giáo dục thẩm mỹ
6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án
Phần chính văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, hình ảnh
minh họa, luận án được chia làm ba chương với 7 tiết và 17 tiểu tiết
có những đặc điểm chung về ngôn ngữ và văn hóa
Lịch sử loài người với tính cách là tổng thể lịch sử của các cộng đồng Quátrình hình thành nhà nước trong lịch sử nhân loại khởi đầu từ tộc người đã đượcMác và Ăngghen đề cập trong các tác phẩm của mình Ở đây, có thể diễn giải quátrình đó theo theo bảng sau:
NhànướcCon người với tính cách là con người hiện thực, là chủ thể lịch sử có quátrình hình thành và phát triển gắn với sự biến đổi của các phương thức sản xuấttrong những điều kiện địa lí tự nhiên nhất định Chủ thể lịch sử khẳng định khônggian sinh tồn của mình thông qua việc xác định chủ quyền lãnh thổ Quá trìnhhình thành dân tộc trong lịch sử nhân loại bắt đầu từ mối quan hệ giữa con ngườivới môi trường sống (theo Mác và Ăngghen) được diễn giải theo bảng sau:
Phân li và hợp nhất các hìnhthái cộng động người từ cácnguyên nhân kinh tế, chính trị,văn hóa
Dân tộc
Sự “phân li và hợp nhất các hình thái cộng đồng người từ các nguyênnhân kinh tế, chính trị, văn hóa” hình thành dân tộc Như vậy, dân tộc tính có thểtìm thấy qua các bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa Khi nghiên cứu dân tộc tính,tác giả công trình này có thiên hướng đi vào bản chất của tộc người để làm rõ tínhdân tộc trong hội họa Điều này dễ hiểu bởi đi tìm thuộc tính dân tộc (nation) hay
Trang 5quốc gia dân tộc (state-nation) trong hội họa là điều không dễ, nếu không nói làcực kì phức tạp Hội họa miền Nam có sự tham gia của nhiều họa sĩ thuộc các tộcngười trong khu vực Nam bộ Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài, tác giảtập trung sử dụng những tác phẩm của các tác giả người Việt Vì vậy, dân tộc tínhđược thể hiện trong công trình này là chủ yếu là Việt tính
1.1.2 Bản sắc
Thuật ngữ bản sắc được giải thích khá thống nhất trong các từ điển Hán Việt, từ điển tiếng Việt Theo đó, bản là gốc, cái thuộc về phần mình, gốc đầu mọiviệc; sắc là màu, vẻ, dung mạo Bản sắc còn có một nghĩa khác là tính chất đặcbiệt vốn có Trong tiếng Anh, identity (bản sắc) có nghĩa là đồng nhất Sự đồngnhất hóa làm nên bản sắc của một đối tượng Dựa vào sách vở và thực tế áp dụng,chúng ta có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý từ nội dung của các định nghĩa vừanêu như sau:
Bản sắc gắn với quá trình hình thành và phát triển của đối tượng
- Bản sắc thể hiện sự đồng nhất qua hàng loạt sự vật, hiện tượng
- Bản sắc chứa đựng những nét riêng để có thể nhận ra diện mạo và bảnchất một đối tượng
- Bản sắc có xu hướng tiến tới đồng nhất hóa nên không phải là những cái riêng
lẻ, chi tiết, vì vậy, càng khái quát càng dễ tiếp cận bản sắc của một đối tượng Các nội dung nêu trên được xem là những tiêu chí đủ để xem xét bản sắccủa một nền văn hóa
BSDT được thể hiện trên cả hai bình diện vật thể và phi vật thể Tuy nhiên,BSDT không phải là các sự vật hiện tượng cụ thể, cũng không phải là các phươngthức về y dược, ẩm thực, âm nhạc, hội họa Do BSDT luôn gắn với chủ thể nhấtđịnh nên BSDT chính là “cá tính” của chủ thể văn hóa Tìm kiếm BSDT, chúngtôi đặc biệt lưu ý đến vai trò của ý thức tộc người
Cách tiếp cận BSDT ở bình diện ý thức tộc người, theo phương pháp logichướng vào quan sát quan điểm, thái độ của chủ thể trước tác động của hiện thựckhách quan và hiện thực lịch sử cho thấy tính cách tộc người được hình thành từ ýthức của cộng đồng dân tộc trước các biến động phức tạp của hiện thực lịch sử
BSDT chính là ý thức tộc người được tích hợp từ điều kiện sống và hình
thức tồn tại cụ thể của cộng đồng cư dân có chung tộc danh Quá trình này được
mô tả theo bảng sau:
Bảng 3:
Môi trường
Phương thức sống
Cung cách ứng xử với tự nhiên và xã hội
Đặc trưng dân tộc
BS dân tộcQuá trình hình thành nhà nước, dân tộc
Bản sắc của mỗi dân tộc giúp cho dân tộc đó giữ được tính độc đáo, tínhthống nhất và tính nhất quán của mình BSDT là hệ giá trị được thể hiện trong mọilĩnh vực của đời sống, được chuyển thành các chuẩn mực xã hội và có vai trò định
Trang 6hướng cho sự lựa chọn trong hành động của cá nhân và cộng đồng từ đời này sangđời khác Đó là ý thức được biểu hiện qua lối sống, cách suy nghĩ, ứng xử củacộng đồng dân cư trước hiện thực lịch sử xã hội
Mặt khác, “BSDT không phải là những gì riêng của dân tộc mình, mà nó làtất cả những nét đặc sắc của dân tộc tạo thành trong trường kỳ lịch sử, trong cuộcgiao lưu văn hóa phức tạp, để kiên định một bản lĩnh mà tồn tại đĩnh đạc, ta mãi là
ta, ta ngày càng đậm càng sắc trong trào lưu tiến hóa của loài người”1
BSDT của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được
hình thành trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước và là sự kết hợp giữacác yếu tố nội sinh và ngoại sinh Những yếu tố nội sinh là nét riêng độc đáo dochính cha ông chúng ta sáng tạo, xây dựng, bảo tồn qua nhiều giai đoạn lịch sử.Các yếu tố ngoại sinh là những gì được tiếp thu một cách chọn lọc, phù hợp vớiBSDT trong quá trình tiếp xúc với các nền văn hóa khác
1.1.3 Bản sắc dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc
BSDT trong nghệ thuật hội họa được thể hiện thông qua BSVHDT Văn
hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống con người trongsuốt quá trình lịch sử Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống baogồm thẩm mỹ và lối sống, từ đó từng dân tộc xây dựng nên bản sắc riêng củamình Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạo ra; nó khác vớinhững gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con người
Nói về khái niệm văn hóa đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, theo thống
kê, đến nay đã có trên 400 định nghĩa bởi những cứ liệu, mục đích và từ góc nhìnkhác nhau Ở Việt Nam, vấn đề bản sắc văn hóa đã được nhiều tác giả quan tâm,nghiên cứu với những cách đặt vấn đề, tiếp cận khác nhau, nhưng vẫn có ba điểmchung nhất:
- Bản sắc văn hóa là hệ thống các giá trị đặc trưng, tồn tại ổn định và lâudài trong truyền thống văn hóa dân tộc
- Bản sắc văn hóa chính là cái để phân biệt nền văn hóa này với nền vănhóa khác
- Bản sắc văn hóa được duy trì, tái tạo cùng với sự cải biến trong giới hạn
để vừa lưu trữ quá khứ vừa phù hợp với hiện tại đã tạo nên sức sống của mỗinền văn hóa
Bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, đặc trưng riêng có của một cộng đồng vănhóa trong lịch sử tồn tại và phát triển, giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác.Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống – ý thức
Trang 7đã làm nên tinh thần, cốt cách của từng dân tộc.
BSVHDT là cái định hướng cho mọi sáng tạo văn hóa, là cái ổn định nhất nhưng không phải là cái bất biến, là cái góp phần làm nên các giá trị tinh thần và vật chất của một dân tộc.
Ở loại hình nghệ thuật hội họa, BSDT được người nghệ sĩ thể hiện ở nộidung và hình thức các tác phẩm
Về nội dung, BSDT thể hiện qua chủ đề tư tưởng, qua hình tượng nghệthuật Các hình tượng nghệ thuật – như đã trình bày, thể hiện lối sống, cách suynghĩ, cách giải quyết các quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội đã tạo nênBSDT
Về hình thức, BSDT thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật và bằng chất liệuhội họa Đó là đường nét, hình họa, màu sắc, bố cục và các vật liệu được sử dụngtrong hội họa truyền thống Chất liệu hội họa và các phương thức thể hiện mangtính truyền thống là kết tinh sự lựa chọn kỹ lưỡng của nhiều thế hệ nghệ sĩ đitrước trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Giá trị hội họa của một dân tộc thể hiệnqua ý thức lưu giữ và phát triển nghệ thuật truyền thống, biết tích hợp những giátrị tinh hoa của dân tộc với tinh hoa nhân loại
1.2 Nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc trong hội họa Việt Nam
1.2.1 Hội họa
+ Khái niệm hội họa
Tuy nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng vẫn có các điểm tương đồng vàthống nhất Hội họa là loại hình nghệ thuật phản ánh “cái đẹp” bằng màu sắc,đường nét, hình khối Tác phẩm hội họa mang tính độc bản, được tạo ra bằng vậtchất, tồn tại trong không gian, phản ánh quan niệm về “cái đẹp” và khả năng thểhiện quan niệm đó của từng thời đại Là một loại hình mỹ thuật, bộ phận cấuthành của văn hóa, hội họa, thực hiện chức năng thẩm mỹ, góp phần vào việc duytrì và phát huy BSDT
+ Nguồn gốc hội họa
Về nguồn gốc ra đời của hội họa đã có những cách lý giải khác nhau như
do bản năng con người thích bắt chước những gì có trong thực tế, do nhu cầu tựbộc bạch của người nghệ sĩ, do nhu cầu vui chơi giải trí của con người, do thế lựcsiêu nhiên chi phối con người Nhưng theo chúng tôi, nghệ thuật nói chung và hộihọa nói riêng ra đời do nhu cầu thực tế của đời sống, nó mô phỏng hiện tượng, sự
vật và góp phần vào quá trình phát triển của xã hội loài người
+ Chủ đề của hội họa
Chủ đề của hội họa là vấn đề chủ yếu được quán triệt trong nội dung tácphẩm, theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định Từ xa xưa, thiên nhiên và conngười đã luôn là đối tượng để các họa sĩ khai thác ở nhiều khía cạnh Tuy nhiên, ởmỗi khu vực, trong mỗi dân tộc, ở mỗi giai đoạn hai đối tượng đó có thể có vị trí
và được thể hiện khác nhau Thiên nhiên và con người Việt Nam luôn mang lạixúc cảm cho các thế hệ họa sĩ Việt Nam và mang bản sắc riêng trong các tácphẩm hội họa thông qua nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện
+ Hình tượng hội họa
Trang 8Hình tượng nghệ thuật đã được định nghĩa là “hình ảnh các sự vật, trọngtâm là người, vật, phong cảnh thông qua ghi chép thực tế hoặc trí nhớ của họa sĩ.Bằng óc sáng tạo và bàn tay khéo léo, họa sĩ tạo ra những hình tượng hội họatrong tranh”1 Hình tượng có ý nghĩa sâu sắc, đặc trưng và có tác động mạnh tới
người xem
+ Ngôn ngữ của hội họa
Hội họa có thể hiểu là một bộ môn nghệ thuật tạo hình đặc trưng bởi sựbiểu hiện không gian trên mặt phẳng bằng các yếu tố đường nét, màu sắc, mảng,
bố cục Về vai trò và vị trí của các yếu tố ngôn ngữ hội họa, trong lịch sử mỹ thuật
có những quan niệm khác nhau Nhưng trong thực tế, vai trò của đường nét, hìnhkhối, màu sắc trong tác phẩm nghệ thuật hội họa là đồng đều và chúng có quan hệchặt chẽ với nhau và góp phần tạo nên BSDT trong tác phẩm
+ Chất liệu hội họa
Trong bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng có chất liệu riêng với những đặcthù để chuyển tải ý tưởng sáng tạo của nghệ sĩ Lịch sử hội họa thế giới đã chứngminh sự phong phú, đa dạng của nhiều loại chất liệu khác nhau
Các chất liệu vẽ hình gồm: bút chì, chì than, than, bút sắt, bút dạ
Các chất liệu vẽ màu gồm : gồm màu keo (tempera), sơn dầu, bột màu, màunước, lụa, sơn mài, khắc gỗ
1.2.2 Các góc độ nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc trong hội họa Việt Nam
Tìm hiểu BSVHDT trong hội họa Việt Nam là xác định những nét đặctrưng của chúng trong những mối quan hệ cơ bản giữa văn hóa với môi trường tựnhiên và môi trường xã hội Vì bản thân môi trường tự nhiên và môi trường xãhội, với tính đa dạng, phức tạp của nó tác động đến sáng tạo nghệ thuật và có thểlàm thay đổi cả bản sắc văn hóa
+ Trường hợp hội họa Việt Nam trước thế kỷ XX
Hội họa Việt Nam, so với các loại hình nghệ thuật khác, chỉ thừa hưởngmột di sản khá khiêm nhường, nhưng người họa sĩ Việt Nam còn may mắn đượcthừa hưởng những hạt mầm ở phạm vi mỹ học in sâu và lưu giữ nơi ký ức tập thểcủa dân tộc
+ Trường hợp hội họa Việt Nam hiện đại
Trang 9yếu tố nội sinh, những hạt mầm ở phạm vi mỹ học in sâu và lưu giữ trong ký ứccủa người Việt
1.3 Định hướng nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn 1954 – 1975
1.3.1 Tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc qua nội dung
+ Tiêu chí chủ đề
Hội họa miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 đã kế thừa những nội dung tronghội họa truyền thống, nhất là hội họa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đồng thời đãtạo ra những đặc trưng riêng trong một hoàn cảnh cụ thể và một không gian cụ thể
ở Nam bộ trong những năm chiến tranh chống Mỹ
+ Tiêu chí hình tượng nghệ thuật
Sống trong xã hội một giai đoạn lịch sử đặc biệt dân tộc, tại các môi trườngsống khác nhau, nhưng với rung cảm tinh tế của người nghệ sĩ, các họa sĩ Nam bộgiai đoạn 1954 – 1975 đã xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật đặc sắc củathiên nhiên và con người Nam bộ
1.3.2 Tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc qua hình thức
BSVHDT trong hội họa Nam bộ xuất phát từ ý thức của các họa sĩ vềBSDT trong quá trình sáng tác tác phẩm và trong đào tạo đội ngũ nghệ sĩ
+Tiêu chí về ngôn ngữ và xu hướng sáng tác
Tiêu chí ngôn ngữ hội họa: môi trường thiên nhiên Nam bộ và xã hội đã cóảnh hưởng mạnh và tạo nét riêng cho hội họa Nam bộ ở khía cạnh ngôn ngữ hộihọa (đường nét, mảng khối, màu sắc và bố cục tác phẩm)
Tiêu chí về xu hướng sáng tác: nếu môi trường tự nhiên có ảnh hưởngnhiều đến việc hình thành các yếu tố BSDT trong ngôn ngữ, thì môi trường xã hộilại thể hiện rõ ở cách tiếp cận, ứng xử với các xu hướng mới trong hội họa Nam
bộ giai đoạn 1954 -1975
Hình thức thể hiện: BSDT được thể hiện ở hai khía cạnh: bảo tồn, phát huylối tạo hình truyền thống và thể hiện tính dung nạp, sáng tạo của hội họa ViệtNam
+ Tiêu chí chất liệu
Phát huy những thành tựu của tranh dân gian và hội họa nửa đầu thế kỷ
XX, hội họa miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 tiếp tục góp phần khẳng định giá trịcủa mình trong việc bởi hai yếu tố: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bảotồn BSVHDT , thể hiện qua các chất liệu lụa, sơn mài và sơn dầu
Trang 10Tiểu kết
Từ các công trình nghiên cứu văn hóa của các tác giả trong và ngoài nước,chúng tôi đã xác lập cơ sở lý thuyết làm nền tảng và trên những cơ sở đó tiếp cậnBSDT thông qua bản sắc văn hóa trong mỹ thuật và trong hội họa miền Nam giaiđoạn 1954- 1975
1 BSVHDT trong nghệ thuật Việt Nam chịu tác động bởi môi trường tựnhiên và môi trường xã hội
2 Hội họa Việt Nam là một bộ phận của văn hóa dân tộc, nó vừa là vănhóa vật thể vừa là văn hóa phi vật thể Bản sắc văn hóa trong hội họa Việt Namđược thể hiện qua nội dung và hình thức tác phẩm hội họa
3 Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt nên tác phẩm của các họa sĩ vùng Tạmchiếm và vùng Giải phóng đã thể hiện BSDT khác nhau qua nội dung và hìnhthức tác phẩm Nhưng điểm chung là họ đều thể hiện tình yêu quê hương, đấtnước và con người Việt Nam, ca ngợi những giá trị truyền thống quí báu của nềnvăn hóa Việt Nam Hội họa Nam bộ đã góp phần tạo nên bức tranh sinh độngcủa hội họa Việt Nam ở một thời kỳ lịch sử dân tộc
Chương 2 BẢN SẮC DÂN TỘC QUA NỘI DUNG TÁC PHẨM HỘI HỌA 2.1 Bản sắc dân tộc qua nội dung hội họa vùng Giải phóng
2.1.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ đề hội họa vùng Giải phóng + Bản sắc dân tộc thể hiện ở tinh thần yêu nước của các họa sĩ kháng chiến
Tiếp nối truyền thống từ thời kỳ chống Pháp, đầu thập niên 60, ủng hộ chủtrương kháng chiến của Đảng, rất nhiều họa sĩ đã thể hiện lòng yêu nước bằngviệc tình nguyện tham gia kháng chiến, sống, sáng tạo ở bưng biền, chiến khu,những vùng chiến tranh ác liệt Không ít họa sĩ đã hi sinh tại chiến trường.Những ghi chép sáng tác của họ đã cổ vũ, động viên quân và dân trong cuộc đấutranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc
+ Chủ đề thiên nhiên trong hội họa vùng Giải phóng
Thiên nhiên Nam bộ được thể hiện trong hội họa vùng Giải phóng vừađẹp vừa tang thương Thông qua chủ đề thiên nhiên, người họa sĩ kháng chiếnthể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn của mình bằng cách:
- Ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên miền Nam tươi đẹp
- Tố cáo tộc ác của Mỹ tàn phá, hủy diệt thiên nhiên
+ Chủ đề con người trong hội họa vùng Giải phóng
Chủ đề con người chiếm nhiều nhất trong hội họa vùng Giải phóng Chính
ở mảng chủ đề này các họa sĩ kháng chiến đã thể hiện sinh động nhất những giá trịcủa bản sắc văn hóa của con người Nam bộ trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước Các chủ đề về con người gồm:
- Ca ngợi tinh thần yêu nước của con người Nam bộ
- Khát vọng hòa bình và ước mong đất nước được thống nhất
- Những sinh hoạt thường ngày trong chiến tranh
Trang 11- Lòng nhân ái khoan dung
2.1.2 Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình tượng nghệ thuật trong hội họa vùng Giải phóng
+ Hình tượng thiên nhiên đậm nét Nam bộ
- Hình tượng thiên nhiên miền Tây Nam bộ được thể hiện là những cảnhtrời mây, sông nước bao la, những cánh đồng rộng lớn và những vườn cây tráixum xuê của miền Tây Nam bộ Đó cũng chính là tình yêu quê hương đất nướccủa người họa sĩ kháng chiến
- Hình tượng thiên nhiên miền Đông Nam bộ được tái hiện vừa hùng vĩ vừahoang tàn
+ Hình tượng con người đậm chất Nam bộ
Hình ảnh con người có lẽ chiếm nhiều nhất trong số Ký họa miền Nam.Những đặc trưng của con người Nam bộ được gạn lọc, đúc kết trong những hìnhtượng người nông dân, người phụ nữ, anh bộ đội, những chiến sĩ cách mạng,thanh niên xung phong, cán bộ Cách mạng ở địa phương Đó là những con ngườibình dị, mộc mạc, chân tình, rộng lượng và bao dung trong cuộc sống đời thường,nhưng rất kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu chống quân thù, luôn cố gắngvượt khó khăn, sống lạc quan và yêu đời, tin tưởng vào một chiến thắng tất yếutrong cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc
2.1.3 Những giá trị về nội dung của hội họa vùng Giải phóng
Tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, khát vọng hòa bình, lòng nhân áikhoan dung đã tạo nên giá trị nội dung của Ký họa miền Nam trong thời kỳ khángchiến chống Mỹ
+ Giá trị nhân văn
Giá trị nhân văn trước hết được thể hiện ở lòng yêu nước của các họa sĩkháng chiến Họ không chỉ được chứng minh bằng ý chí kiên cường, gác lại tìnhriêng, vượt Trường Sơn, ra bưng biền, để hoạt động nghệ thuật, mà còn ở sự hysinh cao cả
+ Giá trị nghệ thuật (ở khía cạnh nội dung)
Ký họa là tư liệu quý của các họa sĩ kháng chiến trong quá trình xây dựngtác phẩm về đề tài này
+ Giá trị thực tiễn
Thông qua việc trưng bày, các ký họa kháng chiến đã trở thành món ăn tinhthần của quân và dân Nam bộ, cổ vũ, động viên tinh thần quân dân miền Bắctrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc.Ngày nay, những giá trị nội dung, tư tưởng trong các ký họa kháng chiến vẫnđang được phát huy hiệu quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam độc lập, hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ
Trang 122.2 Bản sắc dân tộc qua nội dung hội họa vùng Tạm chiếm
2.2.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ đề tác phẩm vùng Tạm chiếm + Bản sắc dân tộc qua ý thức của các họa sĩ vùng Tạm chiếm
Các họa sĩ ở vùng Tạm chiếm đã sống trong một môi trường văn hóa củamột giai đoạn và điều kiện lịch sử đặc biệt Họ đã tự do sáng tác và tác phẩm của
họ mang những nét riêng thể hiện BSVHDT Đó là một “kiểu lựa chọn” của các
họa sĩ - chủ thể sáng tạo nghệ thuật Những yếu tố góp phần tạo nên các đặc trưngcủa bản sắc văn hóa Nam bộ đã được hình thành trong quá trình họ sống và họctập chuyên môn
Tinh thần yêu nước của các họa sĩ vùng Tạm chiếm được thể hiện bằng sựrung động trước vẻ đẹp của những phụ nữ, sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ em, cangợi những vị anh hùng dân tộc, xót xa, thương cảm trước những mảnh đời bấthạnh trong chiến tranh và ước vọng về đất nước thống nhất và thanh bình
+ Chủ đề đất nước, dân tộc
Các họa sĩ sống và sáng tác ở nội đô Sài Gòn đã phản ánh sinh động mộtthực tiễn lịch sử vùng Nam bộ trong thời kỳ chiến tranh, góp phần bảo lưu và pháthuy những giá trị của bản sắc văn hóa Việt Nam thông qua các chủ đề:
- Ca ngợi những cảnh sắc thiên nhiên đất nước
- Ước mong đất nước được hòa bình và thống nhất
+ Chủ đề về con người Việt Nam
Con người luôn là chủ đề chính trong các tác phẩm hội họa vùng Tạmchiếm Đó là các chủ đề:
- Tự hào về con người Việt Nam: đề tài lịch sử dân tộc đã xuất hiện trongnhiều tác phẩm hội họa Nam bộ giai đoạn 1954-1975 Đây là một “kiểu lựa chọn”phù hợp để nói lên tinh thần yêu nước của mình hoàn cảnh lịch sử cụ thể Đó làcách thể hiện lòng tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân ta vìnền độc lập dân tộc, sự trăn trở của nghệ sĩ và lời nhắc nhở về trách nhiệm củamỗi người dân trước vận mệnh đất nước Các họa sĩ vùng Tạm chiếm không thểnói thẳng như các họa sĩ vùng Giải phóng với những khẩu hiệu hừng hực khí thếtiến công
- Phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình cho nhân dân: sống trongkhông khí ngột ngạt của chiến tranh, hàng ngày phải chứng kiến sự khổ đau củađồng bào, nhiều nghệ sĩ đã thể hiện tinh thần phản chiến tranh và mong ước hòabình cho đất nước trong các tác phẩm của mình
2.2.2 Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình tượng nghệ thuật trong hội họa vùng Tạm chiếm
+ Hình tượng thiên nhiên đậm nét Nam bộ
Thông qua thể loại tranh phong cảnh, hình tượng thiên nhiên Nam bộ đãđược khắc họa rõ nét trong những trong các tác phẩm hội họa miền Nam giai đoạn
1954 – 1975 Hình ảnh những cánh đồng rộng lớn bao la, những dòng sông chởnặng phù sa của vùng sông nước Cửu Long và cánh rừng đất đỏ miền Đông Nam
bộ đã được thể hiện trong tranh chính là tình cảm của người họa sĩ với quê hươngNam bộ Người nghệ sĩ không thể hiện một thiên nhiên thuần túy, mà thiên nhiên