CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀITrong hơn 10 năm trở lại đây, ngành thủy sản ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân tăng dần qua các năm. Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, giúp chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn và góp phần rất lớn trong việc xoá đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ đồng bằng, nông thôn ven biển, mà cả ở các vùng núi, trung du và Tây nguyên. Ngày nay, Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy việc mở rộng quan hệ hợp tác, đẩy mạnh hoạt động ngoại thương đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm tận dụng và phát triển tối đa mọi nguồn lực sẵn có, từ đó nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sự phát triển đất nước. Trong khi đó, thuỷ sản là mét trong những ngành kinh tế mũi nhọn và là thế mạnh của Việt nam. Trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu của Việt nam không ngừng tăng nhanh, đặc biệt là kim nghạch xuất khẩu thuỷ sản chiếm một tỷ trọng lớn. Mặt hàng cá tra và cá basa ngày càng được người tiêu dùng trong nước và trên toàn thế giới ưa chuộng. Việc đó đã góp phần quan trọng trong sự phát triển thuỷ sản nói riêng và kinh tế nói chung của Việt nam.Tính đến hết tháng 102011, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt gần 5 tỷ USD, năm 2011, chế biến thủy sản Việt Nam là ngành công nghiệp có tốc độ phát triển mạnh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Doanh số xuất khẩu thủy sản tăng liên tục qua các năm với mức tăng khoảng 15 20%năm. Chỉ trong 10 năm, thủy sản Việt Nam liên tục tăng trưởng với doanh số xuất khẩu tăng gấp 3 lần, từ 2 tỷ USD năm 2002 đến 6 tỷ USD năm 2011. (http:www.rimf.org.vnbantinnews.asp?news_id=3001lang=1)Theo khảo sát, mặt hàng cá tra, cá basa Việt Nam được đánh giá là nhóm thủy sản có tốc độ tăng nhanh nhất thế giới (2008), xuất khẩu đến 127 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng sản lượng trên 640.000 tấn sản phẩm, đạt giá trị hơn 1.4 tỷ USD tăng trưởng 45% so với 2007, góp phần đưa toàn bộ ngành lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 4 tỷ USD.Cá tra, cá basa là một trong những sản phẩm đại diện cho ngành thủy sản. Vì vậy cùng với ngành thủy sản, xuất khẩu cá tra cá basa là một trong những vấn đề rất đáng được quan tâm và được xác định là giữ vai trò đáng kể trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hiểu được sự quan trọng của mặt hàng này; nhóm tôi chọn đề tài “Đánh giá hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa đến sự phát triển kinh tế ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” vì chúng tôi muốn tìm hiểu và phân tích những điểm ưu, nhược điểm của việc xuất khẩu mặt hàng này trong các năm gần đây từ đó đưa ra những đề xuất nhằm giảm thiểu những rủi ro trong việc đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài; qua việc cải thiện, nâng cao chất lượng thịt cá để đảm bảo chất lượng cuộc sống, sức khỏe của người tiêu dùng trong và ngoài nước.1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU1.2.1 Mục tiêu chung: Đánh giá sự ảnh hưởng của xuất khẩu cá tra, cá basa đến sự phát triển kinh tế ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.1.2.2 Mục tiêu cụ thể: Tìm hiểu thực trạng xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL trong những năm gần đây. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của việc xuất khẩu cá tra, cá basa đến thị trường nước ngoài. Chỉ rõ những ảnh hưởng của hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa đến sự phát triển kinh tế. Đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU1.3.1 Không gian: Đồng bằng sông Cửu Long1.3.2 Thời gian: Tháng 1 đến tháng 5 năm 20151.3.3 Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng xuất khẩu cá tra, cá basa1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆUPhạm Huy, 2010. Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL. Đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả như lập bảng phân phối tần số, trình bày dữ liệu bảng và biểu đồ để cho chúng ta hiểu rõ hơn về tình hình xuất khẩu, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh ĐBSCL qua các năm hay kim ngạch xuất khẩu của toàn vùng. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau có liên hệ nhau để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một doanh nghiệp ở các thị trường khác nhau. Phân tích SWOT những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội hay thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản.Võ Thúy Ngân, 2010. Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa tại vùng ĐBSCL từ năm 2009 – 2010. Tác giả chủ yếu thu thập số liệu từ báo cáo của niên giám thống kê, từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành (kinh tế nông nghiệp), Internet và các phương tiện truyền thông để phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng nuôi trồng và xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL. Sau đó nêu lên những thuận lợi và khó khăn của hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa ở đây tới các thị trường khác trên thế giới. Từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá tra, cá ba sa ở ĐBSCL đến những anh chị, bạn bè, đối tác trên thế giới.Agromonitor, 2014. Toàn cảnh thị trường cá tra tháng 12 2014. Ngày 26122014.http:agromonitor.vntoancanhthitruongcatrathang122014_26540.html Ngày truy cập: 02022015. Bài báo thống kê số liệu về toàn cảnh thị trường cá tra cuối năm 2014 về tình hình sản xuất, giá cá tra, xu hướng giá cá tra nguyên liệu và đưa ra bảng thống kê top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất trong tháng 112014 theo lượng và tỷ trọng cũng như theo kim ngạch và tỷ trọng. Từ đó nhóm có số liệu chính xác và hiểu rõ tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa trong thời gian gần nhất.Nguyễn Thị Thu Hương, 2007. Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường EU tại công ty cổ phần thủy sản Cafatex. Đề tài phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa của công ty cổ phần thủy sản Cafatex sang thị trường EU qua ba năm 2005 – 2007. Phân tích thực trạng xuất khẩu qua các chỉ tiêu về sản lượng, giá trị xuất khẩu cá sang thị trường EU so với các thị trường khác, kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá basa của công ty tại các nước thành viên. Phân tích SWOT những thuận lợi và khó khăn, đe dọa và cơ hội tại thị trường EU cũng như xem xét những điểm mạnh, điểm yếu của Cafatex. Từ đó đề ra những giải pháp và kiến nghị nhằm ổn định và gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của công ty Cafatex nói chung và ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói riêng cũng như phát triển thêm nhiều thị trường mới trên thế giới.CHƯƠNG 2PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN2.1.1 Các khái niệm cơ bản2.1.1.1 Khái niệm xuất khẩuXuất khẩu trong lý luận thương mại là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài. Tất cả các nước trên thế giới đều có hoạt động xuất khẩu vì công việc kinh doanh quốc tế chiếm một phần đáng kể trong tất cả khối lượng thương vụ và lợi nhuận. Nhờ có hoạt động xuất khẩu (bán hàng ra thị trường quốc tế), các quốc gia có thể cải tiến hiệu năng nhờ quy mô lớn trong sản xuất, trong tiếp thị và trong phân phối, đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Mặt khác, xuất khẩu còn giải quyết việc làm cho người lao động. Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà các doanh nghiệp xuất khẩu có thể phân bổ chi phí cố định cho nhiều sản phẩm hơn, bớt được giá thành sản xuất và tăng thêm lợi nhuận. Giá thành thấp hơn cũng có nghĩa là giá bán thấp hơn tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc khối lượng hàng hóa xuất khẩu tăng giúp cho sản xuất trong nước tăng trưởng cũng có nghĩa là sử dụng thêm được năng lực còn bỏ trống chưa dùng.Tóm lại, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân.Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình.Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh này.2.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng trong giao thương quốc tế, thông qua nguồn thu ngoại tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhập khẩu cho nước khác. Phát triển hoạt động xuất khẩu giúp tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động xuất khẩu, thúc đẩy mở rộng quy mô và phát triển sản xuất, sử dụng năng lực thừa, tạo việc làm cho người lao động. Xuất khẩu còn thúc đẩy việc phát minh sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất. Xuất khẩu góp phần vào sự phân công lao động giữa các nước trên thế giới, đồng thời giúp tăng cường hợp tác quốc tế.2.1.2 Giới thiệu đôi nét về cá tra, cá basaCá basa, tên khoa học Pangasius bocourti, còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng, là loại cá da trơn trong họ Pangasiidae có giá trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiều nước trên thế giới. Loài này là loài bản địa ở Đồng bằng song Cửu Long tại Việt Nam và lưu vực song chao Phraya ở Thái Lan. Loài cá này là thực phẩm quan trọng ở thị trường quốc tế. Chúng thường được gắn nhãn ở Bắc Mỹ và Úc với tên là cá basa hay bocourti.Cá tra, cá basa là một trong những đối tượng nuôi trồng thủy sản đang được phát triển với tốc độ nhanh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (tập trung chủ yếu ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp) là một trong những loài cá có giá trị xuất khẩu cao. Cá basa Việt Nam được nhiều thị trường ưu chuộng vì màu sắc cơ thịt trắng, thịt cá thơm ngon hơn so với các loài cá khác. Nghê nuôi cá basa đã được khởi đầu từ những năm 60. Năm 1998, Việt Nam đã thành công trong sinh sản nhân tạo và đáp ứng được nhu cầu về giống cho nghề nuôi thương phẩm.Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của cá traThành phần dinh dưỡng trên 100g sản phẩm ăn đượcCaloCalo từ chất béoTổng lượng chất béoChất béo bão hòaCholesteolNatriProtein124,52 cal30,84 cal3,24 g1,64 g25,2 mg70,6 mg23,42 gNguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của cá basaThành phần dinh dưỡng trên 100g sản phẩm ăn đượcCaloCalo từ chất béoTổng lượng chất béoChất béo bão hòaCholesteolNatriProtein170 cal60 cal7 g2 g22 mg70,6 mg28 gNguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 20092.1.3 Sản phẩm cá tra, cá basa phile đông lạnh xuất khẩu chủ yếuHầu hết cá tra và basa sau khi nuôi được chế biến dưới dạng đông lạnh trước khi đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Các tỉnh nuôi cá tra và basa ở Đồng bằng sông Cửu Long đều có doanh nghiệp chế biến thủy sản gắn với các làng bè nuôi cá. Đứng trước sự cạnh tranh trên thị trường, hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy sản đều nhập dây chuyền thiết bị đông lạnh từ nước ngoài và áp dụng các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn của HACCP.Một phần lớn sản lượng cá tra và basa philê đông lạnh được xuất khẩu. An Giang, tỉnh chủ lực xuất khẩu cá tra, cá basa là nơi tập trung những doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn như Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish), Công ty xuất nhập khẩu thực phẩm An Giang (Afiex) và Công ty TNHH Nam Việt. Các doanh nghiệp lớn ở các địa phương khác gồm Công ty Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp), Công ty Cataco (Cần Thơ) và Công ty Cafatex (Cần Thơ). Các doanh nghiệp này chiếm tới 95% kim ngạch xuất khẩu cá philê đông lạnh của Việt Nam.Kể từ khi Việt nam bắt đầu hội nhập kinh tế thế giới và chấp nhận những nguyên tắc của thương mại quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập Khối Hợp Tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), ngành công nghiệp sản xuất cátra, cá basa của đất nước đã phát tri ển nhanh chóng (Cohen and Hiebert, 2001), tạo công ăn việc làm cho hơn 500.000 lao động (Narog, 2003). Trong sự hợp tác gần gũi với các nhà nghiên cứu thủy sản của Pháp, các giảng viên của ĐH Nông Lâm TPHCM và ĐH Cần Thơ đã nghiên cứu và chuyển giao thành công qui trình sản xuất giống nhân tạo cá tra và cá basa từ năm 1998, gầy dựng nên một lực lượng sản xuất giống cá tra, cá basa nhân tạo với hơn 15.000 nông hộ liên quan (Cohen and Hiebert, 2001). Hi ện nay, hầu hết cáctrang trại nuôi cá tra, cá basa mua các lo ại thức ăn viên từ các công ty nước ngoài như Cargill Hoa Kỳ, Proconco Pháp, CP Groups Thái lan, UniPresident Đài Loan (Cohen and Hiebert, 2001; Sengupta, 2003, Duc and Kinnucan, 2008). Nông dân nuôi cá cũng đã ti ếp nhận các kỹ thuật tiên tiến trong việc cho cá ăn và quản lý chất lượng nước để cải thiện chất lượng thịt cá, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Hoa Kỳ và châu Âu trong khi các doanh nghiệp chế biến cũng đã ứng dụng các kỹ thuật phi lê cá từ một nhà nhập khấu Úc và sử dụng các trang thiết bị sản xuất được mua từ Hoa Kỳ (Cohen and Hiebert, 2001), với mong muốn đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng HACCP và GAP được đề nghị bởi Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) và CụcThực phẩm và Dược phẩm của Hoa Kỳ.2.1.4 Quy trình chế biến cá tra, cá basa phile đông lạnhTrong hoạt động chế biến cá tra, cá basa philê đông lạnh, cá tra và cá basa tươi là nguyên liệu quan trọng nhất. Tính trung bình, phần thịt nạc được lọc ra thành philê chiếm 3040% trọng lượng cá nguyên liệu. Cụ thể; 3,2 kg cá tra hay 3,9 kg cá basa nguyên liệu sau khi chế biến sẽ cho 1 kg cá philê. Phụ phẩm cá thừa ra sau khi cắt philê (như đầu, đuôi, da, ruột) được sử dụng để chế biến bột và mỡ cá giúp doanh nghiệp thu hồi lại một phần chi phí.Ngoài cá nguyên liệu (chiếm 82% giá ròng sản phẩm bán ra), các chi phí lớn khác trong chế biến đông lạnh là cắt philê, điện làm đá, chạy máy và kho lạnh, nước rửa đá, hóa chất và bao bì.Cụ thể các công đoạn trong quy trình chế biến cá tra, cá basa đông lạnh như sau:Bảng 2.3 Quy trình chế biến cá tra, cá basa phile đông lạnhTÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONGĐBSCL là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39 734 km2. Có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. ĐBSCL có 12 tỉnh và 1 thành phố: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, TP. Cần Thơ.3.1.1 Tiềm năng phát triển cá tra, cá basa ở Đồng bằng sông Cửu LongTiềm năng tự nhiên: Nằm ở hạ lưu sông Mêkông với điều kiện thủy văn và chất lượng nguồn nước thuận lợi cho việc nuôi trồng cá tra quanh năm. Theo số liệu của cục thủy sản Nam Bộ.Lưu lượng: Vào mùa mưa lũ, lưu lượng nước sông Cửu Long dao động từ 18.800 m3 giây đến 48.700 m3 giây (số liệu đó tại Phnôm Pênh – Campuchia), cao gấp 9 – 23 lần so với lưu lượng vào mùa khô.Vận tốc dòng chảy: vào mùa lũ 0,5 – 0,6m giây, ở mùa khô 0,1 – 0,2m giây.Nhiệt độ: nước biến thiên không nhiều, cao nhất là 31°C vào tháng 5 và tháng 10; thấp nhất là 26°C vào tháng giêng. Biên độ chênh lệch trong ngày khoảng 1,5°C, nhiệt độ trên tầng mặt cao hơn dưới đáy 2 3°C.Độ trong và pH trong mùa khô: độ trong của nước từ 40 – 60 cm và pH khoảng 7,5. Mùa mưa, độ trong chỉ 8 – 10 cm và pH nước sông khá ổn định là đặc điểm rất có lợi cho đời sống của thủy sinh vật và cá.Độ cứng: dao động từ 2 – 5 độ (độ Đức), chủ yếu được hình thành trên cơ sở muối cacbonat canxi và thuộc dạng nước ít muối khoáng.Các chất khí hòa tan: ở sông Tiền và sông Hậu nước tương đối thoáng sạch, dưỡng khí đầy đủ (4,3 – 9,7 mg lít), hàm lượng khí cacbonic thấp (1,7 – 5,2 mg lít) nghĩa là nằm dưới giới hạn có hại đối với cá và sinh vật dưới nước. Ngoài ra không có các khí độc trong nước sông.Tiềm năng nuôi trồng:Diện tích nuôi trồng: theo số liệu thống kê của tổng cục địa chính, tổng số diện tích có khả năng nuôi cá tra ao hầm, cồn, đăng quầng là 32.595 ha. Thêm vào đó với hệ thống kênh ngòi chằng chịt cộng thêm có 3 con sông lớn Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và sông Mêkông đã đem lại tiềm năng mặt nước to lớn để phát triển nuôi trồng cá tra xuất khẩu.Nguồn thức ăn: Nuôi cá tra là hình thức nuôi công nghiệp, chủ động và có tính tập trung. Tại các khu vực nuôi cá tập trung hiện nay (chủ yếu ở An Giang và Đồng Tháp) nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho cá rất phong phú. Khu vực tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác các loại nông sản và là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên liệu nông sản để chế biến thức ăn cho cá nuôi (cám, tấm, đậu, bắp…). Một thuận lợi nữa là vào cuối mùa gió Tây Nam hàng năm (sau đỉnh lũ) nước sông từ thượng nguồn đổ xiết về hạ lưu và mang về nguồn lợi cá tự nhiên rất dồi dào cả về số lượng lẫn chủng loại. Nhiều nhất là cá linh (Labeobarb siamensis) và nhiều loài cá tự nhiên khác. Ngoài nguồn cá tự nhiên nước ngọt, các loại cá tạp đánh bắt từ biển Rạch Giá được chuyển đến khu vực nuôi với đoạn đường ngắn, giá cả phù hợp và thường xuyên. Ngoài ra, điều kiện giao thông thủy và bộ thuận tiện cũng giúp cho việc vận chuyển nguyên vật liệu chế biến thức ăn cho cá được dễ dàng và kịp thời.ĐBSCL phát triển con cá tra này.3.1.2 Thực trạng năng lực chế biến của các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩuCác doanh nghiệp đã đầu tư xây mới, nâng cấp mở rộng, đổi mới trang thiết bị theo hướng tăng cường chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm chế biến. Hiện nay theo hiệp hội Vasep là có 168 doanh nghiệp tham gia vào chế biến cá tra xuất khẩu. Nét mới năm 2008 là có thêm nhiều doanh nghiệp chế biến đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, trực tiếp đầu tư cá và có thêm nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu. Toàn vùng ĐBSCL hiện nay có hơn 100 nhà máy chế biến cá tra với công suất chế biến khoảng 1.5 triệu tấn năm.3.2 TÌNH TRẠNG XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA CỦA VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI3.2.1 Thực trạng sản xuất cá tra, cá basa của Việt NamTheo báo cáo tháng 122014 của Bộ NNPTNT, sản lượng nuôi trồng thủy sản vào thời điểm này đạt 348 ngàn tấn, tăng 14,5% so với cùng kì năm trước, đưa tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản cả năm 2014 đạt 3.393 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2013.Diện tích nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL cả năm 2014 ước đạt hơn 5.500 ha với sản lượng giảm nhẹ so với cùng kì năm trước, Đồng Tháp (2%), An Giang (8%). Chỉ riêng Hậu Giang diện tích giảm 12% so với cùng kỳ nhưng sản lượng lại tăng đáng kể, đạt 70.905 tấn, tăng 102% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân là do năm ngoái cá tra, cá basa không được giá nên các hộ dân không thu hoạch, năm nay giá cả cá tra tăng nên các hộ thu hoạch nhiều.3.4 PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOTPhân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu thủy sản ĐBSCL:CHƯƠNG 4TÁC ĐỘNG TỪ NGÀNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA ĐÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ NƯỚC TA4.1 TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾNgày 11012007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức WTO. Từ đó đến nay, ngành Thuỷ sản nói chung và ngành hàng cá tra, cá basa nói riêng đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể. Cá tra, cá basa của Việt Nam ngày càng được nhiều người biết đến và được tiêu thụ rộng khắp trên thị trường thế giới do có giá trị dinh dưỡng cao, thịt trắng, chắc, hương vị thơm ngon, giá cả hợp lý... 4.2 TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾHiện nay, Việt Nam vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Trong thời gian 12 năm (không muộn hơn 31122018), Việt Nam phải chứng minh được với WTO là kinh tế Việt Nam đã hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường. Nếu không, chế độ phi thị trường sẽ gây bất lợi cho Việt Nam trong các vụ kiện chống bán phá giá. Tuy nhiên, các thành viên WTO cũng không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù (khác với cơ chế chung trong WTO) đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Chế độ phi thị trường gây tác động lớn đến xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam (trong đó có cá Tra).Trong những năm qua, kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã CHƯƠNG 5ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 5.1 CÁC GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHÔNG PHÁ GIÁ5.1.1 Khái niệmBán phá giá: theo tinh thần cuả Điều 2.1 Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường.5.1.2 Nguyên nhânCó nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế. Nhiều trường hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định như: Bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu từ đó chiếm thế độc quyền; Bán giá thấp tại thị trường nước nhập khẩu để chiếm lĩnh thị phần; Bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh... Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, xuất khẩu không bán được hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hỏng... nên đành bán tháo để thu hồi vốnCHƯƠNG 6KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ6.1 KẾT LUẬNThủy sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc trưng gồm có các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng của đất nước. Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, hải quan...Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng của ngành thủy sản trong sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong 20 năm qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngành kinh tế thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.Trong 20 năm đổi mới, đất nước ta đã có những bước đi lên vững chắc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu, nước ta đã có nhiều thị trường tiềm năng và đáng tin cậy. Hằng năm, ngành xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu cá tra, cá basa nói riêng tạo việc làm cho hàng trăm lao động, doanh thu cho các doanh nghiệp, góp phần phát triển rất lớn vào nền kinh tế đất nước.Đối với lĩnh vực xuất khẩu cá tra, cá basa. Việt Nam đang dần trở thành một trong những nhà cung cấp lớn trên toàn thế giới. Tuy ngành xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng luôn phải đối mặt với rất nhiều thách thức từ bên trong lẫn bên ngoài, nhưng các doanh nghiệp thủy sản của chúng ta vẫn luôn đứng vững và tìm mọi cách sinh tồn, chiến đấu với sự khắc nghiệt và phát triển.Hy vọng với một tương lai không xa, ngành xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL sẽ còn có thể phát triển hơn nữa. Dựa vào sự trợ giúp hết mực từ chính phủ và tiềm lực về điều kiện tự nhiên sẵn có.6.2 KIẾN NGHỊ6.2.1 Về phía Cơ quan Nhà nướcNhà nước giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành thủy sản ở ĐBSCL nói riêng và ngành xuất khẩu cá tra, cá basa nói chung. Vì vậy Nhà nước cần hoàn thiện hơn nữa chính sách quản lý xuất khẩu thủy sản. Qua đó điều tiết các hoạt động của ngành giúp ngành phát triển đúng hướng. Nhà nước sẽ là nhân tố chính trong việc giúp các doanh nghiệp tìm hiểu và tiếp cận với thị trường thông qua hỗ trợ các doanh nghiệp trong tổ chức các hoạt động quốc tế về thủy sản.Nhà nước có đủ công cụ để hỗ trợ người nuôi, người khai thác phát triển sản xuất đảm bảo nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu. Vì vậy, Nhà nước cần đưa ra và thực thi tốt các chính sách quản lý và đầu tư cho ngành thủy sản ở ĐBSCL. Chính sách khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá, thuế suất, .. sẽ có tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp.6.2.2 Về phía doanh nghiệpCác doanh nghiệp xuất khẩu cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật và liên kết lại với nhau. Để hoạt động xuất khẩu thủy sản của vùng ĐBSCL tiếp tục phát triển và mở rộng thì hoạt động xúc tiến thương mại giữ vai trò vô cùng quan trọng. Bên cạnh hoạt động xúc tiến thương mại, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đạt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm thông qua đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật. Các doanh nghiệp ở ĐBSCL phải liên kết chặt chẽ với nhau để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, ổn định nguồn nguyên liệu và phát triển hoạt động xuất khẩu bền vững.6.2.3 Về phía hộ sản xuấtNgười nuôi cần thực hiện tốt các tiêu chuẩ quốc tế trong nuôi trồng thủy sản. Tiếp tục phát triển các mô hình hợp tác xã thủy sản, trang trại thủy sản để người nuôi nâng cao trình độ và đăng kí quản lý tốt hơn. Người nuôi giữ vai trò quyết định đến chất lượng nguồn nguyên liệu thủy sản. Người nuôi cần nhận thấy rõ ý nghĩa của chất lượng sản phẩm đối với sự sống còn của ngành.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÁ TRA,
CÁ BASA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GVHD: Mai Văn Nam
Nhóm thực hiện:
Trang 2CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hơn 10 năm trở lại đây, ngành thủy sản ở nước ta đã có những bước pháttriển nhanh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân
Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc dântăng dần qua các năm Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, giúpchuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn và góp phần rất lớn trong việc xoá đói giảmnghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ đồng bằng, nông thôn venbiển, mà cả ở các vùng núi, trung du và Tây nguyên
Ngày nay, Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy việc mở rộng quan hệ hợp tác, đẩy mạnh hoạt động ngoạithương đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm tận dụng và phát triển tối đa mọi nguồn lựcsẵn có, từ đó nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sự phát triển đất nước Trong khi
đó, thuỷ sản là mét trong những ngành kinh tế mũi nhọn và là thế mạnh của Việt nam.Trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu của Việt nam không ngừng tăng nhanh,đặc biệt là kim nghạch xuất khẩu thuỷ sản chiếm một tỷ trọng lớn Mặt hàng cá tra và cábasa ngày càng được người tiêu dùng trong nước và trên toàn thế giới ưa chuộng Việc đó
đã góp phần quan trọng trong sự phát triển thuỷ sản nói riêng và kinh tế nói chung củaViệt nam
Tính đến hết tháng 10/2011, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt gần 5 tỷUSD, năm 2011, chế biến thủy sản Việt Nam là ngành công nghiệp có tốc độ phát triểnmạnh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta Doanh
số xuất khẩu thủy sản tăng liên tục qua các năm với mức tăng khoảng 15 - 20%/năm Chỉtrong 10 năm, thủy sản Việt Nam liên tục tăng trưởng với doanh số xuất khẩu tăng gấp 3lần, từ 2 tỷ USD năm 2002 đến 6 tỷ USD năm 2011.(http://www.rimf.org.vn/bantin/news.asp?news_id=3001&lang=1)
Theo khảo sát, mặt hàng cá tra, cá basa Việt Nam được đánh giá là nhóm thủy sản
có tốc độ tăng nhanh nhất thế giới (2008), xuất khẩu đến 127 quốc gia và vùng lãnh thổvới tổng sản lượng trên 640.000 tấn sản phẩm, đạt giá trị hơn 1.4 tỷ USD tăng trưởng45% so với 2007, góp phần đưa toàn bộ ngành lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 4 tỷ USD
Cá tra, cá basa là một trong những sản phẩm đại diện cho ngành thủy sản Vì vậycùng với ngành thủy sản, xuất khẩu cá tra cá basa là một trong những vấn đề rất đángđược quan tâm và được xác định là giữ vai trò đáng kể trong sự phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước Hiểu được sự quan trọng của mặt hàng này; nhóm tôi chọn đề tài “Đánh
Trang 3giá hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa đến sự phát triển kinh tế ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” vì chúng tôi muốn tìm hiểu và phân tích những điểm ưu, nhược điểm của
việc xuất khẩu mặt hàng này trong các năm gần đây từ đó đưa ra những đề xuất nhằmgiảm thiểu những rủi ro trong việc đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài; qua việc cảithiện, nâng cao chất lượng thịt cá để đảm bảo chất lượng cuộc sống, sức khỏe của ngườitiêu dùng trong và ngoài nước
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian: Đồng bằng sông Cửu Long
1.3.2 Thời gian: Tháng 1 đến tháng 5 năm 2015
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng xuất khẩu cá tra, cá basa
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Phạm Huy, 2010 Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở
ĐBSCL Đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả như lập
bảng phân phối tần số, trình bày dữ liệu bảng và biểu đồ để cho chúng ta hiểu rõ hơn vềtình hình xuất khẩu, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh ĐBSCL quacác năm hay kim ngạch xuất khẩu của toàn vùng Phương pháp so sánh các chỉ tiêu cùngloại hay khác nhau có liên hệ nhau để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của mộtdoanh nghiệp ở các thị trường khác nhau Phân tích SWOT những điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội hay thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL, từ đó đưa
ra các giải pháp thích hợp và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Trang 4Võ Thúy Ngân, 2010 Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa tại vùng
ĐBSCL từ năm 2009 – 2010 Tác giả chủ yếu thu thập số liệu từ báo cáo của niên giám
thống kê, từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành (kinh tế nông nghiệp), Internet và cácphương tiện truyền thông để phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL Đềtài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng nuôi trồng và xuất khẩu
cá tra, cá basa ở ĐBSCL Sau đó nêu lên những thuận lợi và khó khăn của hoạt động xuấtkhẩu cá tra, cá basa ở đây tới các thị trường khác trên thế giới Từ đó đề xuất một số giảipháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá tra, cá ba sa ở ĐBSCL đến những anh chị, bạn bè,đối tác trên thế giới
Agromonitor, 2014 Toàn cảnh thị trường cá tra tháng 12/ 2014 Ngày
26/12/2014.http://agromonitor.vn/toan-canh-thi-truong-ca-tra-thang-12-2014_26540.html[Ngày truy cập: 02/02/2015] Bài báo thống kê số liệu về toàn cảnh thị trường cá tra cuốinăm 2014 về tình hình sản xuất, giá cá tra, xu hướng giá cá tra nguyên liệu và đưa rabảng thống kê top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất trong tháng 11/2014 theo lượng
và tỷ trọng cũng như theo kim ngạch và tỷ trọng Từ đó nhóm có số liệu chính xác vàhiểu rõ tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa trong thời gian gần nhất
Nguyễn Thị Thu Hương, 2007 Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa sang
thị trường EU tại công ty cổ phần thủy sản Cafatex Đề tài phân tích và đánh giá tình
hình xuất khẩu cá tra, cá basa của công ty cổ phần thủy sản Cafatex sang thị trường EUqua ba năm 2005 – 2007 Phân tích thực trạng xuất khẩu qua các chỉ tiêu về sản lượng,giá trị xuất khẩu cá sang thị trường EU so với các thị trường khác, kim ngạch xuất khẩu
cá tra, cá basa của công ty tại các nước thành viên Phân tích SWOT những thuận lợi vàkhó khăn, đe dọa và cơ hội tại thị trường EU cũng như xem xét những điểm mạnh, điểmyếu của Cafatex Từ đó đề ra những giải pháp và kiến nghị nhằm ổn định và gia tăng giátrị kim ngạch xuất khẩu của công ty Cafatex nói chung và ngành xuất khẩu thủy sản củaViệt Nam nói riêng cũng như phát triển thêm nhiều thị trường mới trên thế giới
Trang 5CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu trong lý luận thương mại là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài
- Tất cả các nước trên thế giới đều có hoạt động xuất khẩu vì công việc kinh doanhquốc tế chiếm một phần đáng kể trong tất cả khối lượng thương vụ và lợi nhuận Nhờ cóhoạt động xuất khẩu (bán hàng ra thị trường quốc tế), các quốc gia có thể cải tiến hiệunăng nhờ quy mô lớn trong sản xuất, trong tiếp thị và trong phân phối, đem lại nguồn thungoại tệ cho đất nước Mặt khác, xuất khẩu còn giải quyết việc làm cho người lao động
- Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà các doanh nghiệp xuất khẩu có thể phân bổ chiphí cố định cho nhiều sản phẩm hơn, bớt được giá thành sản xuất và tăng thêm lợi nhuận.Giá thành thấp hơn cũng có nghĩa là giá bán thấp hơn tạo điều kiện cho hàng hóa xuấtkhẩu có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới Việc khối lượng hàng hóa xuất khẩu tănggiúp cho sản xuất trong nước tăng trưởng cũng có nghĩa là sử dụng thêm được năng lựccòn bỏ trống chưa dùng
Tóm lại, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bántrong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm,hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đẩy mạnh sản xuất hànghoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhândân
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiêncủa một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạnghoá hoạt động kinh doanh của mình
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của mộtquá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nướcnày với nước khác Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vàohoạt động kinh doanh này
2.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu
- Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng trong giao thương quốc tế, thông quanguồn thu ngoại tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhập khẩu cho nước khác
Trang 6- Phát triển hoạt động xuất khẩu giúp tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động xuấtkhẩu, thúc đẩy mở rộng quy mô và phát triển sản xuất, sử dụng năng lực thừa, tạo việclàm cho người lao động.
- Xuất khẩu còn thúc đẩy việc phát minh sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoahọc – công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất
- Xuất khẩu góp phần vào sự phân công lao động giữa các nước trên thế giới, đồngthời giúp tăng cường hợp tác quốc tế
2.1.2 Giới thiệu đôi nét về cá tra, cá basa
Cá basa, tên khoa họcPangasius bocourti, còn có tên gọi làcá giáo,cá sát bụng, làloạicá da trơntrong họ Pangasiidaecó giá trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiềunước trên thế giới Loài này là loài bản địa ở Đồng bằng song Cửu LongtạiViệt Namvàlưu vựcsong chao Phraya ở Thái Lan.Loài cá này là thực phẩm quan trọng ở thị trườngquốc tế Chúng thường được gắn nhãn ở Bắc Mỹvà Úc với tên là "cá basa" hay
"bocourti"
Cá tra, cá basa là một trong những đối tượng nuôi trồng thủy sản đang được pháttriển với tốc độ nhanh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (tập trung chủ yếu ở haitỉnh An Giang và Đồng Tháp) là một trong những loài cá có giá trị xuất khẩu cao Cábasa Việt Nam được nhiều thị trường ưu chuộng vì màu sắc cơ thịt trắng, thịt cá thơmngon hơn so với các loài cá khác Nghê nuôi cá basa đã được khởi đầu từ những năm 60.Năm 1998, Việt Nam đã thành công trong sinh sản nhân tạo và đáp ứng được nhu cầu vềgiống cho nghề nuôi thương phẩm
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của cá tra
Thành phần dinh dưỡng trên 100g sản phẩm ăn được
chất béo
Tổnglượng chấtbéo
Chất béobão hòa Cholesteol Natri Protein
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của cá basa
Thành phần dinh dưỡng trên 100g sản phẩm ăn được
chất béo
Tổnglượng chấtbéo
Chất béobão hòa Cholesteol Natri Protein
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
Trang 72.1.3 Sản phẩm cá tra, cá basa phile đông lạnh xuất khẩu chủ yếu
Hầu hết cá tra và basa sau khi nuôi được chế biến dưới dạng đông lạnh trước khiđến tay người tiêu dùng cuối cùng Các tỉnh nuôi cá tra và basa ở Đồng bằng sông CửuLong đều có doanh nghiệp chế biến thủy sản gắn với các làng bè nuôi cá Đứng trước sựcạnh tranh trên thị trường, hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy sản đều nhập dâychuyền thiết bị đông lạnh từ nước ngoài và áp dụng các quy định về vệ sinh an toàn thựcphẩm theo tiêu chuẩn của HACCP
Một phần lớn sản lượng cá tra và basa philê đông lạnh được xuất khẩu An Giang,tỉnh chủ lực xuất khẩu cá tra, cá basa là nơi tập trung những doanh nghiệp xuất khẩu thủysản lớn như Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish), Công ty xuấtnhập khẩu thực phẩm An Giang (Afiex) và Công ty TNHH Nam Việt Các doanh nghiệplớn ở các địa phương khác gồm Công ty Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp), Công ty Cataco (CầnThơ) và Công ty Cafatex (Cần Thơ) Các doanh nghiệp này chiếm tới 95% kim ngạchxuất khẩu cá philê đông lạnh của Việt Nam
Kể từ khi Việt nam bắt đầu hội nhập kinh tế thế giới và chấp nhận những nguyêntắc của thương mại quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập Khối Hợp Tác Kinh tế Châu ÁThái Bình Dương (APEC), ngành công nghiệp sản xuất cátra, cá basa của đất nước đãphát tri ển nhanh chóng (Cohen and Hiebert, 2001), tạo công ăn việc làm cho hơn500.000 lao động (Narog, 2003) Trong sự hợp tác gần gũi với các nhà nghiên cứu thủysản của Pháp, các giảng viên của ĐH Nông Lâm TPHCM và ĐH Cần Thơ đã nghiên cứu
và chuyển giao thành công qui trình sản xuất giống nhân tạo cá tra và cá basa từ năm
1998, gầy dựng nên một lực lượng sản xuất giống cá tra, cá basa nhân tạo với hơn 15.000nông hộ liên quan (Cohen and Hiebert, 2001) Hi ện nay, hầu hết cáctrang trại nuôi cá tra,
cá basa mua các lo ại thức ăn viên từ các công ty nước ngoài như Cargill - Hoa Kỳ,Proconco - Pháp, CP Groups - Thái lan, Uni-President - Đài Loan (Cohen and Hiebert,2001; Sengupta, 2003, Duc and Kinnucan, 2008) Nông dân nuôi cá cũng đã ti ếp nhậncác kỹ thuật tiên tiến trong việc cho cá ăn và quản lý chất lượng nước để cải thiện chấtlượng thịt cá, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Hoa Kỳ và châu Âutrong khi các doanh nghiệp chế biến cũng đã ứng dụng các kỹ thuật phi lê cá từ một nhànhập khấu Úc và sử dụng các trang thiết bị sản xuất được mua từ Hoa Kỳ (Cohen andHiebert, 2001), với mong muốn đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng HACCP và GAP được
đề nghị bởi Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) và CụcThực phẩm và Dược phẩm củaHoa Kỳ
Trang 82.1.4 Quy trình chế biến cá tra, cá basa phile đông lạnh
Trong hoạt động chế biến cá tra, cá basa philê đông lạnh, cá tra và cá basa tươi lànguyên liệu quan trọng nhất Tính trung bình, phần thịt nạc được lọc ra thành philê chiếm30-40% trọng lượng cá nguyên liệu Cụ thể; 3,2 kg cá tra hay 3,9 kg cá basa nguyên liệusau khi chế biến sẽ cho 1 kg cá philê Phụ phẩm cá thừa ra sau khi cắt philê (như đầu,đuôi, da, ruột) được sử dụng để chế biến bột và mỡ cá giúp doanh nghiệp thu hồi lại mộtphần chi phí
Ngoài cá nguyên liệu (chiếm 82% giá ròng sản phẩm bán ra), các chi phí lớn kháctrong chế biến đông lạnh là cắt philê, điện làm đá, chạy máy và kho lạnh, nước rửa đá,hóa chất và bao bì
Cụ thể các công đoạn trong quy trình chế biến cá tra, cá basa đông lạnh như sau:
Bảng 2.3 Quy trình chế biến cá tra, cá basa phile đông lạnh
Trang 9không bệnh, không khuyết tật Trọng lượng³ 500g/
con
Công ty bằng ghe đục để cho cá còn sống Từ bến cáđược cho vào thùng nhựa chuyên dùng rồi chuyển nhanh đến khu tiếp nhận bằng xe tải nhỏ Tại khu tiếp nhận QC kiểm tra chất lượng cảm quan (cá còn sống, không có dấu hiệu bị bệnh)
Cắt tiết- rửa 1
- Cá được giết chết bằng cách cắt hầu Cá sau khi giết chết cho vào bồn nước rửa sạch
Fillet
- Miếng fillet phải nhẳn, phẳng
- Không sót xương, phạm thịt
- Sử dụng dao chuyên dùng
để fillet cá : Tách thịt 2 bênthân cá, bỏ đầu, bỏ nội tạng, dưới vòi nước chảy liên tục, thao tác phải đúng
kỹ thuật và tránh vỡ nội tạng, không để sót thịt trong xương
Rửa 2
- Rửa bằng nước sạch, nhiệt độ thường
- Rửa phải sạch máu
- Nước rửa chỉ sử dụng một lần Mỗi lần rửa khôngquá 50 kg
- Miếng fillet được rửa qua
2 bồn nước sạch Trong quá trình rửa miếng fillet phải đảo trộn mạnh để loại bỏ máu, nhớt & tạp chất
Lạng da - Không sót da trên miếng
fillet
- Không phạm thịt hoặc rách thịt
- Dùng dao hoặc máy lạng
da để lạng bỏ da Thao tác nhẹ nhàng đúng kỹ thuật để miếng fillet sau khi lạng da không được phạm vào thịt miếng cá, không làm rách
Trang 10thịt miếng cá.
Chỉnh hình
- Không còn thịt đỏ, mỡ, xương
- Nhiệt độ BTP £ 150C
- Chỉnh hình nhằm loại bỏ thịt đỏ, mỡ trên miếng fillet Miếng fillet sau khi chỉnh hình phải sạch phần thịt đỏ, mỡ, không rách thịt, không sót xương, bề mặt miếng fillet phải láng
Soi ký sinh trùng
Không có ký sinh trùng trong mỗi miếng fillet
- Kiểm tra theo tần suất 30 phút/ lần
- Kiểm tra ký sinh trùng trên từng miếng fillet bằngmắt trên bàn soi
- Miếng fillet sau khi kiểm tra ký sinh trùng phải đảm bảo không có ký sinh trùng Những miếng fillet
có ký sinh trùng phải được loại bỏ QC kiểm tra lại vớitần suất 30 phút/ lần
Rửa 3
- Nhiệt độ nước rửa ≤ 80C
- Tần suất thay nước : 200
- Nhiệt độ cá sau khi quay
<150C
- Sau khi rửa cân cá cho vào máy quay, số lượng cá
100 ¸ 400 kg/ mẽ tuỳ theo máy quay lớn hay nhỏ Sau
đó cho dung dịch thuốc (đávẫy, muối + thuốc, nước lạnh nhiệt độ 3 ¸ 7 0C) vào theo tỷ lệ cá: dịch thuốc là
3 : 1
Trang 11Phân cỡ, loại
- Phân cỡ miếng cá theo gram / miếng, Oz/ miếng hoặc theo yêu cầu khách hàng Cho phép sai số≤ 2%
- Cá được phân thành các size như : 60 -120; 120 -170; 170 - 220; 220 - Up (gram/ miếng) hoặc 3 – 5, 5– 7, 7 – 9, 4 – 6, 6 – 8, 8 –
10, 10 – 12 (Oz/ miếng), hoặc theo yêu cầu của khách hàng
Cân 1
- Cân : trọng lượng theo yêu cầu khách hàng Đúng theo từng cỡ, loại
- Cá được cân theo từng cỡ,loại trọng lượng theo yêu cầu khách hàng
Rửa 4
- Nhiệt độ nước rửa ≤ 80C
- Tần suất thay nước : 100kg thay nước một lần
- Sản phẩm được rửa qua 1 bồn nước sạch có nhiệt độ
T0 £ 80C Khi rửa dùng tay đảo nhẹ miếng fillet Rửa không quá 100kg thay nước một lần
Xếp khuôn
- Xếp khuôn theo từng cỡ, loại riêng biệt hoặc theo yêu cầu của khách hàng
Sản phẩm rửa xong để ráo mới tiến hành xếp khuôn Từng miếng cá được xếp vào khuôn sao cho thể hiệntính thẩm mỹ dạng khối sảnphẩm
ở nhiệt độ và thời gian qui định Hàng vào kho chờ đông trước phải được cấp đông trước, nhiệt độ kho chờ đông duy trì ở -
1oC ¸ 4oC, thời gian chờ đông không quá 4 giờ
Cấp đông - Thời gian cấp đông ≤ 3 giờ
- Nhiệt độ trung tâm sản phẩm: ≤-180C
- Đối với tủ đông tiếp xúc phải chạy khởi động tủ đến
Trang 12- Nhiệt độ tủ cấp đông:
- 35 ¸ - 40oC
khi có một lớp băng mỏng phủ trên các tấm Plate mới cho hàng vào cấp đông; thời gian cấp đông không quá 3 giờ Nhiệt độ trung tâm sản phẩm đạt £ - 180C
Tách khuôn - Thao tác nhẹ nhàng tránh
gãy sản phẩm
- Sản phẩm sau khi cấp đông xong được tiến hành tách khuôn bằng cách dùngnước mạ phía dưới đáy khuôn để tách lấy sản phẩm
ra đóng gói
Bao gói
- Bao gói đúng cỡ, loại
- Đúng quy cách theo từng khách hàng
- Thông tin trên bao bì phải theo quy định hiện hành của Nhà nước Việt Nam hoặc theo quy định khách hàng
- Thời gian bao gói không quá 30 phút/ tủ đông
Cho hai block cùng cỡ loại cho vào một thùng hoặc tuỳ theo yêu cầu khách hàng
- Đai nẹp 2 ngang 2 dọc
Ký mã hiệu bên ngoài thùng phù hợp với nội dung bên trong sản phẩm
2.1.5 Quy trình xuất khẩu cá tra, cá basa
Đáp ứng đủ các điều kiện quy định xuất khẩu do Bộ thủy sản ban hành Trực tiếplàm thủ tục xuất khẩu với Hải quan
2.1.5.1 Yêu cầu về nguyên liệu
- Có xuất xứ từ các cơ sở nuôi nằm trong vùng nuôi được phép thu hoạch theo quiđịnh của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 130/2008/QĐ-BNN ngày 31/12/2008
Trang 13của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kiểm soát dư lượng các chất độc hạitrong động vật và sản phẩm động vật thủy sản nuôi.
- Được cơ sở chế biến lấy mẫu kiểm nghiệm có kết đạt yêu cầu về chi tiêu an toànthực phẩm theo kế hoạch được quy định trong Chương trình quản lý chất lượng theonguyên tắc phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) của cơ sở
- Được cơ sở chế kiểm tra chất lượng cảm quan đạt yêu cầu tại khâu tiếp nhậnnguyên liệu (cá còn sống, khỏe mạnh, không có các dấu hiệu bệnh lý, ký sinh trùng)
2.1.5.2 Yêu cầu về kĩ thuật
Chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm phải đúng theo các yêu cầu quy định trong bảngdưới đây:
Bảng 2.4 Chỉ tiêu cảm quan
Màu sắc Đặc trưng của cá tra, cá basa, không có màu lạ Sản phẩm có màu
sắc trắng hơn so với sản phẩm của cá tra hoặc cá bông lau
Mùi Đặc trưng của sản phẩm cá tra, cá basa, không có mùi lạ
Vị Đặc trưng của sản phẩm cá tra, cá basa, không có vị lạ
Trạng thái
- Cơ thịt mịn và săn chắc, có tính đàn hồi, vết cắt nhẵn, không sót xương; da, mỡ, phần thịt bụng được xử lý sạch, cho phép tối đa 2 điểm máu hoặc đường gân máu trên thịt
- Băng được mạ đều trên bề mặt sản phẩm
Tạp chất Không cho phép
Khối lượng
Khối lượng tịnh của mỗi đơn vị sản phẩm trên mẫu kiểm sau khi
rã đông nhanh để ráo nước, cho phép sai khác 2,5%; song giá trị trung bình của tổng số mẫu kiểm phải đạt giá trị ghi trên bao bì
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
Chỉ tiêu hóa học của sản phẩm phải đúng theo mức quy định trong bảng dưới đây:
3 Dư lượng kháng sinh tính bằng số mg
4 Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tính
bằng số mg trong 1 kg sản phẩm Không cho phép
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
Trang 14Chỉ tiêu vi sinh của sản phẩm phải đúng theo mức quy định trong bảng dưới đây:
6 Vibrio cholere tính bằng số khuẩn lạc
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
Ký sinh trùng phát hiện bằng mắt: Không cho phép
2.1.5.3 Bao gói, nhãn hiệu, vận chuyển và bảo quản
- Bao gói và ghi nhãn theo TCVN 2643-88; TCVN 5512-1991; TCVN 5652-1992
và quyết định số 23 TCĐ/QĐ ngày 20 tháng 2 năm 1995 của Tổng cục Tiêu chuẩn – Đolường – Chất lượng quy định về bao gói, ghi nhãn sản phẩm hàng hóa
- Vận chuyển và bảo quản theo TCVN 4378:1996
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Phần lớn dữ liệu mà nhóm sử dụng là dữ liệu thứ cấp Dữ liệu được sử dụng cónguồn từ những bài báo, tạp chí, bài nghiên cứu, luận án, luận văn của các nhà nghiêncứu có liên quan đến tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa được đăng tải trên Internet Chính
vì thế, để đảm bảo tính chính xác của số liệu, nhóm tôi sử dụng phương pháp tổng hợp,phân tích, so sánh, đối chiếu, sử dụng những website đáng tin cậy để lựa chọn và lọc ranhững dữ liệu có tính chính xác cao nhất
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Trang 15- Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương pháp
đo lường, mô tả và trình bày số liệu Lập bảng phân phối tần số, trình bày dữ liệu dạngbảng và biểu đồ
- Phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu cùng loại hay khác loại nhưng có mốiliên hệ với nhau để đánh giá sự tăng lên hau giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thờigian, hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một doanh nghiệp hay một nhàquản trị muốn đánh giá một vấn đề nào đó ở hai thị trường khác nhau
- Phân tích SWOT: Phân tích điểm mạnh/ thuận lợi (Strengths), điểm yếu/ khókhăn (Weakness), cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) của một vấn đề, một hiệntượng, một tác nhân, một tổ chức, một sản phẩm hay một ngành hàng để có những chiếnlược nhằm giúp cho sự phát triển và hạn chế rủi ro
Nội dung phân tích SWOT gồm:
S (Điểm mạnh): Điều kiện thuận lợi, nguồn lực thúc đẩy, góp phần phát triển tốthơn
W (Điểm yếu): Các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp, hạn chế…
O (Cơ hội): Những phương hướng cần được thực hiện nhằm tối ưu hóa sự pháttriển, các kết quả dự kiến sẽ đạt được, cơ hội hợp tác, chính sách hỗ trợ…
T (Nguy cơ/ Thách thức): Những yếu tố có khả năng tạo ra những kết quả xấu,những kết quả không mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển
Kết hợp các S, W, O, T hình thành các chiến lược SO, ST, WO, WT
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA VÀ
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG3.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 16ĐBSCL là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39 734 km2 Có
vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam làvịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông ĐBSCL có 12 tỉnh và 1 thành phố: AnGiang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, SócTrăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, TP Cần Thơ
3.1.1 Tiềm năng phát triển cá tra, cá basa ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tiềm năng tự nhiên: Nằm ở hạ lưu sông Mêkông với điều kiện thủy văn và chất
lượng nguồn nước thuận lợi cho việc nuôi trồng cá tra quanh năm Theo số liệu của cụcthủy sản Nam Bộ
Lưu lượng: Vào mùa mưa lũ, lưu lượng nước sông Cửu Long dao động từ 18.800
m3/ giây đến 48.700 m3/ giây (số liệu đó tại Phnôm Pênh – Campuchia), cao gấp 9 – 23lần so với lưu lượng vào mùa khô
Vận tốc dòng chảy: vào mùa lũ 0,5 – 0,6m/ giây, ở mùa khô 0,1 – 0,2m/ giây Nhiệt độ: nước biến thiên không nhiều, cao nhất là 31 °C vào tháng 5 và tháng 10;thấp nhất là 26°C vào tháng giêng Biên độ chênh lệch trong ngày khoảng 1,5°C, nhiệt độtrên tầng mặt cao hơn dưới đáy 2 - 3°C
Độ trong và pH trong mùa khô: độ trong của nước từ 40 – 60 cm và pH khoảng
7,5 Mùa mưa, độ trong chỉ 8 – 10 cm và pH nước sông khá ổn định là đặc điểm rất có lợicho đời sống của thủy sinh vật và cá
Độ cứng: dao động từ 2 – 5 độ (độ Đức), chủ yếu được hình thành trên cơ sở muối
cacbonat canxi và thuộc dạng nước ít muối khoáng
Các chất khí hòa tan: ở sông Tiền và sông Hậu nước tương đối thoáng sạch,
dưỡng khí đầy đủ (4,3 – 9,7 mg/ lít), hàm lượng khí cacbonic thấp (1,7 – 5,2 mg/ lít)nghĩa là nằm dưới giới hạn có hại đối với cá và sinh vật dưới nước Ngoài ra không cócác khí độc trong nước sông
Tiềm năng nuôi trồng:
Diện tích nuôi trồng: theo số liệu thống kê của tổng cục địa chính, tổng số diện
tích có khả năng nuôi cá tra ao hầm, cồn, đăng quầng là 32.595 ha Thêm vào đó với hệthống kênh ngòi chằng chịt cộng thêm có 3 con sông lớn Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây vàsông Mêkông đã đem lại tiềm năng mặt nước to lớn để phát triển nuôi trồng cá tra xuấtkhẩu
Nguồn thức ăn: Nuôi cá tra là hình thức nuôi công nghiệp, chủ động và có tính tập
trung Tại các khu vực nuôi cá tập trung hiện nay (chủ yếu ở An Giang và Đồng Tháp)nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho cá rất phong phú Khu vực tứ giác Long Xuyên, ĐồngTháp Mười đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác các loại nông sản và là nguồn cung
Trang 17cấp chủ yếu nguyên liệu nông sản để chế biến thức ăn cho cá nuôi (cám, tấm, đậu,bắp…)
Một thuận lợi nữa là vào cuối mùa gió Tây Nam hàng năm (sau đỉnh lũ) nước sông
từ thượng nguồn đổ xiết về hạ lưu và mang về nguồn lợi cá tự nhiên rất dồi dào cả về sốlượng lẫn chủng loại Nhiều nhất là cá linh (Labeobarb siamensis) và nhiều loài cá tựnhiên khác Ngoài nguồn cá tự nhiên nước ngọt, các loại cá tạp đánh bắt từ biển Rạch Giáđược chuyển đến khu vực nuôi với đoạn đường ngắn, giá cả phù hợp và thường xuyên
Ngoài ra, điều kiện giao thông thủy và bộ thuận tiện cũng giúp cho việc vậnchuyển nguyên vật liệu chế biến thức ăn cho cá được dễ dàng và kịp thời
Cá giống phục vụ cho nghề nuôi: Nhiều năm trước đây và cả đến khi nuôi cá bè
thịnh hành và phát triển, con giống cung cấp cho hộ nuôi chủ yếu được vớt từ thiênnhiên, trên sông Cửu Long Hằng năm vào mùa mưa, các bột các loài được vớt trên sông
và ương nuôi trong ao, hầm thành cá giống và cung cấp cho các hộ nuôi Cá tra cũngđược vớt trên song như các loài cá khác
Hằng năm có khoảng 200 – 500 triệu bột cá tra được vớt và ương nuôi; sau đó cágiống được chuyển đi bán cho người nuôi khắp các tỉnh Nam bộ và cho hộ nuôi tại chỗ.Hiện nay đã chủ động cho sinh sản nhân tạo 2 loài cá trên Trong năm 1999 các địaphương đã cho đẻ nhân tạo được 500 triệu bột cá tra, do đó giảm hẳn nghề vớt cá trênsông và trong tương lai một vài năm tới có thể hoàn toàn bãi bỏ việc vớt cá tự nhiên
Tiền năng công nghệ: Do đổi mới công nghệ, kỹ thuật, và có sự hướng dẫn kỹ
thuật nuôi nên đại đa số người nuôi được tăng năng suất cũng như chất lượng thịt của đàn
cá trong thời gian qua
Tiềm năng cơ sở chế biến: Tính đến năm 2008 đã có hơn 100 doanh nghiệp chế
biến cá tra xuất khẩu với công suất 5.000 tấn nguyên liệu/ ngày, Hơn 52% doanh nghiệpchế biến là mới xây dựng, các cơ sở còn lại đều được nâng cấp nhà xưởng, lắp đặt thiết bịcấp đông, kho sạch và hầu hết các doanh nghiệp chế biến phần lớn đạt tiêu chuẩn an toàn
vệ sinh thực phẩm
Tiềm năng về con người: Nguồn lao động trong vùng dồi dào, người dân đã nuôi
cá lâu đời nên có nhiều kinh nghiệm trong nuôi cá cũng như sản xuất giống nhất là ươm
cá tra giống
Tiềm năng về thị trường: Thị trường tiêu thụ cá tra ĐBSCL ngày càng nhiều Hiện
nay Việt Nam xuất khẩu sang hơn 60 nước trên thế giới Bên cạnh đó nhu cầu tiêu thụthủy sản thế giới ngày càng cao Do đó cá tra, cá basa ĐBSCL còn có nhiều tiềm năng để
mở rộng thâm nhập thị trường cá thịt trắng trên thế giới
Như vậy ĐBSCL là nơi có những điều kiện thuận lợi thích hợp nhất cho nuôitrồng cá tra, cá basa, là nơi thích hợp nhất để tập trung nguồn lực để phát triển cá tra
Trang 18thành ngành hàng trọng điểm của quốc gia Miền Trung và miền Bắc cũng có thể nuôi cátra nhưng thật sự không mang lại hiệu quả kinh tế như ở ĐBSCL Ví dụ miền Trung lưulượng nước chênh lệch quá lớn giữa mùa mưa và mùa nắng, lòng đáy của sông cạn,thường xuyên bị lũ nên để cá tra phát triển tốt và hiệu quả là rất khó khăn Miền Bắc thìnhiệt độ chêch lệch giữa mùa đông và mùa hạ rất lớn nên không thể nuôi cá tra quanhnăm dẫn đến năng suất đạt konog cao Từ đó có thể thấy điều kiện tự nhiên rất ưu đãi chovùng ĐBSCL phát triển con cá tra này.
3.1.2 Thực trạng năng lực chế biến của các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu
Các doanh nghiệp đã đầu tư xây mới, nâng cấp mở rộng, đổi mới trang thiết bịtheo hướng tăng cường chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm chế biến Hiện nay theohiệp hội Vasep là có 168 doanh nghiệp tham gia vào chế biến cá tra xuất khẩu Nét mớinăm 2008 là có thêm nhiều doanh nghiệp chế biến đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu,trực tiếp đầu tư cá và có thêm nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu Toàn vùngĐBSCL hiện nay có hơn 100 nhà máy chế biến cá tra với công suất chế biến khoảng 1.5triệu tấn/ năm
3.2 TÌNH TRẠNG XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA CỦA VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI
3.2.1 Thực trạng sản xuất cá tra, cá basa của Việt Nam
Theo báo cáo tháng 12/2014 của Bộ NN&PTNT, sản lượng nuôi trồng thủy sảnvào thời điểm này đạt 348 ngàn tấn, tăng 14,5% so với cùng kì năm trước, đưa tổng sảnlượng nuôi trồng thủy sản cả năm 2014 đạt 3.393 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2013
Diện tích nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL cả năm 2014 ước đạt hơn 5.500 ha vớisản lượng giảm nhẹ so với cùng kì năm trước, Đồng Tháp (-2%), An Giang (-8%) Chỉriêng Hậu Giang diện tích giảm 12% so với cùng kỳ nhưng sản lượng lại tăng đáng kể,đạt 70.905 tấn, tăng 102% so với cùng kỳ năm ngoái Nguyên nhân là do năm ngoái cátra, cá basa không được giá nên các hộ dân không thu hoạch, năm nay giá cả cá tra tăngnên các hộ thu hoạch nhiều
Bảng 3.1 Diện tích và sản lượng sản xuất cá tra, cá basa của một số tỉnh tháng 12
Sản lượng
cá tra, cábasa (tấn)
DT nuôi
cá tra, cábasa (ha)
Sản lượng
cá tra, cábasa (tấn)
DT nuôi
cá tra, cábasa (ha)
Sản lượng
cá tra, cábasa (tấn)
Trang 19Nguồn: http://vietstock.vn/
3.2.2 Xu hướng giá cá tra, cá basa tại ĐBSCL
Tại các tỉnh ĐBSCL, giá cá tra trong tuần đầu tiên của tháng 12/2014 giữ ở mức
ổn định hơn so với tháng 11/2014 ở mức 23.800 – 24.000 đồng/ kg (tùy điều kiện giaohàng) Từ giữa tháng 12/2014, giá cá tra có xu hướng tăng nhẹ lên mức 24.200 – 24.600đồng/ kg Và trong tuần cuối cùng của tháng 12 thì mức giá đang dao động ở mức 24.000– 24.400 đồng/ kg Như vậy, trung bình tháng 12, giá cá tra nguyên liệu tại các tỉnhĐBSCL tăng nhẹ từ 150 đồng/kg so với trung bình tháng 11/2014, lên mức 24.250 đồng/kg
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Vĩnh Long, giá thành sản xuất cá tra dao động từ22.000 - 23.000 đồng/kg Trừ chi phí, người nuôi có lãi từ 1.000-2.000 đồng/kg (Cậpnhật 2015)
Nguồn: http://cafef.vn
Trang 20Bảng 3.2 Xu hướng giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL (đồng/kg)
Nguồn: CSDL AgroMonitor
3.2.3 Thương mại
Bảng 3.3 Thị trường nhập khẩu cá tra của Việt Nam năm 2012
Trang 21Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu cá tra sang 142 thị trường với tổng giá trị đạt 1,74
tỷ USD Trong đó, 3 thị trường chính là EU, Mỹ và Asean đã chiếm hơn 50% kim ngạchxuất khẩu
EU là thị trường truyền thống xuất khẩu cá tra của Việt Nam Trong năm 2012, dokhó khăn về kinh tế, nhập khẩu cá tra của EU đã giảm mạnh 19,1% Nhập khẩu thủy sảncủa EU chủ yếu từ các nước như Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Ba Lan… Giá xuất khẩu cátra sang EU thấp hơn Mỹ (bình quân từ 2,1 -2,7 USD/kg so với mức trên 3 USD/kg củathị trường Mỹ) Hiện tại, người tiêu dùng EU đang có xu hướng chuyển sang tiêu thụ cácsản phẩm có chứng nhận ASC (với giá cao hơn khoảng 10-15% so với sản phẩm thôngthường) Do đó, đây sẽ là yếu tố sàng lọc mạnh các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU, cơhội sẽ chủ yếu tập trung vào những doanh nghiệp lớn đầu tư bài bản các vùng nuôi theochuẩn ASC (như Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Nam Việt, Việt An…)
Thị trường Mỹ là thị trường lớn thứ hai của “cá tra” Việt Nam sau EU với kimngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 359 triệu USD Đây là thị trường có ưu thế thanh toán tốt,giá bán cao (bình quân từ 3,1 – 3,8 USD/kg) Tuy nhiên, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang
Mỹ luôn phải đối mặt với rủi ro từ vụ kiện chống bán phá giá Ngày 14/03/2013, Mỹ đã
ra phán quyết chính thức về mức thuế chống bán phá cá tra Việt Nam cho kỳ POR 8(01/08/2010 – 31/07/2011) với nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam Cụ thể,mức thuế sau khi đã được DOC điều chỉnh tăng ngày 17/05/2013 sau quyết định ban đầungày 14/03/2013 như sau: Vĩnh Hoàn (VHC): 0,19 USD/kg, Việt An (AVF): 2,39USD/kg, các doanh nghiệp khác có sản phẩm tương tự (Hùng Vương - HVG, Navico -ANV, Nha Trang Seafood, Bình An…): 1,29 USD/kg, An Phú: 1,37 USD/kg, Gò Đàng(AGD): 1,81 USD/kg, Docifish (công ty con của FDG): 3,87 USD/kg
Theo số liệu chi tiết của TCHQ, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tháng 11/2014 đạt65,29 nghìn tấn, trị giá 146,39 triệu USD; giảm so với mức 85 nghìn tấn và 182,49 triệuUSD trong tháng 10/2014
Bảng 3.4 Top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất trong tháng 11/2014 theo lượng và
Trang 22Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan
Bảng 3.5 Top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất trong tháng 11/2014 theo kim ngạch
Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan
3.2.4 Sản lượng thu hoạch cá tra năm 2014
Sản lượng thu hoạch cá tra năm 2014: giảm 7,34% so với năm 2013 (cập nhậtngày 26/03/2015)
Theo Tổng cục thủy sản và chi cục thủy sản các tỉnh ĐBSCL, năm 2014, lũy kếdiện tích thu hoạch là 3.779 ha, sản lượng đạt 1.047.035 tấn (giảm 7,34% so với cùng kỳnăm 2013)
Theo Tổng cục thủy sản và chi cục thủy sản các tỉnh ĐBSCL, năm 2014, lũy kếdiện tích nuôi thả mới cá tra là 3.516 ha và diện tích thu hoạch là 3.779 ha, sản lượngđạt 1.047.035 tấn (giảm 7,34% so với cùng kỳ năm 2013), với năng suất đạt trung bìnhkhoảng 277 tấn/ha (so với năm 2013 là 279 tấn/ha) Các tỉnh có diện tích nuôi và sảnlượng cao như: Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ (chiếm khoảng 85% tổng diệntích và sản lượng của ĐBSCL)
Diện tích nuôi và diện tích thu hoạch: diện tích nuôi tăng lên theo lũy kế là dấuhiệu tốt, diện tích nuôi mới và thu hoạch cao vào tháng 5, vào tháng 6, 7 và tháng 8 tăngđều nhưng đến tháng 9, 10, 11 và 12 thì diện tích nuôi và diện tích thu hoạch tăng chậm,
xu hướng cũng tương tự trong năm 2013 Trung bình diện tích nuôi mới trong tháng 9,
Trang 2310, 11 có cao hơn khoảng từ 29 – 45,7% so với cùng kỳ năm 2013, riêng tháng 7 và 8 cógiảm hơn khoảng 14 - 41% Về diện tích thu hoạch, trung bình các tháng đều giảm từ 14-38% so với cùng kỳ năm 2013; riêng trung bình tháng 9 và 11 có cao hơn từ 4-5% so vớinăm 2013.
Số lượng giống thả nuôi các tỉnh năm 2014 là 1.779 triệu con và có xu hướngtăng lên từ đầu năm (22 triệu con/tuần) đến tháng 5 (53 triệu con/tuần), có xu hướng giảmdần từ tháng 6 (50 triệu con/tuần) đến tháng 12 (23 triệu con/tuần) Các tỉnh có số lượnggiống thả cao như Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và trung bình thả các tháng có xuhướng cao hơn so với cùng kỳ năm 2013; riêng trung bình tháng 8 giảm khoảng 43% sovới cùng kỳ 2013
Nhìn chung, diện tích nuôi cá tra thương phẩm tập trung ở các doanh nghiệp(chiếm khoảng 70%), nhưng trong năm 2014, tình hình thả nuôi mới chủ yếu ở các doanhnghiệp có hoạt động chế biến - xuất khẩu tốt, để chủ động được nguồn nguyên liệu trongchế biến xuất khẩu nên hầu hết các cơ sở nuôi khi thu hoạch xong, tiếp tục cải tạo ao vàthả giống mới; đối với các doanh nghiệp hoạt động chế biến – xuất khẩu không tốt thìgiảm diện tích thả nuôi mới, nuôi cầm chừng (gia công) Đối với các hộ nuôi nhỏ lẻ, đaphần đều treo ao, một số chuyển sang nuôi gia công cho nhà máy chế biến
Nguồn: Tổng hợp của HHCTVN
3.3 PHÂN TÍCH NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA SANG CÁC THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
3.3.1 Những thuận lợi của việc xuất khẩu cá tra, cá basa
3.3.1.1 Môi trường vi mô
- Điều kiện thiên nhiên sông ngòi dày đặc thích hợp cho việc nuôi trồng thủy hảisản nên ngành thủy sản đặc biệt phát triển Vì thế, nguồn cung ứng nguyên liệu cho việcxuất khẩu cá tra, cá basa dồi giàu
- Cá basa là mặt hàng thực phẩm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, rất dễ dàng tănglượng tiêu thụ
- Chi phí sản xuất ra cá basa rẻ nên giá thành sản phẩm trên thị trường nhập khẩu
có sức cạnh tranh khá lớn đối với các sản phẩm từ nước khác và nước sở tại
- Trong những năm tới, có thể chúng ta sẽ bắt đầu chứng kiến xu hướng mua bán –sáp nhập diễn ra nhiều hơn trong ngành Với số lượng khá nhiều, phần lớn các doanhnghiệp trong ngành thủy sản có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động sản xuất dàn trải… Trongkhi áp lực cạnh tranh ngày càng cao, việc sáp nhập, liên kết sẽ giảm thiểu những tác độngcủa việc cạnh tranh không lành mạnh về thị trường, nguyên liệu, giá cả Viếc sáp nhậpcũng sẽ giúp nang cao khả năng tiết kiệm theo quy mô, cải thiện hiệu quả hoạt động