Khi nói đến sản xuất kinh doanh thì cho dù dưới hình thức kinh tế xã hội nào vấn đề được nêu ra trước tiên cũng là hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu phấn đấu của một nền sản xuất
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Khi nói đến sản xuất kinh doanh thì cho dù dưới hình thức kinh tế xã hộinào vấn đề được nêu ra trước tiên cũng là hiệu quả Hiệu quả kinh doanh làmục tiêu phấn đấu của một nền sản xuất, là thước đo về mọi mặt của nền kinh
tế quốc dân cũng như từng đơn vị sản xuất
Lợi nhuận kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là mục tiêu lớn nhấtcủa mọi doanh nghiệp Để đạt được điều đó mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt,gía thành hợp lí, doanh nghiệp vẫn vững vàng trong cạnh tranh thì các doanhnghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, trong đóquản lí và sử dụng vốn là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định kết quả vàhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong cơ chế bao cấp trước đây vốn sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp Nhà nước hầu hết được Nhà nước tài trợ thông qua cấp phát vốn, đồngthời Nhà nước quản lí về giá cả sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch lãi Nhà nướcthu - lỗ Nhà nước bù, do vậy các doanh nghiệp Nhà nước hầu như không quantâm đến hiệu quả sử dụng của đồng vốn Nhiều doanh nghiệp đã không bảotoàn và phát triển được vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp, tình trạng lãi giả lỗthật ăn mòn vào vốn xảy ra phổ biến trong các doanh nghiệp Nhà nước Bướcsang nền kinh tế thị trường có sự quản lí và điều tiết vĩ mô của Nhà nước,nhiều thành phần kinh tế song song tồn tại, cạnh tranh lẫn nhau gay gắt Bêncạnh những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, đứng vững trong cơ chế mới lànhững doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả dẫn đến phá sản hàng loạt
Trước tình hình đó, Nghị quyết đại hội lần thứ VI BCH Trung ươngĐảng cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh " Các xí nghiệp quốc doanh khôngcòn được bao cấp về giá và vốn, phải chủ động kinh doanh, phải bảo đảm tự
bù đắp chi phí, nộp đủ thuế và có lãi " Các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh phải gắn với thị trương, bám sát thị trường, tự chủ về vốn và tự chủtrong sản xuất kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, nhất là trong kinh doanhđường sông không phải là vấn đề mới mẻ Nó được hình thành ngay sau khitài chính ra đời, nó là lĩnh vực rất rộng và muốn nghiên cứu một cách toàndiện thì phải có sự đầu tư rất công phu Trong thời gian thực tập tại Tổng
Trang 2Công ty Đường sông Miền Bắc, em chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao vai trò quản lí và hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc"
làm nội dung nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Hướng nghiên cứu là kết hợp giữa lí luận và thực tiễn Từ việc khảo sáttình hình thực tế của Tổng Công ty qua các năm, kết hợp với lí luận kinh tế
mà cụ thể là lí luận về quản lí, về vốn, về cạnh tranh để tiến hành phân tíchtình hình thực tế của Tổng Công ty, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc
Nội dung chuyên đề tốt nghiệp bao gồm:
- Mở đầu.
- Chương I: Vai trò và nội dung của quản lí và nâng cao hiệuquả sử
dụng vốn ở doanh nghiệp sản xuất
- Chương II: Thực trạng quản lí và sử dụng vốn ở Tổng Công ty Đường
sông Miền Bắc
- Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lí và hiệu quả sử
dụng vốn ở Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo NguyễnThu Thảo và các cô chú cán bộ Tổng công ty Đường sông Miền Bắc đã giúp
em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Chương I VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Trang 3I VỐN VÀ QUẢN LÍ VỐN TRONG KINH DOANH
1 Khái niệm về vốn sản xuất kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào lúc đầu cũng phải có một lượng tiền vốnnhất định để thực hiện những khoản đầu tư ban đầu cần thiết cho việc xâydựng và khởi động doanh nghiệp Vốn là yếu tố vật chất cần thiết nhất và cầnđược sử dụng có hiệu quả Doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ vật tư, để đầu
tư mua sắm máy móc thiết bị, để chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh vàđược thể hiện ở nhiều hình thái vật chất khác nhau Do có sự tác động của laođộng vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động thì hàng hoá và dịch
vụ được tạo ra nhằm tiêu thụ trên thị trường Sau cùng các hình thái vật chấtkhác nhau sẽ lại được chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban đầu Quá trình traođổi đó đảm bảo cho sự ra đời, vận hành và phát triển của doanh nghiệp có thểdiễn tả như sau:
Tài sản thực tếTiền Tài sản thực tế - Tài sản có tài chính Tiền
Như vậy việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanhnghiệp là hết sức quan trọng, vừa đem lại hiệu quả kinh tế vừa đem lại hiệuquả xã hội
Trang 42 Vốn cố định và vốn lưu động:
Có nhiều giác độ khác nhau để xem xét vốn sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Đôi khi nó được khắc hoạ trong luật kinh tế như là vốn phápđịnh và vốn điều lệ Một số khác theo nhu cầu nghiên cứu đứng trên giác độhình thành vốn lại thể hiện vốn gồm có vốn đầu tư ban đầu, vốn bổ sung, vốnliên doanh và vốn đi vay Sở dĩ tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau là xuấtphát từ sự khác nhau về triển vọng hay quan điểm sử dụng Với bài luận vănnày, chúng ta sử dụng quan điểm làm quyết định về vốn qua con mắt quản trịvốn ở công ty sản xuất Với quan điểm đó, vốn được xem xét trên giác độ chuchuyển Quan tâm đến vấn đề này chúng ta cần chú ý đến vốn cố định và vốnlưu động
2.1- Vốn cố định:
a) Khái niệm và đặc điểm vốn cố định:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, đó chính là số vốndoanh nghiệp đầu tư mua sắm, trang bị cơ sở vật chất Để là tài sản cố địnhphải đạt được cả hai tiêu chuẩn Một là, phải đạt được về mặt giá trị đến mộtmức độ nhất định (ví dụ hiện nay giá trị của nó phải lớn hơn hoặc bằng5.000.000đồng) Hai là, thời gian sử dụng phải từ trên 1 năm trở lên Vớinhững tiêu chuẩn như vậy thì hoàn toàn bình thường với đặc điểm hình tháivật chất của tài sản cố định giữ nguyên trong thời gian dài Tài sản cố địnhthường được sử dụng nhiều lần, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và chỉtăng lên khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm Qua quá trình sử dụng,tài sản cố định hao mòn dần dưới hai dạng là hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình Hao mòn vô hình chủ yếu do tiến bộ khoa học công nghệ mới vànăng suất lao động xã hội tăng lên quyết định Hao mòn hữu hình phụ thuộcvào mức độ sử dụng khẩn trương tài sản cố định và các điều kiện ảnh hưởngtới độ bền lâu của tài sản cố định như chế độ quản lý sử dụng, bảo dưỡng,điều kiện môi trường Những chỉ dẫn trên đưa ra tới một góc nhìn về đặctính chuyển đổi thành tiền chậm chạp của tài sản cố định Tuy thế, các tài sản
cố định có giá trị cao có thể có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn
b) Cơ cấu vốn cố định:
Cơ cấu vốn cố định là tỉ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định chiếmtrong tổng số vốn cố định nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có một ý nghĩa
Trang 5quan trọng là cho phép đánh giá việc đầu tư có đúng đắn hay không và chophép xác định hướng đầu tư vốn cố định trong thời gian tới Để đạt được ýnghĩa đúng đắn đó, khi nghiên cứu cơ cấu vốn cố định phải nghiên cứu trênhai giác độ: nội dung cấu thành và mối quan hệ tỉ lệ trong mỗi bộ phận so vớitoàn bộ Vấn đề cơ bản trong việc nghiên cứu này phải là xây dựng được một
cơ cấu hợp lý phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, đặc điểmkinh tế kỹ thuật của sản xuất, trình độ quản lý, để các nguồn vốn được sửdụng hợp lý và có hiệu quả nhất Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ trọng trong cơ cấuvốn là chỉ tiêu động Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải không ngừngnghiên cứu tìm tòi để có được cơ cấu tối ưu
Theo chế độ hiện hành VCĐ của doanh nghiệp được biểu hiện thànhhình thái giá trị của các loại tài sản cố định sau đây đang dùng trong quá trìnhsản xuất:
1) Nhà cửa được xây dựng cho các phân xưởng sản xuất và quản lý2) Vật kiến trúc để phục vụ sản xuất và quản lý
3) Thiết bị động lực
4) Hệ thống truyền dẫn
5) Máy móc, thiết bị sản xuất
6) Dụng cụ làm việc, đo lường, thí nghiệm
7) Thiết bị và phương tiện vận tải
8) Dụng cụ quản lý
9) Tài sản cố định khác dùng vào sản xuất công nghiệp
Trên cơ sở các hình thái giá trị của tài sản cố định như trên chỉ ra rõ ràng
cơ cấu vốn cố định chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Quan tâm nhất là đặcđiểm về kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, sự tiến bộ kỹ thuật, mức độ hoànthiện của tổ chức sản xuất, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bổ sản xuất Vìvậy khi nghiên cứu để xây dựng và cải tiến cơ cấu VCĐ hợp lý cần chú ý xemxét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này Trong kết quả của sự phân tích,đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa các bộ phận VCĐ được biểu hiện bằngmáy móc thiết bị và bộ phận VCĐ được biểu hiện bằng nhà xưởng vật kiếntrúc phục vụ sản xuất
c) Nguồn vốn cố định
Trang 6Mỗi khoản vốn cố định hay tài sản cố định trong doanh nghiệp không tựnhiên mà có, nó nhất thiết phải được hình thành từ một nguồn đầu tư nhấtđịnh Nguồn vốn cố định chính là nguồn gốc tạo dựng, đầu tư để hình thànhnên các tài sản cố định của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, VCĐ dùng đểhoạt động sản xuất, kinh doanh được hình thành từ các nguồn sau:
Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách, do cấp trên cấpphát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác xã và các cổ đôngđóng góp bằng tài sản cố định, hoặc vốn pháp định do chủ xí nghiệp bỏ ra banđầu khi thành lập xí nghiệp tư nhân
Nguồn vốn tự bổ xung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đãđược đầu tư hoặc mua sắm bằng quỹ công ty
Nguồn vốn liên doanh: gồm các khoản vốn do các đơn vị tham gia liênkết gặp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã hoànthành
2.2 - Vốn lưu động:
a) Khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động:
Vốn lưu động và biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưuthông Đó là số vốn doanh nghiệp đầu tư để dự trữ vật tư, để chi phí cho quátrình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chi phí cho hoạt động quản lý của doanhnghiệp Hoàn toàn khách quan không như vốn cố định, VLĐ tham gia hoàntoàn vào quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển qua nhiều hình thái giá trịkhác nhau như tiền tệ, đối tượng lao động, sản phẩm dở dang, bán thànhphẩm, thành phẩm và trở lại hình thái tiền tệ ban đầu sau khi tiêu thụ sảnphẩm Như vậy vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định, quá trìnhvận động của VLĐ thể hiện dưới hai hình thái:
- Hình thái hiện vật: đó là toàn bộ nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,bán thành phẩm, thành phẩm
- Hình thái giá trị: là toàn bộ giá trị bằng tiền của nguyên vật liệu, bánthành phẩm, thành phẩm, giá trị tăng thêm do việc sử dụng lao động sốngtrong quá trình sản xuất và những chi phí bằng tiền trong lĩnh vực lưu thông
Sự lưu thông về mặt hiện vật và giá trị của VLĐ ở các doanh nghiệp sảnxuất có thể biểu diễn bằng công thức chung:
Trang 7T - H - SX - H' - T'Trong quá trình vận động, đầu tiên VLĐ biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
và khi kết thúc cũng lại bằng hình thức tiền tệ Một vòng khép kín đó gợi mởcho chúng ta thấy hàng hoá được mua vào để doanh nghiệp sản xuất sau đóđem bán ra, việc bán được hàng tức là được khách hàng chấp nhận và doanhnghiệp nhận được tiền doanh thu bán hàng và dịch vụ cuối cùng Từ các kếtquả đó giúp ta sáng taọ ra một cách thức quản lý vốn lưu động tối ưu và đánhgiá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
b) Cơ cấu vốn lưu động:
Xác định cơ cấu VLĐ hợp lý có ý nghĩa tích cực trong công tác sử dụnghiệu quả vốn lưu động Nó đáp ứng yêu cầu vốn cho từng khâu, từng bộ phận,đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm hợp lý VLĐ Trên cơ sở đó đáp ứng đượcphần nào yêu cầu của sản xuất kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn cho sảnxuất
Cơ cấu VLĐ là quan hệ tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm đó so với toàn
bộ giá trị VLĐ Tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm trong toàn bộ VLĐ hợp lýthì chỉ hợp lý tại mỗi thời điểm naò đó và tính hợp lý chỉ mang tính nhất thời
Vì vậy trong quản lý phải thường xuyên nghiên cứu xây dựng một cơ cấu hợp
lý đảm bảo độ "khoẻ mạnh" đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh từng thời
kỳ Để thuận lợi cho việc quản lý và xây dựng cơ cấu vốn như thế, người tathường có sự phân loại theo các quan điểm tiếp cận khác nhau:
- Tiếp cận theo quá trình tuần hoàn và luân chuyển, VLĐ chia thành 3 loại: + Vốn trong dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụtùng thay thế, dự trữ chuẩn bị đưa vào sản xuất
+ Vốn trong sản xuất: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sảnxuất như: sản phẩm dở dang, chi phí phân bổ, bán thành phẩm, tự chế tựdùng
+ Vốn trong lưu thông: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưuthông như tiền mặt, thành phẩm
- Tiếp cận về mặt kế hoạch hoá, VLĐ được chia thành VLĐ không địnhmức và VLĐ định mức
Trang 8+ VLĐ định mức là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp trong kỳ, nó bao gồm vốn dự trữ vật tư hàng hoá và vốn phihàng hoá.
+ VLĐ không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quátrình kinh doanh và trong sản xuất, dịch vụ phụ thuộc nhưng không đủ căn cứ
để tính toán được
c) Nguồn vốn lưu động:
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp gồm có vốn tự có, vốn coi như tự
có và vốn đi vay Từ các nguồn vốn khác nhau này doanh nghiệp có phươngcách huy động trên nhiều nguồn, hỗ trợ lẫn nhau đảm bảo cho yêu cầu củadoanh nghiệp
- Vốn tự có bao gồm:
+ Nguồn vốn pháp định: chính là vốn lưu động do ngân sách hoặc cấptrên cấp cho đơn vị thuộc khối nhà nước; nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ do xãviên hợp tác xã và các cổ đông đóng góp hoặc vốn pháp định của chủ doanhnghiệp tư nhân
+ Nguồn vốn tự bổ sung: Nguồn này hình thành từ kết quả sản xuất kinhdoanh của đơn vị thông qua quỹ khuyến khích phát triển sản xuất và cáckhoản chênh lệch hàng hoá tồn kho theo cơ chế bảo toàn giá trị vốn
+ Nguồn vốn lưu động liên doanh: gồm có các khoản vốn của các đơn vịtham gia liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên vậtliệu, công cụ lao động nhỏ v.v
- Vốn coi như tự có: được hình thành do phương pháp kết toán hiệnhành, có một số khoản tiền tuy không phải của doanh nghiệp nhưng có thể sửdụng trong thời gian rỗi để bổ sung vốn lưu động Thuộc khoản này có: tiềnthuế, tiền lương, bảo hiểm xã hội, phí trích trước chưa đến hạn phải chi trả cóthể sử dụng và các khoản nợ khác
- Vốn đi vay: nhằm đảm bảo nhu cầu thanh toán bức thiết trong khi hàngchưa bán đã mua hoặc sự không khớp trong thanh toán Nguồn vốn đi vay lànguồn vốn cần thiết, song cần chú ý tới các hình thức vay khác nhau với tỉ lệlãi suất khác nhau và phải trả kịp thời cả vốn và lãi vay
Trang 9Bằng cách nghiên cứu các nguồn của cả vốn lưu động và vốn cố địnhnhư trên, người kinh doanh có thể đạt được sự tổng hợp về các nguồn vốntheo các chỉ dẫn của kế toán tài chính Nguồn vốn ở các doanh nghiệp giờ đâytrở thành nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện
ở khoản "có"; nợ phải trả chính là khoản vay, nợ của doanh nghiệp đối vớicác tổ chức, cá nhân để đầu tư, hình thành tài sản của doanh nghiệp, được
sử dụng trong một thời gian nhất định và sau đó phải hoàn trả cả vốn lẫn lãinhư đã cam kết Ý nghĩa của việc nghiên cứu này cho ta tạo quan hệ giữa vốn
và nguồn vốn về phương diện giá trị đầu tư như sau:
Giá trị TSCĐ + Giá trị TSLĐ = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
II NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
1 Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định và vốn lưu động:
1.1 - Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định:
Quản lý vốn cố định (VCĐ) nghĩa là phải đi đến các quyết định Giốngnhư việc quản lý hoạt động kinh doanh của công ty, việc quản lý VCĐ ảnhhưởng quan trọng đến sự tồn tại và hiệu quả sử dụng vốn Quản lý VCĐ thànhcông đòi hỏi các nhà quản lý phải gắn liền sự vận động của VCĐ với các hìnhthái biểu hiện vật chất của nó Hơn thế nữa, để quản lý có hiệu quả VCĐtrước hết cần nghiên cứu những tính chất và đặc điểm của tài sản cố địnhtrong doanh nghiệp Trong khoa học quản lý VCĐ thường đi vào những nộidung cụ thể sau:
a) Hao mòn và khấu hao tài sản cố định
* Hao mòn tài sản cố định
Như đã đề cập sơ lược ở trên, trong quá trình sử dụng cũng như không sửdụng tài sản cố định đều bị hao mòn dưới hai hình thức: hao mòn hữu hình vàhao mòn vô hình Giống như hai khía cạnh của một vấn đề, cả hao mòn hữu hình
và hao mòn vô hình đều làm cho giá trị tài sản cố định giảm xuống và chịu ảnhhưởng bởi những nhân tố nào đều thể hiện dưới những dạng khác nhau
Hao mòn hữu hình là sự hao mòn về vật chất, tức là sự tổn thất dần vềchất lượng, tính năng kỹ thuật của TSCĐ Thực chất kinh tế của hao mòn hữuhình là giá trị của tài sản cố định dần dần giảm đi cùng với việc chuyển dầngiá trị của nó vào giá trị sản phẩm được sản xuất ra Khi tài sản cố định khôngđược sử dụng, hao mòn hữu hình được thể hiện ở chỗ tài sản cố định bị mất
Trang 10dần thuộc tính do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, do quá trình xảy ra trongnội tại nguyên liệu cấu thành tài sản cố định đó Như vậy hao mòn hữu hình
có ảnh hưởng quyết định tới độ bền của tài sản cố định và do đó nó chịu ảnhhưởng của ba nhóm nhân tố
Nhóm một thuộc chất lượng chế tạo như: vật liệu dùng để chế tạo ra tài sản
cố định, trình độ kỹ thuật, công nghệ chế tạo, chất lượng xây dựng và lắp đặt.Nhóm hai thuộc quá trình sử dụng: được xem xét về mức độ đảm nhận
về thời gian và cường độ sử dụng, tay nghề công nhân, việc chấp hành quytắc, quy trình kỹ thuật, chế độ bảo dưỡng, sửa chữa
Nhóm ba thuộc các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, khí hậu, thời tiết
Hao mòn vô hình là sự hao mòn chủ yếu do năng suất lao động xã hộităng lên và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất Hệ quả của hainguyên do này dẫn đến việc người ta sản xuất ra tài sản cố định cùng loạinhưng lại có chất lượng cao hơn mà giá lại rẻ hơn Và như thế tài sản cố địnhcủa ta nghiễm nhiên bị sụt giá
Xuất phát từ việc nghiên cứu hao mòn tài sản cố định cung cấp chochúng ta những luận cứ cần thiết minh chứng cho việc "bảo vệ" tài sản cốđịnh nhằm giảm tối đa tổn thất hữu hình và hao mòn vô hình Những biệnpháp thường được sử dụng như nâng cao cường độ và thời gian sử dụng, nângcao chất lượng, hạ giá thành chế tạo và xây lắp tài sản cố định, tổ chức tốtviệc bảo quản và sửa chữa máy móc thiết bị, nâng cao ý thức trách nhiệm củacông nhân Một ý nghĩa khác là nó cũng cung cấp cho ta cơ sở tốt để lập nên
kế hoạch khấu hao tài sản cố định, kế hoạch bảo toàn và phát triển vốn cốđịnh
* Khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chấtcủa tài sản cố định không thay đổi nhưng giá trị của nó hao mòn dần vàchuyển từng phần vào giá thành sản phẩm mới được sản xuất ra Phần giá trịnày được thu hồi dưới hình thức khấu hao và được hạch toán vào giá thànhsản phẩm Như vậy khấu hao tài sản cố định là một khoản cấu thành phí lưuthông và được bù đắp bằng doanh thu bán hàng Về thực chất, khấu hao làquá trình giảm giá trị của tài sản cố định Việc suy giảm giá trị của tài sản cốđịnh cuối cùng sẽ dẫn đến khấu hao hết tài sản cố định, khi đó phải đầu tư để
có được tài sản cố định khác Vậy quá trình này diễn ra trong bao lâu? Sở dĩ
Trang 11đòi hỏi yêu cầu chính xác tương đối về thời gian như vậy bởi hai nguyênnhân: thứ nhất nếu xác định không đúng thời gian sử dụng dẫn đến còn đang
sử dụng đã khấu hao hết, thứ hai chưa khấu hao hết đã hỏng Cả hai nguyênnhân này đều có ảnh hưởng không tốt tới sự vận động của vốn cố định và giáthành sản phẩm làm ra Để xác định đúng đắn thời hạn sử dụng tài sản cố địnhchúng ta phải dựa vào cơ sở đã chỉ ra là phải xác định đúng được hao mòncủa tài sản cố định hay khấu hao tài sản cố định
Khấu hao tài sản cố định được phân bổ trên hai hình thức là khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn Khấu hao cơ bản nhằm tái bồi hoàn lại giá trị tài sản cố định đã hao mòn Khấu hao sửa chữa lớn nhằm bảo vệ duy trì và kéo dài năng lực sử dụng bình thường của TSCĐ Như vậy hai hình thức khấu hao này có phương thức bù đắp và mục đích khác nhau, do đó tiền trích khấuhao tài sản cố định được chia thành hai bộ phận theo phương pháp xác định tỷ lệ:
Tỉ lệ khấu
hao sửa chữa
lớn
= Phí tổn sửa chữa lớn (ước tính)
Nguyên giá TSCĐ x Thời hạn sử dụng
TSCĐ
Bộ phận thứ nhất của tiền trích khấu hao là tiền trích khấu hao cơ bản,dùng để bù đắp TSCĐ sau khi bị đào thải đã mất giá trị sử dụng Theo quyđịnh của Nhà nước về chế độ khấu hao cơ bản trong các doanh nghiệp nhànước, từ ngày 1/1/1995 các doanh nghiệp nhà nước được phép giữ lại toàn bộkhấu hao cơ bản đã trích để đầu tư thay thế, đổi mới tài sản cố định Còn cácdoanh nghiệp khác phải lập quỹ khấu hao để duy trì hoạt động của doanhnghiệp, thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng
Bộ phận thứ hai là tiền khấu hao sửa chữa lớn nhằm sửa chữa tài sản cốđịnh một cách có hệ thống và kế hoạch để duy trì khả năng sản xuất của tàisản cố định trong suốt thời kỳ sử dụng Doanh nghiệp trích tiền khấu hao sửachữa lớn gửi vào một tài khoản riêng ở ngân hàng đầu tư và phát triển đểdùng làm nguồn vốn cho kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ
Trang 12Giờ đây ta có thể thấy mối quan hệ giữa thời hạn sử dụng TSCĐ và tỉ lệtrích khấu hao, do đó có thể chỉ ra ý nghĩa cụ thể ở phần hao mòn đã đề cậpđến Rõ ràng nếu tỉ lệ khấu hao quá thấp hay thời hạn sử dụng quá dài, sẽkhông đủ bù đắp hao mòn thực tế của TSCĐ, vì vậy không đảm bảo đượccông tác bảo toàn và phát triển vốn Ngược lại nếu tỉ lệ khấu hao quá cao haythời hạn sử dụng TSCĐ được xác định quá ít, sẽ làm tăng giá thành sản phẩmmột cách giả tạo, tạo ra những khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hoá.
b) Kế hoạch khấu hao tài sản cố định:
Bằng cách lập lên kế hoạch khấu hao tài sản cố định, doanh nghiệp đã cóthể định ra được tiến độ và mức trích khấu hao tài sản cố định từng nhóm vàtoàn bộ doanh nghiệp Để lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định cần phải xácđịnh được tổng giá trị TSCĐ đầu kỳ, tổng giá trị TSCĐ tăng thêm và giảm đitrong kỳ, mức khấu hao phải trích trong năm và tình hình phân phối sử dụngcác quỹ khấu hao Theo quy định số 517/TTg ngày 21/10/1995 kế hoạch khấuhao TSCĐ bao gồm:
- TSCĐ không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn (đất đai)
- TSCĐ tăng thêm trong năm kế hoạch, nếu tăng vào một ngày nào đó của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Trang 13- TSCĐ bìnhquân giảmtrong kỳCùng với các yêu cầu trên, ta còn phải xác định được chỉ tiêu tổng quỹ khấu hao cơ bản và quỹ khấu hao sửa chữa lớn Sau đó phải xác định được chỉ tiêu quỹ khấu hao cơ bản trích nộp vào quỹ khấu hao của kỳ kế hoạch theo công thức sau:
++
Tổng giá trịkhấu hao cơbản kỳ kếhoạch
-
-Quỹ khấuhao cơ bảnchuyển sangnăm sauNghiên cứu các chỉ tiêu của kế hoạch khấu hao TSCĐ cho ta một ý nghĩađáng lưu ý trong việc đề xuất các ý kiến cho quản lý vốn cố định ở doanhnghiệp Bằng việc xem xét mức độ tăng giảm của các chỉ tiêu và xác định cácnguyên nhân tăng giảm đó, người quản lý thấy rõ được phần nào cảnh quan
và tình hình TSCĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp điều chỉnh hợp lý.Một ý nghĩa khác là cung cấp những thông số cần thiết cho việc lập các kếhoạch, chương trình khác của doanh nghiệp về thị trường, cạnh tranh
c) Bảo toàn và phát triển vốn cố định:
Trong quá trình tham gia vào cạnh tranh với các doanh nghiệp khácnhằm phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp cần có một hậuphương với tiềm lực vững mạnh, đó chính là vốn Để phát huy được ý nghĩa
đó doanh nghiệp không những một mặt phải duy trì và phát triển các hoạtđộng kinh doanh, mặt khác quan trọng hơn là phải bảo toàn và phát triển đượcvốn nói chung và vốn cố định nói riêng
Vấn đề đặt ra như trên không có nghĩa rằng việc doanh nghiệp làm ăn cólãi thực thì không phải bảo toàn và phát triển vốn Ý kiến đó xuất phát từ việchiểu không đầy đủ về vấn đề bảo toàn vốn Nếu chúng ta tiếp cận theo quanđiểm nhân quả thì thấy rõ vấn đề bảo toàn vốn luôn cần thiết trong suốt quátrình hoạt động kinh doanh của công ty Được tồn tại trong môi trường kinh tế
tự do, hoạt động kinh doanh không tránh khỏi những biến động về giá cả, lạmphát mà gây tác động không nhỏ tới tiền vốn của công ty Lạm phát tănglàm cho sức mua của đồng tiền và giá trị của đồng vốn giảm xuống so vớithực tế Mặt khác, bất kỳ một tác động chủ quan nào thể hiện tính vô trách
Trang 14nhiệm, buông lỏng quản lý đều dẫn đến hư hỏng, mất mát tài sản cố định Tất
cả những nguyên nhân đó đưa ta đến kết quả phải bảo toàn và phát triển vốn.Bảo toàn vốn là quá trình thu hồi lại vốn đã bỏ ra ban đầu, phát triển vốn làlấy lợi nhuận để bổ sung vốn kinh doanh làm tăng vốn kinh doanh Bảo toàn
và phát triển vốn được phải thông qua sử dụng có hiệu quả vốn, tức là với mộtlượng vốn như cũ nhưng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn
Như chúng ta đã biết, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cốđịnh Tài sản cố định có đặc điểm tham gia vào nhiều chu kỹ kinh doanh vàthu hồi dần dưới dạng khấu hao Việc bảo toàn vốn phải lấy cả từ hao mònhữu hình và hao mòn vô hình, bất kỳ một sự thiếu sót nào đều có thể mắc lỗi
Về mặt hữu hình: thì doanh nghiệp phải giữ cho TSCĐ không bị loạikhỏi sản xuất kinh doanh trước khi hết niên hạn sử dụng, không sử dụng vốn
cố định sai mục đích hoặc đi mua bán lại TSCĐ tạo chênh lệnh giá để ăn chiavào vốn, phải duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ
Về mặt vô hình: đòi hỏi công ty phải có tỉ lệ khấu hao hợp lý bảo đảmcho tái sản xuất TSCĐ mới
Tuy vậy, chúng ta cần phải xác định được số vốn cố định cần phải bảo toàn đến cuối
Khấu hao đã trích trong kỳ
X
Hệ số điều chỉnh TSCĐ
Giá trị TSCĐ (tăng, giảm trong kỳ)
Những thành công trong công tác bảo toàn VCĐ sẽ tạo cơ sở tốt cho kếhoạch phát triển VCĐ Phát triển VCĐ được doanh nghiệp trích từ lợi nhuận
để lại doanh nghiệp và phần khấu hao cơ bản để lại đầu tư xây dựng cơ bản,thực hiện tái sản xuất mở rộng và mua sắm mới TSCĐ
1 2 - Nội dung hoạt động quản lý vốn lưu động:
a) Xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch:
Xuất phát từ vai trò không thể thiếu của vốn lưu động đòi hỏi chúng taphải luôn có một lượng vốn lưu động để đáp ứng các nhu cầu khác nhau củadoanh nghiệp Nhưng lượng vốn lưu động đó là bao nhiêu thì phù hợp bởi nếuVLĐ thừa quá hoặc thiếu quá đều không có lợi, VLĐ thừa quá sẽ gây ứ đọng
Trang 15vốn và ngược lại nếu ít quá sẽ gây cho doanh nghiệp những khó khăn, tácđộng xấu đến hoạt động kinh doanh Những khía cạnh đó đòi hỏi chúng taphải xác định được lượng VLĐ định mức cho kỳ kế hoạch VLĐ định mứcđược hiểu là số VLĐ có thể quy định mức tối thiểu, cần thiết thường xuyêncho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo chế độ hiện hành, Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc Việt Nam
là Tổng công ty nhà nước, VLĐ định mức của Tổng công ty được nhà nướccấp một lần Trường hợp nhà nước điều chỉnh giá trị thì mức vốn đó được nhànước xác định và bổ sung kịp thời
Để xác định được VLĐ định mức kỳ kế hoạch, doanh nghiệp phải lầnlượt tính toán VLĐ ở từng khâu từ dự trữ, sản xuất, tiêu thụ, đối với từng loạinguyên vật liệu, sau đó tổng hợp lại thành VLĐ định mức kỳ kế hoạch
Thứ nhất, vốn lưu động định mức ở khâu dự trữ Việc xác định VLĐ
định mức ở khâu dự trữ cần phải kết hợp chặt chẽ với kế hoạch thu muanguyên vật liệu và dự tính chi phí sản xuất của doanh nghiệp VLĐ định mức
ở khâu dự trữ được tính toán căn cứ vào mức luân chuyển kế hoạch hàng ngày
và định mức số ngày dự trữ Mức luân chuyển hàng ngày được tính bằng cáchlấy mức luân chuyển chia cho 360 ngày Còn định mức số ngày dự trữ xácđịnh như sau:
- Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu (Nhà nước độc quyền quản lý) địnhmức số ngày dự trữ được cơ quan cấp trên quy định cho doanh nghiệp
- Đối với nguyên vật liệu mua trong nước có thể áp dụng công thức sau:
x
Hệ số thu mua xen kẽ
+
Số ngày vận chuyển
+
Số ngày chỉnh lý chuẩn bị
+
Số ngày bảo hiểm
Thứ hai, VLĐ định mức ở khâu sản xuất: được xác định riêng cho sản
phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi phí chờ phân bổ
- VLĐ định mức cho sản phẩm dở dang được xác định theo công thức:
xưởng
: 360 x
Hệ số thành phẩm dở dang
x
Chu kỳ sản xuất sản phẩm
Trang 16- VLĐ định mức cho nửa thành phẩm tự chế xác định theo công thức:
xưởng
: 360 x
Định mức ngày
dự trữ
x
Hệ số thành phẩm tự chế
Trong đó số ngày dự trữ của nửa thành phẩm phụ thuộc vào mức độ sảnxuất có nhịp nhàng không
- VLĐ định mức cho chi phí chờ phân bổ được tính theo công thức:
+
Số phát sinh chi phí chờ phân bổ trong năm
-Số phải phân bổ trong năm
Thứ ba, VLĐ định mức ở khâu tiêu thụ: bao gồm VLĐ định mức cho
thành phẩm và hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm
- VLĐ định mức cho thành phẩm được xác định theo công thức:
số lượng hàng hoá
Định mức số ngày dự trữ thành phẩm
- Đối với hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm (là hàng hoá doanh nghiệp mua rồi tiêu thụ ngay), VLĐ định mức xác định theo công thức:
Định mức số ngày dự trữ hàng hoá mua ngoài
Trong ba bộ phận trên, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành thì mức độquan trọng của từng bộ phận sẽ khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất thìVLĐ ở khâu sản xuất là quan trọng nhất Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp trongquá trình quản lý và sử dụng vốn phải ưu tiên cho bộ phận này một tỉ lệ hợp
lý, không ngừng tăng vốn cho sản xuất, giảm ở mức cho phép với vốn dự trữ
và lưu thông
Trang 17b) Kế hoạch nguồn VLĐ định mức:
Như chúng ta đã biết, VLĐ của doanh nghiệp được hình thành từ các 3nguồn khác nhau như nguồn vốn tự có, vốn coi như tự có và vốn đi vay Đểlập được kế hoạch nguồn VLĐ định mức đòi hỏi tất yếu là phải căn cứ vàotình hình thực tế VLĐ năm trước và nhu cầu về vốn trong năm kế hoạch
c) Bảo toàn và phát triển VLĐ:
Một số lý do dẫn đến tất yếu phải bảo toàn vốn nói chung đã được đề cậptrong phần bảo toàn và phát triển VCĐ Song do xuất phát từ đặc trưng củaVLĐ là chu chuyển toàn bộ, môt lần vào giá thành sản phẩm và hình thái vậtchất VLĐ thường xuyên biến đổi Do vậy mà trạng thái tài sản lưu động vàvốn lưu thông cũng thường xuyên biến đổi Theo quan điểm tiếp cận như vậythì các quyết định về bảo toàn và phát triển vốn lưu động phải được thực hiệntrên cả hai phương diện là hiện vật và giá trị Vốn lưu động sẽ được bảo toànkhi và chỉ khi bảo toàn được cả hai mặt này
Bảo toàn về mặt hiện vật: phải bảo đảm cho VLĐ đầu kỳ bằng VLĐ cuối kỳ để thoả mãn đẳng thức:
dự trữ và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp Do vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanhnghiệp phải thường xuyên thực hiện việc hạch toán đúng giá trị thực tế củavật tư, hàng hoá theo mức diễn biến giá cả trên thị trường nhằm tính đúng,tính đủ chi phí vật tư, hàng hoá vào giá thành sản phẩm, giá vốn hàng hoá vàphí lưu thông để thực hiện bảo toàn vốn lưu động
Tuy vậy, chúng ta cần phải xác định được số vốn lưu động cần phải bảo toàn theo công thức sau:
Số VLĐ phải bảo
toàn đến cuối kỳ =
Số VLĐ được giao đầu kỳ x
Hệ số trượt giá VLĐ
Trang 18Quan tâm đến công thức này cần chú ý đến: số vốn được giao, hệ sốtrượt giá Số vốn đã được giao là số vốn lưu động giao lần đầu cho doanhnghiệp đã xác định trong biên bảo giao nhận vốn Còn khi nói tới hệ số trượtgiá VLĐ do cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính xác định cho doanhnghiệp, nó dựa trên cơ sở mức tăng (giảm) giá thực tế cuối năm so với đầunăm của một số vật tư chủ yếu tính theo cơ cấu kế hoạch vốn lưu động địnhmức của từng doanh nghiệp, phù hợp với đặc điểm, cơ cấu TSLĐ của từngngành, từng doanh nghiệp.
Khi đã có được những kết quả quan trong công tác bảo toàn vốn, doanhnghiệp sẽ rất thuận lợi trong việc thực hiện phát triển vốn Phát triển VLĐđược lấy từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại
III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ VỐN VÀ HIỆU
1.2 - Kĩ thuật sản xuất:
Các đặc điểm riêng có về kĩ thuật tác động liên tục với một số chỉ tiêuquan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như hệ số đổi máy mócthiết bị, hệ số sử dụng về thời gian, công suất
Nếu kĩ thuật sản xuất đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện, máy móc,thiết bị nhưng lại phải luôn đối phó với các đối thủ cạnh tranh và với yêu cầucủa khách hàng về chất lượng sản phẩm Do vậy, doanh nghiệp dễ dàng tăngdoanh thu, lợi nhuận trên VCĐ nhưng khó giữ được chỉ tiêu này lâu dài Nếu
kĩ thuật sản xuất phức tạp, trình độ trang bị máy móc thiết bị cao, doanhnghiệp có lợi thế trong cạnh tranh, song đòi hỏi tay nghề công nhân, chấtlượng nguyên vật liệu cao sẽ làm giảm lợi nhuận vốn cố định
1.3 - Đặc điểm về sản xuất:
Trang 19Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi chứa đựng chi phí và cũng chứa đựngdoanh thu cho doanh nghiệp, qua đó quyết định lợi nhuận cho doanh nghiệp.Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dùng, nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹnhư rượu bia thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh và qua đó giúp doanhnghiệp thu hồi vốn nhanh Hơn nữa những máy móc dùng để sản xuất ranhững sản phẩm này có giá trị thấp, do vậy dễ có điều kiện đổi mới Ngượclại, nếu sản phẩm có vòng đời dài, có giá trị lớn, được sản xuất trên dâychuyền có giá trị lớn như máy thu hình, ôtô, xe máy sẽ là tác nhân hạn chếdoanh thu.
1.4 - Tác động của thị trường:
Tuỳ theo mỗi loại thị trường mà doanh nghiệp tham gia sẽ tác động đếnhiệu quả sử dụng vốn kinh doanh theo những khía cạnh khác nhau Nếu thịtrường đó là cạnh tranh tự do, những sản phẩm của doanh nghiệp đã có uy tínlâu đối với người tiêu dùng thì sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy doanh nghiệp
mở rộng thị trường Đối với thị trường sản phẩm không ổn định (theo màu,theo thời điểm, thị hiếu) thì hiệu quả sử dụng vốn cũng không ổn định quaviệc doanh thu biến động lớn qua các thời điểm này
1.5 - Trình độ tổ chức quản lí, tổ chức sản xuất, hạch toán nội bộ doanh nghiệp:
Để có hiệu quả cao thì bộ máy tổ chức quản lí, tổ chức sản xuất phải gọnnhẹ, trùng khớp nhịp nhàng với nhau, với mỗi phương thức sản xuất và loạihình sản xuất sẽ có những tác động khác nhau tới tiến độ sản xuất, phươngpháp và quy định vận hành máy móc, số ca, số tổ sản xuất , số bộ phận phục
vụ sản xuất
Mặt khác, đặc điểm của công tác hạch toán, kế toán nội bộ doanh nghiệp(luôn gắn với tính chất của tổ chức sản xuất và quản lí trong cùng doanhnghiệp) có tác động không nhỏ Công tác kế toán đã dùng những công cụ củamình để đo hiệu quả sử dụng vốn Kế toán phải có nhiệm vụ phát hiệnnhững tồn tại trong quá trình sử dụng vốn và đề xuất những biện pháp giảiquyết
1.6 - Trình độ lao động, cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất trong doanh nghiệp:
Trang 20Nếu công nhân trong doanh nghiệp có trình độ cao đủ để thích ứng vớitrình độ công nghệ dây chuyền sản xuất thì các máy móc trong dây chuyền sẽđược sử dụng tốt hơn và năng suất chất lượng sẽ cao hơn Song trình độ laođộng phải được đặt đúng chỗ, đúng lúc thì hiệu quả công việc mới cao.
Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả cao nhất doanh nghiệp phải
có một cơ chế khuyến khích vật chất cũng như trách nhiệm một cách côngbằng Ngược lại, nếu cơ chế khuyến khích không công bằng, quy định tráchnhiệm không rõ ràng, dứt khoát sẽ làm cản trở mục tiêu nâng cao hiệu quả sửdụng vốn
1.7 - Các nhân tố khác:
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước tác dụng một phần không nhỏ tớihiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Cụ thể hơn, từ cơ chế giao vốn, đánhgiá tài sản cố định, thuế vốn, thuế doanh thu đến chính sách cho vay bảo hộ
và khuyến khích một số loại công nghệ nhất định đều có thể làm tăng, giảmhiệu quả sử dụng TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp
Mặt khác, cơ chế chính sách cũng tác động đến kế hoạch mua sắmnguyên vật liệu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp được hưởng nguồnnguyên vật liệu, chọn được người cung cấp tốt nhất Doanh nghiệp phải kếthợp được yêu cầu của chính sách này với yêu cầu của thị trường Từ đó tácđộng tới hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2 Hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động:
Bất kỳ hoạt động nào của con người, hoạt động nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng, đều mong muốn đạt được những kết quả hữu íchnào đó Kết quả đạt được trong kinh doanh mới chỉ đáp ứng được phần nàoyêu cầu của cá nhân và xã hội Tuy nhiên kết quả đó được tạo ở mức nào vớigiá nào là vấn đề cần được xem xét vì nó phản ánh chất lượng của hoạt độngtạo ra kết quả đó Mặt khác, nhu cầu của con người bao giờ cũng lớn hơn khảnăng tạo ra sản phẩm của họ Bởi thế, con người cần phải quan tâm đến việclàm sao với khả năng hiện có, có thể làm ra được nhiều sản phẩm nhất Do đónảy sinh vấn đề là phải xem xét lựa chọn cách nào để đạt được hiệu quả lớnnhất Chính vì thế khi đánh giá hoạt động kinh tế người ta thường sử dụnghiệu quả kinh tế cùng với các chỉ tiêu của nó Hiệu quả kinh tế là một phạmtrù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực xã hội để đạt được kết
Trang 21quả cao nhất với chi phí nguồn lực thấp nhất Hiệu quả kinh tế có thể tínhtheo công thức sau:
Kết quả đầu vàoHiệu quả kinh tế =
Yếu tố đầu raXuất phát từ những nguyên lý chung như vậy, trong lĩnh vực vốn kinhdoanh định ra hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Hiệu quả sử dụng vốn chính
là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình kinh doanh, hay cụ thể làquan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh và toàn bộ chi phí của quá trình kinhdoanh đó được xác định bằng thước đo tiền tệ Tuy nhiên, hiệu quả sử dụngvốn không chỉ thể hiện đơn thuần ở kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh,
mà còn thể hiện ở nhiều chỉ tiêu liên quan khác
2.1 - Một số chỉ tiêu chung về tình hình sử dụng vốn:
a) Cơ cấu vốn:
Sức mạnh tiềm ẩn của một doanh nghiệp nhiều khi được thể hiện thôngqua cơ cấu vốn Chứng minh cho luận điểm này chúng ta thấy rằng trình độ
sử dụng vốn của ban lãnh đạo doanh nghiệp và tình hình sản xuất kinh doanh
là những yếu tố quan trọng khắc hoạ nên sức mạnh của doanh nghiệp Đồngthời chính những yếu tố đó tạo nên một cơ cấu vốn đặc trưng cho doanhnghiệp, không giống các doanh nghiệp cùng loại khác Như vậy tỉ số cơ cấuvốn không phải là một con số ngẫu nhiên mà là con số thể hiện ý chí củadoanh nghiệp Về mặt giá trị, tỉ số đó cho ta biết trong tổng số vốn ở doanhnghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đầu tư vào vốn lưu động, có bao nhiêu đầu
tư vào tài sản cố định Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được cơ cấu vốn khoẻ,hợp lý
Cơ cấu cho từng loại vốn được tính như sau:
Trang 22b) Vòng quay toàn bộ vốn:
Đây là chỉ tiêu đo lượng hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánhmột đồng vốn được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lạimấy đồng doanh thu
Doanh thu thuầnVòng quay toàn bộ vốn =
Tổng số vốn
c) Kỳ thu tiền trung bình:
Trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, việc phát sinh các khoảnphải thu, phải trả là điều tất yếu Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ vốncủa doanh nghiệp đang bị ứ trong khâu thanh toán Nhanh chóng thu được vốn
bị ứ đọng trong khâu thanh toán là bộphận quan trọng trong công tác tài chínhnói chung và công tác quản lý, sử dụng vốn nói riêng Vì vậy, sẽ không ngạcnhiên khi các nhà quản lý, các nhà kinh doanh, rất quan tâm tới thời gian thu hồicủa các khoản phải thu Để nắm chắc thông tin về khả năng thu hồi vốn và làm
cơ sở cho việc dự tính các quyết định của mình, các nhà phân tích đã đưa ra chỉtiêu "kỳ thu tiền trung bình" Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Kỳ thu tiền
trung bình =
Các khoản phải thu
= Các khoản phải thu x
360 Doanh thu bình quân
ngày
Doanh thu năm
2 2 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ:
b) Sức sinh lời của TSCĐ
Trang 23Chỉ tiêu sức sinh lời của TSCĐ cho biết một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp.
Sức sinh lợi của
tài sản cố định = Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp)
Nguyên giá bình quân TSCĐ
c) Suất hao phí tài sản cố định:
Chỉ tiêu này cho thấy để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận thuần cần có bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ
Suất hao phí tài sản
2.3 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
a) Sức sản xuất của vốn lưu động:
Sức sản xuất của vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động đem lại mấy đồng doanh thu thuần (giá trị tổng sản lượng)
Sức sản xuất của
vốn lưu động =
Tổng doanh thu thuần (hay giá trị tổng sản
lượng) Vốn lưu động bình quân
b) Sức sinh lời của vốn lưu động
Sức sinh lời của vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra mấy đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp trong kỳ.
Sức sinh lời của vốn
Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp) Vốn lưu động bình quân
c) Số vòng quay của vốn lưu động (hệ số luân chuyển)
Tổng doanh thu thuần
Trang 24Số vòng quay của
vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu
số vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng và ngượclại
d) Thời gian của một vòng luân chyyển
Thời gian một vòng
luân chuyển =
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này cho chúng ta biết số ngày cần thiết để vốn lưu động quayđược một vòng Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luânchuyển càng lớn
e) Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm
vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân Tổng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu vốnlưu động bình quân
Trong khi phân tích để tìm ra một kết luận về tính hiệu quả hay khônghiệu quả, cần tính ra các chỉ tiêu trên rồi so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc.Khi tính các chỉ tiêu cần chú ý các nhân tố sau:
+ Tổng doanh thu thuần = Tổng doanh thu bán hàng trong kỳ - (Thuế
VAT hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu+ chiết khấu hàng bán + giảmgiá hàng bán + doanh thu hàng đã bán bị trả lại)
+ Thời gian của kỳ phân tích: quy định một tháng là 30 ngày, một quý là
90 ngày và một năm là 360 ngày
Tổng vốn lưu động 4 quý+ Vốn lưu động bình quân =
4V1/2 + V2 + V3 + Vn/2 Hoặc =
Trang 25n-1Với V1, V2, V3 là vốn lưu động hiện có vào đầu các tháng,
n là số thứ tự các tháng
2 4 - Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán:
a) Phân tích tình hình thanh toán:
Như chúng ta đã biết, các giao dịch kinh tế tài chính trong kinh doanh ởmọi doanh nghiệp thường xuyên phát sinh các khoản phải thu, phải trả và cầnmột thời gian nhất định mới thanh toán được Các quan hệ nợ nần lẫn nhaugiữa các doanh nghiệp về các khoản tiền mua bán hàng, giữa các doanhnghiệp với ngân sách về các khoản phải nộp thuế theo luật định, giữa doanhnghiệp với người lao động về tiền lương là các quan hệ tất yếu khách quan.Tuy nhiên, trong kinh doanh các doanh nghiệp phải ngăn ngừa và giảm tối đacác khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn vẫn chưa trả được hoặc chưa đòi được.Bởi vì, sự chiếm dụng vốn quá hạn của khách hàng, một mặt gây khó khăn vềvốn cho doanh nghiệp, mặt khác do thiếu vốn, thiếu tiền mặt để thanh toáncác khoản phải trả, doanh nghiệp sẽ phải đi vay, chịu lãi suất tín dụng, điều đólàm giảm tỉ suất lợi nhuận, làm chậm tốc độ luân chuyển vốn Chính vì vậy,phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp trở lên tối cần thiết nhằmxem xét mức biến động của các khoản phải thu, phải trả, tìm ra nguyên nhâncủa các khoản nợ đến hạn chưa đòi được hoặc nguyên nhân của việc tăng cáckhỏan nợ đến hạn chưa trả được
b Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp :Khả năng thanh
toán phản ánh tình trạng tài chính tốt hay xấu của doanh nghiệp và có ảnhhưởng đến tình hình thanh toán Khả năng thanh toán xác định như sau:
Số tiền có thể dùng để thanh toán
K =
Các khoản nợ phải trả
Trong đó: - K là hệ số khả năng thanh toán
- Số tiền có thể dùng thanh toán bao gồm toàn bộ số vốn bằng tiền vànhững tài sản có thể chuyển hoá thành tiền một cách nhanh chóng
Trang 26- Các khoản nợ phải trả gồm phải trả người bán, người mua, nộp ngânsách trả cho cán bộ CNV, vay ngắn hạn ngân hàng, phải trả khác.
Khi đã có được kết quả hệ số thanh toán
- Nếu K 1, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán và tìnhtrạng tài chính của doanh nghiệp bình thường hoặc tốt
- Nếu K < 1, chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán công
nợ và tình trạng tài chính ở mức không bình thường hoặc xấu
2 5 - Mức độ bảo toàn và phát triển vốn:
Chỉ tiêu mức độ bảo toàn vốn sử dụng trong điều kiện nền kinh tế cólạm phát, giá cả biến động lớn nhằm quy định trách nhiệm của doanh nghiệp,buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc phản ánh đúng giá trị các loại vốnsản xuất kinh doanh , tính đúng, tính đủ các chi phí vào giá thành sản phẩm
để bảo toàn được vốn
Khi phân tích chỉ tiêu này cần so sánh giữa số vốn phải bảo toàn, đếncuối năm và số vốn thực tế bảo toàn được trong năm để xác định mức độ bảotoàn vốn của doanh nghiệp là bảo toàn cao hơn hay chưa bảo toàn đủ Khi bảotoàn được cao hơn có nghĩa doanh nghiệp đã có thành tích trong quản lý và sửdụng vốn Với kết quả khả quan này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có vốn
để dùng vào sản xuất kinh doanh, phát triển được vốn Ngược lại, chưa bảotoàn đủ so với số vốn phải bảo toàn phản ánh sự yếu kém của doanh nghiệptrong việc quản lý, sử dụng vốn
IV CÁC GIẢI PHÁP NHẰM QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
Các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thường làcác công cụ quản lý, các phương pháp, biện pháp tập trung vào các lĩnh vựcnhư nguồn vốn hiện có, các tiềm năng về kỹ thuật , công nghệ, lao động vàcác lợi thế khác của doanh nghiệp nhằm sử dụng một cách tiết kiệm nhất cácnguồn tiềm năng đó mà đem lại được hiệu quả kinh tế cao nhất Dưới đây làmột số giải pháp chủ yếu
1 Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm
Trang 27Nền tảng căn bản cho sự tồn tại của doanh nghiệp, sự cạnh tranh vớidoanh nghiệp khác, cho sử dụng vốn có hiệu quả là doanh nghiệp có khả năngsản xuất ra sản phẩm và được người tiêu thụ chấp nhận sản phẩm đó Do vậyhoàn toàn bình thường khi thấy rằng bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải quantâm đến việc sản xuất cái gì, bao nhiêu , tiêu thụ ở đâu, với giá nào để huyđộng được mọi nguồn lực vào hoạt động, có được nhiều thu nhập Khẳng địnhnhư thế có nghĩa là việc lựa chọn phương án kinh doanh như thế nào, phương
án sản phẩm ra sao sẽ có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh doanh nóichung cũng như việc quản lý và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
Biết được vai trò quan trọng như vậy thì phương án kinh doanh, phương
án sản phẩm phải được xây dựng như thế nào? Đáp số của bài toán đã chỉ rõsản phẩm làm ra phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường , được thị trườngchấp nhận Do vậy các phương án kinh doanh , phương án sản phẩm màdoanh nghiệp lựa chọn, suy cho cùng, phải thể hiện được ý chí đó Nói cáchkhác, doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường để quyết địnhquy mô, chủng loại, mẫu mã, chất lượng và giá bán sản phẩm Làm tốt đượcđiều này đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu biết và vận dụng tốt phương phápMarketing
Sự phân tích trên chỉ ra cho chúng ta ý nghĩa rằng không chỉ lựa chọnphương án kinh doanh, phương án sản phẩm tốt (với tư cách là biểu hiện củamarketing) đem lại hiệu quả trong quản lý và sử dụng vốn mà sự tác độngngược trở lại cũng trở lên có ý nghĩa
2 Lựa chọn và sử dụng hợp lý các nguồn lực:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh , bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cầnhuy động những nguồn vốn bổ sung nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh tiếnhành bình thường, đồng thời đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô hay đầu tưchiều sâu Như đã biết, các nguồn huy động thì có rất nhiều, việc lựa chọnnguồn vốn nào rất quan trọng và phải dựa trên nguyên tắc hiệu quả kinh tế Nếu nhu cầu đầu tư chiều sâu hoặc mở rộng thì trước hết cần huy động nguồnvốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại, từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất ,phần còn lại có thể vay tín dụng, vay ngân hàng thu hút vốn liên doanh, liênkết Nếu nhu cầu bổ sung vốn lưu động thì trước hết doanh nghiệp cần sửdụng linh hoạt các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các quỹ trích lập theo quyđịnh (NĐ 59 và TT70) nhưng chưa sử dụng, lợi nhuận chưa phân phối, các
Trang 28khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả, phần còn lại có thể vay ngân hànghoặc các đối tượng khác Việc đi vay đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự cânnhắc, lựa chọn và đặc biệt là có một quan điểm rõ ràng trong chính sáchnguồn tài trợ của doanh nghiệp, bởi vì việc phải chịu lãi từ các khoản vay cóthể gây trở ngại cho phát huy hiệu quả đồng vốn Ngược lại, đối với doanhnghiệp thừa vốn thì tuỳ từng điều kiện cụ thể để lựa chọn khả năng sử dụng.Nếu đưa đi liên doanh, liên kết hoặc cho vay thì cận phải thận trọng, thẩm tra
kỹ các dự án liên doanh, kiểm tra tư cách khách hàng nhằm đảm bảo liêndoanh có hiệu quả kinh tế, cho vay không bị chiếm dụng vốn do quá hạn chưatrả hoặc mất vốn do khách hàng không có khả năng thanh toán,
3 Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh
Nhu cầu thị trường tồn tại khách quan, luôn luôn biến động và phát triểnXét một cách toàn diện, quy mô, trình độ của quá trình sản xuất là do thịtrường quy định Để đáp ứng được những yêu cầu khách quan của thị trường ,một mặt đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuấtkinh doanh, đảm bảo cho nội trình đó được tiến hành thông suốt, đều đặn,nhịp nhàng giữa các khâu dự trữ, sản xuất, tiêu thụ, đảm bảo sự phối hợp ănkhớp, chặt chẽ giữa các bộ phận, đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp; mặt kháccũng đòi hỏi doanh nghiệp đảm bảo các yếu tố mang tính tĩnh đó vận độngphù hợp với sự biến động, phát triển liên tục của thị trường Kết quả tốt củaviệc điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh là hạn chế tối đa tình trạngngừng làm việc của máy móc, thiết bị, ứ đọng vật tư dự trữ, sản phẩm sảnxuất ra không tiêu thụ được do chất lượng không đảm bảo, gây lãng phí, làmgiảm tốc độ chu chuyển của vốn Để đạt được các mục tiêu trên, các doanhnghiệp phải tăng cường quản lý từng yếu tố của quá trình sản xuất
Đối với quản lý TSCĐ, vốn cố định: đòi hỏi doanh nghiệp phải có một
hệ thống các biện pháp Một là phải bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý , khaithác hết công suất thiết kế và nâng cao hiệu suất công tác của máy móc, thiết
bị, sử dụng triệt để diện tích sản xuất, giảm chi phí khấu hao trong giá thànhphẩm Hai là , xử lý dứt điểm những TSCĐ không cần dùng, hư hỏng chờthanh lý nhằm thu hồi vốn cố định chưa sử dụng vào luân chuyển, bổ sungthêm vốn cho sản xuất kinh doanh Ba là quy định rõ trách nhiệm vật chất,nâng cao tinh thần trách nhiệm trong quản lý, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữaTSCĐ Bốn là có sự quan tâm thường xuyên đến bảo toàn vốn cố định
Trang 29Đối với quản lý TSCĐ, vốn lưu động thì nguyên tắc chung là phải sửdụng tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động Để quán triệtnguyên lý đó doanh nghiệp nên tăng cường các biện pháp quản lý Một là xácđịnh đúng nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho từng kỳ sản xuất, kinh doanhnhằm huy động hợp lý các nguồn vốn bổ sung Hai là tổ chức tốt quá trình thumua, dự trữ vật tư nhằm đảm bảo hạ giá thành thu mua vật tư, hạn chế tìnhtrạng ứ đọng vật tư dự trữ, dẫn đến kém hoặc mất phẩm chất vật tư, gây ứđọng vốn lưu động Ba là quản lý chặt chẽ việc tiêu dùng vật tư theo địnhmức nhằm giảm chi phí nguyên, nhiên, vật liệu trong giá thành sản phẩm.Bốn là tổ chức hợp lý quá trình lao động, tăng cường kỷ luật sản xuất và cácquy trình về kiểm tra, nghiệm thu số lượng, chất lượng sản phẩm nhằm hạnchế đến mức tối đa sản phẩm xấu, sai quy cách bằng các hình thức kích thíchvật chất thông qua tiền lương, thưởng , kích thích tinh thần Năm là tổ chức đadạng các hình thức tiêu thụ sản phẩm nhằm tiêu thụ nhanh, số lượng nhiều.Sáu là xây dựng quan hệ bạn hàng tốt với các khách hàng nhằm củng cố uytín trên thương trường, chú ý đến thanh toán, tránh giảm các khoản nợ đếnhạn Bảy là tiết kiệm các yếu tố chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lưuthông nhằm góp phần giảm chi phí sản xuất tăng lợi nhuận.
4 Mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh
Mặc dù tính ưu việt của sản phẩm phần nào bị xoá nhoà bởi sự bùng nổcủa khoa học, công nghệ Nhưng ở một nơi nào đấy, với tiến bộ khoa học kỹthuật ở một giai đoạn nào đó, doanh nghiệp vẫn có thể phát huy được nhữnglợi thế về sản phẩm đưa lại Kỹ thuật tiến bộ và công nghệ hiện đại nói chung
là điều kiện vật chất để doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mới, hợpthị hiếu, chất lượng cao, đồng thời có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm ,giảm tiêu hao nguyên vật liệu hoặc sử dụng loại vật tư thay thế nhằm tăng tốc
độ luân chuyển vốn, tiết kiệm vật tư , hạ giá thành sản phẩm Chính vì vậy,trong điều kiện công nghệ ở đa số các doanh nghiệp của nước ta hiện nay rấtlạc hậu, các doanh nghiệp cần mạnh dạn đầu tư đổi mới TSCĐ cũ, lạc hậubằng TSCĐ mới, hiện đại, thay đổi công nghệ sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm
có sức cạnh tranh cả về chất lượng, kiểu dáng và giá bán Đạt được quá trìnhnày có thể làm cho tỉ trọng vốn cố định trên tổng vốn sản xuất kinh doanhtăng lên, tổng chi phí khấu hao cũng như chi phí về khấu hao TSCĐ trong giáthành đơn vị sản phẩm tăng lên, nhưng đồng thời các chi phí khác về vật liệu,
Trang 30lương công nhân sản xuất giảm đáng kể Kết quả cuối cùng là sản xuất vàtiêu thụ được nhiều sản phẩm chất lượng cao, tăng lợi nhuận thu được và tănghiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
5 Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích hoạt động kinh tế
Qua số liệu kế toán như các báo tài chính, bảng tổng kết tài sản, kết quảkinh doanh , chi phí sản xuất theo yếu tố, bản giải trình về kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh doanh nghiệp có thể thường xuyên nắm được số vốnhiện có cả về mặt giá trị và hiện vật, nguồn hình thành và các biến động tănggiảm trong kỳ, mức độ bảo đảm vốn lưu động, tình hình và khả năng thanhtoán, nhờ đó doanh nghiệp nắm chắc tình hình tài chính Tuy nhiên số liệu
kế toán, tự nó chưa thể chỉ ra những biện pháp cần thiết để tăng cường quản
lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, mà đòi hỏi phải thực hiện phân tích hoạtđộng kinh tế , trong đó chú ý đến phân tích tình hình tài chính và hiệu quả sửdụng vốn Thông qua phân tích, đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốntrong kỳ, tìm ra nguyên nhân yếu kém để có biện pháp khắc phục, thành tích
để có biện pháp phát huy
Tóm lại, các giải pháp tập trung đi sâu vào một số yếu tố có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến quản lý và hiệu quả sử dụng vốn Hơn thế nữa, hệ thống kinhdoanh là một hệ thống biến đổi, do vậy để các giải pháp phát huy ưu thế củamình cần phải có kế hoạch cụ thể, tiến hành thường xuyên và có hệ thống
Trang 31Chương II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN
Ở TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SÔNG MIỀN BẮC
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SÔNG MIỀN BẮC
1 Lịch sử hình thành
Tổng Công ty đường sông miền Bắc là doanh nghiệp Nhà nước đượcthành lập theo quyết định số 2125/TCCB – LĐ ngày 13/8/1999 của Bộ trưởng
Bộ Giao thông vận tải
Tổng Công ty đường sông miền Bắc bao gồm: các thành viên là doanhnghiệp hạch toán độc lập, các đơn vị hạch toán nội bộ có quan hệ gắn bó vớinhau về: lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng dịch vụ thông tinnghiên cứu, tiếp thị, hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, xây dựngcác công trình đường thuỷ
Trụ sở của Tổng Công ty đường sông miền Bắc đặt tại 158 Nguyễn Văn
Cừ - Gia Lâm - Hà Nội
2 Nhiệm vụ chủ yếu của Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc
1 Vận chuyển hàng hoá bằng đường thủy trong và ngoài nước
Mã số 05 – 04; 05 – 03
2 Xếp dỡ và kinh doanh kho bãi cảng đường sông
3 kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá Đường sông và vận tải đaphương thức
4 Sửa chữa đóng mới phương tiện vận tải thuỷ
5 Sản xuất, kinh doanh, khai thác vật liệu xây dựng
Trang 326 Xuất nhập khẩu trực tiếp vật tư, thiết bị, phụ tùng, phương tiện vận tảichuyên ngành; mã số: 07 – 03.
7 Vận tải hành khách bằng đường thuỷ nội địa, dịch vụ vận chuyển hànhkhách du lịch trên sông, trên vịnh, trên hồ
8 Vận tải hàng hoá bằng đường bộ
9 Xây dựng các công trình giao thông, công nghiệp, dân dụng khác
3 Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc
* Tổng công ty đường sông Miền Bắc có 14 đơn vị trực thuộc, hạch toán độc lập với Tổng công ty, đó là:
1 Công ty vận tải thuỷ 1 - có trụ sở đóng tại Hà Nội
2 Công ty vận tải thuỷ 2 - có trụ sở đóng tại Ninh Bình
3 Công ty vận tải thuỷ 3 - có trụ sở đóng tại Hải Phòng
4 Công ty vận tải thuỷ 4 - có trụ sở đóng tại Hải Phòng
5 Công ty cổ phần vận tải thuỷ Thái Bình - có trụ sở tại Thái Bình
6 Công ty vận tải và cơ khí thuỷ - có trụ sở tại Quảng Ninh
7 Công ty sông biển Nam Định - có trụ sở tại Nam Định
8 Cảng Hà Nội - có trụ sở tại Hà Nội
9 Cảng Hoà Bình - có trụ sở tại Hoà Bình
14 Công ty cơ khí 75 - có trụ sở tại Hà Nội
* Về văn phòng Tổng Công ty gồm có các phòng nghiệp vụ và 3 trung tâm hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty, đó là:
Trang 33+ Trung tâm sản xuất cung ứng vật tư và hợp tác quốc tế
II/ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SÔNG MIỀN BẮC
1 Những thuận lợi và khó khăn của Tổng Công ty Đường sông Miền Bắc
a) Những thuận lợi :
- Việt Nam là một trong số ít nước được thiên nhiên ưu đãi để trở thànhmột quốc gia kinh tế phát triển Vị trí địa lý của Việt Nam và chính sách mởcửa hiện nay của Đảng và nhà nước ta là những yếu tố rất thuận lợi cho việcxây dựng một ngành công nghiệp đường sông với chức năng không chỉ phục
vụ các nhu cầu phát triển kinh tế , xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng củachính mình mà còn tham gia cung cấp dịch vụ cho hoạt động đường sông.Ngành đường sông Việt Nam đã tích luỹ được một số cơ sở vật chất , phươngtiện, lao động kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất kinh doanhban đầu, rất có giá trị để bước vào một giai đoạn phát triển mới theo hướng
"chuyên dùng hoá - hiện đại hoá"
Trang 34- Đảng và nhà nước đã có một số chính sách cụ thể, nhằm tạo điều
kiện để ngành đường sông Việt Nam phát triển
b Những khó khăn chủ yếu.
- Ngành đường sông là một ngành kinh tế đặc thù, sản phẩm chủ yếu làdịch vụ , phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường cũng như các rủi rothiên nhiên Mặt khác, cơ sở vật chất kỹ thuật luôn đòi hỏi nhu cầu đầu tư vốnkhá lớn nhưng thời hạn thu hồi vốn thường kéo dài hơn so với nhiều ngànhkinh doanh dịch vụ khác Hiện nay, hai lĩnh vực hoạt động kinh doanh quantrọng nhất là vận tải đường sông và khai thác cảng yếu kém, lạc hậu về côngnghệ và rất thiếu vốn đầu tư cải tạo, nâng cấp đổi mới trang thiết bị để đápứng kịp thời các đòi hỏi ngày càng cao của thị trường
- Về hệ thống cảng sông: hầu hết thuộc sở hữu nhà nước giao cho Tổngcông ty quản lý và khai thác Từ nhiều năm trước, các doanh nghiệp nhà nướchoàn toàn giữ độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh khá hấp dẫn này, nhưngnay đã bắt đầu xuất hiện sự tham gia kinh doanh trực tiếp của một số công tykhác Những đơn vị mới xuất hiện đòi hỏi phải phân chia lợi ích, sự cạnhtranh tất yếu xảy ra nhằm chia sẻ sản lượng, gây sụt giảm giá dịch vụ gâyảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của các cảng
- Về dịch vụ: xu thế chung của các doanh nghiệp lớn là tổ chức kinhdoanh trọn gói, nghĩa là tổ chức riêng các doanh nghiệp dịch vụ như vận tải,bốc xếp, giao nhận để phục vụ cho mình và cạnh tranh lôi kéo khách hàng,việc làm của các doanh nghiệp dịch vụ cùng thuộc Tổng công ty Có thể nói,thị trường dịch vụ đã, đang bị cạnh tranh khốc liệt và ngày càng bị thu hẹp.Đây là khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp dịch vụ làm cho một số doanhnghiệp bị mất việc làm hoặc kinh doanh thua lỗ
- Mặc dù chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành đã quan tâmtháo gỡ một số vướng mắc về cơ chế chính sách, nhưng vẫn chưa có một chế
độ ưu tiên bảo hộ thích đáng với ngành đường sông như một số nước khácvẫn làm
2 Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Tổng công ty Đường sông Miền Bắc.
2.1 Những đặc thù của ngành:
Trang 35Như chúng ta đã biết, Tổng công ty Đường sông Miền Bắc có nhiệm vụchính là thực hiện nhiệm vụ kinh doanh về vận tải đường sông, khai tháccảng, sửa chữa tàu, và so với các ngành kinh doanh, dịch vụ khác thì nhu cầuvốn đầu tư rất lớn, đặc biệt là vào tài sản cố định, nhưng thời hạn thu hồi vốnthường phải kéo dài hơn.
2.2 Tổ chức quản lý Tổng công ty Đường sông Miền Bắc.
Tổng công ty Đường sông Miền Bắc là Tổng công ty Nhà nước hoạtđộng kinh doanh , có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sựtheo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trongphạm vi số vốn do Tổng công ty quản lý, có con dấu, tài sản và các quỹ tậptrung, được mở tài khoản tại các ngân hàng trong và ngoài nước theo quyđịnh của nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo điều lệ tổ chức công ty
Bộ máy tổ chức quản lý Tổng công ty (sơ đồ trang ) được tổ chức theo
mô hình trực tuyến chức năng, đứng đầu là Hội đồng quản trị Trong bộ máyquản lý có Tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, các phòng ban chức năng
và 3 đơn vị thàn viên
Hội đồng quản trị Tổng công ty thực hiện chức năng quản lý tổng công
ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ nhànước giao Ban kiểm soát là tổ chức do Hội đồng quản trị quyết định thànhlập theo luật, hoạt động theo điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty
và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Hội đồng quản trị
Tổng công ty được tổ chức và quản lý theo sự thống nhất giữa lãnh đạo
về kinh tế và lãnh đạo về chính trị Tập trung dân chủ, thực hiện triệt để chế
độ một thủ trưởng và phát huy cao quyền làm chủ tập thể người lao động,phát huy vai trò lãnh đạo tổ chức của tổng giám đốc và quyền hạn, tráchnhiệm của tập thể công nhân viên chức của hội đồng tổng công ty và tập thể.Tổng công ty sử dụng đòn bẩy kinh tế , tài chính, kết hợp hài hoà ba lợi íchtrong đó lợi ích người lao động là động lực cơ bản, trực tiếp Đảm bảo thựchiện tốt nghĩa vụ và quan hệ tài chính với ngân sách nhà nước, cơ quan chủquản và với khách hàng
2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh và phòng ban
* Tổng giám đốc: Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công
ty và là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng công ty Tổng giám
Trang 36đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước Thủ tướng chính phủ vàtrước pháp luật về công tác điều hành hoạt động Tổng công ty Các phó Tổnggiám đốc là người giúp Tổng giám đốc điều hành một số lĩnh vực hoạt độngtheo sự phân công của Tổng giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng giámđốc và pháp luật về nhiệm vụ được giao.
Phòng tài chính – Kế toán: tham mưu cho Hội Đồng quản trị và Tổng
giám đốc trong công tác quản lý tài chính, quản lý sử dụng, bảo toàn và pháttriển nguồn vốn của Tổng công ty Thực hiện việc nghiên cứu, tìm kiếm khảnăng huy động các nguồn vốn, giúp lãnh đạo Tổng công ty quản lý điều hànhcác hoạt động tài chính của Tổng công ty; xây dựng kế hoạch tài chính củaTổng công ty; nắm vững tiến độ sản xuất và tình hình thu chi trong TổngCông ty để đề xuất với Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc điều hoà kếhoạch tài chính; định kì hàng năm kiểm kê tài sản, vật tư, tiền vốn; đánh giátài sản cố định theo quy định của Nhà nước, tổ chức quản lí, sử dụng các loạitài sản tiền vốn; kiểm tra việc quản lí sử dụng tài sản, tiền vốn của các đơn vịthành viên vào đúng mục đích Phòng Kế toán có chức năng tham mưu choHội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong lĩnh vực tổ chức công tác kế toán,
và nghiệp vụ kế toán của Tổng công ty Thông qua quản lý đồng tiền, phòng
kế toán có chức năng giám sát việc thực hiện chế độ tài chính và kế toán củanhà nước tại Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên
* Văn phòng Tổng công ty: là bộ phận tham mưu tổng hợp và giúp việc
Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tổng công ty trong các lĩnh vực tổnghợp, hành chính quản trị và tổ chức hoạt động của cơ quan Tổng công ty Vănphòng cũng tham mưu về việc quản lý các doanh nghiệp và cơ quan Tổngcông ty Có nhiệm vụ phối hợp với các phòng ban khác và các doanh nghiệpthành viên để hoàn thành nhiệm vụ được giao
* Phòng kế hoạch: có chức năng tham mưu, giúp việc cho hội đồng quản
trị và Tổng giám đốc Tổng công ty về công tác kế hoạch Thông qua công tácquản lý kế hoạch, phòng chịu trách nhiệm đảm bảo cho công tác kế hoạchhoạt động theo đúng những quy định về hệ thống kế hoạch hoá của nhà nướchướng dẫn, chỉ đạo các doanh nghiệp thành viên về công tác kế hoạch
*Phòng kinh doanh : là đầu mối hợp tác kinh doanh đối ngoại của tổng
công ty Là một bộ phận tham mưu của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc
về các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty về lĩnh vực vận tải, xếp dỡ và
Trang 37các lĩnh vực kinh doanh khác trên thị trường trong và ngoài nước, nhằm khaithác đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo kinh doanh đúng pháp luật của ViệtNam và tập quá thông lệ Quốc tế.
* Phòng tổ chức- Lao động: tham mưu cho Hội đồng quản trị và Tổng
giám đốc trong việc tổ chức và thực hiện công tác tổ chức cán bộ đào tạo bảo vệ chính trị nội bộ, lao động tiền lương Thừa lệnh lãnh đạo Tổng công tyhướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp thành viên thực hiện chế độchính sách, quy định của nhà nước và quyết định của Tổng công ty trong lĩnhvực công tác tổ chức cán bộ và lao động tiền lương
-*Phòng đổi mới doanh nghiệp:Là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Hội
đồng quản trị và Tổng Giám đốc trong lĩnh vực chuyển đổi các doanh nghiệpNhà nước thuộc Tổng công ty thành các công ty Cổ phần theo chủ trương củaNhà nước
Hướng dẫn các đơn vị cơ sở trực thuộc xây dung kế hoạch thực hiện cổphần hoá cho từng giai đoạn và tổng hợp kế hoạch cổ phần hoá của Tổngcông ty trong từng giai đoạn phù hợp với đặc điểm và điều kiện của Tổngcông ty trình Hội đồng quản trị quyết định
* Phòng khoa học kỹ thuật và hợp tác quốc tế: Là phòng nghiệp vụ tham
mưu cho Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc tổ cchức điều hành và thực hiệncác hoạt động về lĩnh vực khoa học kỹ thuật, vật tư, hợp tác Quốc tế, đầu tưnội địa và quốc tế trong Tổng công ty
2.4 Đặc điểm về lao động
Do ngành Đường sông là ngành kinh tế đặc thù nên có ảnh hưởng đếnđặc điểm lao động của ngành Hiện nay, Tổng công ty có 6.813 người , trongđó:
+ Trình độ Đại học : 557 người, chiếm 8,5%
+ Trình độ trung cấp: 372 người, chiếm 5,68%
+ Công nhân kỹ thuật: 5.036 người, chiếm 76,94%
+ Lao động phổ thông: 580 người, chiếm 8,88 %
Trong đó:
+ Khối vận tải: 3.446 người, chiếm 50,4 %
+ Khối bốc xếp : 914 người, chiếm 13,4%
Trang 38+ Khối cơ khí: 2.193 người, chiếm 32%
+ Khối SX khác + DV : 290 người, chiếm 3,2 %
Bên cạnh đó công ty còn cử các cán bộ theo học nhiều chuyên ngànhnhư Quản lý cảng, khai thác cảng, thông tin an toàn đường sông…Do vậytrình độ trung bình ngày càng cao Các cán bộ ngày càng phát huy được vaitrò chủ đạo trong sản xuất, kinh doanh
2.5 Đặc điểm về máy móc thiết bị và công nghệ:
Hệ thống máy móc thiết bị là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của Tổng công ty Máy móc thiết bị thuộc ngành này lànhững loại có trọng tải lớn, cồng kềnh, và có giá trị rất lớn Các trang thiết bịliên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là các phương tiện vậntải (đường thuỷ, trên bộ) các phương tiện bốc xếp, phương tiện bảo quản hànghoá Theo đánh giá một cách tổng quát thì hệ thống trang thiết bị còn lạc hậu,bất hợp lý, tuổi khai thác khá lớn, khả năng chuyên dùng hoá kém số lượngcác phương tiện vận chuyển còn ít, tổng trọng tải còn nhỏ, chưa tương xứngvới tiềm năng Hiện nay tổng công ty đang nỗ lực và khuyến khích các đơn vịđầu tư phát triển theo hướng nâng cao khả năng chuyên dùng hoá, hiện đạihoá nhằm nâng cao năng lực khai thác và tránh tụt hậu so với các đối thủ cạnhtranh, tận dụng khả năng thiết lập dây chuyền công nghệ khép kín; chú trọngviệc cải tiến công nghệ vận chuyển - bốc xếp - giao nhận theo phương thức,
từ kho đến kho và phân công chuyên môn hoá cao, nâng cao hơn nữa nănglực của đội tàu biển thông qua thuê mua và mua mới các tàu đi biển có trọngtải phù hợp Sau đây là một số số liệu chủ yếu liên quan đến hệ thống trangthiết bị
- Phương tiện vận tải thuỷ:
+ Tàu dẩy, kéo: 222 chiếc
+ Sà lan kéo, đẩy: 724 chiếc
+ Canô các loại : 14 chiếc
- Tàu tự hành :
+ Tàu biển, sông : 50 chiếc
- Phương tiện bốc xếp
+ Cẩu chân đế: 71 chiếc + Ngoạm các loại : 67 chiếc
+ Cẩu bánh lốp xích: 25 chiếc + Các loại xe nâng : 155 chiếc
Trang 39- Phương tiện bộ
+ ô tô tải các loại: 90 chiếc
+ Xe chuyên dùng các loại: 30 chiếc
2.6 Đặc điểm quá trình tổ chức sản xuất và chu kỳ sản xuất của Tổng công ty
Quá trình tổ chức sản xuất của Tổng công ty là quá trình phát triển tổchức sản xuất sau nhiều năm, ban đầu là các công ty, các đơn vị thành viên đitheo các hướng chuyên môn hoá khác nhau vào các lĩnh vực khác nhau Theoquyết định thành lập Tổng công ty (quyết định 2125/TCCB – LĐ ngày13/8/1996 của Bộ trưởng Bộ GTVT) đã kế thừa tính chuyên môn hoá của cácđơn vị thành viên và hiện nay Tổng công ty ngày càng đi sâu và chuyên mônhoá và hợp tác cho các doanh nghiệp thành viên bao gồm là các doanh nghiệphạch toán độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc và các đơn vị sự nghiệp.Như trên đã trình bày, việc chuyên môn hoá ở các doanh nghiệp thành viêntheo 3 khối
Các doanh nghiệp thuộc khối cảng
Các doanh nghiệp thuộc khối vận tải
Các doanh nghiệp thuộc khối dịch vụ Đường sông
Đồng thời Tổng công ty cũng thực hiện việc đa dạng hoá kinh doanh,bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngành Đường sông
3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Đường sông Miền Bắc Việt Nam
Bước sang nền kinh tế thị trường, trong điều kiện hạch toán kinh doanhđộc lập, cũng như nhiều Tổng công ty nhà nước khác, Tổng công ty Đườngsông Miền Bắc với các thành viên của nó đã gặp không ít khó khăn, đặc biệt
là về vốn sản xuất kinh doanh , máy móc thiết bị cũ, lạc hậu Thị trường giờđây ngày càng nhiều công ty vận tải Đường sông, dịch vụ Đường sông lớnnhỏ lần lượt trở thành những đối thủ cạnh tranh gay gắt của Tổng công ty.Đánh giá đúng tình hình đó Tổng công ty đã kịp thời đầu tư thực hiện cácphương án sản xuất kinh doanh , quy hoạch phát triển đội tàu, đầu tư nângcấp, cải tạo các cảng trọng điểm phấn đấu xây dựng Tổng công ty thành tậpđoàn kinh tế lớn của Việt Nam Từ năm 1999 đến nay, chất lượng dịch vụ củaTổng công ty không ngừng tăng lên, mặc dù còn gặp phải rất nhiều khó khănnhưng sản phẩm dịch vụ của Tổng công ty đã được nhiều khách hàng chấp
Trang 40nhận Nhờ đó, trong những năm qua công ty dần có ưu thế, cụ thể như kháchhàng đã chủ động tìm đến với tổng công ty Ta có thể thấy qua một số chỉ tiêusau:
Biểu: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng công ty
đường sông Miền Bắc
15.064.190
- Dịch vụ Đường
sông
Triệuđồng
Trên cơ sở phân tích, nhận định, đánh giá một cách khoa học, Tổng công
ty Đường Sông Miền Bắc đã xác định được chiến lược phát triển, trong đónhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay là tập trung xây dựng, phát triểnnhanh đội tàu theo hướng đi thẳng lên hiện đại để nâng cao khả năng cạnhtranh, nhằm từng bước giành lại và tăng thêm thị phần vận tải hàng hoá củaViệt Nam, tiến tới tham gia chia xẻ thị phần của khu vực Thể hiện cho sự cốgắng đó cùng với việc thực hiện đề án phát triển và trẻ hoá đội tàu , sản lượng