Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch kế hoạch, dự án phát triển kinh tế xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
"Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còncủa nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộcsống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh
tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hộinhập kinh tế quốc tế của nước ta
Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trongnhững nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thểhiện trong các chiến lược, qui hoạch kế hoạch, dự án phát triểnkinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương Khắc phục
tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo
vệ môi trường Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho pháttriển bền vững
Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổchức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sốngvăn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và
Trang 2là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tựnhiên của cha ông ta.
Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòngngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kếthợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môitrường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhànước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộnghợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phươngpháp truyền thống
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấpbách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sựlãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, sự quản lýthống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể nhân dân."
Đó là quan điểm của Nghị Quyết 41 NQ/TW ngày 15tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị Trung Ương Đảng banhành về việc bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
Trang 3Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị trên, cácngành, các cấp trong cả nước đã và đang đẩy mảnh công tácbảo vệ môi trường, chống ô nhiễm và suy thoái môi trường.
Việc bảo vệ môi trường bao gồm: việc giải quyết ô nhiễm
do những nguồn nước thải, ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt,công nghiệp sinh học, các chất thải trong y tế…Để xử lý các loạichất thải trên là một vấn đề thật sự khó khăn và nan giải Vớimỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp xử lý khácnhau từ những khâu thu gom đến tiêu hủy cuối cùng Một trong
số các chất thải cần phải đặc biệt quan tâm đó là các chất thải y
tế vì tính đa dạng và phức tạp của chúng
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng pháttriển dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, sè bệnhnh©n cũng tăng theo.Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế th× chođến nay ngành y tế có 1.511 cơ sở khám chữa bệnh với 200.000giường bệnh [5] Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thảibệnh viện được ban hành, nhưng hầu hết các chất thải bệnhviện chưa được quản lý theo đúng một quy chế chặt chẽ hoặc
có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Ô nhiễm
Trang 4môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lýkém hiệu quả các chất thải bệnh viện.
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tậthoặc tổn thương Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tốtruyền nhiễm, là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hóa chất
và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ và các vật sắcnhọn…Tất cả các nhân viên tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại
là những người có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồmnhững người làm việc trong các cơ sở y tế, những người bênngoài làm việc thu gom chất thải y tế và những người trongcộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâuquản lý chất thải
Bệnh viện C Tỉnh Thái Nguyên tiền thân là Bệnh việnCông ty xây lắp II thuộc Bộ Cơ khí luyện kim (nay là Bộ Côngthương) quản lý, được chuyển giao cho Ủy ban dân nhân tỉnhBắc Thái (nay là Thái Nguyên) quản lý theo quyết định số181/UB- QĐ ngày 19 tháng 12 năm 1987 của UBND tỉnh BắcThái (nay là tỉnh Thái Nguyên) [1] Bệnh viện được xây dựngnhằm phục vụ yêu cầu về khám chữa bệnh và điều trị bệnh cho
Trang 5nhân dân các huyện phía nam của tỉnh Thái Nguyên và một sốvùng lân cận Trải qua một thời gian dài xây dựng và phát triển,ngày nay Bệnh viện C đó được xây dựng khang trang, với qui
mô 450 gường bệnh được tổ chức 5 phòng chức năng và 21khoa Hiện tại có 482 cán bộ viên chức (có 50 hợp đồng laođộng) trong đó có 132 cán bộ đại học Được trang bị nhiềuthiết bị hiện đai như máy chụp cắt lớp vi tính, chụp cộnghưởng từ, máy xạ phẫu bằng dao gama điều trị ung thư Cơ sở
hạ tầng được nâng cấp và mở rộng đáp ứng được yêu cầukhám chữa bệnh cho nhân dân trong khu vực Hiện nay, mỗingày có khoảng hơn 250 lượt người đến khám, hơn 700 ngườibệnh điều trị nội trú tại bệnh viện, hơn 500 cán bộ viên chức
và sinh viên thực tập
Năm 2004, Bệnh viện C đã được Ủy ban nhân dân tỉnhThái Nguyên phê duyệt dự án xử lý chất thải Bệnh viện (baogồm hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải Bệnh viện theoquyết định số 237/QĐ- UBND ngày 09 tháng 02 năm 2004 vàđưa vào sử dụng tháng 6 năm 2008) Việc phỏt sinh và thải bỏchất thải y tế nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ảnh
Trang 6hưởng lớn đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe của người dân.
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thugom, xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện Được sự đồng ý củaKhoa Tài nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, em tiến hành thực hiện đề tài: "
Phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao công tác thu gom, xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện C Thái Nguyên "
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước thải
y tế tại Bệnh viện C Thái Nguyên Từ đó đề xuất các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom, xử lýchất thải y tế, nâng cao chất lượng môi trường
Trang 7- Các giải pháp đưa ra phải có tính thực tiễn cao và phùhợp với điều kiện của Bệnh viện.
1.4 Ý nghĩa đề tài
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra nhưng kinh nghiệmthực tế phục vụ công tác sau này
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã họctập và nghiên cứu
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn
+ Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thugom và xử lý rác thải, nước thải y tế của Bệnh viện C TháiNguyên
+ Đề xuất những biện pháp khả thi cho công tác thu gom,
xử lý rác thải y tế một cách khoa học và phù hợp hơn với điềukiện của Bệnh viện
Trang 8Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cở sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm
2007 về Quản lý chất thải rắn
- Thông tư số 12/2011/TT - Bộ TNMT ngày 14 tháng 4năm 2011: Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ,đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm2007: về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 2575/1999/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 08năm 1999: Về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTMT ngày 26 tháng 12 năm2006:Về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại
- Quyết định 21495/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lýtổng hợp chất thải rắn đến năm 2005, tầm nhìn đến 2050
Trang 9- Quyết định 155/1999/QĐ - TTg ngày 16/7/1999 của Thủtướng Chính phủ về Quy chế quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định 153/2006/QĐ - TTg ngày 30/6/2006 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệthống y tế Việt Nam giai đoạn 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
- TCVN 7382/2004 về chất lượng nước thải bệnh viện, tiêuchuẩn thải
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Các khái niệm liên quan
* Định nghĩa chất thải y tế [20]
Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tạiQuyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 quy định:
+ Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải
ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thảithông thường
+ Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy
hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm,gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc
Trang 10tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy
an toàn
2.2.2 Phân loại chất thải y tế
- Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học vàtính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phânthành 5 nhóm sau [20]:
* Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra cácvết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kimtiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa,các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sửdụng trong các hoạt động y tế
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải
bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phátsinh từ buồng bệnh cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thảiphát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm vàdụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
Trang 11- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan,
bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thínghiệm
*Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng
sử dụng
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc,các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ ngườibệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế,huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa),cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệutráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hìnhảnh, xạ trị)
* Chất thải phóng xạ:
Trang 12Bộ Y tế
* Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Cácbình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu
tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ cácbuồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế nhưcác chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, cácloại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này khôngdính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Trang 13- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy,báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túiđựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoạicảnh
2.2.3 Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tính chất của chất thải y tế
2.2.3.1.Nguồn gốc phát sinh[12]
- Theo Qui chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải
y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí, được thải ra từ các cơ sở y
tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguyhại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm,gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặctính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủyhoàn toàn
- Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
Trang 14+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắcnhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ốngtiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lâynhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơlây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm); chấtthải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phân cơ thể người, rau thai,bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kémphẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học ngy hại sửdụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từnhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)
- Chất thải lỏng y tế nguy hại:
+ Được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ cácphòng phẫu thuật, thủ thuật, xét nghiệm, thí nghiệm ) và sinhhoạt của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người chăm nuôi (từcác nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh phòng bệnh Đối vớinước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thườngnhư chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thườngcòn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các vikhuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi
Trang 15hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được
sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị
- Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại):
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa họcnguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ cácbuồng bệnh cách ly)
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế(chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, cácloại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này khôngdính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại); chất thảiphát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu, túinilon ); chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoạicảnh)
2.2.3.2.Thành phần chất thải rắn y tế [20]
- Quy chế Quản lý chất thải Y tế do Bộ Y tế ban hành nêuchi tiết các nhóm và các loại chất thải y tế phát sinh Căn cứ vàocác đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại,
Trang 16chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm : chất thảilây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bìnhchứa áp suất và chất thải thông thường.
Trang 17- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các
vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm:bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ,đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vậtsắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải
bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chấtthải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thảiphát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm vàdụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan,
bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thínghiệm
Trang 18nguy hại
hành kèm theo Quy chế này)
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc,các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từngười bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụ lục 2 banhành kèm theo Quy chế này)
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế,huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nhakhoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chìhoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ cáckhoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
Trang 19thường
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ cácbuồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế nhưcác chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa,các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải nàykhông dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguyhại
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy,báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túiđựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoạicảnh
(Nguồn: Tổng hợp từ Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế 2007- Bộ Y
tế) [18.]
- Trong báo cáo về quản lý và xử lý chất thải y tế nằmtrong khuôn khổ dự án chăm sóc sức khỏe cho khu vực nghèo 7tỉnh miền núi phía Bắc do Bộ Y tế chủ trì, điều tra khảo sátthành phần chất thải rắn nguy hại tại bệnh viện tuyến huyện,
Trang 20tỉnh quy mô 100-400 giường cho thấy trong thành phân chất thảinguy hại, chất thải giải phẫu ( chất hữu cơ) chiếm tỷ lệ lớn(44,4%) trong khi chất thải sắc nhọn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ(0,8%).
- Việc tìm hiểu đặc tính chất thải y tế nguy hại đóng vai tròquan trọng trong việc lựa chọn lò đốt chất thải y tế cho phù hợp
Độ ẩm của chất thải rắn là thông số liên quan đến giá trị nhiệtlượng Tỷ trọng được xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng củamẫu rác và thể tích chiếm chỗ Tỷ trọng thay đổi theo thànhphần, độ ẩm, độ nén chặt của rác Khối lượng chất thải có thểđốt mỗi giờ phụ thuộc vào giá trị nhiệt lượng của mỗi kilogamchất thải
- Đặc điểm của chất thải rắn y tế nguy hại ở Việt Nam làthành phần thay đổi lớn, không đồng nhất, độ ẩm cao, chất thảichứa lượng vải dính máu mủ, găng tay nhựa khá nhiều và chấtthải có nhiệt trị khá thấp Khảo sát tại các bệnh viện huyện thuộc
7 tỉnh miền núi phía bắc năm 2007 cho thấy thành phần chất thảinguy hại có xu hướng có giá trị nhiệt cao hơn so với khảo sátnăm 2002
Trang 21Bảng 2.2 Đặc tính của chất thải y tế nguy hại
2.2.4 Thành phần nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường nhưnước thải sinh hoạt của cán bộ viên chức, của bệnh nhân, ngườinhà bệnh nhân, nước lau sàn nhà, bể phốt của các khu điều trị (ônhiễm hữu cơ), nước trong mùa mưa còn có thể nhiễm nhữnghóa chất phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnhnhư các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng
xạ, các khu xét nghiệm, phòng mổ Bên cạnh đó, nước thải bệnhviện nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ bởi trong nướcthải bệnh viện có chứa các loại vi trùng, động vật nguyên sinh
Trang 22gây bệnh, trứng giun, virut….từ máu, dịch, đờm, phân của ngườimang bệnh.
Bảng 2.3 Thành phần nước thải bệnh viện
Nước thải sinh hoạtcyar bệnh nhân,người nhà bệnh nhân,khách vãng lai và cán
bộ công nhân viêntrong bệnh viện
Các chất tẩy
rửa
Muối của các axit béo bậc cao Xưởng giặt của bệnh
viênCác loại hóa
chất
- Formaldehyde
- Các chất quang hóa học
- Các dung môi gồm các hợpchất Halogen như cloroform,các thuốc mê sốc hơi nhưHalothan, các hợp chất khácnhư xylen, axeton
Sử dụng trong khoagiải phẫu bệnh, tiệtkhuẩn, ướp xác vàdùng bảo quản cácmẫu xét nghiệm ởmột số khoa
Có trong dung dịch
Trang 23- Các chất hóa học hỗn hợp:
gồm các dịch làm sạch và khửkhuẩn
- Thuốc sử dụng cho bệnh nhân
dùng cố định và trángphim
Sử dụng trong quátrình điều trị, chuẩnđoán bệnh
Có trong máu, dịch,đờm, phân của ngườimang bệnh
(Nguồn : Bộ Y tế và DTM Dự án Xây dựng 2007) [19].
Đánh giá chung về nước thải bệnh viện ở Việt Nam, cáckết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Nguyên và cộng sự( Banchỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường)cho thấy đối với các bệnh viện tØnh hàm lượng cặn lơ lửngtrong nước thải ở mức trung bình, oxy hòa tan cao, hàm lượngnitơ amoni nhỏ Tuy nghiên tổng số Coliform trong nước thải
Trang 24bệnh viện lại rất cao Phần lớn các chỉ tiêu của nước thải đềuvượt tiêu chuẩn cho phép, 1 số chỉ tiêu gấp nhiều lần Nước thải
y tế không được khử trùng trước khi thải vào hệ thống cống thảichung Nước thải bệnh viện chưa qua xử lý xả vào các nguồnnước sẽ gây ô nhiễm và làm lan truyền dịch bệnh Phần lớn cácbệnh viện tuyến tØnh tập trung ở khu vực dân cư đông, do vậydịch bệnh dễ dàng phát tán nhanh chóng
trong nước thải bệnh viện
TT Vi khuẩn gây bệnh Tỉ lệ phát hiện được
Trang 25Bảng 2.5 Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử lý bằng phương pháp sinh học
xử lý
Sau xử lý
Hiệu suất (%)
ô nhiễm, truyền bệnh trong nước thải bệnh viện
2.2.5 Ảnh hưởng của CTYT đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Trang 26* Tác hại, nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
- Chất thải y tế là chất thải có chưa đựng các loại sinh vậtgây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bài,chất phóng xạ… Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đãchứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến sứckhỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu CTYT khôngđược quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh này có thể xâmnhập vào cơ thể người thông qua: da (qua một vết thủng, trầysước hoặc vết cắt trên da), các niêm mạc (màng nhầy), đường hôhấp (do xông, hít phải), đường tiêu hóa, tác động gián tiếp do ônhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian nhưruồi, muỗi, chuột… Tất cả những người tiếp xúc với CTYTnguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y
tế, bao gồm: bác sĩ, y tá, hộ lý; bệnh nhân điều trị nội trú hoặcngoại trú; khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân; nhữngngười trực tiếp làm công việc xử lý rác thải tại các bãi đổ rácthải hay các lò đốt rác Những người thu gom, bới rác
Trang 27- Các nguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đườngtiêu hóa do các vi khuẩn tả lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễmkhuẩn đường hô hấp do lao, do phế khuẩn cầu; tổn thương nghềnghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than; HIV/AIDS; nhiễm khuẩnhuyết; viêm gan các loại, các bệnh thần kinh; gây ngộ độc, ănmòn, cháy nổ [1].
- Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ cókhoảng 162 - 321 trường hợp nhiễm virus viêm gan B có tiếpxúc với CTYT so với tổng số 30.000 trường hợp nhiễm virusviêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chấtthải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệpcao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong mỗinăm, cao hơn 2 lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động
ở Mỹ cộng lại
* Ở Nhật Bản:
Các nghiên cứu về CTYT đã đưa ra các số liệu như sau:+ Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 chothấy 67,3% những người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổnthương do các vật sắc nhọn, 44,4% những người thu gom rác
Trang 28bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thu gom chất thảibệnh viện.
+ Shiro Shitaro cũng đã nêu trong tài liệu khoa học củaNhật Bản, tổng số hơn 500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh cóliên quan tới chất thải bệnh viện, hơn 400 trường hợp bị táchại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào
- Đối với nước thải, ở Chile Peru đã có những nghi ngờ vềviệc thải nước thải bệnh viện ra cống một cách tùy tiện đã làm lantruyền dịch tả Những tai nạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnhviện bị nhiễm phóng xạ đã được ghi nhận bởi các cơ quan truyênthông quốc tế ở thành phố Brasilia năm 1989
- Rác không được thu dọn kịp thời sẽ trở thành nơi phátsinh ruồi, muỗi, chuột, gián, ô nhiễm môi trường không khí dophát sinh mùi hôi thối khó chịu Các trung gian truyền bệnh này
sẽ tạo ra 1 nguy cơ lan tràn bệnh dịch nhanh chóng từ các bệnhviện, từ CTYT không được xử lý đúng cách Cũng như vậy,nước thải bệnh viện không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinhcũng sẽ là nguồn phát sinh các mầm bệnh vào các nguồn nước( nước mặt, nước ngầm)
Trang 29* Tại Việt Nam
a) Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường: cácnghiên cứu cho thấy ô nhiễm môi trường ở nước ta chủ yếu làmôi trường nước và không khí
Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm(2006) [15]:kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số Bệnh viện ngoại thành
Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (năm 1998) chothấy : các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD5,Nh4,Coliform và Fecal coliform ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêuchuẩn cho phép Các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phân lậpđược từ nước sinh hoạt, nước thải, không khí và dụng cô chuyênkhoa tại các bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn đường ruột
b) Ảnh hưởng của chất thải tế đến sức khỏe cộng đồng
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy những ảnh hưởnglớn của chất thải y tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh việnnhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thức trạng tácđộng của chất thải y tế đối với sức khỏe ở những người tiếp xúcvới chất thải y tế
Trang 30Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu về ônhiễm môi trường và khả năng lây truyền do nước thải bệnhviện gây ra ở Hà nội cho thấy có hiện tượng tăng trội nhiều bệnh
ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện nhất là cácbệnh đường tiêu hóa [9]
Đối với sức khỏe: việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thểgây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn( như kim tiêm) Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên nhữngvết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vật sắcnhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh Như vậy những vật sắcnhọn ở đây được coi là là chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổnthương kép( vừa gây tổn thương vừa gây bệnh truyền nhiễm nhưviêm gan B, HIV…) Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựngcác tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, viêm gan B,HIV… Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể qua cácvết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc, qua đường hô hấp(do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Nướcthải bệnh viện còn là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất
là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm
Trang 31cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh viện Nhữngnguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khảnăng làm lây lan những bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêuhóa Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị lây nhiễm các vi khuẩngây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật quanguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ănuống…
- Như vậy, nếu việc thu gom, phân loại và xử lý các chấtthải y tế không bảo đảm đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộngđồng và nhất là của người trực tiếp tiếp xúc với chất thải
- Đối với môi trường: Khi chất thải y tế không được xử lýđúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng qui định, tiêu chuẩn)thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường, đất, nước và không khí và sự
ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏecon người, hệ sinh thái [7]
- Như vây, để tránh được sự nguy hại của chất thải y tế đốivới sức khỏe con người, môi trường, và để bảo vệ những ngườithường xuyên tiếp xúc với chất thải y tế thì ngành y tế phải quantâm đầu tư hơn nữa cho công tác xử lý chất thải y tế
Trang 322.3 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Thực trạng thu gom xử lý chất thải y tế trên Thế giới
- Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý,theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấubệnh tật, dịch bệnh, loại bệnh, quy mô giường bệnh, phươngpháp và thói quen của nhân viên y tế trong công việc khám,chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân và rác thải của người bệnhtrong các khoa phòng
- Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới(1992) ở cácnước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau:các chất không độc hại( chất thải sinh hoạt gồm chất thải không
bi nhiễm các yếu tố nguy hại), chất thải sắc nhọn (truyền nhiễmhay không truyền nhiễm) chất thải nhiễm khuẩn (khác với cácvật sắc nhọn nhiễm khuẩn), chất thải hóa học và dược phẩm(không kể các loại thuốc độc đói với tế bào), chất thải nguyhiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc đối với tế bào, cácbình chứa khí có áp suất cao
Trang 33Bảng 2.6 Chất thải y tế theo giường bênh trên thế
(Nguồn: Hoàng Thị Liên) [11].
- Theo Tổ chức Y tế thế giới có 18-64% cơ sở y tế chưa cóbiện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế 12,5%công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trongquá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơinhiễm nghề nghiệp với máu là phổ biến nhất, chủ yếu là dùnghai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn, cókhoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra khi vận chuyểnCTYT đi qua khu vực bệnh nhân mà không được đựng trong xethùng có nắp đậy
Trang 34- Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốcgia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản
lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằmkiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, cácnguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong
đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thựchiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
- Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quyđịnh về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời
áp dụng, cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắcchỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc giakhông có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia cóđiều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặcbiệt
- Nguyên tắc pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quanlàm phát sinh chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tàichính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trongsạch
Trang 35- Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chấtthải nguy hại cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càngsớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thờigian dài gây ô nhiễm môi trường
- Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế
và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có nhữngbiện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này
đã được thải hồi vào không khí
- Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí cónhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quátrình thiêu đốt như axit clohidric, đioxin/furan, và một số kimloại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadmi Do đó, tại Hoa
Trang 36kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lòđốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọchóa học và cơ học tùy theo loại phế thải.
- Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đềnày đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đãgây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vàokhông khí, do đó các nhà khoa học hiện đang áp dụng mộtphương pháp mới Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử
lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khíthải
- Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại đượcchuyển qua một máy nghiền nát Phế thải đã được nghiền xong
sẽ được chuyển qua một phòng hơi có nhiệt độ 138oC và áp suất3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu chohơi nước bão hòa Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút.Sau cùng phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãirác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng Phươngpháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối mlượng phế thải
Trang 37vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như khôngtạo ra khí thải vào không khí
*Tại các nước đang phát triển
- Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môitrường nói chung vẫn còn rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnhviện Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây, các quốc gianhư Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môitrường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ởbệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã banhành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộluật này có ghi rõ rang phương pháp tiếp nhận phế thải, phânloại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó,vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiệnrất nhiều
2.3.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Hiện nay ngành y tế có 1.511 cơ sở khám chữa bệnh với200.000 giường bệnh, không kể các khối y tế tư nhân có > 701
cơ sở y tế từ phòng khám tới bệnh viện tư hoạt động [5]
Trang 38Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nướctrong khu vực, song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lýchất thải tại các cơ sở từ trung ương tới địa phương còn quá yếu,hầu hết chưa có hệ thống xử lý chất thải hoặc rác thải, một vài nơituy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật
Với mạng lưới y tế như vậy, lượng rác thải rắn y tế phátsinh trên toàn quốc là 11800 tấn/ngày Trong đó có khoảng 900tấn chất thải y tế nguy hại Theo PGS-TS Nguyễn Huy Nga,Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) [13] ở nước
ta, trong khoảng 95% rác thải y tế được thu gom chỉ có 70%được xử lý bằng phương pháp đốt trong các lò đốt Công nghệđốt đang được áp dụng phổ biến nhưng thường chỉ có các lònhỏ, chưa có hệ thống xử lý khí thải nguy hại Điều này dẫn đếnnhững hệ lụy nghiêm trọng, đặc biệt là các chất khó phân hủy(POPs), chất nguy hại cho sức khỏe, chất gây ung thư nhưdioxin, furan Ngoài ra, chi phí đốt rác thải hiện khá cao,khoảng 80.000 đồng/kg rác thải bệnh viện và thông thường rất ítbệnh viện có thể thải ra đủ công suất đốt của lò nên sau vài ngàymới thực hiện tiêu hủy một lần Mỗi lần như vậy lại phải tiến
Trang 39hành quy trình đốt lại từ đầu, tiêu tốn nhiều năng lượng do đốtkhông liên tục trong khi chi phí này không được tính vào việnphí [13].
Bảng 2.7 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại ở
các bệnh viện của một số tỉnh thành phố
Tỉnh, thành
phố
Khối lượng rác YTNH (tấn/năm)
Tỉnh, thành phố
Khối lượng rác YTNH (tấn/năm)
Trang 40(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành trên
tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường
* Phân loại chất thải y tế:
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từnguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả donhân viên chưa được đào tạo
* Thu gom chất thải y tế:
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đềuđược các hộ lý và y công thu gom hàng ngày ngay tại khoaphòng Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá còn chưa được huấnluyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình