1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chính sách tiền tệ với mục tiêu ổn định giá cả

41 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách tiền tệ với mục tiêu ổn định giá cả
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 446 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu

Trang 1

Đề tài: Chính sách tiền tệ với mục tiêu ổn định giá cả

Phần 1: Cơ sở lý thuyết của chính sách tiền tệ

1.Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ :

Khái niệm chính sách tiền tệ :

Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung

ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình

nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng

trưởng kinh tế

Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo

hai hướng:

Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy

sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền

tệ chống thất nghiệp)

Chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm

đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp

tăng - chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

Vị trí chính sách tiền tệ :

Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính

sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động

trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ

với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách

thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại

Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách

chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm

làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn

Trang 2

2 Các mục tiêu của chính sách tiền tệ

2.1 Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ :

*Ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động

đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổn

định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả

hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền

nước mình so với ngoại tệ) Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng

tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể

phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất

nghiệp tăng lên

*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng

trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất

kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có

một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên

*Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi

chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của

mình, để

giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị

đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với

Chính phủ.Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được

một cách hài hoà

Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ

nhau, không tách rời Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục

tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Vậyđể đạt

được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện

CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác Phần

Trang 3

lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài

hạn của chính sách tiền tệ.

2.2 Mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ :

a Khái niệm :

Là mục tiêu do NHTW lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng và

phải có liên hệ với mục tiêu cuối cùng

b Các tiêu chuẩn lựa chọn

NHTW điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết

quan trọng nhất của mục tiêu trung gian

c Các chỉ tiêu thường được lựa chọn

trung gian phải thả nổi lãi suất

tiền cơ sở sẽ biến động

d Sự chọn lựa mục tiêu trung gian trong những trường hợp cụ thể

động mạnh từ IS’ đến IS’’

làm đường LM dịch chuyển => Y sẽ biến động từ Y’đến Y’’

Trang 4

 Nếu chọn MS làm mục tiêu,

Y’M

gian là lượng tiền cung ứng

động mạnh hơn

Y”M

 Nếu cố định i* : mọi biến

động của mức cầu tiền sẽ dẫn đến những

biến động tương ứng của mức cung tiền

nhằm duy trì mức lãi suất cố định, do đó

LM luôn cố định tại vị trí của nó, mức

2.3 Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ :

mục tiêu trung gian Nó có phản ứng tức thời với những thay đổi trong sử

dụng công cụ của CSTT

Trang 5

 Về lượng : lượng tiền trung ương MB, dự trữ của các ngân

hàng trung gian R ( Việt Nam chọn dự trữ của các ngân hàng thương mại)

trường mở, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tín phiếu kho bạc

3.Các công cụ của CSTT

3.1 Công cụ gián tiếp

a Nghiệp vụ thị trường mở

Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW

thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết

lượng tiền cung ứng

Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho

cơ sở tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi)

Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm

thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ), nếu bao gồm cả công chúng

thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông(C)

Ưu điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi

là một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng

chứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều

chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế

Nhược điểm: vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn

phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công

cụ này hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ,

thị trường vốn

Trang 6

b Dự trữ bắt buộc

Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phải giữ lại,

do NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để

đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng

số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của

hệ thống ngân hàng

Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực

tiếp đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các

NHTM Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay

của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm

cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng)

Ưu điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên

giúp NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác

động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt

buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền)

Nhược điểm: tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực

hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới

hoạt động kinh doanh của các NHTM

c Chính sách tái chiết khấu:

Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn

đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh

lãi suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết

khấu (cửa sổ chiết khấu)

Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ

hạn chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả

năng cho vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong

Trang 7

nền kinh tế giảm (tăng) Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay

chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại

Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa

phổ biến để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện

nghiệp vụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các

NHTM

Ưu điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là

người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó

khăn

trong thanh toán, và có thế kiểm soát được hoạt động tín dụng của các

NHTM đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với

nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể

Nhược điểm: hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động

cho vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo

mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường

Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung

ứng, trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả các công

cụ này

thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác Tuy vậy trong

những điều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế

quá nóng ) thì để đạt được mục tiêu của mình, NHTW có thể sử dụng các

công cụ điều tiết trực tiếp

3.2 Công cụ trực tiếp

a Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM

Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM

không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định

(một

Trang 8

năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình Việc

định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu

kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng ,lạm phát tiêu thụ ) sau đó NHTW sẽ phân

bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do

NHTW quy định

Cơ chế tác động :Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp

đối với lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín

dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng

theo mục tiêu của NHTM

Ưu điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung

ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của

nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao

của nền kinh tế

Nhược điểm: có thể triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,

làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình

thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm

khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

b Quản lý lãi suất của các NHTM:

Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn định một trần lãi

suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó

ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được

quản lý mức cung tiền của mình

Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay

giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM

làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo

Trang 9

Ưu điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng

theo mục tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa

có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp

Nhược điểm: dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền

kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình

thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế Mặt khác việc

thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn

kém trong hoạt động kinh doanh của mình

Phần 2: Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiên nay với mục

tiêu ổn định giá cả

Nhìn lại tình hình chung của giá cả trong năm 2008 cho tới nay

a)Sự bất thường trong diễn biến giá cả hàng hóa năm 2008

Trang 10

háng12

0

1 09.

2

1 11.

6

1 16.

0

1 18.

4

1 19.

8

1 21.

7

1 21.

9

1 21.

6

1 20.

7

1 19.

2

114

5

118

0

126

6

130

7

132

0

132

7

132

7

132

1

132

0

131

9

7

117

9

125

1

152

9

159

4

158

9

157

1

154

4

151

4

146

7

143

3

6

113

1

115

6

118

2

121

8

123

5

124

1

124

4

124

4

125

6

126

7

104

4

105

1

107

1

108

2

109

3

110

0

110

6

111

3

112

3

113

1

Trang 11

103

7

104

7

105

7

106

7

108

2

109

2

110

1

110

8

111

8

112

9N

3

108

0

110

8

112

2

114

3

116

3

118

8

118

0

116

8

111

1

108

5T

6

103

1

104

1

105

1

106

4

108

0

109

2

110

5

111

3

112

0

112

7D

1

101

9

102

7

103

2

103

9

106

0

107

3

108

1

108

8

109

1

109

4

Trang 12

100

6

101

0

101

4

102

1

103

2

104

4

105

8

106

6

106

7

106

9V

4

103

7

104

3

104

9

105

3

106

2

107

3

108

9

109

3

109

6

110

3H

1

106

2

106

8

107

1

108

1

109

4

110

4

110

8

111

7

112

1

113

3

1 18.

5

1 15.

9

1 11.

4

1 16.

3

1 20.

0

1 16.

4

1 09.

0

1 12.

5

1 06.

0

1 06.

8

Trang 13

9 9.6

9 8.1

9 9.3

1 00.

3

1 05.

0

1 06.

9

1 03.

8

1 03.

0

1 03.

0

1 05.

1

1 06.

3

Năm 2008 là năm giá cả biến động bất thường ở mức cao, chia thành

hai giai đoạn rõ rệt với sáu tháng đầu năm tăng rất cao, sáu tháng cuối năm

thì dịu dần ở quý 3, và 3 tháng cuối năm giảm, đạt dưới 100%

Diễn biến giá của năm vừa qua có sự nối tiếp của năm 2007, mức tăng

cao của nửa đầu năm 2008 đã có đà từ 6 tháng cuối năm trước đó Trong 2

quý cuối năm 2007, chỉ số giá tăng trung bình khoảng 1,14%/tháng Như

chúng ta đã biết, việc tăng chỉ số giá mạnh vào cuối năm 2007 đã đẩy CPI

năm này lên 12,63%

Đà tăng vẫn tiếp tục kéo sang đến năm 2008, mặc dù đã có một số

biện pháp để cố gắng kìm hãm như thắt chặt tiền tệ Trong 6 tháng này,

bình quân chỉ số CPI tăng 2,86%/tháng Đây là tốc độ tăng bình quân cực

cao Trong cả chục năm mới có chuyện tăng như vậy Trước đây, bình quân

mỗi tháng chỉ trên 1% đã là cao rồi

Như thế thì qua 6 tháng, chỉ số giá đã lên đến hơn 18%, nếu so với

tháng 12 năm 2007 Khi đó, nhiều lo ngại đã nảy sinh và có những ý kiến

cho rằng chỉ số giá cả năm 2008 sẽ lên đến 30% Theo quy luật thì tháng 2

tăng rất cao, sau đó đến tháng 3 thì chỉ số giá giảm tốc, hoặc âm, đến tháng

4, tháng 5 bằng bằng, hoặc âm một chút Thế nhưng năm 2008 lại tăng cao

liên tục, đến hết tháng 3, cho thấy nguy cơ không thể giữ được ở mức một

con số

Trang 14

Mức tăng của CPI vào tháng 5 cũng đạt mức đỉnh điểm của năm

Chính phủ phải nới biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1% vào ngày 10/03/2008

và từ 1% lên 2% vào ngày 27/06/2008, tận dụng sự trượt giá VND so USD

thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập khẩu Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh

toán và dư nợ tín dụng năm 2007 tăng gấp đôi so với tốc độ tăng của năm

2006 Tính đến 31-12-2007, tổng phương tiện thanh toán tăng 46,7% so với

31/12/2006 Tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế năm 2007 tăng 58% so với

năm2006

các loại nguyên nhân, cả chi phí đẩy, cầu kéo, lạm phát tiền tệ và cộng thêm

yếu tố tâm lý.

Trang 15

 Về chi phí đẩy, giá nguyên liệu đầu vào hồi quý 1/2008 tăng rất

cao, ví dụ thép, vật liệu xây dựng tăng giá liên tục Năm nay, giá nhiều mặt

hàng chịu sự tác động từ giá thế giới

Cụ thể là việc tăng giá dầu đã ảnh hưởng đến giá cả nhiều mặthàng như thép, xi măng, lương thực Đặc biệt là lúc đó, thị trường thế giới

thiếu lương thực Do đó, gạo từ mức giá 400-500 USD/tấn đã tăng đến hơn

nghìn, thậm chí 1.200 USD/tấn

Nền kinh tế chúng ta là nền kinh tế mở, và Việt Nam phải nhậpnhiều nguyên liệu, nên khi giá thế giới tăng đã như cơn bão ập vào ngay,

khiến chúng ta phải gánh chi phí đầu vào tăng mạnh

Nhưng, thậm chí có những mặt hàng chẳng phải nhập khẩu gì

cả mà giá vẫn tăng rất cao như gạch chẳng hạn, tăng gấp đôi, gấp ba Nhiều

lúc, tốc độ tăng giá của gạch còn cao hơn cả thép Rõ ràng, đã có một tác

động dây chuyền nào đó

với các năm trước đó không thay đổi nhiều, nhưng giai đoạn 6 tháng đầu

năm lại tăng khá cao, mặc dù giai đoạn này giá hàng hóa tăng

Một đặc điểm nữa là năm nay, thị trường chứng khoán kém sôiđộng hơn trước, thị trường bất động sản cũng đóng băng nên một lượng tiền

đã đổ vào thị trường hàng tiêu dùng, chuyển thành tích trữ hàng hóa, khiến

giá hàng hóa tăng

2008 vì năm 2007 trước đó, khi lượng USD vào nhiều theo kênh FII (đầu tư

gián tiếp - PV) thì các ngân hàng đã phải đưa một lượng tiền mặt ra để đối

ứng, giữ vững tỷ giá

Nhưng mặt khác, động thái đó lại làm mất giá đồng tiền nội tệ

Sau này, Ngân hàng Nhà nước đã có một loạt động thái thu tiền về bằng tăng

Trang 16

dự trữ bắt buộc, bán trái phiếu nhưng cũng không thể thu ngay về được.

Lượng tiền trong lưu thông còn rất lớn gây áp lực lạm phát

tăng của chỉ số giá

Yếu tố tâm lý nổi lên ở mấy đợt sốt giá cả trong năm 2008, liên quan

đến xi măng, sắt thép, đặc biệt là các lần sốt gạo Riêng về sốt gạo,có thể

khẳng định là hoàn toàn do yếu tố tâm lý, vì nước ta là nước xuất khẩu gạo,

không hề thiếu nguồn cung

Cơn sốt gạo năm vừa qua phát đi từ Tp.HCM và lan ra cả nước Trong

thời điểm giá gạo tăng đột biến, tại Tp.HCM, có hiện tượng người dân tranh

nhau đi mua gạo giá cao, thậm chí mỗi người chỉ được mua vài kg Điều này

càng kích thích giá cả tăng cao hơn

Sau đó, cũng có một số biện pháp bình ổn lại, nhưng rõ ràng giá cả đã

lên rất cao và ảnh hưởng từ giá gạo đã kéo theo hàng loạt hàng hóa, dịch vụ

khác tăng theo Kết quả là vào tháng 5, chỉ số giá đã tăng cao nhất trong năm

vừa qua, tới 3,91%

Thêm vào đó là xăng dầu, theo chúng tôi thống kê được thì năm vừa

qua, Nhà nước đã 15 lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó chỉ có hai lần

tăng giá, 13 lần giảm giá Tuy tăng giá hai lần nhưng biên độ điều chỉnh rất

cao, nhất là lần điều chỉnh hồi tháng 7, tới gần 30%

Giá xăng dầu tăng đã tác động mạnh đến nền kinh tế Dầu diezen tăng

thì các tầu đánh cá phải nằm bờ hết Cứ thế, sản xuất bị đình đốn, hàng hóa

ít đi, khó khăn chồng chất lên

Một yếu tố nữa có thể đề cập thêm là thời tiết Mặc dù các năm đều có

bị ảnh hưởng của thời tiết đến các hoạt động kinh tế, thế nhưng năm vừa qua

có quá nhiều diễn biến bất thường Ví dụ như trận rét hồi đầu năm, hay cuối

Trang 17

năm có trận lụt tại Hà Nội đều là mấy chục năm mới có một lần, tác hại rất

lớn

Nhìn lại giai đoạn này, những vòng tác động gián tiếp và tâm lý đã

đẩy nhiều loại hàng hóa tăng giá bất hợp lý Tại một số thời điểm, trong lúc

giá xi măng xuất xưởng của một số nhà cung cấp chỉ có 53.000-55.000

đồng/bao, thì giá bán trên thị trường lên 80.000 - 90.000đồng/bao

Không chỉ tác động đến giá các loại hàng hóa vật chất, thị trường

chứng khoán cũng nhiều lần chứng kiến tác động của chỉ số giá đến sự tăng

hay giảm của “bảng điện tử” Những công bố CPI sớm của các thành phố

quan trọng như Tp.HCM, Hà Nội có thời điểm cũng “áp đặt” xu hướng cho

thị trường mua bán giầy tờ có giá này

CPI cũng đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng

thương mại tăng liên tục trong giai đoạn này, có những thời điểm vượt trên

18-19%, đối với huy động tiền gửi, và 21-24% với cho vay

Bình quân mức tăng CPI thời kỳ này đạt 2,48%/tháng, dù đã được

điều chỉnh bởi các nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ

Việc chỉ số giá giảm, là điều bất ngờ Sau 6 tháng đầu năm tăng rất

cao, đến quý 3, chỉ số giá giảm tốc, chỉ còn tăng trên 1%, và đến tháng 9 thì

chỉ tăng 0,18% xưa nay không bao giờ có chuyện giảm giá vào quý 4, nhất

là các tháng 11 và 12

Tháng 10 thì còn có thể vì thường là tháng 9 tăng cao do ảnh hưởng từ

Tết Trung Thu, rồi ngày khai giảng, bố mẹ các em học sinh phải mua nhiều

sách vở theo biểu đồ chung thì tháng 9 lên cao, tháng 10 dịu xuống, rồi

tháng 11, 12 lại tăng lên

Trang 18

Nguyên nhân giảm này, thứ nhất là chính sách tiền tệ thắt chặt có tác

dụng kiềm chế lạm phát, nhưng hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp làm ra lại

cũng không bán được, rất khó khăn, dấn tới giảm giá

Nguyên nhân nữa là giá thế giới giảm Nhiều loại hàng hóa đều bắt

đầu giảm giá trong nửa cuối năm 2008, đặc biệt là giá dầu giảm rất mạnh,

đến gần đây chỉ còn trên 40 USD, thậm chí có lúc dưới 40 USD/thùng

Giá thép cũng giảm rất mạnh, rồi giá lương thực Gạo, sau một thời

gian tăng giá mạnh thì thế giới họ bắt đầu tăng sản xuất lên, đẩy giá gạo

giảm Việt Nam có chuyện lo mất an ninh lương thực thì giãn xuất khẩu

Hơn nữa, sau những thiên tai hồi đầu năm, ta phải gieo cấy lại, cứ

nghĩ có lẽ mất mùa nhưng năm nay lại được mùa, nguồn cung thừa thãi

khiến giá gạo xuống nhanh Ngoài ế thừa do không xuất được, ta lại nhập

khẩu gạo ngon qua Campuchia, khiến nhu cầu tiêu dùng gạo trong nước

càng giảm hơn nữa

Một chuyện nữa liên quan đến thịt lợn, mặt hàng quan trọng trong tiêu

dùng của người dân Việt Nam, có trọng số khá cao trong rổ hàng hóa tính

CPI Hồi đầu năm, giá thịt lợn tăng rất cao, nguyên nhân do dịch bệnh Lúc

đó, ta xuất mạnh lợn sữa sang Trung Quốc, nguồn cung càng thiếu

Để bình ổn giá, Chính phủ cho nhập thịt về, sau đó thì hàng về quá

nhiều Giai đoạn sau này thì mặt hàng này lại kéo chỉ số giá đi xuống Vì

vậy, ngành chăn nuôi năm vừa qua cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi nhập

khẩu thịt lợn, thịt gà

Tháng 11, tại các tỉnh chỉ số giá đã xuống rồi thì Hà Nội vẫn tăng

Đây lại là trung tâm kinh tế, có sức lan tỏa mạnh Chính vì thế thiệt hại càng

nặng nề hơn

Trang 19

Về phía Chính phủ, nhận thức được nguy cơ này, gói giải pháp

tổng thể hơn 100.000 tỷ đồng đã được tung ra để kích thích nền kinh tế

Tại phiên họp thường kỳ tháng 12 vừa qua, các thành viên Chính phủ

cũng nhất trí tiếp tục thực hiện năm nhóm giải pháp cấp bách, chủ yếu

để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, bao gồm thúc đẩy sản xuất, kinh

doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư; chính sách tài chính, tiền tệ linh

hoạt; bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường công tác điều hành.

b) Biến động giá cả 2009 và những dự báo

Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, chỉ số giá tiêu dùng

(CPI) tháng 1/2009 tăng 0,32% so với tháng 12/2008 và tăng 17,48% so với

cùng kỳ năm 2008

Như vậy, CPI đã tăng trở lại sau 3 tháng giảm liên tục, nhưng đây là

mức tăng thấp nhất của tháng 1 trong vòng 4 năm qua (tháng 1/2006 tăng

1,2%; tháng 1/2007 tăng 1,05%; tháng 1/2008 tăng 2,38% so với tháng

trước)

Trong năm nay, lạm phát vẫn là yếu tố đầu tiên cần được tính đến,

Việt Nam vẫn phải tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần

Năm 2009, giá cả thị trường Việt Nam sẽ biến động và gắn kết ngày

càng chặt chẽ vào biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường

thế giới

CPI năm 2009 sẽ là 7%[16/07/2009]

CPI có thể tiếp tục tăng nhẹ trong các tháng tiếp theo nhưng không có sự

biến động lớn và CPI tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng ở

mức 1 con số (<10%)

Trang 20

2 Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.

Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực

hiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh

tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:

Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp

chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm

tiền mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt

thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh

lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức

tín dụng khác (D) Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên

cơ sở: tỉ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng

quay tiền tệ

Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một

cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ

Ngày đăng: 08/04/2013, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w