Đối với các nhà đầu tư khác, họ quan tâm tới các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả năng thanh toán… Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công
cụ để thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp1
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, ngân hàng, cổ đông hiện tại
và tương lai, khách hàng, kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là khả năng phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp; do
đó, họ quan tâm tới mọi hoạt động Đối với chủ Ngân hàng và chủ nợ khác, mối quan tâm chủ yếu của họ là đánh giá khả năng thanh toán, khả năng trả nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp Đối với các nhà đầu tư khác, họ quan tâm tới các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả năng thanh toán…
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.1.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích tài chính
Phân tích tài chính là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ
1
Giáo trình tài chính doanh nghiệp (tr.66), nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 2ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, có sự quản lý vĩ
mô của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh tế khác nhau luôn có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Các đối tượng này được chia thành 2 nhóm chính: nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp
Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm: cổ đông, nhà đầu tư, chủ ngân hàng, nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp Mỗi đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các mục đích khác nhau
Cổ đông và nhà đầu tư: Với mục tiêu đầu tư vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi
nhuận, những đối tượng này quan tâm trực tiếp đến giá trị của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và cách thức phân chia lợi nhuận Do vậy, các câu hỏi thường được đặt ra là:
Tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần là bao nhiêu? Thu nhập của một cổ phiếu là bao nhiêu? Cổ tức của một cố phiếu là bao nhiêu? Tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư là bao nhiêu? Tỷ lệ rủi ro trong đầu tư là bao nhiêu? Khả năng thanh toán như thế nào? Để có thể trả lời được tất cả những câu hỏi này, họ sử dụng các thông tin kế toán để theo dõi tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích bảo vệ tài sản của mình đã đầu tư vào doanh nghiệp Tình trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả của cổ phiếu do doanh nghiệp đã phát hành Để bảo vệ tài sản của mình, họ thường xuyên phân tích tình hình tài chính
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đã đầu tư để quyết định có tiếp tục nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp này nữa hay không
Ngân hàng: Các doanh nghiệp kinh doanh thường sử dụng vốn vay thích hợp để
đáp ứng các nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh Bởi vậy, vốn vay thường chiếm tỷ trọng tương đối cao Khi cho vay, ngân hàng thường quan tâm đến khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán của doanh nghiệp thể hiện trên báo cáo tài chính Bằng việc so sánh số lượng và chủng loại tài sản với số nợ phải trả theo kỳ hạn, ngân hàng
có thể xác định được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và quyết định có nên cho doanh nghiệp vay hay không Bên cạnh đó, ngân hàng còn quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và coi đó như là nguồn đảm bảo cho ngân hàng có thể thu hồi
nợ khi doanh nghiệp bị thua lỗ và phá sản Ngân hàng sẽ hạn chế cho các doanh nghiệp vay khi nó không có dấu hiệu có thể thanh toán cho các khoản nợ đến hạn
Nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp: Nhà quản trị là những người trực tiếp
quản lý doanh nghiệp nên cần phải hiểu rõ tình hình tài chính cũng như các hoạt động khác Các nhà quản lý cần thông tin tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của
Trang 33
doanh nghiệp, đồng thời xác định điểm mạnh và điểm yếu Trên cơ sở đó phát hiện ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan giúp nhà quản trị kiểm soát và chỉ đạo tình hình sản xuất kinh doanh Các thông tin do các báo cáo tài chính cung cấp thường không đáp ứng đủ cho nhu cầu thông tin của họ Nhằm đáp ứng thông tin cho đối tượng này, doanh nghiệp thường phải tổ chức thêm một hệ thống kế toán riêng Đó là
kế toán quản trị Mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp và ra các quyết định quản lý kinh doanh của doanh nghiệp Nhóm có quyền lợi gián tiếp bao gồm: các cơ quan quản lý Nhà nước, người lao động, đối thủ cạnh tranh
Các cơ quan quản lý Nhà nước: Những đối tượng này cần các thông tin từ phân
tích tài chính để kiểm tra tình hình tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng các kế hoạch quản lý vĩ mô
Người lao động: Đây là những người có nguồn thu nhập gắn với lợi ích của
doanh nghiệp Phân tích tài chính giúp họ hiểu được tính ổn định và định hướng công việc trong hiện tại và tương lai đối với doanh nghiệp Qua đó, xây dựng niềm tin của cán bộ công nhân viên đối với từng quyết định kinh doanh của chủ thể quản lý Bên cạnh đó, những người đi tìm việc luôn có nguyện vọng được vào làm việc ở những doanh nghiệp có triển vọng để có mức lương xứng đáng và nơi làm việc ổn định Do vậy, một doanh nghiệp có tình hình tài chính và tương lai ảm đạm đang đứng trên bờ vực của sự phá sản sẽ không thu hút được người lao động đến làm việc
Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lời,
doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu tài chính khác của doanh nghiệp để tìm biện pháp cạnh tranh thích hợp
Tuy mỗi đối tượng quan tâm đến các thông tin từ phân tích tài chính của doanh nghiệp dưới góc độ khác nhau nhưng nhìn chung, họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa Từ đây ta
có thể thấy, phân tích tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan đến doanh nghiệp
1.1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính
Để trở thành một công cụ quản lý quan trọng của quá trình hoạt động kinh doanh, phát huy sức mạnh của chỉ tiêu tài chính trong doanh nghiệp và là cơ sở cho việc đưa
ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, phân tích tài chính doanh nghiệp có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 4- Cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có những quyết định đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho vay
- Cung cấp đầy đủ cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà cho vay
và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào – ra và tình hình sử dụng có hiệu quả nhất của tài sản, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp
- Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại yếu kém của từng chỉ tiêu tài chính
- Xây dựng phương án kinh doanh tối ưu căn cứ vào chỉ tiêu tài chính đã phân tích
1.1.2 Trình tự và các bước tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
Hình 1.1 Trình tự tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
Bước 1: Thu thập thông tin: Nhà phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin
có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục
vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin về số lượng và giá trị… trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế chủ yếu là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
Bước 2: Xử lý thông tin: Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình
xử lý thông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin
Thu thập thông tin Xử lý thông tin và quyết định Dự đoán
Trang 55
theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Bước 3: Dự đoán và quyết định: Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị
những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định tài chính Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa giá trị xí nghiệp Đối với người cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp, phân tích tài chính đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp, phân tích tài chính giúp đưa ra các quyết định quản
lý doanh nghiệp…
1.1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: phương pháp chi tiết, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ, phương pháp tương quan và hồi quy bội… Tuy nhiên, chỉ có một
số phương pháp cơ bản và thường được vận dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp cơ bản nhất và thường xuyên được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính Từng con số đơn lẻ hầu như không có ý nghĩa trong việc kết luận về mức độ tốt – xấu trong tình hình tài chính của doanh nghiệp Ví dụ, nếu chỉ có thông tin về lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của năm 2011 của một công ty thì không thể kết luận được năm 2011 công ty đó đã hoạt động tốt như thế nào Để đánh giá về sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh năm 2011, nhà phân tích cần so sánh chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2011 của công ty với các tiêu chuẩn nhất định Chính vì vậy, phương pháp so sánh là phương pháp mang tính chất bắt buộc sử dụng khi phân tích báo cáo tài chính
Để áp dụng được phương pháp so sánh, người phân tích cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích
Trang 6được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tình hình tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu
Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể được thực hiện qua 3 hình thức:
- So sánh theo chiều dọc: Sử dụng các tỷ lệ, hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việc phân tích theo chiều dọc chính là phân tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
- So sánh theo chiều ngang: So sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của báo cáo tài chính Đây là cách phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục Từ đây, xác định được mức biến động (tăng hoặc giảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu
- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu: Điều này được thể hiện qua việc các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng, kinh tế - tài chính của doanh nghiệp
1.1.3.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi của các đại lượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các đinh mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động
Trang 77
của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau Tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích tài chính của mình
1.1.3.3 Phương pháp Dupont
Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ
Để có thể áp dụng phương pháp Dupont vào việc phân tích tài chính, số liệu kế toán chính xác là điều vô cùng quan trọng bởi phương pháp này được phân tích qua việc tính toán các số liệu
Ưu điểm: Phương pháp Dupont có ưu điểm lớn đó chính là giúp nhà phân tích
phát hiện và tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp Bên cạnh đó, phương pháp này còn giúp doanh nghiệp xác định xu hướng hoạt động trong một khoảng thời gian
để phát hiện ra những khó khăn và thuận lợi mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong tương lai
Nhược điểm: Phương pháp Dupont không bao gồm chi phí vốn Hơn nữa, mức
độ tin cậy của phương pháp này phụ thuộc hoàn toàn vào số liệu đầu vào Việc phân tích sẽ trở nên vô nghĩa nếu số liệu kế toán không chính xác
1.1.3.4 Phương pháp đồ thị
Đồ thị là phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu
đồ hoặc đồ thị Qua đó, mô tả xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu để phân tích, hoặc thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể nhất định
Như vậy, phương pháp đồ thị có tác dụng minh họa kết quả tài chính đã được tính toán một cách rõ ràng và rành mạch diễn biến của chỉ tiêu phân tích qua từng thời
kỳ, giúp việc đánh giá bằng trực quan chính xác và đơn giản hơn Trên cơ sở đó, xác định rõ những nguyên nhân biến động của chỉ tiêu phân tích Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp
Phương pháp đồ thị ngày nay được vận dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp nhằm biểu hiện tính đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích Phương pháp
đồ thị có thể phản ánh dưới những góc độ sau:
Trang 8- Biểu thị quy mô (độ lớn) các chỉ tiêu phân tích qua thời gian như: Tổng tài sản, tổng doanh thu, sản lượng, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng chi phí, tỉ suất lợi nhuận; hoặc có thể biểu hiện tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích qua thời gian như tốc độ tăng tài sản, tốc độ tăng vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng hiệu quả sử dụng vốn, tốc độ tăng vốn đầu tư…
- Biểu hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các chỉ tiêu nhân tố
1.1.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.4.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp, cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định Cụ thể, nhà phân tích có thể đánh giá một cách tổng quát về quy mô và kết cấu tài sản của doanh nghiệp bởi số liệu trên phần tài sản thể hiện giá trị của tài sản doanh nghiệp đang có Phần nguồn vốn cho biết trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn kinh doanh với các chủ nợ và các chủ sở hữu
1.1.4.1.1 Phân tích biến động tài sản và cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp gồm 2 loại là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, trong mỗi loại là có những tài sản khác nhau Việc phân tích sự biến động của tài sản nhằm xem xét mức độ hợp lý của việc phân phối và sử dụng tài sản, đánh giá được sự biến động của các nhân tố cấu thành nên tài sản
Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau:
Giá trị của t ng ộ phận tài sản
ổng số tài sản
Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc cho phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Để nắm bắt được chính xác tình hình sử dụng vốn, các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản, các nhà phân tích còn cần phải kết hợp với việc phân tích ngang, nghĩa là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản
Qua việc phân tích biến động tài sản và cơ cấu tài sản, các nhà quản trị sẽ thấy được những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, xác định được tính hợp
lý của việc sử dụng hoặc đầu tư vốn Các nhà quản lý cũng có thể quyết định đầu tư vào loại tài sản nào là thích hợp, đầu tư vào thời điểm nào; xác định được việc gia tăng
Trang 9Một số điểm cần chú ý khi đánh giá cơ cấu tài sản:
Tiền và các khoản tương đương tiền: Trong từng giai đoạn, khoản mục này của
doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm không phải do ứ đọng hay thiếu tiền mà có thể do doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền để thực hiện một dự án nào đó
Đầu tư tài chính: Đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, trong
đó chủ yếu là các hoạt động đầu tư góp vốn hoặc đầu tư vào chứng khoán Khi phân tích khoản mục này, cần liên hệ với chính sách đầu tư của doanh nghiệp và môi trường đầu tư trong từng thời kỳ bởi không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện đầu tư tài chính
Các khoản phải thu: Có nhiều loại khoản phải thu trong doanh nghiệp nhưng chủ
yếu là các khoản phải thu khách hàng và tiền đặt trước cho người bán Khi xem xét nội dung này cần liên hệ với:
- Phương thức tiêu thụ là bán buôn hay bán lẻ bởi khi doanh nghiệp áp dụng phương thức bán lẻ, khoản phải thu sẽ thấp do hàng bán ra được thu tiền ngay
và ngược lại; khi doanh nghiệp sử dụng hình thức bán buôn là chủ yếu thì khoản phải thu nhiều hơn do không phải khách hàng nào cũng có khả năng thanh toán ngay một khoản tiền lớn cho doanh nghiệp
- Chính sách tín dụng bán hàng: Tùy thuộc vào mỗi doanh nghiệp và mỗi thời điểm khác nhau, doanh nghiệp sẽ áp dụng chính sách tín dụng bán hàng khác nhau Khi áp dụng chính sách tín dụng bán hàng dài hạn, số nợ phải thu sẽ lớn hơn số nợ phải thu trong thời kỳ áp dụng chính sách tín dụng bán hàng ngắn hạn Chính sách tín dụng bán hàng có thể coi như một cách thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa nên khi phân tích chính sách này cần quan tâm tới lượng hàng hóa bán được của doanh nghiệp
- Chính sách thanh toán tiền hàng – chiết khấu thanh toán: Việc áp dụng chiết khấu thanh toán trong kinh doanh có quan hệ trực tiếp với số nợ phải thu Để thu hồi vốn kịp thời và tránh bị chiếm dụng vốn, doanh nghiệp cần xây dựng chính sách chiết khấu thanh toán linh hoạt và hợp lý
Hàng tồn kho: Để đảm bảo có đủ lượng hàng hóa dùng cho việc kinh doanh mà
không làm gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn, doanh nghiệp phải xác định được lượng hàng dự trữ hợp lý Khi xem xét tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản, cần
Trang 10quan tâm tới lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, chính sách dự trữ, tính thời vụ và tuổi thọ của hàng hóa Cụ thể, đối với những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như nhà hàng hoặc khách sạn, tỷ lệ hàng tồn kho thường thấp; ngược lại, những doanh nghiệp kinh doanh thương mai, tỷ trọng hàng tồn kho cao hơn rất nhiều bởi đối tượng kinh doanh là hàng hóa Đối với những doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ, tỷ trọng hàng tồn kho sẽ tăng nhanh khi đến thời điểm và vào những thời điểm khác, tỷ trọng hàng tồn kho lại rất thấp Tương tự, khi hàng hóa đang ở giai đoạn tiêu thụ mạnh, lượng hàng được tích trữ thường cao để đáp ứng nhu cầu thị trường và khi tiến tới giai đoạn bão hòa hoặc suy thoái, lượng hàng hóa được lưu trữ này thường được giảm tối đa
Tài sản cố định: Tỷ trọng tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như: ngành nghề - lĩnh vực kinh doanh, chính sách đầu tư, chu kỳ kinh doanh và phương pháp khấu hao Bên cạnh đó, một số bộ phận tài sản cố dịnh vô hình khác cũng cần được chú trọng như: nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, bản quyền, bằng sáng chế… bởi trong nền kinh tế thị trường, giá trị các bộ phận này thường có xu hướng gia tăng
1.1.4.1.2 Phân tích biến động nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể được tạo lập nên từ nhiều nguồn khác nhau; tuy nhiên, chúng có thể được quy về hai loại chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tài sản Trước hết, các nhà phân tích cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định như sau:
Giá trị của t ng ộ phận nguồn vốn
ổng số nguồn vốn
Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc giúp cho các nhà quản trị đánh giá được cơ cấu vốn huy động nhưng không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động Để có thể làm rõ hơn về vấn đề này, nhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số
và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý và an ninh tài chính của doanh nghiệp trong việc huy động vốn
Khi phân tích cơ cấu nguồn vốn, cần nằm đước các trị số và sự biến động của các chỉ tiêu như: hệ số tài trợ, hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu, hệ số nợ so với tổng nguồn vốn
- Hệ số nợ so với VCSH:
Trang 111.1.4.1.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
a Hệ số nợ so với tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản
nợ Hệ số của chỉ tiêu này cao cho thấy mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ
nợ lớn, mức độ độc lập về tài chính thấp Kết quả là doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi tiếp cận với các khoản vay hoặc các khoản đầu tư bởi doanh nghiệp có hệ số nợ so với tài sản cao
Hệ số nợ so với tài sản Nợ phải trả
ài sản
Khi hệ số này có giá trị = 1, điều đó có nghĩa là toàn bộ tài sản dùng cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tài trợ 100% nguồn từ vốn vay Khi hệ số này > 1, số nợ phải trả được dùng để bù lỗ và đầu tư vào tài sản Trị số này càng lớn thì càng chứng tỏ rằng doanh nghiệp có số lỗ lũy kế rất cao Ngược lại, trị số này càng nhỏ thì số nợ phải trả càng giảm
Hệ số nợ so với tài sản còn được xác định bằng công thức:
Trang 12Hệ số nợ so với tài sản ài sản C H
ài sản
C H Nguồn vốn Hệ số tài trợ
Qua công thức trên ta thấy, nếu doanh nghiệp muốn hệ số nợ so với tài sản của mình giảm thì doanh nghiệp phải tìm được cách làm tăng hệ số tài trợ
b Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Chỉ tiêu này đánh giá chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hệ số hả n ng thanh toán tổng quát ổng tài sản
ổng nợ phải trả
Khi hệ số của chỉ tiêu này có giá trị = 1, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được tạo lập từ các nguồn đi vay và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp lúc này = 0 Khi trị số này có giá trị > 1, doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn đi vay và vốn chủ sở hữu để đầu
tư vào tài sản; nếu trị số này càng lớn hơn 1 thì mức độ tham gia tài trợ tài sản của doanh nghiệp càng giảm và ngược lại Khi hệ số của chỉ tiêu này càng tiến dần về 1 thì mức độ tham gia đầu tư vào tài sản từ nguồn vốn vay càng lớn Nếu hệ số này < 1, cho thấy doanh nghiệp đang trong tình trạng thua lỗ, chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp có nhiều sai sót Lúc này, doanh nghiệp phải sử dụng khoản nợ phải trả để bù
lỗ và tài trợ tài sản của mình
c Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp từ vốn chủ sở hữu
Hệ số tài sản so với C H ài sản
C H
Chỉ tiêu này cho thấy doanh nghiệp sử dụng cả vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để tài trợ cho tài sản khi giá trị của chỉ tiêu > 1 Giá trị càng lớn hơn 1 thì khoản nợ phải trả cho tài sản càng tăng Ngược lại, trị số < 0 cho thấy nợ phải trả được doanh nghiệp
sử dụng vừa đủ để bù đắp lỗ và trang trải cho tài sản
1.1.4.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh nhằm đánh giá tổng hợp tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 1313
Để phân tích được báo cáo kết quả kinh doanh, cần sử dụng các chỉ tiêu trong 3 năm liên tiếp cả về số tuyệt đối và tương đối nhằm xác định dấu hiệu của tính hiệu quả hay không hiểu quả trong kết quả kinh doanh
Để xem xét sự biến động của các khoản mục chính và xác định tỷ trọng trên doanh thu thuần, ta có thể sử dụng các chỉ tiêu như:
lệ G HB tr n oanh thu thuần G HB
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng doanh thu, GVHB chiếm bao nhiêu phần trăm; hoặc có thể hiểu rằng trong 100 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp đã bỏ ra bao nhiêu đồng GVHB Tỷ lệ này càng nhỏ, chứng tỏ việc quản lý chi phí sản xuất của doanh nghiệp càng hiệu quả và ngược lại
lệ chi phí án hàng tr n oanh thu thuần Chi phí án hàng
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng
để thu được 100 đồng doanh thu thuần Tỷ lệ này càng nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp có phương pháp quản lý bán hàng phù hợp và ngược lại
lệ chi phí Q DN tr n oanh thu thuần Chi phí Q DN
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho thấy để thu được 100 đồng doanh thu thuần, doanh nghiệp phải
sử dụng bao nhiêu đồng cho việc quản lý doanh nghiệp Cũng như tỷ lệ GVHB trên doanh thu thuần và tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu thuần, tỷ lệ chi phí QLDN trên doanh thu thuần càng nhỏ thì hiệu quả quản lý doanh nghiệp càng cao và ngược lại
1.1.4.3 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong những báo cáo bắt buộc phải có của mỗi doanh nghiệp BCLCTT cho biết nguồn lực tài sản và nguồn gốc của các loại tài sản
đó BCLCTT được lập ra nhằm mục đích trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào và ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Qua việc phân tích BCLCTT, nhà quản lý có thể đánh giá được sự bền vững của dòng tiền, khả năng tạo tiền và sự phù hợp của dòng tiền đối với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Các khoản tiền thu, tiền chi trong BCLCTT được sắp xếp theo 3 loại hoạt động:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: Phần này bao gồm các khoản tiền thu
và chi liên quan tới các hoạt động hàng ngày và tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh
Trang 14doanh dương, điều này có nghĩa là doanh nghiệp đang làm ăn có hiệu quả, có khả năng chi trả cho hoạt động kinh doanh cũng như các khoản nợ đến hạn
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: Phần này phản ánh các khoản chi tiền đầu
tư vào các đơn vị khác dưới hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh, chi mua sắm TSCĐ… và thu tiền từ đầu tư do bán cổ phiếu, trái phiếu đã mua; tiền lãi thu được từ các khoản đầu tư vào các đơn vị khác, thu bán, thanh lý TSCĐ Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư âm cho thấy doanh nghiệp đang mở rộng quy mô đầu tư và ngược lại, chỉ tiêu này dương (thu nhiều hơn chi) thể hiện quy mô của doanh nghiệp đang bị thu hẹp
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Phần này phản ánh các khoản thu, chi làm thay đổi quy mô và kết cấu của VCSH và vốn vay của doanh nghiệp như: tiền thu được từ các chủ sở hữu hoặc các nhà đầu tư, tiền chi ra để mua lại cổ phiếu của chủ sở hữu, trả cổ tức cho cổ đông Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính dương cho thấy việc doanh nghiệp đang huy động tài trợ từ bên ngoài và có thể bị phụ thuộc bởi các nguồn vốn này
1.1.4.4 Phân tích tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính
1.1.4.4.1 Phân tích nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Phân tích khả năng thanh toán là việc đánh giá khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền và khả năng tạo tiền nhằm thực hiện nghĩa vụ đối với các chủ nợ khi đến hạn Chủ
nợ của doanh nghiệp có thể là các ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn, nhà đầu tư hoặc các bên liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp (nhà cung cấp, người lao động, nhà nước…) Để đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
a Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số hả n ng thanh toán nợ ng n hạn ổng tài sản ng n hạn
ổng nợ ng n hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn hay còn gọi là hệ số khả năng thanh toán hiện thời (current ratio) Đây là chỉ tiêu cho thấy một cái nhìn tổng quát về khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp vì chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn sẵn sàng được bù đắp bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn
Nếu hệ số của chỉ tiêu này , điều đó có nghĩa là doanh nghiệp có đủ hoặc thừa khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; nhưng khi hệ số của chỉ tiêu này , điều này cho thấy doanh nghiệp đang gặp rủi ro và không có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bởi tài sản ngắn hạn không đủ bù đắp cho khoản nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trong thực
tế, khi hệ số khả năng thanh toán hiện thời của doanh nghiệp có giá trị = 1 cho biết khả
Trang 1515
năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp vẫn còn mong manh, các chủ nợ nên so sánh hệ số của chỉ tiêu này với các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc trung bình ngành để đánh giá khả năng có thể thu hồi được khoản cho vay khi đến hạn
b Khả năng thanh toán nhanh
Hệ số hả n ng thanh toán nhanh
iền và các hoản tương đương tiền Đầu tư
ng n hạn Nợ phải thu hách hàng
ổng nợ ng n hạn
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng từ tài sản ngắn hạn có khả năng được chuyển đổi nhanh thành tiền Các tài sản có thể chuyển đổi nhanh bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền ở trạng thái sẵn sàng được sử dụng để trả nợ, các khoản đầu tư ngắn hạn có thể chuyển nhượng nhanh trên thị trường chứng khoán và nợ phải thu khách hàng nếu có thể sử dụng dịch vụ bao thanh toán của ngân hàng để chuyển đổi thành tiền
Khi hệ số khả năng thanh toán nhanh , chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh tốt; nhưng nếu hệ số này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm khả năng thanh toán nhanh, và nếu tình trạng này kéo dài, điều này cho thấy có dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện và nguy cơ phá sản có thể xảy ra
c Khả năng thanh toán tức thời
Hệ số hả n ng thanh toán t c thời iền và các hoản tương đương tiền
ổng nợ ng n hạn
Chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tức thời cho biết cứ mỗi 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tiền mà doanh nghiệp đang có ở bất cứ thời điểm nào
Hệ số khả năng thanh toán tức thời cao ( chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt, tuy nhiên nếu hệ số này cao và kéo dài trong một khoảng thời gian dài thì có thể dẫn đến tình trạng vốn bị ứ đọng và hiệu quả sử dụng vốn thấp Bên cạnh
đó, hệ số khả năng thanh toán tức thời thấp (< 1) cho thấy doanh nghiệp không có đủ khả năng thanh toán nợ ngay Nếu tình trạng này kéo dài quá lâu, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và có thể dẫn tới việc doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản Bởi vậy, các nhà quản trị cần có biện pháp khẩn cấp để không gặp phải tình huống xấu nhất
1.1.4.4.2 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
a Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu su t sử ng tổng tài sản Doanh thu thuần
ổng tài sản
Trang 16Hiệu suất sử dụng tổng tài sản cho biết bình quân một đồng tài sản tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ tài sản vận động càng nhanh, góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngược lại
b Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu su t sử ng tài sản ng n hạn Doanh thu thuần
ổng tài sản ng n hạn
Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Hiệu suất sử dụng sử dụng tài sản ngắn hạn cho biết bình quân một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Nếu hệ số này nhỏ, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thấp, chính sách quản lý chưa phù hợp, sản phẩm có thể không tiêu thụ được và ngược lại
c Vòng quay các khoản phải thu
Các khoản phải thu của doanh nghiệp có nhiều loại, trong đó chủ yếu là các khoản phải thu người mua Đây là số vốn của doanh nghiệp nhưng bị người mua chiếm dụng Bởi vậy, để có thể thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn, doanh nghiệp cần xây dựng và vận dụng chính sách chiết khấu thanh toán hợp lý, linh hoạt
ng quay các hoản phải thu Doanh thu thuần
Phải thu hách hàng nh qu n v ng
Trong đó:
Phải thu hách hàng nh qu n n Giá trị đầu Giá trị cuối
Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét hiệu quả của doanh nghiệp trong việc cung cấp hình thức thanh toán mua hàng trả tiền sau cho khách hàng Doanh nghiệp sử dụng chiến lược này nhằm mục đích tăng doanh số bán hàng; tuy nhiên, không phải khách hàng nào cũng sẵn sàng thanh toán đúng hẹn
Vòng quay các khoản phải thu càng cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thu hồi tiền kịp thời, hiện tượng bị chiếm dụng vốn giảm Tuy nhiên, chỉ tiêu này quá cao cho thấy phương thức thanh toán có thể quá chặt chẽ, ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp
d Thời gian quay vòng khoản phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này dùng để xác định số ngày trung bình mà doanh nghiệp có thể thu hồi được khoản phải thu khách hàng, được xác định bởi công thức:
hời gian thu tiền trung nh
ng quay các quản phải thu ngày
Trang 1717
Giá trị của chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ thời gian thu tiền càng nhanh, doanh nghiệp có ít khả năng bị chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu thời gian thu tiền trung bình càng dài thì tốc độ thu hồi tiền càng chậm, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lâu
e Vòng quay hàng tồn kho
ng quay hàng tồn ho Giá vốn hàng án
Giá trị hàng tồn ho nh qu n v ng
Trong đó:
Giá trị hàng tồn ho nh qu n Giá trị đầu Giá trị cuối
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, vốn đầu tư cho hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hàng tồn kho vận động không ngừng Đây là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
f Thời gian quay vòng hàng tồn kho
hời gian v ng quay của hàng tồn ho hời gian của ph n tích
ố v ng quay của hàng tồn ho
Chỉ tiêu này phản ánh một vòng quay của hàng tồn kho cần bao nhiêu thời gian Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ hàng tồn kho được tiêu thụ nhanh, đó là nhân tố góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Thời gian của kỳ phân tích có thể
là tháng, quý hoặc năm, tùy theo mục tiêu của việc phân tích
g Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu su t sử ng tài sản ài hạn Doanh thu thuần
ổng tài sản ài hạn
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản dài hạn trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ TSDH vận động càng nhanh, góp phần tạo ra doanh thu và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
i Thời gian quay vòng tài sản cố định
hời gian v ng quay của CĐ hời gian của ph n tích
ố v ng quay của CĐ
Trang 18Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của tài sản cố định hết bao lâu Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ tài sản cố định vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu vầ lợi nhuận của doanh nghiệp Thời gian của kỳ phân tích phụ thuộc vào tháng, quý, năm mà doanh nghiệp tiến hành Từ đây ta có thể tính được việc tiết kiệm hay lãng phí thời gian do số vòng quay tài sản cố định nhanh hay chậm so với kỳ trước hoặc các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề
1.1.4.4.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý vốn
a Khả năng thanh toán lãi vay
Hệ số hả n ng thanh toán l i vay ợi nhuận trước thuế và l i EBI
Chi phí l i vay
Chỉ tiêu này càng cao, khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp là tốt, và khi đó doanh nghiệp không những có khả năng thanh toán phí lãi vay mà còn thanh toán nợ gốc vay, chứng tỏ tiền vay đã được sử dụng có hiệu quả
1.1.4.4.4 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất Mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được tính trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hoặc một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất càng cao thì khả năng sinh lời càng cao, dẫn đến hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; mức lợi nhuận thu được trên một đơn vị càng nhỏ, khả năng sinh lợi càng thấp, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng thấp Vì vậy có thể nói, khả năng sinh lời của doanh nghiệp
là biểu hiện cao nhất và tập trung nhất của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Có nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá khái quát khả năng sinh lời của doanh nghiệp, tuy nhiên, các chỉ tiêu chủ yếu thường được sử dụng là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
a Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity)
Trang 1919
Hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu của doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lợi của vốn Qua phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu, các nhà quản lý đánh giá được trình độ, năng lực quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp, thấy được những nguyên nhân và nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Trên cơ sở đó, đề ra các quyết định phù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
ROE = ợi nhuận sau thuế
ốn chủ s h u Trong đó: Vốn chủ s h u bình quân = C H đầu C H cuối
Chỉ tiêu này cho biết: Trong một kỳ phân tích, 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu càng cao, càng biểu hiện xu hướng tích cực Chỉ tiêu này cao thường giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có thể huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp Ngược lại; trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu càng thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư
b Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on assets)
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (vật tư, tiền vốn, con người…) sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất Chính vì vậy, sử dụng tài sản hiện có một cách
có hiệu quả vào hoạt động kinh doanh là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
ROA = ợi nhuận sau thuế
ổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết: 100 đồng tài sản đưa vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lời của tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng sinh lời của tài sản càng thấp, hiệu quả kinh doanh càng thấp Chỉ tiêu này thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp theo thời gian, phản ánh cả trình độ đầu tư, trang bị cũng như hiệu quả sử dụng
c Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS – Return on sales)
Khả năng tạo ra doanh thu của doanh nghiệp là những chiến lược dài hạn, quyết định tạo ra lợi nhuận và nâng cao hiệu quả kinh doanh Để tăng lợi nhuận sau thuế, cần phải duy trì tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí, khi đó mới
Trang 20có sự tăng trưởng bền vững Mặc khác, tỷ suất sinh lời trên doanh thu còn thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị trường
ROS = ợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết: 100 đồng doanh thu thuần thu được từ kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lời của doanh thu thuần kinh doanh càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng sinh lời của doanh thu thuần càng thấp, hiệu quả kinh doanh càng thấp
Hình 1.2 Mô hình phân tích tài chính Dupont
(Nguồn: Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính)
Tỷ suất lợi nhuận theo
tài sản
Tỉ lệ lãi theo doanh thu
Lợi nhuận thuần
Doanh thu
thuần Tổng chi phí
Chi phí ngoài sản xuất Chi phí sản xuất
Doanh thu thuần
Vòng quay của tài sản
Doanh thu thuần Tổng tài sản
Tổng tài sản ngắn hạn
Vốn vật tư hàng hóa
Vốn bằng tiền phải thu Tổng tài sản dài hạn
Trang 2121
Từ mô hình trên ta có thể thấy, số vòng quay của tài sản tăng lên khi doanh nghiệp tăng quy mô về doanh thu thuần và sử dụng tiết kiệm và hợp lý cơ cấu tổng tài sản Như vậy, tổng doanh thu thuần và tổng tài sản có quan hệ mật thiết với nhau và thường có quan hệ cùng chiều Nghĩa là, tổng tài sản tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng
Đối với tỉ lệ lãi theo doanh thu, yếu tố này phụ thuộc vào lợi nhuận thuần và doanh thu thuần Tương tự như doanh thu thuần và tổng tài sản, doanh thu thuần và lợi nhuận thuần cũng có quan hệ cùng chiều với nhau Nghĩa là doanh thu thuần tăng thì lợi nhuận thuần cũng tăng Để có thể đạt được mức lợi nhuận thuần cao nhất, doanh nghiệp cần giảm tối đa các loại chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất Nếu có thể, doanh nghiệp cũng nên nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng giá bán, giúp nâng cao lợi nhuận
Phân tích báo cáo tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị doanh nghiệp bởi ta có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc, toàn diện và đánh giá đầy đủ, khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, đề ra được hệ thống các biện pháp tỉ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ở các kỳ kinh doanh tiếp theo
1.1.4.6 Phân tích SWOT
Phân tích SWOT là một phương pháp hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất kì tổ chức kinh doanh nào SWOT là tên được viết tắt từ 4 chữ: Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (thách thức)
Phân tích SWOT giúp các nhà quản lý xem xét tất cả các cơ hội mà doanh nghiệp
có thể tận dụng Đồng thời, qua mô hình SWOT, các nhà quản lý hiểu được điểm yếu của doanh nghiệp trong kinh doanh; từ đó có thể quản lý và xóa bỏ các rủi ro mà doanh nghiệp chưa nhận thức hết
Trang 22Hình 1.3 Mô hình SWOT
Từ mô hình trên ta có thể thấy, những điều tốt ở hiện tại chính là những điểm mạnh (strengths) và những điều tốt trong tương lai chính là cơ hội (opportunities); ngược lại, những điều chưa tốt ở hiện tại chính là những điểm yếu (weaknesses) và những điều chưa tốt ở tương lai là thách thức (threats) đối với doanh nghiệp Điểm mạnh và điểm yếu là những nhân tố bên trong, còn cơ hội và thách thức là những nhân
tố bên ngoài Các yếu tố bên trong có thể là văn hóa doanh nghiệp, hình ảnh doanh nghiệp, danh tiếng, nguồn nhân lực có kinh nghiệm, năng lực tài chính, hợp đồng, bản quyền… và các yếu tố bên trong doanh nghiệp có thể là đối thủ cạnh tranh, thị hiếu, nhà cung cấp, đối tác, môi trường chính trị xã hội…
Để có thể áp dụng phương pháp SWOT vào phân tích, các chuyên gia phân tích cần đặt ra các câu hỏi như:
- trengths điểm mạnh):
+ Doanh nghiệp có những lợi thế gì?
+ Công việc hay hoạt động nào của doanh nghiệp được thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh?
+ Ưu thế mà người khác thấy được ở doanh nghiệp là gì?
Để có thể tìm được câu trả lời tốt nhất, các nhà phân tích cần đặt vị trí của mình
là một đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó mới có thể có cái nhìn chính xác nhất
Trang 2323
- Wea nesses điểm yếu):
+ Doanh nghiệp cần cải thiện những gì?
+ Công việc hay hoạt động nào của doanh nghiệp được thực hiện kém hiệu quả nhất?
+ Có những điểm nào mà người khác đánh giá thấp?
Khi xem xét những điểm yếu, cần nghiêm túc và thẳng thắn nhìn nhận các vấn đề còn tồn tại ở mặt trong và mặt ngoài bởi chỉ xem xét ở bên trong thì chưa đủ, người khác có thể nhìn thấy yếu điểm mà bản thân doanh nghiệp không nhận thấy
- Opportunities cơ hội):
+ Đâu là cơ hội tốt nhất cho doanh nghiệp?
+ Xu thế mà doanh nghiệp đang mong đợi là gì?
Cơ hội thường liên quan tới những nhân tố bên ngoài như: sự thay đổi công nghệ
và thị trường, sự thay đổi trong chính sách nhà nước có liên quan tới lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội hoặc các sự kiện diễn ra trong khu vực… Để có thể tiếp cận các cơ hội một cách có hiệu quả, nên rà soát điểm mạnh và điểm yếu để tự đặt câu hỏi và dự đoán liệu ưu thế của doanh nghiệp có mang lại cơ hội mới nào không hay có cơ hội nào có thể loại bỏ được các điểm yếu của doanh nghiệp hay không
- Threats (thách thức):
+ Doanh nghiệp đang gặp trở ngại nào?
+ Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì?
+ Sự thay đổi công nghệ có ảnh hưởng xấu tới vị trí của doanh nghiệp không? + Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền của doanh nghiệp không?
+ Có điểm yếu nào đang tồn tại đe dọa nghiêm trọng đến doanh nghiệp không? Sau khi sử dụng phương pháp SWOT để phân tích và xác định được điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội; thường có 4 chiến lược cơ bản được cân nhắc sau:
- SO (Strengths – Opportunities): Các chiến lược dựa trên ưu thế của doanh
nghiệp để tận dụng các cơ hội thị trường
- WO (Weaks – Opportunities): Các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các
yếu điểm của doanh nghiệp để tận dụng cơ hội thị trường
- ST (Strengths – Threats): Các chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để
tránh và vượt qua các thách thức của thị trường
- WT (Weaks – Threats): Các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế
tối đa các yếu điểm của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị trường
Trang 241.1.4.7 Phân tích điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để bù đắp tất cả các chi phí Điều này có nghĩa là tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp không thu được lãi mà cũng không bị lỗ
Trong kinh doanh, không phải ở mức sản lượng sản xuất và bán ra nào cũng có lãi mà doanh nghiệp chỉ thực sự có lãi khi sản xuất và bán ra vượt sản lượng (hoặc doanh thu) hòa vốn Phân tích điểm hòa vốn sẽ cho thấy chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời cũng chỉ ra sự yếu kém hay thành tích của các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, tiêu thụ
Sản lượng hòa vốn
Gọi: R: Doanh thu bán hàng X: Lượng sản phẩm tiêu thụ
F: Tổng chi phí cố định P: Giá bán đơn vị sản phẩm
V: Chi phí biến đổi 1 đơn vị sản phẩm C: Tổng chi phí trong kỳ
Lãi (ký hiệu: được xác định như sau: X’ – X)(P – V) (2)
Công thức (2) xác định trong trường hợp sản lượng thay đổi xung quanh lượng hòa vốn còn các yếu tố khác không đổi Khi giá bán P thay đổi, các yếu tố khác không đổi từ (1) và (2), ta xác định được lợi nhuận thay đổi theo công thức:
X P P
Trong đó: P0: Giá gốc hay giá hòa vốn
P1: Giá hiện hành hay giá thay đổi
Doanh thu hòa vốn
Từ công thức (1), ta có:
Trang 25
25
Thời gian hòa vốn
Thời gian hòa vốn là thời gian có mức doanh thu vừa đủ bù đắp chi phí sản xuất
Để có thể xác định được khoảng thời gian này, áp dụng công thức:
hời gian h a vốn ợi nhuận đe chia
ổng oanh thu tháng
1.1.4.8 Phân tích đòn bẩy
a Đòn bẩy hoạt động (DOL – Degree of Operating Leverage)
Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định so với chi phí biến đổi của doanh nghiệp Trong đó, chi phí hoạt động cố định là chi phí không thay đổi khi số lượng thay đổi như: chi phí khấu hao, bảo hiểm, một bộ phận chi phí điện nước, một bộ phận chi phí quản lý… Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi khi số lượng thay đổi như: chi phí nguyên vật liệu, lao động trực tiếp, hoa hồng bán hàng, một phần chi phí quản lý hành chính…
Trong kinh doanh, doanh nghiệp đầu tư chi phí cố định với hi vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí Chi phí cố định đóng vai trò như một chiếc đòn bẩy trong cơ học, gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để khuếch đại sự thay đổi của lợi nhuận Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, yếu tố công nghệ và các quy định của pháp luật là những yếu tố ảnh hưởng đến đòn bẩy hoạt động
Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy hoạt động, người ta thường sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động Độ bẩy hoạt động (DOL) là tỷ lệ phần tram thay đổi của thu nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) do sự thay đổi 1% sản lượng hoặc doanh thu
Độ bẩy hoạt động ở mức sản lượng Q hoặc doanh thu S = EBI
Q ho c
Công thức tính DOL theo sản lượng Q:
=
Công thức tính DOL theo sản lượng thường chỉ thích hợp cho các công ty sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có tính đơn chiếc Đối với những công ty sản xuất nhiều loại sản phẩm, nên sử dụng cách tính DOL theo doanh thu S
Khi áp dụng phương pháp phân tích đòn bẩy cần nêu rõ độ bẩy ở mức sản lượng hoặc doanh thu nào bởi độ bẩy khác nhau ở mức sản lượng hoặc doanh thu khác nhau
Trang 26Tại khối lượng bán hàng khác nhau, cơ cấu chi phí khác nhau thì mức độ nhạy cảm của lợi nhuận và biến động của khối lượng sản phẩm tiêu thụ là khác nhau Định phí đóng vai trò quan trọng trong việc khuếch đại lợi nhuận cũng như rủi ro của doanh nghiệp Chi phí cố định càng lớn hơn so với chi phí biến đổi thì độ bẩy hoạt động sẽ càng cao, kéo theo sự gia tăng nhanh của EBIT; nhưng nếu doanh số giảm thì EBIT sẽ giảm nhanh chóng Điều này thể hiện mức độ nhạy cảm của EBIT với khối lượng sản phẩm tiêu thụ càng lớn, rủi ro sẽ càng cao Bởi vậy, cần xác định rõ ràng phương hướng tăng giảm về doanh số để xác định tỷ lệ đòn bẩy hoạt động phù hợp
b Đòn bẩy tài chính (DFL – Degree of Financial Leverage)
Đòn bẩy tài chính là mức độ mà theo đó, các chứng khoán có thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của công ty Doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hi vọng gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường Khi một công ty sử dụng nợ vay, công ty có trách nhiệm thanh toán lãi và hoàn trả gốc vay Nếu lợi nhuận tăng lên, chủ nợ sẽ tiếp tục nhận được phần lợi tức theo lãi suất đã được ấn định Vì vậy, đòn bẩy tài chính là công cụ sử dụng nợ vay hoặc các nguồn tài trợ có chi phí lãi vay tài chính nhằm gia tăng tỷ suất sinh lời của các nhà đầu tư
c độ sử ng đ n y tài chính Nợ phải trả
ổng nguồn vốn
Độ bẩy tài chính (DFL) là một chỉ số định lượng dùng để đo lường mức độ biến động của EPS khi EBIT thay đổi, nó thể hiện sức mạnh của đòn bẩy tài chính Độ bẩy tài chính ở một mức độ nào đó được xác định như là phần trăm thay đổi của EPS khi EBIT thay đổi 1%
Độ y tài chính DF EP
EBI EBI EBI I PD t
Trong đó: I: Chi phí lãi vay
Trang 2727
Giá trị DFL cho biết khi EBIT thay đổi 1% thì thu nhập trên mỗi cổ phẩn thường
sẽ thay đổi DFL% Đòn bẩy tài chính có những tác động đến chi phí sử dụng vốn, giá
cổ phần, lợi nhuận và rủi ro
c Đòn bẩy tổng hợp (DTL – Degree of Total Leverage)
Đòn bẩy tổng hợp là sự kết hợp giữa đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động bởi trong thực tế, doanh nghiệp không chỉ sử dụng đơn thuần một loại đòn bẩy hoạt động hay một loại đòn bẩy tài chính mà kết hợp cả 2 loại đòn bẩy nhằm gia tăng tỷ suất lợi nhuận VCSH hay thu nhập cho cổ đông Như vậy, sử dụng đòn bẩy tổng hợp có nghĩa
là doanh nghiệp kết hợp chi phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định Khi sử dụng kết hợp, đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính có tác động đến EPS khi số lượng tiêu thụ thay đổi qua 2 bước:
Bước 1: Sản lượng tiêu thụ thay đổi làm thay đổi EBIT (tác động của đòn bẩy hoạt động)
Bước 2: EBIT thay đổi làm thay đổi EPS (tác động của đòn bẩy tài chính)
Để đo lường mức độ biến động của EPS khi số lượng tiêu thụ thay đổi, người ta dùng chỉ tiêu độ bẩy tổng hợp (DTL) Độ bẩy tổng hợp phản ánh mức độ nhảy cảm giữa tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE) và sự thay đổi sản lượng (hoặc doanh thu)
Độ y tổng hợp D EP
Doanh thu
Độ bẩy tổng hợp DTL cho ta biết khi doanh thu thay đổi 1% thì EPS thay đổi DTL% Mức độ tác động của đòn bẩy tổng hợp là thước đo cho phép đánh giá mức độ rủi ro tổng thể của doanh nghiệp bao hàm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Độ bẩy tổng hợp DTL còn được xác định bởi công thức:
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực tình trạng tài chính của doanh
Trang 28nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp, chúng được chia thành 2 loại là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
1.2.1 Nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan là nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát hoặc không thể lường trước của doanh nghiệp Có rất nhiều nhân tố khách quan ảnh hưởng tới kết quả phân tích tài chính
ôi trường pháp lý: Doanh nghiệp là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước
Một trong những công cụ mà Nhà nước dùng để quản lý các doanh nghiệp là chính sách pháp luật, Vì vậy, tuân thủ theo những chính sách pháp luật mà Nhà nước đã đề
ra là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp Môi trường pháp lý rõ ràng và vững chắc sẽ tạo nên một chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp hoạt động
Công nghệ thông tin: Nếu có khả năng áp dụng công nghệ thông tin vào quá
trình phân tích, nhà phân tích tài chính sẽ tiết kiệm được tối đa thời gian, có khả năng đưa ra các quyết định chính xác và khoa học
Thông tin về ngành: Công việc phân tích tài chính sẽ trở nên thực sự có hiệu quả
khi có sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành chuẩn xác Căn cứ vào hệ thống thông tin này, các nhà quản lý của doanh nghiệp có căn cứ để xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó có thể đánh giá và đặt ra các chỉ tiêu phấn đấu hay khắc phục tình trạng tài chính của công ty khi chưa đạt được các chỉ tiêu trung bình ngành Tuy nhiên, thông tin không chính xác có thể dẫn đến tác dụng ngược lại
1.2.2 Nhân tố chủ quan
Ch t lượng thông tin: Thông tin được sử dụng để phân tích tài chính bao gồm
thông tin bên ngoài và bên trong doanh nghiệp Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng phân tích tình hình tài chính, bởi khi thông tin sử dụng không chính xác và không phù hợp thì kết quả đem lại không có ý nghĩa gì Do vậy, chất lượng thông tin dùng trong phân tích tài chính phải chính xác, trung thực, đầy đủ
và phù hợp Như vậy mới có thể dự đoán và đưa ra các quyết định chính xác giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình tài chính
Trang 2929
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KẾT CẤU THÉP CƠ KHÍ 2.1 Khái quát về Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
2.1.1.1 Giới thiệu chung về công ty
Tên Công ty: Công ty cổ phẩn kết cấu thép cơ khí
Tên giao dịch: Mechanical engineering steel structure joint stock company
Năm 2010, công ty đã chính thức đổi tên thành Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí HT – Steel Năng lực của công ty bao gồm:
- Kỹ sư chuyên ngành “Máy nâng và Xây dựng”: 16 người;
Trang 30- Công nhân kỹ thuật cao 08 người cùng với 180 công nhân “cơ khí và hàn” làm việc liên tục tại nhà máy;
- Công ty đang hợp tác cùng công ty BANDO – một công ty hàng đầu về thiết bị máy nâng tại Hàn Quốc Công ty được thừa hưởng các công nghệ và sự ưu đãi
về giá thành sản phẩm nhập khẩu chính của ngành máy nâng hiện nay (Palăng, động cơ cầu trục);
- Nhà máy của công ty rộng 4000 mét vuông, được đặt tại xã Hưng Thịnh – huyện Bình Giang – Hải Dương; với máy móc chuyên dùng để sản xuất các sản phẩm kết cấu thép và cẩu trục
- Văn phòng đại diện được đặt tại 214 Giải Phóng – Thanh Xuân – Hà Nội
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
(Nguồn: Phòng hành chính)
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
- Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần, vào quý I hàng năm
- kế toán
Phòng tư vấn
và thiết kế, bán hàng
Phòng hành chính – nhân sự
Phòng vật tư Đại hội đồng cổ đông
Trang 3131
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
- Giám đốc: là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, điều lệ của công ty, hợp đồng lao động ký với công ty
- Phó giám đốc: giúp việc cho Giám đốc trong công tác quản lý công ty và phân
bổ công việc hợp lý cho các bộ phận bên dưới Chủ động và tích cực triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về hiệu quả các hoạt động Khi Giám đốc đi vắng, Phó Giám đốc thay mặt Giám đốc điều hành mọi hoạt động của công ty khi được ủy quyền và phải báo cáo lại toàn bộ công việc đã giải quyết theo ủy quyền cho Giám đốc ngay sau khi Giám đốc trở về
+ Phó Giám đốc sản xuất: phụ trách công tác khoa học kỹ thuật, thực hiện các chức năng thẩm quyền kế hoạch từ khi xây dựng đến lúc thực hiện kế hoạch, trực tiếp giám sát, kiểm tra an toàn sản xuất và nghiệm thu chất lượng sản phẩm, trực tiếp thiết kế kỹ thuật theo đơn đặt hàng, theo dõi và chịu trách nhiệm về cơ cấu sản phẩm kết cấu thép
+ Phó giám đốc tài chính: phó giám đốc tài chính kiêm chủ tịch công đoàn, phụ trách tổ chức công tác hành chính, giám sát tài chính, thực hiện chế độ kế toán tài chính của Nhà nước, chịu trách nhiệm thanh toán và thanh lý các hợp đồng kinh tế, trực tiếp phụ trách công tấc thanh toán, thu hồi nợ
- Phòng tư vấn và thiết kế, bán hàng: tham mưu, tư vấn cho cấp trên về các lĩnh vực:
+ Lập kế hoạch bán hàng hàng tháng, quý, năm và kế hoạch các dự án đầu tư + Thu thập và ghi chép đầy đủ thông tin của khách hàng về các công trình, sản phẩm, nghiên cứu và tiếp cận thị trường
+ Tiếp nhận thư mời thầu, hồ sơ mời thầu, nghiên cứu khảo sát thực tế phân tích kết quả và tham mưu cho Giám đốc quyết định tham gia dự thầu, phối hợp với các phòng chức năng trong công ty lập hồ sơ dự thầu và tham gia đấu thầu theo ủy quyền của Giám đốc
+ Thiết kế công trình, quản lý tiến độ thi công các công trình, quản lý kỹ thuật
và chất lượng, theo dõi thực hiện hợp đồng, thanh lý hợp đồng
- Phòng hành chính – nhân sự: có chức năng tư vấn cho Giám đốc về quản lý nhân sự và quản lý hành chính, có trách nhiệm về công tác tổ chức hành chính của công ty Tham gia xây dựng và quản lý chương trình đào tạo, phát triển nhân viên; phối hợp theo dõi, kiểm tra và đôn đốc nhân viên thực hiện nội quy
Trang 32và quy chế của công ty Quản lý hồ sơ cá nhân và các tài liệu về BHXH của nhân viên, thực hiện công tác BHXH cho nhân viên; thực hiện công tác văn thư, đánh máy, in ấn các tài liệu của công ty
- Phòng tài chính – kế toán: tư vấn cho Giám đốc những vấn đề liên quan đến tài chính và kế toán, có trách nhiệm tổ chức và thực hiện công tác kế toán của công ty Cập nhật, tìm hiều các chủ trương, chính sách và các quy định của Nhà nước có liên quan đến công tác quản lý tài chính, kế toán, duy trì quan hệ tốt với các cơ quan như các ngân hàng và cơ quan thuế Kiểm kê hàng tồn kho; kiểm kê quỹ hàng tháng, lập các báo cáo
- Phòng vật tư: theo dõi và quản lý việc thực hiện hợp đồng mua bán vật tư hàng hóa, theo dõi chất lượng sản phẩm
- Xưởng sản xuất: là bộ phận chịu trách nhiệm sản xuất, lắp ráp
2.1.3 Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
Ngành nghề kinh doanh của công ty:
- Sản xuất, mua bán các sản phẩm kết cấu thép và cơ khí, các thiết bị xây dựng phục vụ các công trình công nghiệp, dân dụng, cơ sở hạ tầng
- Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và đô thị, trạm biến áp và đường điện đến 35 KV
- Tư vấn đầu tư xây dựng, lập dự án, lập dự toán các công trình công nghiệp và dân dụng
- Tư vấn giám sát đầu tư công trình
- Mua bán kim khí và vật tư tổng hợp
- Thiết kế kết cấu công trình dân dụng, công nghiệp
Hiện nay, công ty có những hoạt động kinh doanh chủ yếu như: sản xuất kinh doanh các sản phẩm kết cấu thép và cơ khí, nhà thép tiền chế, dầm tổ hợp; xây dựng lắp đặt các công trình công nghiệp, dân dụng, cơ sở hạ tầng, xây lắp đường dây và trạm biến áp
2.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
2.2.1 Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn
Để có cái nhìn khái quát tình hình tài chính của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí, cần dựa trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 33Tỷ trọng (%)
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
TSNH 54.724.966.075 85,09 53.582.909.860 79,19 71.592.326.345 83,42 TSDH 9.589.296.345 14,91 14.082.453.154 20,81 14.230.181.967 16,58 Tổng 64.314.262.421 100 67.665.363.014 100 85.822.508.312 100
(Nguồn: Tính toán t BCĐK n , ,
Từ bảng trên ta có thể thấy, công ty có lượng tài sản ngắn hạn và dài hạn tương đối lớn Điều này là hợp lý bởi công ty chuyên sản xuất kết cấu thép cơ khí, nhà thép tiền chế, thép tấm… Giá trị của mỗi loại hàng hóa mà công ty tạo ra là rất cao Bên cạnh đó, để có thể sản xuất ra những sản phẩm thép như vậy, các loại máy móc mà công ty sử dụng thường có kích thước lớn và giá trị không hề nhỏ
Tổng tài sản của công ty có xu hướng tăng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2013 Để có thể thấy rõ hơn nguyên nhân biến động cơ cấu tài sản của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí, ta sẽ xem xét từng khoản mục như sau:
Tiền và các khoản tương đương tiền
Bảng 2.2 Sự biến động Tiền và các khoản tương đương tiền của
Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
Đơn vị tính: Đồng)
Chênh lệch(%) 2012-2011 2013-2012
Trang 34Tiền và các khoản tương đương tiền của công ty bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng có xu hướng tăng mạnh qua các năm Cụ thể, khoản mục này tăng 103,63%
ở năm 2012 và tăng gần 200% vào năm 2013 Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là do các chính sách và biện pháp kinh doanh đổi mới đã mang lại các thành quả về doanh thu, giúp công ty có thêm lượng tiền để tích trữ Trong đó, lượng tiền mặt có sẵn vào năm 2013 đã giảm đi đáng kể, thay vào đó là lượng tiền gửi ngân hàng tăng mạnh từ 1.253.996.321 đồng lên tới 4.442.889.059 đồng; tương đương tăng 254,30% so với năm 2012 Trong những năm gần đây, số hợp đồng có xu hướng gia tăng, khiến công ty phải tăng lượng tiền dự trữ nhằm đáp ứng cho việc nhập mua nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất và chi trả lãi vay ngân hàng khi đến hạn Thay vì dự trữ tiền mặt, công ty có xu hướng gửi tiền vào các ngân hàng nhiều hơn bởi rủi ro gần như là không có và trong khoảng thời gian chưa cần đến tiền cho việc thanh toán, công ty được hưởng lãi suất không kỳ hạn từ phía ngân hàng
Tiền và các khoản tương đương tiền có xu hướng tăng, giúp công ty nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thời, tăng niềm tin đối với nhà cung cấp và tận dụng các cơ hội kinh doanh như hưởng chiết khấu thanh toán khi nhập mua nguyên vật liệu, giúp giảm chi phí Tuy nhiên, việc tích trữ tiền càng cao thì chi phí cơ hội mà công ty phải trả cũng càng tăng do số tiền này có thể được dùng cho việc đầu tư kiếm lời
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Bảng 2.3 Sự biến động Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn
của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
Trang 3535
Các khoản phải thu ngắn hạn
Như đã nói ở trên, đây là một trong những khoản mục gây ảnh hưởng lớn đến tỷ trọng tổng tài sản của công ty Sự ảnh hưởng của khoản mục này được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 2.4 Sự biến động Các khoản phải thu ngắn hạn
của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
Đơn vị tính: Đồng)
Chênh lệch (%) 2012-2011 2013-2012
nợ tốt hơn Trước khi thi công bất kỳ một công trình nào, công ty luôn yêu cầu khách hàng ứng trước tiền Cụ thể, năm 2011, theo điều khoản hợp đồng chung, công ty yêu cầu khách hàng ứng trước 30% giá trị hợp đồng Số tiền phải ứng trước đã có sự thay đổi lên mức 40% tiền hàng ở năm tiếp theo do tình hình nền kinh tế vẫn chưa ổn định,
số lượng các công ty thiếu vốn hoạt động dẫn đến tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục tăng đã khiến công ty e ngại vấn đề không thu được tiền hàng Ngoài ra, hoạt động thu hồi nợ có sự thay đổi so với năm 2011 như sau: Năm 2012, công việc
Trang 36theo dõi thu hồi nợ vẫn tiếp tục được giao cho các nhân viên phòng kế toán; tuy nhiên, lương cán bộ đảm nhận việc thu hồi nợ bị ảnh hưởng theo số tiền mà nhân viên đó thu hồi được Điều này đã tác động không nhỏ đến nỗ lực thu hồi vốn cho công ty Đối với các khách hàng có uy tín càng cao, số tiền mà họ phải trả trước càng thấp và ngược lại; đối với những khách hàng mới hoặc uy tín không cao, số tiền phải đặt trước sẽ lớn hơn Đối với tiêu chuẩn bán chịu mà công ty đã xây dựng, sau khi công trình được hoàn thiện, thời gian để hoàn tất việc thanh toán là dài hay ngắn cũng phụ thuộc vào mức độ uy tín của khách hàng Trái lại với sự sụt giảm mạnh trong khoản phải thu khách hàng tại năm 2012, chỉ tiêu này đã tăng thêm 240,87% vào năm 2013 Nguyên nhân của sự tăng đột biến này là do thị trường mà công ty nhắm tới đã được mở rộng xuống cả miền Nam thay vì chỉ tập trung vào miền Bắc như các năm trước, dẫn tới số lượng hợp đồng đặt hàng trong năm đã tăng đáng kể, số lượng hàng hóa tiêu thụ trong
kỳ được nâng cao rõ rệt
Như đã phân tích ở trên, ta có thể thấy khoản phải thu khách hàng của công ty biến động không đồng đều Tuy nhiên, đối với các khoản mà công ty đã trả trước cho người bán, số tiền lại giảm qua từng năm Có hiện tượng này là do công ty đã nhập mua nguyên vật liệu của nhà cung cấp này trong một khoảng thời gian tương đối dài Việc thanh toán luôn được hoàn thành đủ nên tạo dựng được lòng tin đối với nhà cung cấp, giúp công ty giảm được số tiền đặt cọc đồng nghĩa với việc số tiền bị chiếm dụng cũng thấp đi
Một khoản tiền nữa góp phần tạo nên các khoản phải thu ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp chính là khoản phải thu khác Các khoản này cũng giảm dần qua từng năm tương tự như khoản tiền trả trước cho người bán Cụ thể, năm 2011, công ty cần phải thu 290.918.177 đồng; năm 2012, khoản này giảm xuống còn 75.518.852 đồng; đến năm 2013, khoản này chỉ còn 46.269.644 đồng Nguyên nhân phát sinh các khoản tiền này là do trong kỳ công ty còn một khoản lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính chưa thu
Hàng tồn kho 43.191.137.815 48.444.165.450 55.631.692.013 12,16 14,84
Trang 37và tại năm 2013, hàng tồn kho của doanh nghiệp có giá trị cao nhất, tăng lên thành 55.631.692.013 đồng Nguyên nhân chính khiến hàng tồn kho của công ty gia tăng là
do số lượng hợp đồng thi công công trình tăng qua mỗi năm khiến cho doanh nghiệp phải sản xuất và tích trữ thêm hàng hóa Để có thể sản xuất ra các loại như nhà thép tiền chế, thép tấm lớn… doanh nghiệp phải trả rất nhiều các loại chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung Điều này khiến cho giá trị của khoản mục chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang của công ty luôn chiếm trên 50% tổng giá trị hàng tồn kho và gia tăng theo số lượng hợp đồng
Tài sản ngắn hạn khác
Khoản mục tài sản ngắn hạn của công ty được cấu thành từ 2 nguồn là chi phí trả trước ngắn hạn và thuế GTGT được khấu trừ Trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013, khoản mục này liên tục giảm Sự biến động giảm của tài sản ngắn hạn khác trong công ty được thể hiện cụ thể như sau: Năm 2011, TSNH khác có giá trị 542.596.087 đồng; sang đến năm 2012, khoản mục này giảm 9,72 % tương đương với giảm 52.739.176 đồng xuống còn 489.856.911 đồng; năm 2013, TSNH khác của doanh nghiệp giảm mạnh tới 40,05% so với năm trước đó, xuống còn 293.657.970 đồng Nhìn chung, thuế GTGT được khấu trừ của doanh nghiệp giảm tương đối nhanh
từ năm 2011 đến năm 2013, tuy nhiên chi phí trả trước ngắn hạn lại tăng lên nhanh chóng từ 0 đồng lên 174.257.546 đồng Do thuế GTGT được khấu trừ của doanh nghiệp giảm nhiều hơn so với chi phí trả trước ngắn hạn nên khoản mục TSNH mới có
xu hướng giảm Nếu chi phí trả trước ngắn hạn tiếp tục tăng nhanh như những năm trước thì biến động của chỉ tiêu này có khả năng sẽ đảo chiều theo hướng đi lên thay vì
đi xuống như 3 năm vừa qua
Tài sản cố định
Không giống như tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn của công ty chỉ chiếm một phần tương đối trên tổng tài sản của công ty Để cấu thành nên tài sản dài hạn, có nhiều các khoản mục khác như các khoản đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn
Trang 38khác Tuy nhiên, tỷ lệ tài sản cố định lại chiếm một lượng rất lớn trên tổng giá trị tài sản dài hạn
Biểu đồ 2.1 Sự biến động Tài sản cố định của Công ty cổ phần kết cấu thép cơ khí
Đơn vị tính: Đồng)
Từ biểu đồ trên ta thấy, giá trị tài sản cố định của công ty luôn tăng trong cả 3 năm Nguyên nhân là do vào năm 2012, công ty quyết định đầu tư mua sắm thêm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải truyền dẫn; đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành đối với nhà cửa và máy móc thiết bị; qua đó làm tăng nguyên giá của tài sản thêm 5.638.870.880 đồng Cụ thể, công ty đã đầu tư thêm vào máy móc thiết bị với số tiền
là 1.154.500.000 đồng; đầu tư thêm vào phương tiện vận tải truyền dẫn 590.627.273 đồng; số tiền còn lại được sử dụng cho đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành Đến năm
2013, công ty chỉ phát sinh thêm một số hoạt động làm tăng giá trị tài sản cố định như mua bổ sung máy móc thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành
Ngoài tài sản cố định hữu hình, công ty còn có tài sản cố định vô hình như quyền
sử dụng đất, phần mềm máy tính và tài sản cố định khác Tuy nhiên, giá trị của các khoản này giảm dần từ 182.385.466 đồng tại năm 2011 xuống còn 72.410.338 đồng tại năm tiếp theo và 0 đồng ở năm 2013 vì tài sản đã được trích hết hao mòn
Sự gia tăng giá trị của tài sản cố định cho thấy công ty có sự đầu tư cho tài sản cố định, giúp công ty nâng cao hiệu quả làm việc, tạo ra thêm các lợi thế cạnh tranh đối với các doanh nghiệp cùng ngành trên thị trường
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn bao gồm đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết – liên doanh, đầu tư dài hạn khác và dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn Mặc dù có 4 hoạt động đầu tư tài chính dài hạn như vậy nhưng công ty chỉ tập trung đầu tư dài hạn vào các lĩnh vực khác Tuy nhiên, khoản đầu tư này so với tổng tài sản là không đáng kể Ta có thể thấy rõ sự biến động của chỉ tiêu này qua biểu
đồ sau:
7,913,096,345
13,107,253,154 14,001,779,434
0 3,000,000,000
Trang 39Tài sản dài hạn khác
Tài sản dài hạn khác của công ty được hình thành bởi các khoản chi phí trả trước dài hạn Cũng tương tự như khoản trả trước cho người bán, tình hình biến động của khoản mục tài sản dài hạn giảm dần trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm
2013 Năm 2011, công ty trả trước 1.600.000.000 đồng cho việc nghiên cứu, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật, mua bảo hiểm cháy nổ (cho nhiều năm tài chính) và trả trước về thuê kho bãi và địa điểm cho văn phòng đại diện Đây cũng là năm có khoản tiền phải trả trước lớn nhất Sang đến năm 2012, khoản này giảm mạnh xuống còn 900.000.000 đồng; năm 2013 chỉ còn 153.202.533 đồng Nguyên nhân dẫn đến việc giá trị tài sản dài hạn khác của công ty giảm mạnh như vậy là do vào năm
2011, công ty đã trả trước tiền cho các năm tiếp theo Do năm 2011 công ty vẫn chưa trả hết khoản này, nên tiếp tục trả vào năm 2012 và năm 2013 Phần lớn số tiền đã được trả tại năm 2011 nên vào 2 năm tiếp theo, khoản tiền phải chi trả cho khoản mục này cũng giảm
Kết luận: Quá trình phân tích trên đã cho thấy sự biến động trong cơ cấu tài sản
của công ty, đồng thời cũng đưa ra những nguyên nhân của sự biến động đó Là một
Đầu tư tài chính dài hạn
Trang 40công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thép, giá trị tài sản ngắn hạn luôn chiếm một
tỷ trọng rất lớn trên tổng tài sản Đây là một điều phù hợp và tương đối phổ biến đối với các doanh nghiệp cùng ngành Tuy nhiên, tích trữ một lượng hàng tồn kho quá lớn
có thể khiến nguồn vốn bị ứ đọng, làm giảm khả năng sinh lời
Tỷ trọng (%)
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
Nợ phải trả 56.907.590.452 88,48 56.220.038.068 83,09 74.163.528.675 86,42 VCSH 7.406.671.969 11,52 11.445.324.946 16,91 11.658.979.637 13,58 Tổng 64.314.262.421 100 67.665.363.014 100 85.882.508.312 100
(Nguồn: Tính toán t BCĐK n , ,
Nhìn chung, ta có thể thấy rằng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, tổng nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tăng và nợ phải trả luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, trên mức 80% Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn vốn của doanh nghiệp không biến động theo một chiều hướng nhất định Sự biến động của
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được phân tích cụ thể như sau: