Voọc đen má trắng đã được phát hiện cách đây đã khá lâu ở Việt Nam,tuy nhiên tình trạng quần thể cũng như những đặc điểm về sinh thái và tậptính của loài này vẫn chưa được đi sâu nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
-
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ VOỌC ĐEN MÁ TRẮNG
(Trachypithecus francoisi) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG - THÁI NGUYÊN
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
Trang 2Chương I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thú Linh trưởng là nhóm động vật bậc cao và hầu hết các loài trong Bộđều được liệt kê trong sách đỏ thế giới và Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay tìnhtrạng của các quần thể thú linh trưởng đang đứng trước các nguy cơ bị đe dọa
rất nghiêm trọng Vooc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) cũng là một
trong số đó
Voọc đen má trắng đã được phát hiện cách đây đã khá lâu ở Việt Nam,tuy nhiên tình trạng quần thể cũng như những đặc điểm về sinh thái và tậptính của loài này vẫn chưa được đi sâu nghiên cứu Hiện tại, số lượng Voọcđen má trắng và phân bố của chúng vẫn là một câu hỏi đối với các nhà quản
lý và bảo tồn Trước những năm 1973, Voọc đen má trắng được xác định là
có vùng phân bố khắp khu vực Đông Bắc, với số lượng cá thể tương đối lớn.Tuy nhiên, hiện nay tình trạng của những quần thể Voọc đen má trắng đang bị
đe dọa và suy giảm một cách nghiêm trọng Loài chỉ còn được bắt gặp ở một
số khu vực nhỏ của các tỉnh vùng Đông Bắc như: Hà Giang, Tuyên Quang,Bắc Cạn, Thái Nguyên
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng nằm trên địa bàn 6
xã và 1 thị trấn thuộc huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên Bao gồm: Thần Sa,Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Trấn, Phú Thượng và thị trấnĐình Cả, được thành lập ngày 01 tháng 12 năm 1999 với diện tích là 11.280
ha theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên.Theo thống kê sơ bộ xác định ở đây có 295 loài động vật thuộc 93 họ, 30 bộ,
5 lớp động vật có xương sống, trong đó có 47 loài quý hiếm trong danh sách
đỏ Việt Nam cần được bảo tồn Nhóm Linh trưởng ghi nhận có 7 loài gồm:
Cu li lớn (Nycticebus bengalensis), Khỉ Vàng (Macaca mulatta), Khỉ mốc (Macaca assamensis), Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Vượn đen (Nomascus hainanus).
Trang 3Nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về loài Vooc đen má trắng nóichung và những thông tin và số liệu về tình trạng quần thể Voọc đen má trắngtại KBTTN Thần Sa- Phường Hoàng, để phục vụ cho công tác bảo tồn đề tài
đã được chúng tôi thực hiện
Trang 4Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Phân loại học loài Voọc đen má trắng
Cũng giống như hệ thống phân loại Linh trưởng trên thế giới, phân loạilinh trưởng ở Viêt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và quan điểm củangười phân loại (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Tổng kết về phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam theo
thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin
Trang 5Bảng 2.2: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam
7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis
8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus
9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus
10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini
11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi
12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus
13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis
14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus
15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri
16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus
17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes
18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea
19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus
20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor
21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus
22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys
24 Vượn má hung Nomascus gabriellae
(Nguồn: Grove, 2004)Theo hệ thống phân loại của Phạm Nhật (2002) Voọc đen má trắng
được xem là một loài phụ (Trachypithecus francosi francosi), trong hệ thống
phân loại mới Grove (2004) cho rằng Voọc đen má trắng được xem là một
loài riêng và có tên khoa học là Trachypithecus francosi.
Trong luận văn này, việc sử dụng hệ thống phân loại thú Linh trưởng sẽtheo hệ thống phân loại của Groves (2004), vì đây là hệ thống phân loại phảnánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoahọc đang sử dụng rộng rãi
Trang 62.2 Đặc điểm hình thái ngoài, sinh thái và tập tính của Voọc đen má
trắng (Trachypithecus francoisi)
Tên khác: Vượn đen đuôi dài, càng đen (Việt), Tù càng (Tày).
2.2.1 Đặc điểm nhận biết: Voọc đen má trắng có bộ lông tương đối dày, sợi
lông dài và thô, màu đen tuyền Lông hai má trắng, đám trắng khá rộng vàvượt ra khỏi chỏm vành tai Đầu luôn có mào lông đen Lông đuôi không xù,màu đen
Kích thước: Dài đầu và thân 506 - 610mm, dài đuôi 775 - 900mm, dài
bàn chân sau160 - 175mm, cao tai 29 - 42mm, trọng lượng 5 - 7,2kg
Dài sọ 92- 110,4mm, dài khẩu cái 28,2 - 34mm rộng gò má 82mm
Voọc má trắng sống từng đàn Trước đây đàn Voọc thường rất đông, 20
- 30 con (Lê Hiền Hào, 1973) Khảo sát thực địa ở Phong Quang - Hà Giang,
Ba Bể, Chợ Đồn, Na Rì trong những năm gần đây cho thấy, Đàn Voọc đen
má trắng có số lượng thay đổi phổ biến từ 5 - 15 con (Phạm Nhật,2000) Vềcấu trúc đàn, theo một số thợ săn thì mỗi đàn có một con đầu đàn và đó là mộtcon đực nhanh nhẹn Tuy nhiên, cầu trúc của đàn Voọc đen má trắng hìnhnhư không chặt chẽ và vai trò của con đầu đàn không rõ nét
Trang 7Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra ngày 2 buổi, sáng vàchiều , trưa nghỉ Cường độ kiếm ăn của voọc đen má trắng diễn ra mạnh và 2thời điểm đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30.
Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau Mùa nóng, Voọc rời chỗngủ sớm, về hang muộn và thời gian nghỉ trưa khá dài Về mùa lạnh, chúng đikiếm ăn muộn và về hang sớm
Hoạt động của đàn Voọc ít ồn ào, chúng chỉ phát ra những âm thanhnhỏ nhẹ "oọc, oọc " Âm thanh của Voọc đen má trắng phát ra rất giống với
âm thanh của Voọc mông trắng, Voọc gáy trắng và Voọc đầu trắng
Mùa nóng, Voọc đen má trắng thường ngủ trên các gờ đá hoặc các cây
gỗ trước cửa hang, ngược lại mùa đông chúng ngủ trong hang
Đã có một vài nghiên cứu về Voọc đen má trắng và kết quả cho thấychúng ăn lá, chồi non và quả cây rừng, không ăn động vật Bước đầu đã ghinhận được 47 loài thuộc 24 họ thực vật được Voọc đen má trắng dùng làmthức ăn Họ có nhiều loài được thích ăn nhất là Dâu tằm (Moraceae), Ba mảnh
vỏ (Euphrbiaceae), Cau dừa (Arecaceae) (Phạm Nhật, 2002)
Các số liệu nghiên cứu cho thấy Voọc đen má trắng ăn rất nhiều loạiquả song trong khẩu phần thức ăn khối lượng lá, đặc biệt là cuống lá lại chiếm
tỷ lệ nhiều hơn các loại thức ăn quả và thân
Dẫn liệu sinh sản của Voọc đen má trắng thiếu Lê Hiền Hào (1973)cho biết các mẫu vật con cái thu được có phôi nhiều vào tháng 9 đến tháng 3,
và đẻ từ tháng 3 đến tháng 6 Theo nhận định từ nhiều nguồn thông tin mùasinh sản của Voọc đen má trắng kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7 Mỗi con mẹthường chỉ đẻ một con non Các nghiên cứu ở Trung quốc cho thấy trọnglượng con sơ sinh khoảng 300 - 320 gram (Lê Hiền Hào, 1973) Con non mới
đẻ có bộ lông màu vàng
2.3 Phân bố của Vooc đen má trắng
Trang 8Phạm vi phân bố của Voọc đen má trắng rất hẹp, trên thế giới chỉ có ởTrung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay vùng phân bố của chúng đangngày bị thu hẹp dần do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Việt Nam: Trong những năm trước 1973, mẫu vật Voọc đen má trắng
đã thu được ở nhiều tỉnh Đông Bắc Việt Nam như: Lạng Sơn, Cao Bằng,TháiNguyên, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang và Lào Cai Theo khảo sát từnhững năm 1990 trở lại đây chỉ còn gặp ở Hữu Lũng( Lạng Sơn);Vị Xuyên,Phú Linh (Hà Giang); Ba Bể, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn); Na Hang (TuyênQuang) (Phạm Nhật, 2002; Sách đỏ Việt Nam, 2007)
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Thần Sa - Phượng Hoàng – TháiNguyên thuộc vùng Đông Bắc là nơi phân bố của 7 loài Linh trưởng Gồm có:
Cu li lớn, Khỉ Vàng, Khỉ móc, Khỉ mặt đỏ, Voọc đen má trắng, Voọc mũihếch, Vượn đen Trong đó có loài Voọc đen má trắng mới được phát hiện tạikhu vực (Báo cáo khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng) Tuynhiên hiên trạng của các loài Linh trưởng tại khu vực vẫn còn thiếu Chưa cócông trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu các loài Linh trưởng tại khuvực Trong khi đó các mối đe doạ đối với đa dạng sinh học nói chung và đốivới các loài Linh trưởng nói riêng thì ngày một tăng lên Vì vậy, những thôngtin về tình trạng quần thể, phân bố và các mối đe dọa đối với loài và sinh cảnhcủa chúng là rất cần thiết phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn lâu dài
Trang 9má trắng vào nhóm nguy cấp (EN) Sách đỏ Việt Nam (2007) Xếp Voọc đen
má trắng vào cấp EN A1c,d C2a
Voọc đen má trắng đã được phát hiện khá lâu, được xem là một loàiquý hiếm Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài là chưa nhiều và công tác bảotồn đối với loài cũng chưa đạt kết quả cao Hiện trạng của loài đang bị đe dọangày một nghiêm trọng do tình trạng săn bắt và mất nơi sống Trong nhữngnăm trước năm 2000 Voọc đen má trắng được xếp vào cấp sắp nguy cấp,nhưng hiện nay nó đã bị xếp vào cấp nguy cấp Điều đó có nghĩa là công tácbảo tồn của chúng ta đã không đạt kết quả cao, mức độ bị đe dọa của chúngkhông những không được giảm mà còn tăng lên trong những năm qua
Loài Voọc đen má trắng đã được bảo tồn tại vườn quốc gia (VQG) Ba
Bể, KBTTN Na Hang, KBTTN Nà Rì, KBTTN Phong Quang, KBTTN HữuLiên Đây là những khu bảo vệ còn đủ các điều kiện sinh thái cần thiết choloài này và biện pháp bảo tồn nội vi vẫn được xem là biện pháp tốt nhất.(Phạm Nhật, 2002 )
2.5 Tình hình nghiên cứu Linh trưởng ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu linh trưởng ở Việt Nam được bắt đầu rất sớm vàphát triển rất nhanh theo từng thời kỳ song song với những nghiên cứu về đadạng sinh học nói chung và nhóm thú nói riêng Những nghiên cứu đó đượcbắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và chủ yếu do các tác giả nướcngoài thực hiện Các nhà khoa học Việt Nam bắt đầu nghiện cứu đa dạng sinhhọc trong đó có linh trưởng từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây Nóichung hầu hết các nghiên cứu về linh trưởng ở Việt Nam đều tập trung vànghiên cứu thành phần loài, số lượng và phân bố
Thú linh trưởng việt Nam đa dạng về thành phần loài (25 loài và phânloài, thuộc 3 họ) và có nhiều yếu tố đặc hữu (Voọc mũi hếch, Voọc đầu vàng,Voọc mông trắng), (Phạm Nhật, 2002) Phạm Nhật được xem là một trongnhững người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Linh trưởng và cũng làchuyên gia hàng đầu về linh trưởng của Việt Nam Nghiên cứu của ông là
Trang 10nghiên cứu thể hiện một cách đầy đủ và chính xách nhất về các loài Linhtrưởng Ông đã mô tả được đặc điểm hình thái, sinh thái và tập tính của cácloài linh trưởng ở Việt Nam Chỉ ra được các mối đe dọa và các phương phápbảo tồn đối với Linh trưởng Tuy nhiên nghiên cứu của ông chưa đi sâu vàomột loài nào cụ thể.
Một số nghiên cứu về linh trưởng của Việt Nam trong những năm gầnđây:
Phạm Nhật, 2002 mô tả đặc điểm hình thái, sinh học sinh thái và tậptính của 25 loài thú linh trưởng Việt Nam
Geissmann, Nguyễn Xuân Đặng, Lomée., and Momberg, (2002) đã đưa
ra đặc điểm hình thái, sinh thái, tập tính, phân bố cũng như tình trạng và cácmối đe dọa đối với các loài vượn ở Việt Nam
Nalder, Nguyễn Xuân Đặng, Lomée, and Momberg,(2003) đã đưa rađặc điểm hình thái, sinh thái, tập tính phân bố cũng như tình trạng và các mối
đe dọa đối với loài khỉ ăn lá của Việt Nam
Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2000 cho ra cuốn sổ tay ngoạinghiệp nhận diện thú khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng giúp cho cán bộ kiểmlâm khu vực thực hiện các chương trình điều tra giám sát thú đuợc thuận lợihơn Trong số đó có 10 loài linh trưởng được thống kê (Cu li nhỏ, cu li lớn,khỉ cọc, khỉ mốc, khỉ đuôi lợn, khỉ vàng, chà vá chân nâu, voọc hà tĩnh, voọcđen tuyền, vượn đen má trắng)
Nguyễn Vũ Khôi 2005 tập hợp các tài liệu và cho ra cuốn hướng dẫnđiều tra ngoại nghiệp thú linh trưởng Đây là tài liệu giúp cho tra cứu nhanhcác loài trong bộ linh trưởng về đặc điểm nhận biết, phân bố, tình trạng trongsách đỏ thế giới và Việt nam giúp cán bộ kiểm lâm và nhân viên hải quan dễdàng trong việc kiểm soát và ngăn chặn nạn buôn bán trái phép động vậthoang dã
Hầu hết các nghiên cứu trên về linh trưởng Việt Nam trước đây chủyếu tập trung vào điều tra khu hệ,thành phần loài, số lượng, phân bố, sinh thái
Trang 11là chính Chưa có hoặc ít có những công trình đi sâu và nghiên cứu tập tínhcủa từng loài Đây là một hạn chế trong công tác quản lý và bảo tồn loài ởViệt Nam
2.6 Các mối đe dọa đối với thú Linh trưởng
Mất nơi sống và áp lực săn bắt là hai mối đe dọa chính đối với thú Linhtrưởng ở Việt Nam hiện nay (Phạm Nhật, 2002; Tilo, Đồng Thanh Hải,2009)
Mất nơi sống, các quần thể Linh trưởng giảm khả năng tăng trưởng vàphát triển Mặt khác, mất rừng buộc các quần thể thú Linh trưởng phải co cụmlại và chính điều này tạo thuận lợi cho các thợ săn tiêu diệt chúng một cách dễdàng và nhanh chóng hơn, và Voọc đen má trắng cũng không phải là ngoại lệtrong số đó Mất sinh cảnh sống do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là
do phá rừng lấy gỗ, đốt nương làm rẫy, khai thác các loại lâm sản khác, doxây dựng các công trình, cháy rừng và có thể do thiên tai (Phạm Nhật, 2002)
Bên cạnh việc mất sinh cảnh sống thì việc săn bắt bừa bãi cũng là mộtmối đe doạ nghiêm trọng đối với thú Linh trưởng nói chung và đối với Voọcđen má trắng nói riêng Con người ngày càng phát triển, nhu cầu của conngười ngày càng tăng Linh trưởng là một nhóm thú có giá trị rất lớn về kinh
tế, thực phẩm, và là nguồn dược liệu có giá trị Chính vì vậy, thú linh trưởngluôn là một đối tượng săn bắn chủ yếu của con người Cũng như những loàilinh trưởng khác, do có kích thước,trọng lượng cơ thể lớn, lại có gi trị về mặtthực phẩm và dược liệu Voọc đen má trắng lại là loài quý hiếm, có giá trịkinh tế cao Nên chúng luôn bị đe dọa săn băn Con người sử dụng rất nhiềuhình thức khác nhau để săn bắt các loài Linh trưởng như: Bẫy cần giật, bẫy lồng sập, bẫy kẹp, súng kíp đến; các phương tiện hiện đạinhư súng săn hai nòng bắn đạn ghép, súng liên thanh quân dụng
Hàng năm có rất nhiều thú Linh trưởng bị săn bắt, mặc cho tất cả cácloài linh trưởng ở Việt Nam đều đang ở trong tình trạng nguy cấp và rất nguycấp Có nhiều loài đặc hữu đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng TheoPhạm Nhật (2002), năm 1985 ở địa bàn 3 xã của huyện Hương Sơn (Hà
Trang 12Tĩnh), có ít nhất 35 Chà vá và 70 Khỉ cộc bị bắn chết Hai tháng cuối năm
1991 và 3 tháng đầu năm 1992, ít nhất có 16 con Voọc mũi hếch bị bắn chết ở
Na Hang Trong những năm 1980 - 1991, vùng Phong Nha Kẻ Bàng đã rấtphát triển nghề "khỉ ép" Sau khi Khỉ, Voọc bị bắn, thợ săn mổ bỏ nội quan,sấy và ép con vật và mang về bán cho lái buôn Thời kỳ đó hàng năm ít nhấtkhông dưới 10 tấn thú Linh trưởng khô (tương đương với khoảng 1500 conKhỉ Voọc) bị khai thác (Phạm Nhật, 2002) Từ năm 1991 đến nay hoạt độngsăn bắt thú Linh trưởng ở vùng Phong Nha Kẻ Bàng tuy cường độ giảm vìsúng quân dụng đã bị Ban Chỉ huy quân sự tỉnh thu hồi (1991) nhưng vẫn còntiếp tục và hàng năm không dưới 1 tấn Khỉ ép được khai thác (Phạm Nhật,2002)
2.7 Phương pháp điều tra thú Linh trưởng
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Linh trưởng ở ViệtNam Hầu hết các tác giả sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chính là điều tratheo tuyến và phỏng vấn người dân để giải quyết các vấn đề của nội dungnghiên cứu Có thể nói, đây là những phương pháp phù hợp và được áp dụngrộng rãi Tuy nhiên, một trong những hạn chế của điều tra thú Linh trưởng làcác thông tin có được chủ yếu từ phỏng vấn, quan sát trực tiếp còn hạn chế
Do linh trưởng là loài có số lượng rất ít, chúng lại phân bố rải rác, sinh cảnhsống của chúng thường là các khu rừng già núi sâu
Ngoài ra, hạn chế của tuyến điều tra là chưa đi hết các dạng sinh cảnh.Đối với điều tra thú Linh trưởng thường tuyến điều tra phải dài nên rất khóthực hiện do các điều kiện về địa hình và ngoại cảnh là rất phức tạp Việc lậptuyến điều tra như thế nào, vị trí tuyến, số lượng tuyến và chiều dài tuyến nhưthế nào không được quy định rõ Nhưng thực tế là không có cách nào khác làchúng ta phải thực hiện, do vậy để khắc phục những nhược điểm này ta cầnđầu tư nhiều nhân lực để có thể tiến hành điều tra một cách tỉ mỉ và chi tiết
Phương pháp phỏng vấn cũng chưa có những quy tắc cụ thể, chủ yếu
là dựa và kinh nghiệm của những người điều tra Để khắc phục những nhược
Trang 13điểm của phương pháp này thì cần phải tham khảo các ý kiến của các chuyêngia và đề tài cần được thực hiên trong một thời gian dài.
Trang 14CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI 3.1 Điều kiện tự nhiên
Có ranh giới giáp với:
Phía Đông: Giáp rừng phòng hộ và rừng sản xuất của xã Nghinh Tường
và giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Phía Nam giáp các xã còn lại của huyện Võ Nhai
Phía Bắc: Một số diện tích giáp rừng phòng hộ và rừng sản xuất của xãThần Sa và xã Sảng Mộc và giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn
Tổng diện tích khu bảo tồn là 48.913,66 ha
3.1.2 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
3.1.2.1 Địa hình
Khu bảo tồn thuộc vùng núi cao nằm phía đông nam của tỉnh TháiNguyên, địa hình chia cắt hiểm trở, núi đá chiếm gần 87 % diện tích đất Khuvực thuộc phần cuối cùng phía nam của dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn
Độ cao tuyệt đối trung bình khoảng 700m
3.1.2.2 Địa chất và thổ nhưỡng
a Địa chất
Trang 15Khu bảo tồn có lịch sử kiến tạo địa chất vào kỷ Đệ Tam, dưới tác dụng của nhiệt độ, nước, sinh vật và áp suất cùng với sự vận động của vỏ trái đất các sản phẩm phong hóa phân dị thành 2 dạng đá trầm tích:
- Trầm tích hóa học: Đá Phinít phân bố rải rác, diện tích nhỏ
- Trầm tích cơ học: Đá sa thạch chiếm tỷ lệ lớn
b Thổ nhưỡng
Trong khu vực có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa không được bồi hàng năm: phân bố dọc các triền sông Tầngdày > 100 cm, đây là diện tích trồng cây lương thực và hoa màu hàngnăm chủ yếu trong khu vực
- Đất phù sa ngoài suối: Phân bố ở ngoài các con suối Là những dải đất
có diện tích hẹp có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua , hàm lượng mùnnghèo, được sử dụng để trồng lúa hai vụ và hoa màu khác
- Đất dốc tụ thung thũng: Phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độdốc địa hình nhỏ Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có lẫn nhiều mảnh đádăm Phần lớn diện tích đất này được sử dụng để canh tác chè, cây ănquả và hoa màu
- Đất feralit: Bao gồm các loài đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước,đất feralit nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazo, đất feralit đỏ vàngtrên đá macma a xít và đất feralit trên đá sét
3.1.2.3 Khí hậu thủy văn
a Khí hậu:
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 vàmùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau Lượng mưa trung bình hàng nămkhoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1
Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 34 °C) với thánglạnh nhất (tháng 1: 13,2 °C) là 20,8 °C Tổng số giờ nắng trong năm dao động
từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm
Trang 16b Thủy văn
Mật độ sông suối ở đây khá thưa, chủ yếu là các suối nhỏ
+ Lượng nước thất thường theo mùa
+ Do kiểu địa hình núi cao, khí hậu mát mẻ, sự thay đổi của thời tiết thúc đẩy quá trình phong hóa mạnh, vì vậy thực vật ở đây sinh trưởng phát triển khá phong phú
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số lao động
Theo thống kê dân số tính đến hết năm 2007, dân số trong vùng là20.411 nhân khẩu, sinh sống tại 4.446 hộ gia đình, trên địa bàn 66 thôn bản,thuộc 6 xã và 1 thị trấn, Mật độ dân số trong vùng bình quân là: 42người/km2,mật độ đông nhất là xã Phú Thượng (90 người /km2), thấp nhất là xã Thần Sa(23 người / km2 ) Thành phần dân tộc ở đây chủ yếu là Kinh, Tày, Nùng,Dao, H'mông và một số dân tộc khác Trong đó chiếm tỷ lệ đông nhất là dântộc Tày với 8720 người (chiếm 42,4%), sau đó đến dân tộc Dao 4816 người(chiếm 23,4%) Phân bố dân cư không đều, đa số các thôn bản tập trung ởthung lũng, gần sông suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trụcđường giao thông
Tổng số lao động trong vùng là 9.101 lao động chiếm 44,6% dân số,trong đó lao động nông nghiệp là chủ yếu: chiếm 85,7%; lao động thuộc cácngành nghề khác bao gồm cán bộ chủ chốt xã, huyện, cán bộ y tế, giáo dục
3.2.2 Giao thông
Giao thông trong vùng chưa phát triển Toàn bộ hệ thống giao thông chỉ
có gần 150 km đường ô tô Trong đó chỉ có 13 km đường nhựa, còn lại là đườngcấp phối và đường đất Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường ô tô đến đượctrung tâm xã Tuy nhiên chất lượng đường rất xấu nên việc đi lại rất khó khăn,đặc biệt là trong mùa mưa lũ Ngoài ra còn hàng trăm km đường mòn dân sinhtrong các xã, thôn bản, mặt đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu
Trang 173.2.3 Y tế
Các xã trong khu vực đều đã xây dựng trạm y tế đặt ở trung tâm xã.Tại các trạm y tế các xã có 10 bác sỹ, 14 y sỹ, 7 y tá hoạt động khám chữabệnh cho nhân dân trong vùng Ngoài ra còn có 70 cộng tác viên tham gia y tếcộng đồng, 9 y sỹ hoạt động y tế học đường Tuy lực lượng cán bộ y tế đãđược tăng cường nhưng do đội ngũ cán bộ y tế chưa đồng đều, trình độchuyên môn chưa cao, cơ sở vật chất và thuốc men còn thiếu nên công tácchăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng như công tác tuyên truyền phòngchống dịch bệnh trong nhân dân còn hạn chế
3.2.4 Giáo dục
Toàn bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học: Mầm non, tiểuhọc, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Các trường ở thị trấn và ở trungtâm các xã được xây dựng khá khang trang nên điều kiện học tập đã cơ bảnđảm bảo việc dạy và học của giáo viên và học sinh Còn lại một số trường ởcác thôn bản, nhất là các lớp tiểu học chưa được xây dựng kiên cố Cơ sở vậtchất rất thiếu thốn Việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở đây còn gặpnhiều khó khăn
3.2.5 Văn hóa - xã hội
Các xã đều có trụ sở UBND xã, 90% các thôn xóm đều đã có nhà vănhóa Tuy nhiên hoạt động văn hóa tại thôn bản không có gì đặc biệt Trongkhu vực có hai điểm họp chợ là chợ Cúc Dường và chợ La Hiên nhưng ở đâychủ yếu buôn bán những mặt hàng thực phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt củangười dân trong khu vực là chính Nhìn chung trình độ văn hóa của người dântrong khu vực là chưa cao
Trang 183.2.6 Cơ sở hạ tầng khác
Thủy lợi
Do địa hình trong khu vực phức tạp, chủ yếu là núi đá, bị chia cắt
mạnh nên đa phần các thửa ruộng nằm trong các thung lũng, diện tích nhỏ,việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi tưới tiêu rất khó khăn
Theo số liệu điều tra khảo sát các xã trong vùng, hệ thống kênh mương
đã xây dựng được 17.610m, trong đó có 9.110m kênh mương cứng và 8.500mkênh mương đất Hiện nay, một số đoạn kênh mương đã xuống cấp và hiệusuất sử dụng các công trình này chưa cao Vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầucủa sản xuất Thời gian tới cần kiểm tra, tu sửa, nâng cấp và xây dựng thêm
hệ thống kênh mương để phục vụ sản xuất lương thực được hiệu quả
Điện nước sinh hoạt
Tất cả các xã trong khu vực đã có hệ thống điện lưới quốc gia Tuynhiên, đường điện mới chỉ được kéo đến các trung tâm xã và một số thôn bảnnằm ven đường giao thông chính của xã Các bản nằm xa trục đường chínhvẫn chưa được sử dụng điện Hiện tại, một số hộ sử dụng máy thủy điện nhỏ
và máy nổ để phát điện sử dụng trong gia đình
Do điều kiện địa hình núi đá rất phức tạp nên chương trình nước sinhhoạt nông thôn đã được đầu tư xây dựng nhưng vẫn ở phạm vi hẹp Nhiều hộgia đình vẫn phải tìm nguồn nước tự nhiên từ trong núi để phục vụ sinh hoạthàng ngày
Trang 19Chương IV MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp số liệu về tình trạng, phân bố của quần thể Voọc đen mátrắng phục vụ công tác quản lý và bảo tồn loài và sinh cảnh tại khu vựcnghiên cứu
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) và sinh cảnh của
chúng
4.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Luận văn được thực hiện từ ngày 3 tháng 03 năm 2010 đến ngày 14tháng 05 năm 2010 tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng – Thái Nguyên Nội dung công việc được chia thành các giai đoạn.
1 Thu thập, phân tích tài liệu và hoàn thiện đề cương
nghiên cứu
30/01/2010
05/01/2010-2 Điều tra thực địa tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần
Sa – Phượng Hoàng, đợt 1
27/03/2010
12/03/2010-3 Điều tra thực địa tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần
Sa – Phượng Hoàng, đợt 2
22/04/2010
10/04/2010-4 Xử lý số liệu, hoàn thiện luận văn 23/04/2010
14/05/2010
4.4 Nội dung nghiên cứu
4.4.1 Đánh giá tình trạng quần thể voọc đen má trắng tại KBTTN Thần - SaPhượng Hoàng - Thái Nguyên
4.4.2 Xác định phân bố của Voọc đen má trắng tại khu vực nghiên cứu
4.4.3 Đánh giá các mối đe doạ đối với Voọc đen má trắng tại khu vực nghiêncứu
Trang 204.4.4 Xác định nơi ngủ của quần thể voọc đen má trắng tại khu vực nghiêncứu
4.4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn quần thể Voọc đen má trắng
4.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.5.1 Công tác chuẩn bị
- Thu thập và khảo sát các tài liệu có liên quan
- Chuẩn bị dụng cụ cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu
+ Bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu
+ Sổ tay ghi chép
+ Đồng hồ đeo tay (điện tử)
+ Giấy can bản đồ (1m2)
+ Địa bàn, GPS, ống nhòm, máy ảnh, thước dây, lều trại
+ Kim chỉ, đèn pin, túi đựng
+ Các bảng biểu cần thiết và trang bị đi rừng
+ Thuốc men cần thiết
- Sơ bộ nghiên cứu khu vực điều tra thông qua bản bản đồ địa hình vàbản đồ hiện trạng của khu vực nghiên cứu
4.5.2 Công tác ngoại nghiệp
4.5.2.1 Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn là cán bộ kiểm lâm, cán bộ khu bảo tồn, ngườidân địa phương và đặc biệt là các thợ săn ở trong vùng Trong số đối tượngphỏng vấn này sẽ được chia ra các nhóm khác nhau Nhóm về giới tính, tuổi,dân tộc và nghề nghiệp Việc phỏng vấn sẽ được áp dụng bằng cách phỏngvấn trược tiếp bằng các câu hỏi phỏng vấn (câu hỏi đóng và câu hỏi mở) vàphát phiếu phỏng vấn cho người dân Trong quá trình phỏng vấn có sử dụngảnh về loài cho người dân quan sát Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theotừng bộ câu hỏi tùy thuộc vào nội dung điều tra dự kiến như sau:
Bộ câu hỏi 1: Điều tra về sự có mặt và phân bố của Voọc đen má trắng
1 Anh/chị biết bao nhiêu loài Linh trưởng ở đây?
Trang 212 Anh/ chị có thể kể tên những loài đã biết?
3 Anh/chị có biết loài VDMT không?
4 Nếu có Anh/chị gặp nó ở đâu và khi nào?
5 Lần gặp gần đây nhất vào khi nào (ngày, tháng nào)?
5 Anh/chị gặp đàn có nhiều không?
6 Anh/chị có thể mô tả bộ lông của nó?
7 Anh/chị đã bao giờ nhìn thấy nơi ngủ của VDMT chưa?
8 Anh/chị thấy nó ngủ ở đâu ? Mô tả nơi ngủ
9 Anh/chị cho biết những mối đe dọa đối với quần thể Voọc đen má trắng?
10 Theo anh/chị mối đe dọa nào là lớn nhất? Tại sao?
11 Ở đây ngươi dân thường sử dụng biện pháp gì để săn bắt Vooc?
12 VDMT sử dụng làm gì ? Ăn thịt, nấu cao, bán ra thị trường
13 Chúng ta đã tiến hành những biện pháp gì để bảo tồn quần thể Voọc ở đây?
Bộ câu hỏi 2: Xác định hang ngủ
1 Các Bác thường gặp loài Vooc này ở đâu?
2 Đã bao giờ các Bác gặp chúng vào ban đêm chưa? Ở đâu?
3 Thế các Bác có biết chúng thường ngủ ở đâu không?
4 Khu vực này có nhiều vách đá hang đá không? Ở đâu?
Kết quả phỏng vấn được tổng hợp và ghi vào mẫu biểu 4.1:
Mẫu biểu 4.1 Kết quả phỏng vấn
Trang 22kích cở nhóm
Dấu hiệu
Nguồn thông tin
4.5.2.2 Phương pháp điều tra theo tuyến
Để điều tra hiện trạng và phân bố của quần thể Voọc đen má trắng,chúng tôi tiến hành lập các tuyến điều tra trong khu vực nghiên cứu
Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra được lập dựa trên bản đồ địahình, phân bố thảm thực vật, khảo sát thực tế Tuyến thẳng và đi qua tất cảcác sinh cảnh có trong khu vực nghiên cứu Tuyến thường bắt đầu từ đườngmòn
Lập tuyến điều tra.
Dựa vào bản đồ hiện trạng và qua kết quả khảo sát sơ bộ khu vực điềutra chúng tôi đã lập tuyến điều tra tại hai khu vực thuộc 2 xã là Thần Sa vàThượng Nung với 6 tuyến điều tra sẽ được lập trong khu vực điều tra Trong
đó tuyến 01, 02, 03, 04 thuộc xã Thượng Nung, tuyến 05, 06 thuộc xã Thần
Sa Độ dài mỗi tuyến khoảng từ 3- 5 km Tuyến điều tra được chọn cần phải
đi qua tất cả các sinh cảnh, đặc biệt là các nơi phân bố thức ăn và nơi ở củachúng Lập tuyến điều tra cần xác định thực địa và trên bản đồ, dùng máyđịnh vị GPS xác định toạ độ điểm đầu và điểm cuối của tuyến điều tra Trênmỗi tuyến, cứ 200m định vị một lần để xác định tọa độ của tuyến điều tra.Trên tuyến điều tra chính có thể tiến hành lập một số tuyến phụ nhằm điều tra
bổ xung các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu Tuyến phụ được lậpvuông góc với tuyến chình, chiều dài tuyến phụ khoảng 500m Cách 1km lạilập một tuyến phụ
Bảng 4.3: Tổng hợp tuyến điều tra
Trang 23Tuyến số Toạ độ điểm đầu,
điểm cuối
chiều dàituyến Dạng sinh cảnh
01 0601476/2413429
0599748/2413000 2.5 km
Rừng thứ sinh trên núi
đá và rừng nguyên sinh trên núi đá
Quan sát và ghi chép trên tuyến
Dựa trên tập tính của loài, chúng tôi tiến hành quan sát và thu thập sốliệu về loài vào hai thời điểm trong ngày: Buổi sáng từ 6h đến 10h và buổichiểu từ 14h đến 18h,cho đến khi Voọc vào nơi ngủ
Trên các tuyến đã lập sẵn, chúng tôi tiến hành đi trên tuyến với tốc độ1,5 km/h Quan sát một cách kỹ lưỡng về tất cả các phía trên tuyến Cứ 15-20phút, người quan sát sẽ nghỉ 10 phút để quan sát điểm
Khi bắt gặp trực tiếp đối tượng điều tra những thông tin sau đây sẽđược thu thập: Thời gian bắt gặp, đàn số, số lượng cá thể trong đàn, tỷ lệ tuổi
và giới tính, hoạt động của đàn lúc bắt gặp, vị trí bắt gặp (GPS), khoảng cách
từ người quan sát đến đối tượng điều tra
Kết quả điều tra được ghi vào biểu sau: (Biểu 01)
Trang 24Mẫu biểu 01: Tình trạng, phân bố của Vooc má trắng
Ngày điều tra……….Thời gian bắt đầu………Người điều tra………Thời gian kết thúc……… Tuyến điều tra………
Thời tiết ngày điều tra………
Khu vực điều tra:………
Đàn
số
Thời gian
Địa điểm ( GPS )
Sinh cảnh
Số lượng các thể
Hoạt động Ghi
chú
Trang 25Ngoài quan sát trực tiếp, những thông tin gián tiếp về loài cũng sẽ đượcghi nhận: Thức ăn để lại, phân, tiếng kêu, di vật còn lại trong nhà dân (da,lông, sọ, xương), các thể bị nhốt hoặc giết chết
Phân chia sinh cảnh
Sinh cảnh chính trong khu vực điều tra sẽ được phân chia dựa trên bản
đồ phân bố thảm thực vật và quan sát thực địa Những thay đổi ngoài thực địa
so với bản đồ có sẵn sẽ được điều chỉnh theo hiện trạng hiện tại
Bản đồ 01: Tuyến điều tra tại khu vực
Trang 264.5.2.3 Xác định nơi ngủ của quần thể Vooc đen má trắng
Dựa trên các thông tin phỏng vấn, các dấu hiệu quan sát trực tiếp vàgián tiếp để xác định nơi ngủ của Voọc đen má trắng Chúng tôi sẽ cố gắngtheo các đàn Voọc đen má trắng bắt gặp trong quá trình điều tra trên tuyếncho đến tận khi chúng vào nơi ngủ Các thông tin về vị trí nơi ngủ, cách vàohang và đặc điểm của nơi ngủ sẽ được ghi chép chi tiết và chuyển lên bản đồ Ngoài quan sát trực tiếp, chúng tôi sẽ tiến hành tìm kiếm và quan sát nhữnghang ở trên các vách đá, quan sát sẽ được tập trung vào những hang bên dưới
có màu nâu Đây có thể là những dấu hiệu để lại của đàn Voọc trong quá trìnhthải nước tiểu và phân Kết quả điều tra được ghi vào biểu sau (Mẫu biểu 02)
Mẫu biểu 02: Biểu ghi chép nơi ngủ của VĐMT
Ngày điều tra……….Thời gian bắt đầu………
Người điều tra………Thời gian kết thúc………
Tuyến điều tra………
Thời tiết ngày điều tra: ………
Khu vực điều tra: ………
STT Vị
trí
Đàn (số lượng)
Kích thước hang (m)
Khoảng cách
từ mặt đất đến hang (ước lượng)
Thời điểm Vooc vào hang
Mô tả cách thức vào hang của đàn
Ghi chú
Trang 27Chú ý: Khi mô tả cách thức vào hang cần ghi rõ: cá thể nào vào hangtrước (đực, cái hay con non) Các cá thể vào hang từ trên xuống hay đi từ bêntrái hay bên phải sang Trước khi vào hang chúng có những tập tính gì; Ví dụ:Quan sát xung quanh, phát ra tiếng kêu… Cả đàn vào hang cùng lúc hay từng
cá thể 1
4.5.2.4 Đánh giá các mối đe dọa đối với quần thể Vooc đen má trắng
- Đánh giá các tác động của con người lên sinh cảnh: Việc sử dụng cácnguồn tài nguyên, săn băn, chặt gỗ, phong tục tập quán của người dân Nhữngtác động này ảnh hưởng như thế nào tới tình trạng và phân bố của quần thểVooc đen má trắng
- Phỏng vấn cán bộ khu bảo tồn và người dân (Đặc biệt là các thợ săntrong vùng), để có đánh giá và nhận định về công tác bảo tồn tài nguyên rừngnói chung và đối với loài Voọc đen má trắng nói riêng
- Tiến hành đánh giá qua điều tra khảo sát thực tế
Các thông tin thu thập được ghi vào mẫu biểu 03:
Trang 28Mẫu biểu 03: Biểu ghi chép tác động của con người
Địa điểm điều tra……… Ngày điều tra………
Tuyến số……… Quảng đường đi………
Thời gian bắt đầu……… Thời gian kết thúc…………
Người điều tra………
Ghi chú
4.5.3 Công tác nội nghiệp
Sau khi hoàn thành công tác ngoại nghiệp tôi tiến hành tổng hợp, xử lý
số liệu , phân tích kết quả thu thập được Trong quá trình phân tích và xử lý
số liệu chúng tôi có sử dụng một số phần mền như Excel, Photoshop vàMapInfo
Trang 29Chương V KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 5.1 Tình trạng quần thể Voọc đen má trắng tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
Qua điều tra thực địa và phỏng vấn tôi đã xác định được tình trạng củaquần thể Voọc đen má trắng tại khu vực nghiên cứu Kết quả thể hiện ở biểu5.1
Trang 30Biểu 5.1 kết quả điều tra thực địa và phỏng vấn người dân
STT Ngày nhìn thấy Khu vực nhìn thấy Toạ độ (GPS) Kích cỡ nhóm Dấu hiệu Nguồn tham khảo
1 2000 Lũng Lay 15 đến 20 con Nhìn thấy Lương Võ Bằng, Thôn Lũng Cà
2 18/09/2005 Bãi sau đá ngầm 10 đến 20 con Nhìn thấy Nguyên Văn Chi, XómHạ Sơn Giao
3 20/10/2007 Bãi sau đá ngầm 7 đến 10 Nhìn thấy Lưu Đình Huynh, Xóm Kim Sơn
4 11/6/2009 Lũng Hoài 2 con Nhìn thấy Ngô Văn Kiên, Thôn Lũng Cà
5 5/2009 Khu khảo cổ 0593872/2409622 3 con Nhìn thấy Ma Văn Dậu, xóm Xuyên Sơn
6 6/2009 Khu khảo cổ 0593872/2409622 4 con Nhìn thấy Hoàng Văn Thượng, BQL KBT
7 6/2009 Vách đá trắng, Trung Thanh 0602311/2417418 6 con Nhìn thấy Hoàng Văn Thượng, BQL KBT
8 15/10/2009 Lũng Hoành 0600525/ 2414778 2 con Nhìn thấy Hoàng Văn Hoành, Thôn Trung Thành
9 20/02/2010 Xóm Kim Sơn 0591989/ 2410532 1 con Tiếng kêu Hoàng Văn Trường, Xóm Kim Sơn
10 13/03/2010 Lũng Chó 060500/ 2414125 6 đến 7 con Nhìn thấy Ma Thế Dân, Thôn Tân Thành
11 25/03/2010 ( Xóm Kim Sơn)Bãi sau đá ngầm 592599/2410019 7 Nhìn thấy Lê Đình Duy,Dương Anh Tuân,TrânVăn Thọ