Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với các nội dung thường xuyên nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh to
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
*****
NGUYỄN HẢI LÊ MSSV: 40563157
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY
TRẢ GÓP MUA NHÀ, NỀN NHÀ TẠI NHTMCP Á CHÂU- HỘI SỞ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TH.S NGUYỄN THANH PHONG
TP.HCM -2009
Trang 2Chương I: Cơ sở lí luận về Ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng
1.1 Cơ sở lí luận về ngân hàng thương mại:
1.1.1 Khái niệm- Bản chất:
1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại:
- Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam ngày 12 tháng 2 năm 1997 thì Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Hoạt động ngân hàng
là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với các nội dung thường xuyên nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
- Cũng có thể hiểu ngân hàng thương mại: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu của nó bao gồm: huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, đầu tư chứng khoán, liên doanh góp vốn, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và cung cấp các dịch vụ tài chính liên quan ( ngân quỹ thanh toán, ủy thác, quản lí tài sản…)
Theo các định nghĩa trên thì NHTM là một doanh nghiệp như các doanh nghiệp khác nhưng khác cơ bản là ngân hàng kinh doanh tiền tệ Đây là một hình thức kinh doanh đặc biệt Một tổ chức kinh doanh tiền tệ được coi là ngân hàng phải hội đủ 3 yếu tố ( nếu thiếu thì chỉ được gọi là tổ chức phi ngân hàng):
- Nhận tiền gửi của công chúng
- Cấp tín dụng
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán
Trong quan hệ ngày nay Việt Nam gia nhập WTO, kinh tế phát triển nhanh chóng, quan hệ kinh tế mở rộng thì hoạt động của NHTM không chỉ bó hẹp trong phạm vi một nước mà lan rộng ra toàn cầu Chính vì vậy ngân hàng ngày càng đa dạng hóa các dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận và nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng trên trường quốc tế
1.1.1.2 Bản chất của ngân hàng thương mại:
1.1.2 Chức năng- vai trò:
1.1.2.1 Chức năng:
Trang 3- Chức năng tạo tiền: Sự ra đời của các ngân hàng đã tạo ra một bước phát triển về
chất trong kinh doanh tiền tệ Nếu như trước đây, các tổ chức kinh doanh tiền tệ nhận tiềngởi (vàng, bạc) rồi cho vay bằng chính đồng tiền đó, thì kể từ khi hệ thống ngân hàng ra đời, việc cho vay không nhất thiết phải là tiền vàng hoặc bạc mà họ đã nhận được từ người gởi.oa
-Chức năng trung gian tài chính: Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sửdụng và chủ thể co nhu cầu tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế vì người có nhu cầu khó tìm gặp người có khả năng cung cấp Hoạt động của NHTM đã khắc phục đượchạn chế trên bằng cách đứng ra tập trung các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các nhà doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan nhà nước; trên cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể có nhu cầu cần bổ sung vốn tạm thời Như vậy, NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Hay nói khác đi, nghiệp vụkinh doanh của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay
số tiền ấy cho người muốn vay vay
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nềnkinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó
sẽ duy trì họat động của mình
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty…
1.1.2.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi,
Trang 4nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng
tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…)
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng thương mại Ngoài ra việcthực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền bằng đện
tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng sec ngân hàng
mà dùng thẻ như thẻ tín dụng Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của cácngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng
1.1.2.2.3 Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp:
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong
hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương mỗi nước Vậy tiền “bút tệ” được NHTM tạo ra bằng cách nào? Bây giờ chúng ta giả sử rằng tất cả các NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các sec không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình tạo thành tiền như sau:
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới cho vay mới Thanh toán Dự trữ bắt buộc
Trang 5Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là 10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000 Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách
vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan Và số tiền đó đến tay người được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng tiền gửimới là 900.000 Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810.000 Số tiền này được cho người cần vay vay, người cho vay chi trả các khỏan đến người được chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửi vào ngân hàng C Lúc này ngân hàng C sẽ có
số tiền gửi mới là 810.000 Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng
0 Người ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là
10.000.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000 Và do cách thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp
1.1.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại:
- Huy động vốn
- Tín dụng
- Đầu tư và kinh doanh chứng khoán
- Kinh doanh ngoại tệ và vàng
- Quản lý rủi ro
- Thanh toán & chuyển tiền
- Thanh toán quốc tế
- Nghiệp vụ khác : ngân hàng điện tử, kinh doanh BDS
Trong đó , hoạt động chính của NHTM là tín dụng và huy động vốn
1.2 Cơ sở lí luận tín dụng ngân hàng :
1.2.1 Khái niệm tín dụng:
Tín dụng (credit) xuất phát từ tiếng La tinh là Credo (tin tưởng, tín nhiệm) Tuỳ vàonhững góc độ nghiên cứu khác nhau mà có những khái niệm khác nhau về tín dụng.Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếuhụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vaysang người đi vay
Tín dụng còn có nghĩa là số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho kháchhàng
Trong một số ngữ cảnh cụ thể thì tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay
Trang 6Trên cở sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu nhưsau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngânhàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thểkhác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thờihạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Theo quyết định 1627/QĐ-NHNN do Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 31/12/2001 vềcho vay của các Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng thì: “Cho vay là một hình thức cấptín dụng, theo đó Tổ chức Tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sửdụng vào mục eo đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi”
Theo luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi ngày 24/06/2004 thì : “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và cácnghiệp vụ khác
1.2.2 Nguyên tắc :
Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu bảo đảm cho Ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định
Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau :
- Sử dàng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng- đây là nguyên tắc cơ bản, nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay
để thực hiện các
- Phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn
1.2.3 Điều kiện :
- Địa vị pháp lý của khách hàng vay vốn.
- Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có tài liệu chứng minh khả năng hấp thụ vốn vay phù hợp với qui định của pháp luật
- Thực hiện đảm bảo tiền vay theo qui định của Chính phủ và theo hướng dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam
1.2.4 Phân loại
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêuthức nhất định Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quitrình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng Có thể căn cứ vào
Trang 7nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại tín dụng ngân hàng như: Mục đích sử dụng vốnvay, Thời hạn cho vay, Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, Phương pháp hoàn trả,xuất xứ tín dụng…
1.2.4.1 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay:
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:bất Cho vay bất động sản:động Cho vay bất động sản:sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:công Cho vay bất động sản:nghiệp Cho vay bất động sản:và Cho vay bất động sản:thương Cho vay bất động sản:mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưuđộng cho các Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:nông Cho vay bất động sản:nghiệp: là loại cho vay để giúp các hộ nông dân, hợp tác xã nông
nghiệp trang trãi các chi phí sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, giống câytrồng, nhiên liệu…
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:các Cho vay bất động sản:định Cho vay bất động sản:chế Cho vay bất động sản:tài Cho vay bất động sản:chính: Đối tượng cấp tín dụng của sản phẩm này là các
Ngân hàng, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Công ty bảo hiểm, Quỹ tíndụng và các định chế tài chính khác
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:cá Cho vay bất động sản:nhân: là loại cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm
các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trãi các chi phí thông thường của đờisống thông qua phát hành thẻ tín dụng
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại là cho thuê vận hành
và cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủyếu là máy móc – thiết bị
1.2.4.2 Phân loại theo thời hạn cho vay:
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:ngắn Cho vay bất động sản:hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để
bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các Doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạncủa cá nhân
Trang 8 Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:trung Cho vay bất động sản:hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng Tín dụng
trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mớithiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ
và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay để mua sắm các vật
tư nông nghiệp Cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyêncủa các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:dài Cho vay bất động sản:hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể
lên tới 20 – 30 năm Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạnnhư: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xínghiệp mới
1.2.4.3 Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:không Cho vay bất động sản:bảo Cho vay bất động sản:đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự
bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:có Cho vay bất động sản:bảo Cho vay bất động sản:đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc
cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba
1.2.4.4 Phân loại theo xuất xứ tín dụng:
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:trực Cho vay bất động sản:tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người
đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng
Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:gián Cho vay bất động sản:tiếp: Là khoản cho vay đựoc thực hiện thông qua việc mua lại các khế
ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán (gồm chiết khấuthương mại, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp, nghiệp
vụ factoring)
Ngoài các loại cho vay trên, Ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho kháchhàng bằng uy tín của mình Hay còn gọi là tín dụng bằng chữ ký
Trang 9Từ những cách phân loại trên, ta thấy hoạt động tín dụng là một hoạt động rất đa dạng.Cho nên, nếu một Ngân hàng đa dạng hoá các nghiệp vụ tín dụng của mình thì điều đócũng đồng nghĩa với việc giúp ngân hàng phân tán được rủi ro Nhưng cũng cần phải cóbiện pháp quản trị phù hợp để hạn chế tới mức tối đa các rủi ro song song với việc đadạng hoá các nghiệp vụ tín dụng.
1.3 Tín dụng bất động sản :
1.3.1 Khái niệm bất động sản :
Việc phân loại tài sản thành “ bất động sản” và “ động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La
Mã, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cảnhững gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất Bất động sản baogồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng và tất cả những gì liên quan đến đấtđai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thànhlãnh thổ
Theo bộ Luật Dân Sự nam nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, có quy định: '” BĐS là cáctài sản bao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sảngắn liền với nhà, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai, các tài sảnkhác do pháp luật quy định”
1.3.2 Khái niệm thị trường bất động sản:
Thị trường BĐS chỉ hình thành khi bất động sản trở thành hàng hóa Thị trường BĐS là
sự mua, bán và taro đổi BĐS phát triễn ở mức độ cao, đó chính là thị trường mua bán,trao đổi đất đai và các công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất đai
Thị trường BĐS đóng vai trò khá đặc biệt vì nó những nét đặc trưng riêng:
Trước hết, thị trường BĐS không phải là thị trường giao dịch bản thân bất động sản mà làthị trường giao dịch các quyền và lợi ích chứa đựng trong bất động sản
Trang 10Thị trường BĐS mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc:Bất động sản là một loại hàng hóa
cố định và không thể di dời, chịu ảnh hưởng của yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu Trongkhi đó: tâm lý, tập quán, thị hiếu của mỗi vùng, địa phương sẽ khác nhau Do đó, nhu cầu
về BĐS sẽ rất khác nhau về số lượng, kiểu cách, mẫu mã, chất lượng dẫn đến sự khácnhau về quy mô và trình độ phát triễn của thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật: pháp luật chi phối, điềuchỉnh các quyền về BĐS như: mua, bán, thế chấp, góp vốn Đồng thời pháp luật còn quyđịnh hợp đồng giao dịch dân sự về bất động sản
Thị trường bất động sản tuy có hoạt động phong phú nhưng thường là thị trường khônghoàn hảo: thị trường BĐS phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, truyền thống
và tập quán của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi cộng đồng Chính vì mang tính địaphương như vậy, sự hiểu biết về giao dịch và thực hiện giao dịch thường không hoàn hảo.Cung về bất động sản phản ứng chậm hơn so với cầu bất động sản: việc tạo ra hàng hóabất động sản, các công trình xây dựng đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, từ tìm hiểuthông tin về đất đai, chuyển nhượng đất đai, xin giấy phép xây dựng, thiết kế, thi công Thủ tục pháp lý để chuyển nhượng đất đai, bất động sản thường khá phức tạp Bên cạnh
đó, bất động sản là hàng hóa có giá trị lớn nên đòi hỏi vốn đầu tư vốn
Thị trường bất động sản có mối quan hệ mật thiết với thị trường vốn: hàng hóa bất độngsản là hàng hóa có giá trị lớn, do đó các hoạt động giao dịch đầu tư, kinh doanh trên thịtrường bất động sản đều có nhu cầu rất lớn về vốn Một phần nhu cầu về vốn cho hoạtđộng đầu tư,kinh doanh bất động sản được huy động trên thị trường vốn
1.3.3 Khái niệm tín dụng bất động sản:
Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất độngsản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực cộng nghiệp, dịch vụ Chính vì vậy mà bấtđộng sản vừa là đối tượng , vừa là mục tiêu của khoản cho vay này
Trang 11Các ngân hàng thường cho vay bất động sản để tài trợ cho việc mua những tài sản thựcnhư: nhà cửa, căn hộ , trung tâm mua bán, khu văn phòng, nhà kho và các cơ sở vật chấtkhác, trong một số trường hợp bao gồm cả đất đai Cho vay bất động sản là một lĩnh vực
mà bản thân nó chứa đựng một sự khác biệt quan trọng so với các dạng cho vay khác củangân hàng
Trong hoạt động ngân hàng, cho vay bất động sản có thể là những món vay có quy mônhỏ như khoản vay dùng để sữa chữa nhà, thanh toán trong vòng vài tháng hoặc vài năm,nhưng cũng có thể là những khoản vay mang tính dài hạn, kéo dài từ 25 đến 30 năm, đểcung cấp một nguồn tài chính lâu dài cho việc mua mới một căn nhà hay một căn hộchung cư
1.3.4 Đặc điểm tín dụng bất động sản:
1.3.4 Các hình thức tín dụng bất động sản:
1.4.1 Chức năng:
Sự ra đời của các ngân hàng đã tạo ra một bước phát triển về chất trong kinh doanhtiền tệ Nếu như trước đây, các tổ chức kinh doanh tiền tệ nhận tiền gởi (vàng, bạc) rồicho vay bằng chính đồng tiền đó, thì kể từ khi hệ thống ngân hàng ra đời, việc cho vaykhông nhất thiết phải là tiền vàng hoặc bạc mà họ đã nhận được từ người gởi
Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các NHTM đã tạo ra được bút tệ để thay thế tiền làmột sáng kiến quan trọng thứ hai trong lịch sử hoạt động của ngân hàng Chính nhờ phương thức tạo tiền này mà ngân hàng đã trở thành trung tâm của đời sống kinh tế hiện đại Paul A Samuelson đã cho rằng, sự thật là toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể làm được cái mà từng ngân hàng nhỏ không làm được: nó có thể mở rộng việc cho vay
nợ và từ đó mở rộng nguồn tiền ngân hàng lên gấp nhiều lần so với số mà các dự trữ mới tạo ra cho nó, cho dù mỗi ngân hàng nhỏ bao giờ cũng chỉ vay một phần số tiền kí gởi
Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể co nhu cầu tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế vì người có nhu cầu khó tìm gặp người có khả năng cung cấp Hoạt động của NHTM đã khắc phục được hạn chế trên bằng cách đứng ra
Trang 12tập trung các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các nhà doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan nhà nước; trên cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể có nhu cầu cần bổ sung vốn tạm thời Như vậy, NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Hay nói khác đi, nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại
là đi vay để cho vay
1.4.2 Vai trò:
Nền kinh tế luôn tồn tại những chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn Họ có thể cách biệt về mặt không gian nên họ không hiểu biết lẫn nhau, nghĩa là chủ thể thừa vốn thì không biết ai đang cần vốn để cho vay, còn chủ thể thiếu vốn thì không biết ai đang thừa vốn để đi vay Họ có thể khác nhau về quy mô, nghĩa là tồn tại những chủ thể thiếu vốn lớn trong khi chỉ có nhũng người thừa vốn quy mô nhỏ hoặc ngược lại Họ có thể khác nhau về thời gian nghĩa là người thiếu vốn cần vốn trong một thời gian dài trong khingười thừa vốn chỉ có thể đáp ứng trong một thời gian ngắn Vì thế quan hệ tín dụng không thể xảy ra Là một trung gian tài chính, Ngân hàng xuất hiện giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng giữa các chủ thể trong nền kinh tế Ngân hàng đứng ra đi vay các chủ thể thừa vốn, và Ngân hàng cho vay lại các chủ thể thiếu vốn, gọi là Tín dụng ngân hàng Có thể kể đến vai trò của Tín dụng ngân hàng dưới các góc độ như sau:
- Đối với nền kinh tế:
Tín dụng Ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng cho các chủ thể trong nền kinh
tế Thông qua Tín dụng ngân hàng, các nguồn lực trong xã hội được phân bổ sử dụng mộtcách hợp lý và có hiệu quả, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung
Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, từ đó kích thích quá trình tiếtkiệm và gia tăng vốn đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội
- Đối với ngân hàng:
Hoạt động Tín dụng đối với Ngân hàng thương mại tại các nước đang phát triển là hoạtđộng kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có của các Ngân hàngnày Hoạt động tín dụng tạo nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, đó là thu nhập từ lãivay
Hơn nữa, hoạt động tín dụng càng lớn, Ngân hàng càng có nhiều mối quan hệ với kháchhàng Những người vay vốn là khách hàng tiềm năng đối với những sản phẩm dịch vụkhác của Ngân hàng Nếu khách hàng là doanh nghiệp, họ có thể sử dụng các dịch vụ củaNgân hàng như Séc, Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, Dịch vụ trả lương hộ… Nếu kháchhàng là cá nhân, họ có thể sử dụng dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền… Thông qua đó,nguồn thu của Ngân hàng cũng gia tăng
Trang 13Ngân hàng trung ương khi muốn thực thi chính sách mở rộng hay thu hẹp tín dụng có thểthông qua Ngân hàng thương mại Khi Ngân hàng trung ương chỉ thị mở rộng đầu tư vốnvào một thành phần kinh tế hay một lĩnh vực, nghành nghề nào đó thì Ngân hàng thươngmại thông qua hoạt động tín dụng với điều kiện cho vay dễ dàng hơn sẽ cho vay nhiềuhơn đối với thành phần kinh tế hay nghành nghề, lĩnh vực đó Vì vậy, Ngân hàng thươngmại thông qua hình thức cho vay đã thực hiện được các chính sách tiền tệ mà Ngân hàngtrung ương chỉ thị.
- Đối với khách hàng:
Thông qua tín dụng Ngân hàng, các khách hàng có thể được bổ sung nguồn vốnthiếu hụt Đối với các cá nhân, họ có thể sử dụng đồng vốn vay cho các mục đích cá nhânnhư: du học, mua nhà, sửa chữa nhà, mua đất… Còn đối với các Doanh nghiệp, sự bổsung nguồn vốn thiếu hụt kịp thời rất có ý nghĩa, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Doanh Nghiệp được thông suốt, hiệu quả kinh doanh được đảm bảo
Từ các phân tích trên, có thể thấy tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng Tuynhiên, bất kỳ hoạt động nào cũng tiềm ẩn những rủi ro Hoạt động của Ngân hàng cũngvậy, việc nhận định những rủi ro tín dụng rất quan trọng đối với Nhà quản lý ngân hàng
1.5 Các hình thức tín dụng:
1.5.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:ngắn Cho vay bất động sản:hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù
đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các Doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của
cá nhân
Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:trung Cho vay bất động sản:hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng Tín dụng
trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mớithiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ
và thời gian thu hồi vốn nhanh Cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu độngthường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập
Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản:Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:dài Cho vay bất động sản:hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên
tới 20 – 30 năm Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như:xây dựng nhà ở, đầu tư các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xínghiệp mới
1.5.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng:
- Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:bất Cho vay bất động sản:động Cho vay bất động sản:sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại vàdịch vụ
Trang 14- Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:công Cho vay bất động sản:nghiệp Cho vay bất động sản:và Cho vay bất động sản:thương Cho vay bất động sản:mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu
động cho các Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:nông Cho vay bất động sản:nghiệp: là loại cho vay để giúp các hộ nông dân, hợp tác xã nông
nghiệp trang trãi các chi phí sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu,giống cây trồng, nhiên liệu…
- Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:các Cho vay bất động sản:định Cho vay bất động sản:chế Cho vay bất động sản:tài Cho vay bất động sản:chính: Đối tượng cấp tín dụng của sản phẩm này là các
Ngân hàng, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Công ty bảo hiểm, Quỹtín dụng và các định chế tài chính khác
- Cho Cho vay bất động sản:vay Cho vay bất động sản:cá Cho vay bất động sản:nhân: là loại cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trãi các chi phí thôngthường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
- Cho Cho vay bất động sản:thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại là cho thuê vận
hành và cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản,trong đó chủ yếu là máy móc – thiết bị
Chương 2 :GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY MUA NHÀ, NỀN NHÀ TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU.
2.1 Giới thiệu khái quát về NHTMCP Á Châu:
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển:
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), tên giao dịch là Asia Commercial Bank (ACB), đượcthành lập theo giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam cấpngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UP do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày13/05/1993, thời hạn hoạt động là 50 năm
- Ngày 04/06/1993: ACB chính thức đi vào hoạt động Trụ sở chính đặt tại số 442Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Vốn điều lệ ban đầu là 20 tỉđồng
Năm 1996: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam phát hành thẻtín dụng quốc tế ACB-MasterCard
Năm 1997: ACB phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Visa Cũng trong năm này, ACBbắt đầu tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại dưới hình thức của một chương trình đàotạo nghiệp vụ ngân hàng toàn diện kéo dài hai năm, do các giảng viên nước ngoài trong
Trang 15lĩnh vực ngân hàng thực hiện Thông qua chương trình này, ACB đã nắm bắt một cách hệthống các nguyên tắc vận hành của một ngân hàng hiện đại, các chuẩn mực và thông lệtrong quản lý rủi ro, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, và nghiên cứu ứng dụngtrong điều kiện Việt Nam
Năm 1999: ACB triển khai chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng, xâydựng hệ thống mạng diện rộng, nhằm trực tuyến hóa và tin học hóa hoạt động giao dịch;
và cuối năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống công nghệ ngân hàng lõi là TCBS(The Complete Banking Solution: Giải pháp ngân hàng toàn diện), cho phép tất cả chinhánh và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch tức thời, dùng chung cơ sở dữliệu tập trung
Năm 2000: ACB, sau những bước chuẩn bị từ năm 1997, đã thực hiện tái cấu trúc như làmột bộ phận của chiến lược phát triển trong nửa đầu thập niên 2000 (2000 – 2004) Cơcấu tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ Các khối kinh doanhgồm có Khối Khách hàng cá nhân, Khối Khách hàng doanh nghiệp, và Khối Ngân quỹ.Các đơn vị hỗ trợ gồm có Khối Công nghệ thông tin, Khối Giám sát điều hành, Khối Pháttriển kinh doanh, Khối Quản trị nguồn lực và một số phòng ban do Tổng giám đốc trựctiếp chỉ đạo Hoạt động kinh doanh của Hội sở được chuyển giao cho Sở giao dịch (Tp.HCM) Việc tái cấu trúc nhằm đảm bảo tính chỉ đạo xuyên suốt toàn hệ thống; sản phẩmđược quản lý theo định hướng khách hàng và được thiết kế phù hợp với từng phân đoạnkhách hàng; quan tâm đúng mức việc phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro
Năm 2003: ACB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000
và được công nhận đạt tiêu chuẩn trong các lĩnh vực (i) huy động vốn, (ii) cho vay ngắnhạn và trung dài hạn, (iii) thanh toán quốc tế và (iv) cung ứng nguồn lực tại Hội sở Năm 2005: ACB và Ngân hàng Standard Charterd ký kết thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật toàndiện; và SCB trở thành cổ đông chiến lược của ACB ACB triển khai giai đoạn hai củachương trình hiện đại hoá công nghê ngân hàng, bao gồm các cấu phần (i) nâng cấp máy
Trang 16chủ, (ii) thay thế phần mềm xử lý giao dịch thẻ ngân hàng bằng một phần mềm mới cókhả năng tích hợp với nền công nghệ lõi hiện nay, và (iii) lắp đặt hệ thống máy ATM Năm 2006: ACB niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.
Năm 2007: ACB mở rộng mạng lưới hoạt động, thành lập mới 31 chi nhánh và phònggiao dịch, thành lập Công ty Cho thuê tài chính ACB, hợp tác với các đối tác như OpenSolutions (OSI) – Thiên Nam để nâng cấp hệ ngân hàng cốt lõi, hợp tác với Microsoft vềviệc áp dụng công nghệ thông tin vào vận hành và quản lý, hợp tác với Ngân hàngStandard Chartered về việc phát hành trái phiếu ACB phát hành 10 triệu cổ phiếu mệnhgiá 100 tỷ đồng, với số tiền thu được là hơn 1.800 tỷ đồng
Năm 2008: ACB thành lập mới 75 chi nhánh và phòng giao dịch, hợp tác với AmericanExpress về séc du lịch, triển khai dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ JCB ACB tăng vốnđiều lệ lên 6.355.812.780 tỷ đồng ACB đạt danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Namnăm 2008" do Tạp chí Euromoney trao tặng tại Hong Kong
2.1.2.Mô hình tổ chức:
ACB đã thiết lập được một cấu trúc quản trị điều hành phù hợp với các tiêu chuẩn về tổchức và hoạt động của Ngân hàng thương mại theo nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày12/9/2000 của Chính phủ và hướng dẫn về các tổ chức và hoạt động của Hội đồng Quảntrị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Nhà nước và nhândân (Quyết định 1087/QĐ-NHNN ngày 27/08/2001 của Ngân hàng Nhà nước) Cụ thể,
hệ thống quản trị điều hành của ACB gồm có:
gia điều hành trực tiếp Hội đồng quản trị họp định kì hàng quý để thảo luận các vấn đềliên quan tới hoạt động của Ngân hàng, xem xét, báo cáo, phê chuẩn báo cáo thường niên,báo cáo quý Trong trường hợp cấp thiết, hội đồng quản trị sẽ có phiên họp bất thường.Hội đồng quản trị có vai trò xây dựng chiến lược tổng thể và định hướng lâu dài choNgân hàng, ấn định mục tiêu tài chính giao cho ban điều hành Hội đồng quản trị chỉ đạo
Trang 17và giám sát hoạt động của ban điều hành thông qua một số hội đồng và ban chuyên môn
do hội đồng quản trị thành lập như Ban kiểm toán nội bộ, Hội đồng tín dụng , hội đồngquản lí tài sản nợ và có, và hội đồng đầu tư
Tổng giám đốc giúp việc cho Tổng giám đốc Ban điều hành có chức năng cụ thể hoáchiến lược tổng thể và các mục tiêu do hội đồng quản trị đề ra, bằng các kế hoạch,phương án kinh doanh và tham mưu cho hội đồng quản trị về các vấn đề chiến lược,chính sách, trực tiếp điều hành mọi hoạt động Ngân hàng
là kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống ACB theo đúngpháp luật, các quy định của Ngân hàng và các quy chế, thể lệ, quy trình nghiệp vụ củaACB Qua đó, ban Kiểm toán nội bộ tiến hành đánh giá chất lượng điều hành và hoạtđộng của từng đơn vị, tham mưu cho ban điều hành, đề xuất các giải pháp cần thiết
nhất về quản lí hoạt động tín dụng Nó thực hiện việc xét duyệt phân phối nguồn vốn tíndụng cho khu vực kinh tế, ấn định hạn mức tín dụng cho các ban tín dụng , quyết địnhviệc cho vay của Ngân hàng đối với các định chế tài chính trong và ngoài nước, quyếtđịnh về chuẩn mực tín dụng, giám sát chất lượng tín dụng và xem xét các vấn đề khácliên quan đến hoạt động tín dụng
5/7/1997 Hiện nay hội đồng này có 11 thành viên đại diện cho Hội đồng quản trị, BanTổng giám đốc, Giám đốc các khối Hội đồng này có nghĩa vụ xây dựng các chỉ tiêu tàichính để quản lí tài sản nợ và tài sản có hữu hiệu và kịp thời, quản lí khả năng thanh toán
và chênh lệch thời gian đáo hạn của từng loại tiền tệ, quy định mức dự trữ thanh khoản,quản lí rủi ro lãi suất, tỉ giá quyết định về cấu trúc và nguồn vốn, chính sách lãi suất, phântích hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh và toàn hệ thống
Đầu tư có 10 người là thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban điều hành và trưởng
bộ phận đầu tư Nhiệm vụ của hội đồng là xem xét tính hiệu quả của dự án đầu tư mà
Trang 18ACB quan tâm, ra quyết định đầu tư, xem xét va ra quyết định các vấn đề khác liên quanđến hoạt động đầu tư.
hàng, do Hội đồng quản trị chỉ định Báo cáo trực tiếp với Tổng giám đốc là: Đại diện lãnh đạo về chất lượng, Ban đảm bảo chất lượng, Ban chiến lược, Ban kiểm toán nội bộ
- Tuy nhiên theo cơ chế quản lí mới, các hoạt động của ACB đều được xếp vào các khối quản lí Hiện nay cơ cấu của ACB gồm 7 khối nghiệp vụ, đó là:
và giao dịch, Bộ phận phận tín dụng, Trung tâm chuyển tiền W.U, trung tâm thẻ, Bộ phậncác sản phẩm liên kết
phân tích tín dụng, phòng thẩm định và quản lí tài sản, phòng thanh toán quốc tế, phòng quan hệ quốc tế
phận phân tích đối tác giao dịch ngân quỹ
- Khối phát triển kinh doanh: Bộ phận nghiên cứu phát triển khách hàng, phát triển
thị trường, bộ phận phát triển kênh phân phối, bộ phận phát triển sản phẩm
- Khối giám sát điều hành: Phòng Kế toán, phòng Xử lí nợ, phòng Quản lí rủi ro, ban
Pháp chế, bộ phận Giám sát công ty quản lí danh mục đầu tư
- Khối quản trị nguồn lực: phòng Nhân sự, phòng Hành chánh, Trung tâm đào tạo.
- Trung tâm công nghệ thông tin: Phòng Công nghệ thông tin, phòng Tổng hợp khai
thác dữ liệu, phòng Ngân hàng điện tử
- Cuối cùng là hệ thống các chi nhánh, bao gồm sở giao dịch ACB
Trang 19ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
VĂN PHÒNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÁC HỘI ĐỒNG
BAN KIỂM SOÁT
BAN KIỂM TOÁN NỘI BỘ
PHÒNG KẾ TOÁN
PHÒNG QUẢN LÝ RỦI RO THỊ TRƯỜNG
PHÒNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI
BAN CHIẾN LƯỢC
BAN CHÍNH SÁCH
VÀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG
PHÒNG ĐẦU TƯ
KHỐI PHÁT TRIỂN KINH DOANH KHỐI NGÂN QUỸ KHỐI VẬN HÀNH KHỐI
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
KHỐI QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC
KHỐI KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN
TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Các phòng bán hàng
Các phòng hỗ trợ
Các phòng nghiệp
vụ
Các phòng bán hàng
Các phòng hỗ trợ
Các phòng nghiệp vụ
Các phòng sản phẩm
Các phòng sản phẩm
Phòng Kinh doanh ngoại hối
Phòng Kinh doanh vàng
Phòng Kinh doanh vốn
Phòng hỗ trợ
và phát triển chi nhánh
Phòng Marketing
Phòng Nghiên cứu thị trường
Phòng
Hỗ trợ tín dụng
Phòng Nghiệp vụ giao dịch
Phòng Pháp chế
và tuân thủ
Phòng Quản lý quỹ
Phòng Thẩm định tài sản
Phòng Tổng hợp
Phòng Điều hành nhân sự Phòng Hành chính và xây dựng cơ bản Phòng Phát triển Nguồn nhân lực
Trung tâm đào tạo
Bộ phận Hành chính
Phòng Phân tích nghiệp vụ Phòng Quản trị cơ sở
dữ liệu Phòng Vận hành
Hệ thống CNTT
Sở Giao dịch, Chi nhánh và Phòng Giao dịch
2.1.3 Mạng lưới hoạt động:
Trang 20Hiện nay ACB có 193 chi nhánh, phòng giao dịch trên cả nước bao gồm TP.HCM , HàNội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh,Đà Nẵng, Daklak, Khánh Hoà, Hội An, Huế, CầnThơ, An Giang, Cà Mau, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu Đồg thời ACB đã thiết lậpđược 5.584 đại lí chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB và 360 đại lí chi trảcủa trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union.
2.1.4 Các thành tựu đạt được trong thời gian qua:
“ACB hướng tới là nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính hoàn hảo cho khách hàng,danh mục đầu tư hoàn hảo của cổ đông, nơi tạo dựng nghề nghiệp hoàn hảo cho nhânviên, là một thành viên hoàn hảo của cộng đồng xã hội “Sự hoàn hảo” là ước muốn màmọi hoạt động của ACB luôn nhằm thực hiện” Chính vì thế, trải qua 16 tồn tại và pháttriển, ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đã đạt được rất nhiều thành tích đáng ghinhận
Trong năm 2008 vừa qua, ngân hàng đã vinh dự được chủ tịch nước trao tặng huânchương lao động hạng II, cờ thi đua của thủ tướng chính phủ và được tập chí Euromoney– tạp chí tài chính hàng đầu thế giới bình chọn là Ngân hàng tốt nhất Việt Nam, đây là lầnthứ 4 ngân hàng được tạp chí này bình chọn là ngân hàng tốt nhất Việt Nam
Ngoài ra, ngân hàng còn được tặng thưởng nhiều băng khen, giấy khen và các giảithưởng vì những thành tích đã đạt được như:
Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ được hài lòng nhất năm 2008 do Báo Sài Gòn Tiếp Thịbình chọn
Cúp thuỷ tinh “Thành tựu về lãnh đạo trong ngành ngân hàng Việt Nam năm 2006(The Leadership Achievement Award for the Financial Services Industry inVietnam 2006)” do tổ chức The Asian Banker trao tặng năm 2007
Bằng khen & Cúp thủy tinh vì “Có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáodục đào tạo của đất nước” do Bộ Giáo dục và Đào tạo trao tặng năm 2007
Bằng khen “Đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua nhân dịp kỷ niệm
15 năm hoạt động thông tin tín dụng (1992 - 2007)” do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam trao tặng
Bằng khen “Ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tốt nhất Việt Nam năm
2007 (Best SME Lending Bank Vietnam 2007)” do Quỹ SMEDF, Dự ánVNM/AID-CO/200/2469 trao tặng
Năm 2006, ngân hàng Á Châu vinh dự được chủ tịch nước trao tặng Huân chươnglao động hạng ba vì “Đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2001 - 2005góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 21 Năm 2006, ACB cũng vinh dự nhận được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vì
“Đã có thành tích trong việc thực hiện Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị về đẩymạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, góp phần vào sự nghiệp xây dựngChủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”
Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam đã trao Chứng nhận “Chứng nhậnthương hiệu Ngân hàng TMCP Á Châu ACB là Thương hiệu nổi tiếng tại ViệtNam do người tiêu dùng bình chọn năm 2006”
18-11-2007: ACB nhận giải thưởng “Doanh nghiệp ASEAN xuất sắc nhất” hạngmục sử dụng người lao động (Singapore) (The most Admired ASEANEnterprises)
- 16-03-2008: Ông Đỗ Minh Toàn_Phó Tổng Giám Đốc Ngân hàng Á Châu nhậngiải thưởng “Nhà lãnh đạo trẻ triển vọng của Việt Nam năm 2007” do The AsianBanker trao tặng
- 17-03-2008: Ông Bùi Tấn Tài_Phó Tổng Giám Đốc Ngân hàng Á Châu nhận giấychứng nhận “Một trong 100 nhà lãnh đạo trẻ triển vọng khu vực Châu Á-TBD vàVùng Vịnh” do The Asian Banker trao tặng
Ngân hàng Á Châu luôn luôn duy trì được tỷ lệ an toàn vốn trên 8%- tỷ lệ tối thiểu đượcquy định trong Thỏa ước Basel I của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS – Bank forInternational Settlements) mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng Đặc biệt tỷ lệ nợ quá hạntrong những năm qua luôn dưới 1%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu quả của ACB.Không chỉ có vậy, ACB còn liên tục được đánh giá xếp hạng A trong Quy chế xếp hạnhcác tổ chức tín dụng cổ phần (năm 1998), một quy chế áp dụng theo chuẩn mực quốc tếCAMEL để đánh giá tính vững mạnh của một ngân hàng
2.1.5 Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính:
Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng
Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh) bằng đồng Việt Nam,ngoại tệ và vàng
Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện dịch
vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng
Kinh doanh ngoại tệ và vàng
Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
2.1.6 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh:
Trang 22Năm 2008, nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng trầm trọng tác động không nhỏđến thị trường tài chính Việt Nam Trong bối cảnh khó khăn như vậy nhưng hoạt độngkinh doanh của ngân hàng ACB vẫn phát triển tốt và đạt được mục tiêu đề ra.
Bảng 1: Chỉ tiêu và kế hoạch thực hiện 2008 so với 2007
Chỉ tiêu Thực hiện
2008
Kế hoạch 2008
% so kếhoạch
Thực hiện2007
% tăngtrưởng so2007Lợi nhuận
Lợi nhuận trước thuế của ACB tính đến ngày 31/12/2008 đạt 2.561 tỷ đồng đạt 102,44%
so với kế hoạch đề ra, tăng trưởng 20,4% so với năm 2007 Nếu so sánh với các nămtrước với các năm trước thì tốc độ tăng trưởng của năm 2008 có phần chậm lại nhưng xéttrong tình hình kinh tế hiện tại thì đây là một kết quả rất khả quan
Tổng tài sản năm 2008 tuy không thể đạt được chỉ tiêu đề ra (chỉ đạt 72,6% chỉ tiêu) dotình hình suy thoái kinh tế nhưng cũng tăng 23,3% so với năm 2007, đạt 105.306 tỷ đồng
Hệ số an toàn vốn luôn được ACB duy trì ở mức cao và đến cuối năm 2008 đạt 12,44%,cao hơn khá nhiều so với mức 9,87% của toàn ngành Lợi nhuận cơ bản bình quân trên cổphiếu (EPS) năm 2008 của ACB đạt 3.673 đồng/ cổ phiếu, chỉ số ROE bình quân là32,3%, ROA bình quân đạt 2,24% và hệ số an toàn vốn (CAR) ngày 31/12/2008 là12,64%
Trang 23Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của tín dụng và huy động vốn của ACB 2004-2008
DƯ NỢ CHO VAY hợp nhất (tỷ đồng)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy năm 2008 tăng thấp nhất trong 5 năm trở lại đây Dư nợ cho vaychỉ tăng cĩ 8.94%, đạt 34.833 tỷ đồng Một điều đáng chú ý là lợi nhuận từ hoạt động tíndụng của ngân hàng năm nay chỉ chiếm 23% tổng lợi nhuận trong khi các năm trước, con
số này luơn ở mức trên 50% Nguyên nhân của hiện tượng này một phần do nền kinh tế
Trang 24khĩ khăn nên tăng trưởng tín dụng thấp, mặt khác là do ngân hàng duy trì tình hình lợinhuận từ tín dụng khơng cĩ lãi từ cuối quý II đến giữa quý IV năm 2008 nhằm chia sẻkhĩ khăn với các khách hàng vay vốn tại ACB Chính vì vậy, vị thế hoạt động tín dụngcủa ACB so tồn ngành vẫn giữ nguyên so với năm trước, ở mức xấp xỉ 3% Rủi ro tíndụng cũng luơn được Ngân hàng kiểm sốt chặt chẽ để duy trì chất lượng tín dụng Cụthể, tỷ lệ nợ nhĩm 3 đến nhĩm 5 trên tổng dư nợ thời điểm cuối năm 2008 của tập đồn là0,9%, tuy cao hơn cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn rất nhiều so với bình quân chungcủa tồn ngành (3,5%)
Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động của ngân hàng ACB luơn thấp hơn tỷ lệ trung bìnhngành (trên 60%)cho thấy một chính sách tín dụng thận trọng và phân tán rủi ro Khoảng40% vốn huy động được ngân hàng cho vay khách hàng cà các tơt chức tín dụng khác,phần cịn lại được gởi ở các tổ chức tín dụng trong và ngồi nước, đầu tư vào chứng
0 15,000 30,000 45,000 60,000 75,000 90,000
VỐN HUY ĐỘNG hợp nhất (tỷ đồng)
Trang 25khoán của các ngân hàng thương mại nhà nước, chứng khoán của chính phủ và đầu tưtrực tiếp hoặc gián tiếp Việc kinh doanh trái phiếu cũng đã đem lại lợi nhuận “khổng lồ”cho ACB “Lợi nhuận từ trái phiếu trong năm qua đem lại cho ACB không dưới 1.000 tỷđồng” Tập đoàn ACB cũng đã trích dự phòng giảm giá chứng khoán năm 2008 là gần
500 tỷ đồng
Trong năm 2008, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động rất lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu và phải tuân thủ các chủ trương chính sách của chính phủ trong việc nỗ lực kiềmchế lạm phát, nhưng ACB đã kịp thời điều chỉnh chính sách kinh doanh để phù hợp tình hình thực tế và đạt được những kết quả khả quan
2.1.7 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu:
2.1.7.1 Điểm Mạnh.
- ACB xây dựng được uy tín trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
ACB hiện là một trong những Ngân hàng hàng Việt Nam được khách hàng tín nhiệmtrong giao dịch tiền tệ Ngoài sự tín nhiệm của khách hàng, ACB còn được các tổ chứcquốc tế tín nhiệm chọn làm đối tác phân phối các nguồn vốn phát triển như Quỹ pháttriển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật (JBIC) và EU (SMEDF)
- Hệ thống kênh phân phối hoạt động có hiệu quả cao.
Tuy mạng lưới chi nhánh của ACB chưa rộng khắp so với các Ngân hàng quốc doanh haySacombank, nhưng xét về hiệu quả hoạt động của kênh phân phối, ACB có sự nổi trộihơn các Ngân hàng thương mại khác Các kênh phân phối thực sự là các trung tâm lợinhuận của ACB Hầu hết các chi nhánh hoạt động đều có lợi nhuận Mặt khác việc đầu tưmạng lưới hoạt động của ACB thời gian qua cũng mang lại hiệu quả cao
- Các công nghệ hiện đại so với các Ngân hàng khác trong nước.
Từ năm 2000, ACB đã đầu tư công nghệ mới Hệ điều TCBS hiện được áp dụng trongACB có những ưu điểm như sau:
Trang 26+ Toàn bộ dữ liệu sẽ được tập trung tại cơ sở dữ liệu trung tâm Mọi thay đổi sẽ được cậpnhật trực tuyến và tức thời Điều này cho phép ACB không chỉ nắm chính xác số dư củamọi tài khoản mà còn cho phép ACB thực hiện giao dịch tài khoản tại bất cứ chi nhánhnào trong toàn hệ thống.
+ Tất cả nghiệp vụ, dịch vụ đều dùng chung một hệ thống thông tin khách hàng duy nhất,đảm bảo cho việc xác nhận khách hàng được chính xác và thuận tiện, đây là yếu tố rấtquan trọng đội với giao dịch phân tán và tự động như các dịch vụ Ngân hàng điện tử.+ Có thể kết nối dễ dàng với các thiết bị giao dịch tự động như máy đọc thẻ từ, máy ATMcác hệ thống thông tin công cộng (Internet, điện thoại công cộng )
+ Đảm bảo tính bảo mật, an toàn cao: Hệ thống chính thức có hệ thống dự phòng Bêncạnh hệ thống online luôn có hệ thống offline để sử dụng trong trường hợp tắc nghẽnhoàn toàn về viễn thông thì chỉ làm ngưng trệ các giao dịch liên chi nhánh, cac giao dịchnội bộ chi nhánh vẫn hoạt động bình thường
+ Đảm bảo tính mở rộng
- Chiếm thị phần lớn trong thị trường dịch vụ Ngân hàng bán lẻ.
Với chiến lược tập trung vào Ngân hàng bán lẽ, ACB , thời gian qua được biết đến nhưmột trong những Ngân hàng khai thác thành công thị trường bán lẻ Về huy động, hiệnACB chiếm 8% tổng lượng vốn huy động của toàn hệ thống Ngân hàng, trong đó đa phần
là vốn huy động tiết kiệm từ cá nhân Về tín dụng, ACB được biết đến như là Ngân hàngđầu tiên đưa ra các sản phẩm cho vay cá nhân như; Cho vay tiêu dùng, Cho vay mua nhà,nền nhà, xe Chính sự thành công của các sản phẩm cho vay trên đã taọ được một bướctiến khá dài cho ACB trong 5 năm gần đây Hiên tại ACB đang có một vị thế khá vữngchắc trong thị trường dịch vụ Ngân hàng bán lẽ
- Chất lượng hoạt động tốt được duy trì trong nhiều năm.
Trang 27Xét về chất lượng hoạt động, ACB là một trong những Ngân hàng thương mại có chấtlượng tốt nhất trong hệ thống Ngân hàng thương mại xét các chỉ số hoạt động như: Nợquá hạn, Tỉ lệ an toàn vốn, Tỉ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có (ROE), Tăng trưởngtổng tài sản ACB đều đạt cao hơn mức bình quân của ngành Ngân hàng Việt Nam vàgần tiệm cận với các Ngân hàng thương mại trong khu vực
Chất lượng hoạt động tốt đã giúp ACB có những thuận lợi nhất định khi đương đầu vớicác thử thách trong quá trình hội nhập
2.1.7.2 Điểm Yếu.
Trong thời gian qua, mặc dù đã phát triển mạnh nhưng ACB vẫn còn một số điểm yếu:
- Vốn điều lệ còn thấp so với các Ngân hàng quốc doanh và các Ngân hàng nước ngoài.
Ngân hàng ít vốn giống như người mở cửa hàng mà không có hàng bày bán Vốn điều lệ
là cơ sở để Ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụmới Vốn điều lệ cũng là nhân tố để hút khách hàng và khả năng đối phó với các rủi rotrong hoạt động
Trong năm 2005, ACB đã có hai lần tăng vốn điều lệ từ mức 481 tỉ đồng đầu năm lên948,32 tỉ đồng ( tức tăng gần 100% vốn điều lệ so với đầu năm 2005), và gần đây nhấttrong tháng 2 năm 2006, ACB đã nâng vốn điều lệ lên 1.100,047 tỉ đồng Điều này chứng
tỏ sự quan tâm đặc biệt của ACB đối với việc tăng vốn, nhưng mức vốn này vẫn quá nhỏ
so với hệ thống NHTM Nhà nước (Incombank 2.940,5 tỉ, Vietcombank 3.428,8 tỉ,Agribank 5.190 tỉ), và so với mức chung của một Ngân hàng thương mại trong khu vực làkhoảng 500 triệu USD Nếu so sánh vốn tự có của các NHTMCPVN với các NHTMtrong khu vực Châu Á, mức vốn của một NHTM trung bình là ở châu Á cao hơn 170 lần,
và nếu so sánh với các NHTM Nhật Bản, con số này là 300 lần
- Mạng lưới chi nhánh chưa rộng khắp trên cả nước Tính đến nay, ACB đã có 193 chi
nhánh và phòng giao dịch trên khắp cả nước, đứng nhất trong hệ thống Ngân hàngTMCP, nhưng nếu so với hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh (Agribank có
Trang 281.800chi nhánh, phòng giao dịch trên cả nước) thì mạng lưới kênh phân phối của ACBcòn rất hạn chế.
- Dịch vụ Ngân hàng còn rất nghèo nàn so với các Ngân hàng trên thế giới Theo thống
kê, ở Việt Nam, tổng số lượng dịch vụ do hệ thống Ngân hàng thương mại cung ấp vàokhoảng 400 Trong khi đó con số này ở Nhật là 5.000 dịch vụ, Thái Lan là trên 2.200 dịch
vụ Như vậy số lượng dịch vụ của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn rất nhỏ bé
và đơn điệu so với các nước trong khu vực và trên thế giới Riêng đối với ACB, là mộttrong các Ngân hàng đi đầu trong việc đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới, tình trạng “độccanh” tín dụng vẫn còn tồn tại Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu lợi nhuận từ 2 hoạt độngchính của ACB là cho vay và dịch vụ Trên thế giới, các Ngân hàng luôn có tỉ lệ lợinhuận từ dịch vu chiếm trên 60% tổng lợi nhuận trong khi của ACB hiện chỉ chiếmkhoảng 20% Dịch vụ mà ACB đang thực hiện chủ yếu là các nghiệp vụ của một ngânhàng truyền thống như huy động vốn và cho vay, các dịch vụ khác lên quan đến thanhtoán, chuyển tiền Các nghiệp vụ này còn chưa phát triển mạnh Một số các dịch vụ thể,các dịch vụ Ngân hàng hiện đại như: E-Banking, Internet Banking mới bắt đầu đượchình thành Mặt khác, chất lượng của sản phẩm dịch vụ của ACB vẫn chưa cao và phạm
vi ứng dụng sản phẩm còn hạn chế
- Trình độ quản lí và chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với các Ngân hàng hoạt động
tại Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới ACB là một trong những Ngân hàng đi đầutrong việc nâng chất trong lĩnh vực quản lí (tái cấu trúc) và nâng cao chất lượng nguồnnhân lực Tuy nhiên, ACB có một xuất phát điểm quá thấp nên việc yếu kém trong nhiềulĩnh vực so với Ngân hàng nước ngoài là điều dễ hiểu
Trình độ nhân viên tác nghiệp và điều hành nói chung còn chưa theo kịp về sự phát triển
về nghiệp vụ mới và càng bất cập hơn nếu so sánh trình độ cán bộ của các Ngân hànglớn của các nước trên thế giới
- Hiệu quả Marketing chưa cao ACB là một trong những Ngân hàng đi đầu trong việcđưa ra các sản phẩm dịch vụ mới Tuy nhiên, tỉ lệ sản phẩm dịch vụ mới được khách