Từ những vấn đề nêu trên; với mong muốn làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của người giáo viên trong giai đoạn hiện tại của đất nước; mong góp phần nhỏ bé của mình vàosự nghiệp giáo dục nhà trường
Trang 1PHẦN I : MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa
VII, 1933) đã chỉ rõ: Mục tiêu giáo dục – đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động, tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua
đó mà góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Về phương pháp giáo dục, phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng
lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa III, 1977) tiếp tục khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá
trình dạy học, bào đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS”
Các quan điểm trên đã được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục (2005) Điều 28.2 viết:
“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến tức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Tình hình giáo dục hiện nay cho thấy trong nhiều năm qua hóa học cũng như các môn học khác, đang góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng toàn diện của trường phổ thông Tuy nhiên ở một số trường, chỉ mới xét riêng bộ môn hóa học, chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh vẫn chưa cao Hiệu quả dạy và học chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục Một số thầy cô hướng học sinh vào việc giải các bài toán lạm dụng nhiều phép tính phức tạp với các giả thiết chưa thật phù hợp với thực tế biến đổi hóa học Điều đó hoặc là biến học sinh thành thợ giải toán ít quan tâm đến các kiến thức, kỹ năng cơ bản và tính đặc thù của bộ môn, hoặc là vô tình tạo tâm lý hoang mang cho học sinh và vận dụng nhiều lý thuyết ở bài tập không có trong chương trình sách giáo khoa Đặc biệt việc phát huy tính tích cực tự lực của học sinh, việc rèn luyện và bồi dưỡng năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy và khả năng
tự học của các em chưa được chú ý đúng mức Với thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho người giáo viên nói chung và giáo viên hóa học nói riêng là phải đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề học tập thông qua mọi nội dung, mọi hoạt động dạy học hóa học.
Trang 2Từ những vấn đề nêu trên; với mong muốn làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của người giáo viên trong giai đoạn hiện tại của đất nước; mong góp phần nhỏ bé của mình vào
sự nghiệp giáo dục nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học để phát triển tư duy cho học sinh, giúp các em tự lực tự mình tìm ra tri thức, tạo tiền đề cho việc phát triển tính tích cực, khả năng tư duy của các em
ở cấp học cao hơn cũng như trong đời sống sau này; tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tạo
tình huống có vấn đề trong tiến trình bài giảng ở môn hoá học bậc THCS” Đề tài
chắc chắn sẽ giúp tôi phát triển được chuyên môn và phương pháp nghiên cứu trong hoạt động dạy học của mình
và bài tập hóa học trong chương trình môn hoá học cấp trung học cơ sở.
4 NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
a) Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài về các vấn đề :
+ Hoạt động nhận thức: các hình thức tư duy của học sinh và vai trò điều khiển của giáo viên trong quá trình dạy học trên quan điểm đưa học sinh vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức.
+ Những phẩm chất của tư duy: các phương pháp tư duy và việc rèn luyện các thao tác để phát triển tư duy cho học sinh qua giảng dạy hóa học ở trường phổ thông Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh.
b) Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học phù hợp với các mức độ của trình độ
phát triển tư duy của học sinh Bước đầu nghiên cứu việc sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập đó nhằm giúp cho học sinh lĩnh hội và vận dụng kiến thức một cách vững chắc, phát triển năng lực tư duy logic Từ đó rèn luyện tính độc lập hành động và trí thông minh của học sinh trong việc giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc
Trang 35 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
Chương trình của môn Hóa học cấp trung học cơ sở
6 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
a) Đã lựa chọn, sưu tập được một hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học với mục đích
rèn luyện và phát triển tư duy theo các mức độ khác nhau :
b) Bước đầu nghiên cứu sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập này để rèn luyện và phát
triển tư duy cho học sinh qua giảng dạy:
+ Sử dụng câu hỏi và bài tập lý thuyết trong bài nghiên cứu tài liệu mới.
+ Sử dụng câu hỏi và bài tập trong giờ ôn tập chương.
+ Sử dụng câu hỏi và bài tập để nâng cao, bồi dưỡng học sinh khá giỏi.
đó giáo viên tạo ra cho học sinh những tình huống có vấn đề (tạo mâu thuẫn).
Phương pháp này đã vận dụng một khái niệm về mâu thuẫn làm cơ sở khoa học cho mình
2 Cơ sở tâm lí học
Theo các nhà tâm lí học thì con người chỉ tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu
tư duy, tức là đứng trước một khó khăn trong nhận thức, một tình huống có vấn đề.
Theo tâm lí học kiến tạo thì học tập là quá trình mà người học xây dựng những tri thức cho nình bằng cách liên hệ những cảm nghiệm mới với những tri thức sẵn có.
Trang 4Phương pháp dạy học phát hiện & giải quyết vấn đề phù hợp với quan điểm này.
8.3.1.3 Cơ sở giáo dục
Phương pháp dạy học phát hiện & giải quyết vấn đề dựa trên nguyên tắc tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của người học trong giáo dục bởi vì nó khêu gợi được động cơ học tập của học sinh
Quá trình dạy học nêu vấn đề mở đầu bằng giai đoạn giáo viên tập hợp tài tài liệu, tổ chức quan sát để làm nảy sinh trước học sinh một vấn đề học tập và đưa học sinh vào tình huống
có vấn đề học tập đó
“Vấn đề học tập” là những tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến thức kĩ năng và kĩ xảo) đã biết với cái chưa biết và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải quyết Mâu thuẫn biện chứng đó chính là động lực thúc đẩy sự thụ nhận sáng tạo kiến thức Lúc đầu mâu thuẫn đó mang tính chất khách quan Khi HS tiếp thu
và hiểu được mâu thuẫn đó thì nó lại biến thành thắc mắc chủ quan của bản thân HS, tồn tại trong ý ngĩ của HS dưới dạng bài toán cần được nhận thức, đó chính là vấn đề học tập “Vấn
đề học tập” khác với “ Vấn đề khoa học” ở chỗ là vấn đề học tập liên quan chủ yếu đến phạm
vi kiến thức trong chương trình mà HS còn chưa biết và phải lĩnh hội, những kiến thức này đã được khoa học khám phá từ lâu; còn vấn đề khoa học là vấn đề chưa được giải quyết, chưa biết tuy chúng đều chứa đựng mâu thuẫn nhận thức
Những vấn đề trong học tập đó luôn luôn tồn tại một cách khách quan, nhưng không phải ai cũng nhận ra nó, không phải lúc nào HS cũng nhận ra nó Vì khả năng nhìn thấy vấn
đề là một phẩm chất, một thành phần quan trọng của tư duy sáng tạo
Một số giáo viên thường tuyên bố đề mục của bài học và viết đề mục đó lên bảng, còn HS thì ghi đề mục mới vào vở Chẳng hạn, vào đầu giờ học giáo viên nói: “Hôm nay chúng ta
nghiên cứu tinh chất của axit sunfuric”…Việc tuyên bố một cách hình thức như vậy không làm cho HS nhận ra vấn đề, không gây ra ở HS nhu cầu tìm hiểu và muốn tham gia giải quyết vấn đề nêu ra
Muốn cho tư duy của học sinh được kích thích và hoạt động thì HS phải nhận ra được vấn đề học tập, hiểu rõ mâu thuẫn làm cơ sở cho vấn đề và cảm thấy có nhu cầu giải quyết vấn đề, nghĩa là phải làm cho mâu thuẫn khách quan biến thành thắc mắc chủ quan của HS, phải đưa
HS vào những tình huống có vấn đề
Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được HS chấp nhận như một vấn đề học tập và có thể giải quyết được, kết quả là HS nắm được tri thức mới
Muốn tạo nên những tình huống có vấn đề cần phải đặt ra trước HS một nhiệm vụ như thế nào đó để các em có thể hiểu ích lợi của sự giải quyết nhiệm vụ đó về mặt nhận thức cũng như về mặt nhận thức, đồng thời các em cũng gặp phải một vài khó khăn do nhận thức còn chưa đầy đủ, nhưng sự thiếu thốn đó có thể khắc phục được bằng sự nổ lực hợp với khả năng của HS
Tình huống có vấn đề đặc trưng cho một trạng thái tâm lý của HS nảy sinh trong quá trình hoàn thành một nhiệm vụ mà nó đòi hỏi sự phát hiện (hoặc tiếp thu) kiến thức
Trang 5mới về đối tượng hoặc về cách thức và điều kiện hoàn thành hành động Sự tiếp thu hay phát hiện ra điều mới mẻ trong trường hợp này trùng với sự biến đổi trạng thái tâm
lý của HS mà sự biến đổi đó chính là một giai đoạn nhỏ trong sự phát triển của HSYếu tố chủ yếu của tình huống có vấn đề là điều chưa biết, là cái mới, là điều phải được khám phá ra để hoàn thành đúng nhiệm vụ đặt ra, để hoàn thành hành động cần thiết Để tạo nên tình huống có vấn đề trong giảng dạy cần đặt HS trước sự cần thiết hoàn thành nhiệm vụ mà trong đó những kiến thức cần thiết phải được tiếp thu sẽ chiếm vị trí của điều chưa biết Điều chưa biết đó là yếu tố trung tâm của tình huống cóvấn đề, khác với điều cần tìm là yếu tố trung tâm của bài toán Đặc điểm quan trong nhất của điều chưa biết trong tình huống có vấn đề là nó luôn được đặc trưng bởi một
sự khái quát hóa ở mức độ nào đó Mức độ khó khăn của tình huống có vấn đề được đặc trưng bởi mức độ khái quát hóa của điều chưa biết sẽ được HS đi tìm và phát hiện
ra trong tình huống có vấn đề đó Mức độ khó khăn của nó đối với HS không phải là tính phức tạp của bài tập như ở bài toán, cũng không phải là mức độ trừu tượng của kiến thức cần nắm vững
Như vậy tình huống có vấn đề gồm ba yếu tố sau đây, đó cũng là ba điều kiện của một tình huống có vấn đề
a) Kiến thức mới sẽ được khám phá ra trong tình huống có vấn đề
b) Hành động cần thiết thực hiện để giải quyết nhiệm vụ đặt ra sẽ gây ra nhu cầu muốn biết kiến thức mới cần phải nắm vững
c) Phù hợp với khả năng của HS trong việc phân tích các điều kiện của nhiệm vụ đặt ra trong việc phát hiện kiến thức mới Nhiệm vụ đặt ra khó quá hoặc dễ quá đều không tạo ra tình huống có vấn đề
Muốn cho HS dễ nhận ra vấn đề tức là mâu thuẫn nhận thức thì tình huống cóvấn đê nên bắt đầu từ vốn kiến thức cũ của HS, từ những hiện tượng thực tế, yêu cầucủa sản xuất, đời sống…mà đi đến sự việc bất thường một cách bất ngờ nhưng logic.Lúc HS bất ngờ đụng chạm đến vấn đề và nhận ra nó thì cũng là lúc tư duy của HS bịkích thích mạnh và ở HS xuất hiện lòng mong muốn giải quyết vấn đề Sau khi vấn
đề được giải quyết, HS tìm thấy kiến thức mới thì ở HS cũng xuất hiện cảm xúc ngạcnhiên, vì cái vẻ bất thường của chúng: các mối liên hệ bất ngờ, cái vẻ hình như phi lý
Trang 6hiện một mâu thuẫn mới đòi hỏi cách giải quyết và từ đó giá viên nêu ra vấn đề tiếp theo Cuối cùng vấn đề lớn được giải quyết
Công việc chuẩn bị của giáo viên khi sử dụng phương pháp trình bày có nêu vấn đề là khá phức tạp và công phu, bao gồm một số công việc sau:
- Xác định đúng đắn nhiệm vụ đức dục và trí dục của bài giảng
- Lựa chọn tài liệu đưa vào bài giảng, bao gồm những kiến thức mới mà học sinh cần tiếp thu và những tài liệu giúp tái hiện kiến thức cũ làm cho việc tiếp thu kiến thức mới có kết quả hơn
- Lựa chọn các phương tiện trực quan cần thiết biểu diễn
- Soạn hệ thống câu hỏi bao gồm những câu hỏi chính và phụ sao cho chúng liên hệ chặt chẽ với nhau, phù hợp với lôgic của quá trình học tập, sao cho học sinh tích cực tri giác tài liệu học tập, đồng thời đối với giáo viên cùng là dàn bài của bài giảng
- Nghiên cứu hệ thống câu hỏi cuối giờ nhằm mục đích củng cố, làm chính xác kiến thức và xác định mức độ tiếp thu của học sinh đối với nội dung của bài giảng
Ngoài những yêu cầu trên, cần lưu ý đến việc điều khiển quản lý cả lớp tronglúc đàm thoại Muốn cho đàm thoại thành công, cần chú ý 2 điểm sau:
+ Đàm thoại không phải từng với học sinh riêng lẻ mà với toàn lớp Phải đặt câu hỏi cho cả lớp và để cho học sinh có đủ thời gian suy nghĩ, sau đó chỉ định học sinh trả lời và yêu các học sinh khác chú ý theo dõi để sau đó có thể
bổ sung
+ Giáo viên không bị động theo đuôi lớp, phải luôn luôn dẫn dắt lớp theo mình Phải luôn chủ động sáng tạo, bám sát kế hoạch đã vạch ta từ trước
Những trường hợp có thể xuất hiện tình huống có vấn đề
Trường hợp thứ nhất: Có thể tạo ra tình huống có vấn đề nhờ vào sự mâu
thuẫn giữa những kiến thức mà HS đã có với những yêu cầu đặt ra cho HS khi giảiquyết những nhiệm vụ mới về học tập Ở đây có tạo ra những tình huống không phùhợp và tình huống bất ngờ
Thí dụ 1: Khi nghiên cứu tính chất hóa học của axit sunfuric HS gặp phải
một tình huống khó giải quyết: trước đó HS đã biết rằng kim loại đứng trước hidrotrong dãy hoạt động hóa học khi tác dụng với dung dịch axit thì giải phóng hidro,nhưng khi cho đồng kim loại tác dụng với dung dịch axit sunfuric loãng (nguội cũngnhư nóng) đều không thấy có hidro thoát ra; còn axit sunfuric đặc nóng thì có tácdụng với đồng, không giải phóng hidro mà giải phóng khí sunfurơ Như vậy xuấthiện một mâu thuẫn nhận thức: axit sunfuric đặc nóng còn có tính chất axit nữakhông? Hay là có thêm những tính chất mới? Sau khi làm xuất hiện trước HS mộttình huống có vấn đề như vậy, dựa vào thí nghiệm, giáo viên hướng dẫn HS tìm hiểutính chất oxi hóa của axit sunfuric đặc nóng
Zn + H2SO4 (loãng) ZnSO4 + H2 ↑
Cu + H2SO4(loãng) /
Trang 7Cu + 2H2SO4 (đặc, nóng) CuSO4 + SO2 ↑+ 2H2O
Thí dụ 2: Khi giảng dạy bài: “Canxi hidroxit” giáo viên câu hỏi: “Có thể
điều chế được dung dịch trong suốt, nếu cho khí cacbonic lội qua nước vôi không?”.Chắc rằng với kiến thức đã học HS sẽ lắc đầu khi trả lời câu hỏi đó Giáo viên nóirằng có thể điều chế được dung dịch đó Điều này mâu thuẫn với kiến thức cũ do đó
HS sẽ rất ngạc nhiên và hết sức chú ý theo dõi lời giảng và thí nghiệm biểu diễn củathầy về sự tạo thành canxi hidro cacbonat Ca(HCO3)2 tan được trong nước
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 ↓ + H2O
CO2 + Ca(OH)2 Ca(HCO3)2
Trường hợp thứ hai: Tình huống có vấn đề xuất hiện khi HS phải chọn trong
số những con đường có thể có một con đường duy nhất bảo đảm cho việc giải quyếtđược nhiệm vụ đặt ra Ở đây có khi HS phải xây dựng giả thuyết và đưa ra đề nghịnhằm giải quyết một vấn đề nào đó Lúc này xuất hiện những tình huống lựa chọnhoặc tình huống bác bỏ
Thí dụ 1: (hóa 8) Khi nghiên cứu cách điều chế oxi trong phòng thí nghiệm
từ kali clorat có dùng mangan dioxit làm xúc tác và hình thành cho HS khái niệm
“sự xúc tác” và “chất xúc tác” Giáo viên hướng dẫn cho HS nêu ra 3 giả thuyết:
+ Oxi được giải phóng ra trong phản ứng là do mangan dioxit bị phân hủy+ Oxi tạo thành là do kali clorat bị phân hủy
+ Mangan dioxit không bị phân hủy, chỉ có tác dụng làm cho quá trình phânhủy kali clorat tiến hành nhanh hơn
Dựa vào thí nghiệm, giáo viên hướng dẫn HS rút ra kết luận và chọn giảthuyết thứ ba làm câu trả lời duy nhất đúng cho vấn đề đặt ra
Thí dụ 2: (hóa 9) Khi dạy bài rượu etylic hoặc bài axit axetic, sau khi đã
trình bày CTPT rượu etylic là C2H6O hoặc CTPT của axit axetic là C2H4O2, giáo viênnêu câu hỏi: “Ứng với công thức phân tử đó có thể viết được bao nhiêu công thứccấu tạo? ” Sau khi HS trả lời đúng, giáo viên lại nêu tiếp vấn đề mới: “ Trong 2 côngthức cấu tạo có thể có của rượu etylic hoặc của axit axetic
a) CH3 – CH2 – OH b) CH3 – O – CH3
a) CH3 – COOH b) H – COO – CH3
Công thức nào là công thức cấu tạo thật sự của rượu etylic? của axit axetic”.Dựa vào thí nghiệm về tác dụng của rượu etylic hoặc axit axetic với natri và tínhtoán, HS có thể xác định được giả thuyết nào là đúng trong số 2 giả thuyết nêu
ra và bác bỏ giả thuyết kia
Thí dụ 3: (hóa 9) Khi dạy bài clo, sau khi đã làm thí nghiệm clo phản ứngvới nước, giáo viên đặt vấn đề: “Clo có phản ứng với dung dịch NaOH hay không?”hướng dẫn HS suy luận và trả lời, có thể có 2 cách trả lời:
- Cách thứ nhất: Clo không phản ứng với dung dịch NaOH vì bazơ khôngphản ứng với phi kim
Trang 8- Cách thứ hai: Clo phản ứng với dung dịch NaOH vì clo phản ứng với nướctạo thành dung dịch axit mà kiềm lại có phản ứng với axit Vậy clo phản ứng vớidung dịch NaOH tạo thành muối
Sau khi nêu ra 2 cách đó, GV đề nghị HS suy nghĩ để đưa ra cách giải quyết:Nghiên cứu thí nghiệm xem clo có phản ứng với dung dịch NaOH hay không đểkiểm tra dự đoán nào là đúng GV làm thí nghiệm biểu diễn, hướng dẫn HS rút ra kếtluận và chọn cách thứ 2 là câu trả lời đúng cho vấn đề đặt ra
Trường hợp thứ ba: Tình huống có vấn đề xuất hiện khi HS đụng chạm với
những điều kiện mới của thực tế trong khi ứng dụng những kiến thức sẵn có Nghĩa
là HS phải tìm đường ứng dụng kiến thức vào thực tế hoặc sử dụng những kiến thức
đó trong điều kiện mới hay điều kiện đã có biến đổi so với điều kiện lúc học tập Ởđây có thể khai thác những kiến thức sai, thiếu chính xác của HS khi kiểm tra vànhững bế tắc của HS khi giải quyết một vấn đề do GV nêu ra đó có thể là những hiệntượng, mẫu chuyện khó giải thích, những bế tắc và khó khăn trong thực tiễn đời sống,sản xuất, đòi hỏi phải được giải thích hoặc giải quyết
Thí dụ 1: (hóa 9) Sau khi học độ pH, HS đã biết rằng muốn làm cho đất bớt
chua, người ta thường bón vôi cho đất Ở những ruộng đất chua đó cũng thường thiếuđạm nên thường được bón thêm phân đạm (amon clorua hoặc amon sunfat) GV nêu
ra vấn đề sau: “Khi bón phân đạm và vôi cùng một lúc cho lúa thì lúa không nhữngkhông tốt mà còn bị héo đi, thậm chí có thể chết Nguyên nhân hiện tượng đó ởđâu?” Vấn đề nêu ra sẽ buộc HS phải tích cực suy nghĩ, vận dụng những kiến thức
đã học riêng rẽ về thành phần phân amon và tính chất của canxi hidroxit để giải thíchhiện tượng nêu ra
Thí dụ 2: Khi học về dãy hoạt động hóa học các kim loại, HS đã biết rằng
các kim loại đứng trước thì đẩy được kim loại đứng sau ra khỏi muối của chúng GVnêu ra vấn đề: “ Khi cho kim loại natri tác dụng với dung dịch muối CuSO4, natri cóđẩy được đồng ra khỏi muối CuSO4 không? Hãy dự đoán và kiểm tra bằng thínghiệm” GV hướng dẫn cho HS tự làm thí nghiệm Khi HS làm thí nghiệm, GV yêucầu HS quan sát, phát biểu nhận xét, viết phương trình hóa học đã xảy ra Sau đó GVnêu câu hỏi: “Theo lí thuyết, kim loại natri phải đẩy được kim loại đồng ra khỏi muốiCuSO4, nhưng trong thí nghiệm các em không thấy đồng sinh ra Vậy nguyên nhânhiện tượng đó là ở đâu?” Nhiều HS sẽ ngạc nhiên và giật mình vì ý nghĩ sai ban đầucủa bản thân và chăm chú theo dõi tìm hiểu
Trường hợp thứ tư: Những yếu tố phân tích, so sánh, đối chiếu sự giống nhau
và khác nhau, dẫn dắt HS đến những kết luận đúng đắn khái quát hóa cũng là mộttrong những con đường tạo ra tình huống có vấn đề
Trang 9Thí dụ: (hóa 9) Khi hình thành và củng cố cho HS về kim loại, GV đề nghị
HS hoàn thành sơ đồ biến hóa sau:
Câu hỏi có tính chất nêu vấn đề
Tình huống có vấn đề kết thúc ở chỗ vấn đề được nêu lên dưới hình thức “câuhỏi nêu vấn đề” Đó là mắt xích cuối cùng nhưng quyết định sự thành bại củatoàn bộ việc tổ chức tình huống có vấn đề Những câu hỏi nêu vấn đề khác vớinhững câu hỏi thông thường: “câu hỏi thông báo” Những câu hỏi có tính chấtthông báo chỉ đòi hỏi sự nhớ lại (tái hiện) những kiến thức cũ đã biết và khôngđộng viên sự tìm tòi nhận thức của HS Chẳng hạn, HS đã học về oxit, về muối,
đã nắm được định nghĩa của chúng, nay GV hỏi: “oxit là gì?”, “Những chất gìthuộc loại muối?”, “Các em cho biết những tính chất hóa học của axitclohidric”….Những câu hỏi này chỉ yêu cầu chủ yếu trí nhớ của các em, chúngkhông gợi ra những suy nghĩ đặc biệt
“Câu hỏi nêu vấn đề” bao giờ cũng nhằm kích thích sự suy nghĩ tìm tòi phứctạp của HS, đòi hỏi các em phải có sự thông minh, có năng lực tư duy độc lập, tíchcực, buộc các em phải vận dụng những thao tác tư duy khác nhau (phân tích, so sánh,khái quát hóa, trừu tượng hóa…)buộc các em phải suy nghĩ, giải thích, chứng minh,
tự kết luận Tất nhiên để trả lời những câu hỏi nêu vấn đề, HS cũng phải tái hiện kiếnthức cũ, nhưng không phải dưới dạng kiến thức đã chuẩn bị sẵn hay kiến thức cũnguyên xi, mà HS phải gia công thêm Kết hợp các kiến thức đó lại với nhau, hoặc
có trường hợp phải dùng thực hành, thực nghiệm…Do đó những câu hỏi nêu vấn đềthường gây nên sự xúc cảm, sự hưng phấn, lòng mong muốn nhận thức và nếu vấn đềđược giải quyết tốt đẹp thì các em sẽ cảm thấy “niềm hạnh phúc của nhận thức” Dĩnhiên những câu hỏi nêu vấn đề cũng giúp phát triển cả trí nhớ, nhưng là trí nhớlogic, tự giác
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi về cái chưa biết, nó thường xuất phát từ phía
HS hơn là từ phía GV
Câu hỏi nêu vấn đề phải có những đặc điểm sau:
a) Phải chứa đựng một mâu thuẫn nhận thức Điều đó chỉ đạt được
khi câu hỏi phản ảnh được mối liên hệ bên trong giũa điều đã biết
và điều chưa biếtb) Phải chứa đựng phương hướng giải quyết vấn đề, thu hẹp phạm vi
tìm kiếm câu trả lời, nghĩa là phải tạo điều kiện làm xuất hiện giả
Trang 10thuyết, tạo điều kiện tìm ra con đường đúng đắn nhất để giải quyếtvấn đề
c) Phải phản ảnh được tâm trạng ngạc nhiên của HS khi nhận ra mâu
thuẫn nhận thức, khi đụng chạm tới vấn đềChẳng hạn, sau khi học về các oxit, giáo viên nêu câu hỏi:
Tại sao trong tự nhiên không tồn tại canxi oxit hoặc điphotpho-pentaoxit ởdạng tự do? Câu hỏi này có tính chất nêu vấn đề, khác với những câu hỏi cótính chất thông báo như: “canxi oxit có tan trong nước không?” hoặc: “ canxioxit có tác dụng với nước không?”hoặc khi học về tính chất vật lí của oxi(hóa 8)GV nêu câu hỏi gợi mở:
- Trong thành phần của không khí xung quanh ta có khí oxi Hãy nhận xét
về màu, mùi, vị của oxi?
- Cơ quan hô hấp của cá cần oxi để thở Cá sống trong nước Vậy oxi có tantrong nước không? Trả lời câu hỏi này, trước tiên HS sẽ dễ dàng khẳngđịnh oxi có tan trong nước (vì nếu không thì cá sẽ chết hết) Nhận xétđược oxi ít tan trong nước, đối với HS có thể khó hơn Tới đây GV có thểdẫn dắt: oxi không thể tan nhiều trong nước vì nếu tan nhiều thì lượng oxitrong không khí sẽ còn ít và không đủ cho sự hô hấp của người và độngvật
Dạy HS giải quyết vấn đề
Trong dạy học nêu vấn đề, giai đoạn giải quyết vấn đề tức là giai đoạn tìmđiều chưa biết trong tình huống có vấn đề là khâu chủ yếu, có tầm quan trọnghàng đầu
Cần phân biệt quá trình giải bài tập và quá trình đi tìm kiến thức mới chưabiết trong tình huống có vấn đề Do đó cần sử dụng những khái niệm khácnhau để chỉ 2 quá trình này Có thể dùng khài niệm “giải” để chỉ những quátrình trong khi đạt tới điều cần tìm trong bài toán, còn trong tình huống cóvấn đề thì dùng khái niệm “đi tìm điều chưa biết” để chỉ quá trình giải quyết
nó Khái niệm “đi tìm” được sử dụng trong các tài liệu tâm lý học chính là đểchỉ những quá trình xảy ra trong khi nghiên cứu, trong khi giải quyết nhữngnhiệm vụ tìm kiếm mà những nhiệm vụ này về thực chất trùng với tìnhhuống có vấn đề
MỘT SỐ THÍ DỤ VỀ CÁCH TIẾN HÀNH ĐÀM THOẠI PHÁT HIỆN
Trang 111) Sau khi nghiên cứu xong tính chất lí học của lưu huỳnh, giáo viên nêu vấn đề: “Bây giờ chúng ta chuyển sang nghiên cứu tính chất hóa học của lưu huỳnh Cần tìm hiểu xem lưu huỳnh có tác dụng với các kim loại, với hidro và oxi không? Nếu có tác dụng thì phản ứng xảy ra như thế nào? Đồng thời thử so sánh với tác dụng của clo, oxi mà chúng ta vừa học với các chất đó?
Sau đó giáo viên lần lượt nêu các câu hỏi đơn giản, cụ thể hơn giúp học sinh nhớlại những kiến thức cần thiết cho việc tiếp thu kiến thức mới, đồng thời giúp họcsinh tự quan sát, phán đoán tự kết luận và qua đó thu được kiến thức mới
Giáo viên: Trước hết các em hãy nhớ lại những tính chất hóa học đặc trưng của clo
Học sinh: Clo phản ứng với các kim loại tạo thành muối; kết hợp với hidro tạo khí hidro clorua mà dung dịch trong nước là axit clohidric; trong các hợp chất với kim loại và hidro, clo có hóa trị I; clo không tác dụng trực tiếp với oxi nhưngoxit của clo có thể tạo thành bằng phương pháp gián tiếp
2) Bài “Tính chất của oxi”
3) Bài “Tính chất hóa học của hiđro” (hoá 8 nâng cao)
+ Vấn đề xuất hiện là: Liệu hiđro khử được tất cả các oxit kim loại
không? Hay chỉ một số oxit kim loại?
Vấn đề này xuất hiện và được giải quyết khi cho HS thực hiện thí nghiệm đối chứng:
H2 + CuO và H2 + Al2O3+ Các hoạt động cụ thể của GV và HS để giải quyết vấn đề:
4) Bài “ Tính chất hóa học của oxit” (hoá 9)
+ Vấn đề xuất hiện là:
- Có phải mọi kim loại đều phản ứng với mọi axit để giải phóng khí hiđro? Vấn đề này xuất hiện và được giải quyết khi cho HS thực hiện thí nghiệm đối chứng
Fe + HCl và Cu + HCl
- Có phải mọi axit đều phản ứng với muối để tạo thành muối mới và axit mới? Vấn đề này xuất hiện và được giải quyết khi cho HS thực hiện thí nghiệm đối chứng:
H2SO4 và BaCl2 va HCl + Na2SO45) Bài “Bazơ” (hoá 9)
Trang 12+ Vấn đề xuất hiện là: Có phải mọi dung dịch bazơ đều phản ứng với mọi dung dịch muối không? Điều kiện để phản ứng thực hiện được là gì? Vấn đề này xuất hiện và được giải quyết khi cho HS thực hiện thí nghiệm đối chứng: KNO3 + NaOH và FeCl3 + NaOH
6) Bài “Muối” (hoá 9)
+ Vấn đề xuất hiện là: Có phải mọi dung dịch muối đều phản ứng với mọidung dịch muối khác không? Điều kiện để phản ứng thực hiện được là gì? Vấn đề này xuất hiện và được giải quyết khi cho HS thực hiện thí nghiệm đốichứng:
KNO3 + CuSO4 và NaCl + AgNO3
7) Bài rượu etylic (hoá 9 nâmg cao)
+ Khái quát hoá về chất xúc tác: Phản ứng mất nước của rượu etylic và phản ứng hợp nước của etylen Vấn đề xuất hiện:
- Phản ứng mất nước của rượu etylic và phản ứng hợp nước của etylen có liên quan như thế nào?
- Cần những điều kiện gì để chuyển hoá từ etylen thành rượu etylic và ngược lại từ rượu thành etylen
- Vì sao từ cùng các chất ban đầu (ruợu etylic và axit sunfuric) mà trong trường hợp này tạo thành etylen còn trong trường hợp khác lại tạo thành ete etylic
Khi thảo luận 2 câu hỏi đầu, giải thích là do 2 phản ứng xảy ra ngược nhau Quá trình phản ứng xảy ra theo hướng này hay hướng khác đều do đưa chất ban đầu này hay khác vào tương tác và do tách sản phẩm này hay sản phẩm khác khỏi môi trường phản ứng Còn axit sunfuric giữ vai trò chất xúc tác cho cả 2 chuyển hoá ngược nhau đó Khi phân tích câu hỏi 3 cần lưu ý đến vai trò của các điều kiện: Khi đun nóng rượu etylic và axit sunfuric đến 1400C-1500C thì thu được etylen, còn khi đun nóng hỗn hợp này dưới 1400C sẽ thu được ete etylic
- Nhưng một vấn đề khác lại nảy sinh tiếp theo là: “Trong thực tế làm thế nào có thể nhận biết đuợc một phản ứng hoá học là thuận nghịch?” GV hướng dẫn HS làm thí nghiệm phân tích tính thuận nghịch của phản ứng giữa lưu huỳnh (IV) oxit với nước ( minh hoạ cho phản ứng CO2 + H2O H2CO3 ở bài Axit cacbonic và muối cacbonat -SGK hoá 9) Cho khí sunfurơ sục qua nước một thời gian, sau đó nhúng quì tím vào dung dịch vừa điều chế được Chất chỉ thị màu biến đổi chứng tỏ rằng khi tác dụng vớinước SO2 đã tạo thành axit SO2 + H2O H2SO3 Sau đó HS thấy rõ là có hơi SO2 bay
ra từ dung dịch axit sunfurơ vừa thu được Có thể có 2 giả thuyết nêu ra trước hiện tượng này: SO2 có mặt trong dung dịch vì phản ứng giữa nó và nước là phản ứng thuậnnghịch hoặc là do phản ứng xảy ra chậm nên SO2 không kịp phản ứng hoàn toàn với nước Không thể bác bỏ giả thuyết thứ 2, vì vậy phải dựa vào những quan sát có được trong phòng thí nghiệm: nếu để lâu dung dịch SO2 trong một bình kín thì trong dung
Trang 13dịch chứa axít sunfurơ và trên mặt dung dịch bao giờ cũng có mặt SO2 ở thể khí Điều
đó chứng tỏ phản ứng giữa SO2 và H2O là phản ứng thuận nghịch
8) Bài không khí và sự cháy (hoá học 8)
Làm thí nghiệm đốt 1 lượng lưu huỳnh bằng nhau trong không khí và trong bình chứa khí oxi Sau khi quan sát hiện tượng, giải thích vì sao lưu huỳnh cháy trong không khí với ngọn lửa xanh lơ, còn trong oxi với ngọn lửa xanh sáng
GV cho học sinh nhớ lại muốn cho tương tác hoá học xảy ra cần có sự tiếp xúc giữacác phân tử Khi lưu huỳnh cháy trong oxi thì có nhiều phân tử oxi va chạm với bề mặtlưu huỳnh, còn trong không khí có ít phân tử oxi hơn (không nhiều hơn 1/5 tổng sốphân tử một ít) và chúng sẽ đi đến bề mặt lưu huỳnh thưa hơn
QUI TRÌNH DẠY hs GIẢI QUYẾT MỘT VẤN ĐỀ HỌC TẬP
Trong quá trình dạy học hóa học, người GV phải tổ chức quá trình giải quyết các vấn đề học tập như thế nào để ở một mức độ nhất định nó gần giống như quátrình nghiên cứu khoa học: ở mức độ nào đó HS phải là người nghiên cứu đang tìm cách nhận ra và hiểu rõ vấn đề học tập nảy sinh từ một tình huống cụ thể, xác định phương hướng và kế hoạch giải quyết, trong đó có việc tự đề ra giả thuyết, biết thực hiện kế hoạch giải, tự mình tìm cách kiểm tra tình đúng đắn củacác giả thuyết, từ đó phát hiện ra kiến thức mới và biết ứng dụng kiến thức vừa thu được
Trong điều kiện dạy học ở nhà trường, trong khi điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức mới, ta không thể đặt HS vào vị trí nhà nghiên cứu thực sự phát minh ra định luật, thuyết khoa học….ở đây chỉ có sự bắt chước các điều kiện sáng tạo và cao hơn thế là tập dượt hoạt động sáng tạo từ thấp lên cao dần
Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, GV đóng vai trò người dẫn đường và tổ chức hoạt động tìm tòi của HS, giúp các em nhận ra vấn đề, xác định phương hướng giải quyết, đánh giá các giả thuyết, giảm nhẹ khó khăn để
HS giải quyết được nhanh chóng
Có thể dạy cho HS giải quyết các vấn đề học tập khi học bài mới cũng như khi ôn tập củng cố hoặc kiểm tra kiến thức kỹ năng kĩ xảo, đặc biệt là khi sửdụng thí nghiệm hóa học và giải bài tập hóa học
Có thể xem một vài thí dụ dạy HS giải quyết một vấn đề học tập khi sử dụng thí nghiệm hóa học và giải bài tập hóa học
Thí dụ 1: Nghiên cứu thí nghiệm: nhôm phản ứng với dung dịch kiềm ở bài
“Nhôm” lớp 9
Nêu vấn đề: Nhôm có đầy đủ tính chất
của kim loại nói chung, ngoài ra nhôm
có tính chất gì đặc biệt?
Hãy nghiên cứu thí nghiệm nhôm tác
- Nhóm HS: Thả dây nhôm vào ống nghiệm đựng dung dịch NaOH, có ống vuốt dẫn khí ra ngoài
- Quan sát hiện tượng khí thoát ra
Trang 14dụng với dung dịch NaOH
- Gợi ý: Phản ứng này có gì mâu thuẫn
với những điều đã học
- Giải quyết mâu thuẫn: Điều này
không sai và không mâu thuẫn Đó là
Thí dụ 2: Khi nghiên cứu tính chất của H2SO4 đặc, nóng với đống thì vấn đề xuất hiện là: trái với tính chất của kim loại đã biết: kim loại đứng sau H trong dãy hoạt động hóa học đã tác dụng với axit Điều này đúng hay sai?
Ta hãy xem điều kiện của phản ứng và sản phẩm của phản ứng H2SO4 tác dụng với Cu như thế nào?
HS phát biểu: H2SO4 đặc, nóng
Cu: kim loại hoạt động yếu (đứng sau H)
Sản phẩm : khí không màu, mùi khó chịu, làm đổi màu giấy quỳ thành đỏ Dungdịch CuSO4 màu xanh
Kết luận: Điều này không mâu thuẫn với tính chất của axit nói chung và dung dịch H2SO4 loãng Đó là do tính chất đặc biệt của H2SO4 đặc, nóng
Thí dụ 3: Khi nghiên cứu tính chất hóa học của clo
Sau khi HS tìm hiểu clo tác dụng với kim loại, với hiđro, đó là những tính chất của phi kim, GV đặt vấn đề: Clo còn có những tính chất gì đặc biệt khác không? Làm thế nào để chúng ta biết được điều đó?
Ở đây xuất hiện tình huống có vấn đề giữa kiến thức về tính chất của phi kim nói chung và tính chất riêng của clo, giũa kiến thức đã biết và kiến thức mới
Để giải quyết vấn đề này, GV cho HS thảo luận và chọn giải pháp là tiến hành thí nghiệm nghiên cứu
Vấn đề tiếp theo đặt ra là: Liệu clo có phản ứng với nước không? HS có thể đề ra 2 giả thiết khác nhau: Clo có phản ứng với nước và clo không phản ứng với nước Hãy dùng thí nghiệm để kiểm tra các dự đoán này GV tiến hành thí nghiệm: Clo phản ứng với nước, thử tính tẩy màu của clo HS quan sát hiện tương và đọc thông tin SGK để giải thích; Nước clo có tính tẩy màu và nước clo
có màu và mùi của khí clo
Vấn đề đặt ra tiếp theo nữa là: Clo có phản ứng với dung dịch kiềm
không? Các em hãy dự đoán Hs có thể đề ra 2 giả thiết khác nhau:
- Không phản ứng vì không có trong tính chất của phi kim nói chung
- Có phản ứng vì clo phản ứng với nước tạo thành dung dịch axit, mà axit lại phản ứng với kiềm
Vậy phương án nào đúng? Chúng ta hãy kiểm tra bằng thực nghiệm GV tiến hành thí nghiệm, HS quan sát hiện tượng, tự giải thích và viết PTHH
Cuối cùng HS kết luận: Clo có tính chất hóa học đặc biệt là tác dụng với nước và dung dịch NaOH
Trang 15+ Trong thực tế, việc sử dụng dạy học nêu vấn đề cần linh hoạt và không nhất thiết phải sử dụng toàn bộ các bước nêu và giải quyết vấn đề
Thí dụ: Khi dạy bài Định luật bảo toàn khối lượng các chất, GV có thể thực hiện thêm thí nghiệm 2 như sau: : Lấy 2 cốc đựng dung dịch HCl và Na2CO3riêng biệt và thực hiện tương tự Hiện tượng xảy ra: kim của cân đã chỉ lệch
về phía trái, khối lượng của sản phẩm nhỏ hơn khối lượng của các chất phản ứng vấn đề đar85 ra là: vậy có phải điều đó trái với định luật bảo toàn
không?
GV yêu cầu HS giải quyết vấn đề: Dó là do 1 chất sản phẩm đã bay ra khỏi dung dịch sau phản ứng nên cân đã bị lệch sang phía trái
Khi dạy học các nội dung khác tương tự, có thể sử dụng dạy học nêu vấn
đề một cách linh hoạt giúp HS tích cực phát hiện nêu và giải quyết vấn đề Hóa học để tìm ra kiến thức mới
Thí dụ 2: Từ vị trí của nhôm kim loại trong dãy hoạt động của các kim loại và
dựa vào tính chất hóa học chung của kim loại, hãy dự đoán những tính chất hóa học của nhôm Với các hóa chất có sẵn trên bàn, có thể tiến hành những thí nghiệm nào để xác định các tính chất hóa học cùa nhôm kim loại
Thí dụ 3: Cho HS giải quyết vấn đề về tính chất lưỡng tính của nhôm oxit và
nhôm hidroxit ở bài hợp chất của nhôm Muốn điều chế Al(OH)3 cần cho dung dịch muối nhôm tác dụng với dung dịch NH3 là dung dịch bazơ yếu chứ không dùng dung dịch bazơ mạnh như NaOH hay KOH
NHỮNG TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ
- Tình huống nghịch lí – bế tắc: ví dụ
+ Cu là kim loại đứng sau hidro trong dãy hoạt động hóa học của kim loại, không phản ứng với H2SO4 loãng nhưng lại có phản ứng với axit H2SO4đặc nóng?
+ Nếu xếp theo chiều NTK tăng dần thì có một số trường hợp lại trái với quy luật biến thiên tính chất của các nguyên tố Ví dụ: nếu xếp theo chiều NTK tăng dần thì kim loại kiềm kali sẽ nằm ở nhóm khí hiếm, còn khí agon
sẽ nằm ở nhóm kim loại kiềm
+ Một số muối trung hòa, khi hòa tan vào nước, dung dịch có môi trường trung tính (pH = 7), nhưng lại có một số muối trung hòa khác, dung dịch lại
có môi trường axit (pH < 7) hoặc môi trường bazơ (pH > 7)
+ Khi đổ dung dịch FeCl3 vào dung dịch Na2CO3 lẽ ra phải thu được muốisắt (III) cacbonat nhưng thực tế lại thu được sắt (III) hidroxit
+ Phần lớn các kim loại đứng trước H trong dãy điện hóa tan được trong dung dịch axit mạnh, không tan được trong dung dịch kiềm mạnh nhưng có
Trang 16một số kim loại (Al, Zn…) vừa tan được trong dung dịch axit mạnh, vừa tan được trong dung dịch kiềm mạnh
- Tình huống lựa chọn: ví dụ rượu etylic có công thức phân tử là C2H6O và ứng với C2H6O lại có 2 công thức cấu tạo là CH3-CH2-OH và CH3-O-CH3.Phải chọn một trong 2 công thức đó để phù hợp với tính chất hóa học của rượu là tác dụng với kim loại kiềm giải phóng hidro
- Tình huống vận dụng:
- ví dụ vận dụng kiến thức về tính chất lưỡng tính của Al(OH)3 Muốn điều chế Al(OH)3 cần cho dung dịch muối nhôm tác dụng với dung dịch NH3 là dung dịch bazơ yếu chứ không dùng dung dịch bazơ mạnh như NaOH hay KOH
- Khi nghiên cứu thí nghiệm điều chế SO2, P2O5 bằng cách đốt S và P trong bình oxi Để khử chất thải sau thí nghiệm, nên dùng chất nào là tốt nhất? Dùng nước vôi vì Ca(OH)2 trong nước vôi sẽ phản ứng với SO2, P2O5 tạo thành muối ítđộc hại hơn
- Khi nghiên cứu phản ứng oxi hóa - khử lớp 8, để điều chế kim loại Cu, Zn…trong PTN từ các oxit CuO, ZnO tương ứng dúng chất khử nào sau đây là tốt nhất
- Khi dạy học về nội dung chất béo, tinh bột, protein, GV có thể nêu lên vấn
đề có liên quan Ví dụ: trong thời gian vừa qua đã có những vụ việc vi phạm qui định về vệ sinh, an toàn thực phẩm như: dùng hàn the trong thành phần của bánhphở, giò, dùng formon để bảo quản nước mắm, dùng một số chất màu công nghiệp để làm đẹp thực phẩm như lạp xưởng, chả lợn, canh cua, một số loại bánh có màu Theo em đó là những việc làm đúng hay sai? Hãy nêu biện pháp
để ngăn chặn
- Khi dạy học nội dung về khí tự nhiên (nhiên liệu và chất đốt) GV yêu cầu
HS nêu lên một số biện pháp sử dụng chất đốt an toàn tiết kiệm mà gia đình em
đã áp dụng
- Khi dạy học nội dung chất béo GV yêu cầu HS liên hệ việc sử dụng chất béo trong đời sống có hiệu quả
Trang 17- Trong các thí nghiệm khi dạy học bài mới hoặc bài thực hành hóa học, có một số chất thải độc hại sau: HCl, H2SO4, SO2, CO2, Cl2 Hãy nêu biện pháp xử
lí chất độc hại để bảo vệ môi trường lớp học
- Khi dạy học nội dung các oxit của cacbon, GV nêu vấn đề: Khi đun than tổ ong, có những khí chủ yếu nào được tạo thành? Nên có biện pháp gì để chống ô nhiễm môi trường khi đun bếp?
- Khi dạy học nội dung phần kim loại hóa học 9, GV nêu vấn đề: Khi đánh rơi cặp nhiệt độ có bầu thủy ngân ra nền nhà sẽ có hiện tượng gì có thể gây nguyhiểm cho sức khỏe con người? Nêu biện pháp để gom các hạt thủy ngân tốt nhấtNgoài những phương pháp đã nêu trên, GV có thể giúp HS phát triển kĩ nănggiải quyết một số vấn đề thực tiễn bằng cách giao cho mỗi nhóm HS tìm hiểu một số vấn đề có liên quan đến hóa học và nêu biến pháp giải quyết Ví dụ như vấn đề sử dung phân bón, thuốc trừ sâu, vấn đề sử dụng mĩ phẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở địa phương
- Tình huống nhân quả: (tình huống có vấn đề xuất hiện khi yêu cầu phải tìm kiếm nguyên nhân của một kết quả, nguồn gốc của một hiện tượng, tìm lời giải đáp cho câu hỏi “tại sao?”) có thể nêu ra ở bất cứ chỗ nào trong chương trình hóa học phổ thông Sau đây là một số thí dụ:
+ Nguyên nhân nào làm cho oxi kém hoạt động hơn clo ở nhiệt độ thườngmặc dù oxi là phi kim hoạt động hơn clo?
+ Nguyên nhân nào làm cho lưu huỳnh trơ về mặt hóa học ở nhiệt độ thường, nhưng khi đun nóng tỏ ra khá hoạt động?
+ Nguyên nhân nào làm cho khí N2 trơ về mặt hóa học ở nhiệt độ thường
và trở nên hoạt động ở nhiệt độ khoảng 3000oC?
+ Ở điều kiện thường: Tại sao nitơ là chất khí còn photpho lại là chất rắn ? Nitơ có độ âm điện lớn hơn photpho nhưng lại hoạt động hóa học kém hơnphotpho ?
+ Nguyên nhân nào làm cho nguyên tử của các nguyên tố halogen dễ thu thêm một electron, thể hiện tính oxi hóa mạnh ? Vì sao từ Flo đến Iot tính oxi hóa giảm dần ?
+ Nguyên nhân nào làm cho các hợp chất ion đều tan tốt trong nước, có nhiệt độ nóng chảy cao và không bay hơi ?
Trang 18Muốn cho HS giành lấy kiến thức một cách tích cực, tự giác, tự lực cần gây được nhu cầu nhận thức, động cơ, hứng thú học tập Mâu thuẫn khách quan luônluôn chứa đựng trong các tài liệu học tập nhưng không phải bao giờ nó cũng biến thành mâu thuẫn chủ quan, nội tại của HS Muốn biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan ta phải dùng đến các biến pháp sư phạm
Việc xây dựng các giả thuyết cho việc nghiên cứu có tác dụng rất lớn trong việc tạo động cơ, hứng thú của HS Nhờ việc tập dượt xây dựng các giả thuyết mà khả năng suy luận, trí tưởng tượng của HS được phát triển Chính vì vậy mà người ta thường nói “giả thuyết là phòng thí nghiệm của tư duy”
Thí dụ: Nhằm hình thành cho HS khái niệm chất xúc tác (lớp 8)
Bước 1: Đặt vấn đề: Trong phòng thí nghiệm người ta thường điều chế O2bằng cách nhiệt phân những chất giàu oxi và dễ phân hủy giải phóng ra oxi như: KMnO4, NaNO3 ; hỗn hợp KClO3 với MnO2 Tại sao lại nung KClO3 được trộn lẫn với MnO2 ? (mâu thuẫn khách quan)
- Xác định mục đích nghiên cứu: Cần tìm xem khi nung hỗn hợp KClO3 và MnO2 thì cả 2 chất đều cho oxi hay chỉ có một chất cho oxi ? Nếu chỉ có một chất cho oxi thì chất kia có vai trò gì?
Bước 2: Lập kế hoạch nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết
- Giả thuyết 1: Cả chất đều cho oxi (vì cả 2 chất đều có oxi trong thành phần phân tử)
- Giả thuyết 2: Chỉ có 1 chất cho oxi Như vậy phải xác định chất nào cho oxi và tìm vai trò của chất kia
- Bước 3: Thực hiện kế hoạch, xây dựng các phương án thí nghiệm để kiểmtra giả thuyết 1
KẾT LUẬN
KClO3 + MnO2
O2
H2O
Trang 19Trọng tâm của bài soạn là dự kiến cá hoạt động học tập của HS trong tiết học Mỗi hoạt động học tập là một tình huống gợi động cơ học tập Một hoạt động học tập thường gồm nhiều hoạt động thành phần với mục đích riêng Thực hiện xong các hoạt động thành phần thì mục đích chung của cả hoạt động cũng được thực hiện
GV cần hình dung cách tổ chức hoạt động học tập của HS như thế nào (giao bài tập cho cá nhân hay theo nhóm, giải bài tập hóa học gắn với thực tế hay hướng dẫn HS suy luận từng bước dẫn đến chứng minh…) GV phải suy nghĩ công phu
về những khả năng diễn biến các hoạt động đề ra cho HS, dự kiến những giải pháp điều chỉnh để đảm bảo thời gian
Về mặt kĩ thuật, cần coi trọng việc chuẩn bị các câu hỏi Với mỗi hoạt động cần
có một số câu hỏi then chốt, nhằm vào những mục đích nhận thức xác định, nhất
là những phần trọng tâm, trên cơ sở đó khi lên lớp sẽ phát triển thêm những câu hỏi phụ, tùy theo diễn biễn của lớp học (đặt câu hỏi ở chỗ dễ hỏi chử không phải
là ở chỗ cần hỏi), câu hỏi phải có yêu cầu cao về nhận thức
4 BÀI TẬP CHƯƠNG OXY - LƯU HUỲNH LỚP 10 THPT:
DẠNG 1:
(Câu hỏi và bài tập theo trình độ tìm hiểu, tái hiện Những câu hỏi và bài tập ở dạng này giúp học sinh nhớ lại, tái hiện và mô tả được kiến thức đã tiếp thu Mức độ tư duy của các em ở đây chỉ mới ở mức độ thấp).
4) Tại sao không thể coi oxy lỏng và khí oxy là hai dạng thù hình ?
5) Chọn câu trả lời đúng trong số các câu sau :
(a) Ở điều kiện thường oxy là khí không màu, không mùi, nhẹ hơn không khí.(b) Oxy tan tốt trong nước