1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc

79 327 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Phải nghiên cứu phân tích để xác định được nhu cầu của thị trường  Xây dựng được chiến lược kinh doanh trên cơ sở huy động và sử dụng hợp lý của nguồn lực của doanh nghiệp 1.1.2.3 Hoạ

Trang 1

Trang 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN

HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Theo điều 4 luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”

Căn cứ vào định nghĩa trên thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

 Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định,

có tài sản;

 Đã được đăng ký kinh doanh;

 Hoạt động kinh doanh

Luật doanh nghiệp 2014 cũng giải thích kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận

1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp

a) Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu

Doanh nghiệp được chia ra làm ba loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu:

 Doanh nghiệp tư nhân

 Doanh nghiệp hợp danh

 Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn

b) Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp

Theo luật doanh nghiệp 2014 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm:

 Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp

mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Trang 2

 Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

 Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn

 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định

c) Căn cứ vào chế độ trách nhiệm

Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các doanh nghiệp thành có chế

độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn

 Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: là loại hình doanh nghiệp mà ở

đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh

 Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp

1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa Tùy theo tình hình phát triển thị trường tài chính của mỗi quốc gia, tùy theo loại hình thức doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có hình thức huy động vốn khác nhau

Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ

Trang 3

1.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh

Hoạt động kinh doanh là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng với mục đích là thu được lợi nhuận nhằm mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh Vậy hoạt động sản xuất kinh doanh được hiểu là một quá trình liên tục từ nghiên cứu thị trường và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó thông qua việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp

Đặc điểm cơ bản cùng hoạt động sản xuất kinh doanh là:

 Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, hệ thống chính sách và luật pháp của nhà nước cũng như các yếu tố môi trường kinh doanh khác

 Phải nghiên cứu phân tích để xác định được nhu cầu của thị trường

 Xây dựng được chiến lược kinh doanh trên cơ sở huy động và sử dụng hợp lý của nguồn lực của doanh nghiệp

1.1.2.3 Hoạt động khác

Khi doanh nghiệp hoạt động, nguồn thu của doanh nghiệp không chỉ từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp đó mà nguồn thu có thể xuất phát từ nhiều hoạt động khác, bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ;

Trang 4

hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; thu khoản

nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh bên ngoài Việt Nam

Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản; chuyển nhượng dự án (không gắn liền với chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất); chuyển nhượng quyền thực hiện dự án, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất 25%, không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ của các hoạt động sản xuất kinh doanh khác Trường hợp doanh nghiệp có các hoạt động chuyển nhượng bất động sản; chuyển nhượng dự án (không gắn liền với chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất); chuyển nhượng quyền thực hiện dự án, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật thì được bù trừ lãi, lỗ của các hoạt động này với nhau để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

1.1.3 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.1.3.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn

Trong nền kinh tế hiện nay, có nhiều ngành nghề mới liên tục ra đời, cùng với đó

là sự vận động liên tục của các nguồn vốn của doanh nghiệp nên khái niệm về tài sản ngắn hạn ngày càng được mở rộng Tài sản là tất cả những nguồn lực có giá trị thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khác với những tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất tiếp theo phải sử dụng đối tượng lao động khác Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Như vậy, có thể định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền trong vòng 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản khác có tính thanh khoản cao”

Tài sản ngắn hạn quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi đó là loại tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh hàng ngày, chi trả cho các chi phí phát sinh để tạo ra sản phẩm Cơ cấu của các loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng đến việc hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Mặc dù phần lớn các trường hợp

Trang 5

Trang 5

phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải do việc quản trị tài sản ngắn hạn quyết định tất cả Nhưng cũng phải thấy rằng sự quản lý không tốt các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến những thất bại của doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được phân biệt với tài sản dài hạn ở những đặc điểm về luân chuyển Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, khác với tài sản dài hạn chỉ dịch chuyển từng phần vào giá thành sản phẩm, thì tài sản ngắn hạn dịch chuyển toàn bộ và một lần vào giá trị sản phẩm Chính vì vậy, tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và khi kết thúc chu kỳ sẽ hoàn thành một vòng luân chuyển Ngoài ra, trong quá trình luân chuyển ngày, tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái Trong doanh nghiệp sản xuất, sự thay đổi này được thể hiện qua chu trình: T-H-SX-H’-T’ Mở đầu chu kỳ sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn có hình thái tiền tệ Sau đó chuyển sang hình thái nguyên vật liệu dự trữ Qua quá trình sản xuất, các nguyên vật liệu dự trữ thành thành phẩm hay bán thành phẩm Kết thúc quá trình này, khi đã tiêu thụ được thành phẩm, tài sản ngắn hạn lại quay trở về hình thái ban đầu Đối với doanh nghiệp thương mại, quá trình này bao gồm: T-H-T’ Tài sản ngắn hạn cũng có hình thái ban đầu là tiền tệ, sau đó chuyển sang hàng hóa và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền tệ Như vậy, có thể nói tài sản ngắn hạn luôn tham gia vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua sự vận động thường xuyên và thay đổi các hình thái

Từ đó có thể thấy rằng đặc điểm của tài sản ngắn hạn bao gồm những điểm sau:

 Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp

 Tài sản ngắn hạn là một bộ phần của nguồn vốn sản xuất nên nó vận động và luân chuyển liên tục trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh

 Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển đổi từ dạng vật chất sang tiền tệ nên việc quản lý là rất phức tạp

1.1.3.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài những tài sản cố định như máy móc, nhà xưởng, thiết bị … doanh nghiệp cũng phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói các khác tài sản ngắn hạn

là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 6

Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Tài sản ngắn hạn còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của danh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa Tài sản ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán

ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phâm cộng thêm một phần lợi nhuận Do đó, tài sản ngắn hạn đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả của hàng hóa bán ra

1.1.3.3 Phân loại tài sản ngắn hạn

Việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn muốn tiến hành một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của tài sản ngắn hạn, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Người ta sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại tài sản ngắn hạn tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý Có hai tiêu thức phân loại chủ yếu thường được sử dụng: phân loại theo hình thái biểu hiện và phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn đối với quá trình sản xuất kinh doanh

a) Phân loại theo hình thái biểu hiện

Theo cách phân loại này tài sản ngắn hạn có thể chia thành các loại sau:

Tiền và các khoản tương đương tiền:

Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Tiền là loại tài sản

có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa

vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán Bên cạnh đó các tài sản dạng đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng chủ yếu cho mục đích dự trữ Tuy nhiên, tiền mặt cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi, bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết

Trang 7

Trang 7

Đầu tư tài chính ngắn hạn:

Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả đạt được là nhất Các loại chứng khoán gần như tiền mặt được giữ vai trò như một

“bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào những loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết thì hoàn toàn cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí Do đó trong việc quản trị tài chính người ta sử dụng những loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mà doanh nghiệp mong muốn Qua phân tích trên ta thấy tiền mặt là một loại hàng hóa nhưng đây là hàng hóa đặc biệt-một tài sản có tính thanh khoản nhất Trong kinh doanh, doanh nghiệp luôn cần có một lượng tiền mặt và phải dùng nó để trả cho các hóa đơn một cách đều đặn Khi lượng tiền mặt này hết, doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để có lại được lượng tiền như ban đầu Ta có thể thấy rõ hơn điều này qua

sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ luân chuyển tiền mặt

Các khoản phải thu:

Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán trả chậm là một hoạt động không thể thiếu Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán mà có thể phải nhận sau một thời gian xác định mà hai bên đã thoả thuận, chính việc này đã hình thành nên phần lớn các khoản phải thu của doanh nghiệp.Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng thương mại Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có

Các chứng khoán thanh

khoản cao

Đầu tư tạm thời bằng cách mua chứng khoán có tính thanh khoản cao

Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt

Dòng thu tiền

mặt

Tiền mặt Dòng chi tiền

mặt

Trang 8

nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn thâm chí có

thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán

Hàng tồn kho:

Trong quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Hàng tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó

có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được bình thường Tuy nhiên nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ gây tốn kém chi phí, dẫn đến ứ đọng vốn và thậm chí nếu sản phẩm thuộc loại khó bảo quản có thể bị hư hỏng Ngược lại, nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít nguyên vật liệu sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo trong quá trình sản xuất sẽ không thể tiếp tục được nữa, việc này đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất Hàng tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây truyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng xuất hiện những bán thành phẩm Khi tiến hành sản xuất xong sản phẩm hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản phẩm Phần vì lý do có “độ trễ” nhất định giữa quy trình sản xuất và tiêu dùng, phần khác là do phải có đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp

mà sản xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì phần dự trữ, tồn kho sản phẩm sẽ lớn Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh

nghiệp khác nhau mà mức dự trữ an toàn khác nhau

Phân loại theo hình thái biểu hiện cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, biết được kết cấu tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện để có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả

b) Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn với quá trình sản xuất kinh doanh

Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong

khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán

Trang 9

Trang 9

Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong

khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…

Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong

khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng

Cách phân loại tài sản ngắn hạn theo vai trò với quá trình sản xuất kinh doanh giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố gây ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để có thể đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách cao nhất

1.1.3.4 Kết cấu của tài sản ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu tài sản

ngắn hạn

Kết cấu tài sản ngắn hạn là tỷ trọng giữa từng bộ phận tài sản ngắn hạn trên tổng

số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá và nắm bắt được kết cấu của tài sản ngắn hạn ở từng cách phân loại đó Kết cấu tài sản ngắn hạn thể hiện thành phần và các mối quan hệ tỷ lệ thành phần trong tổng số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có kiểu kết cấu tài sản ngắn hạn khác nhau Việc phân tích kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm của tài sản ngắn hạn mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và các biện pháp quản

lý tài sản ngắn hạn có hiệu quả phù hợp với các điều kiện của doanh nghiệp Bên cạnh

đó việc phân tích, theo dõi kết cấu tài sản ngắn hạn trong các thời kì khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực cũng như những hạn chế trong việc quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của tài sản ngắn hạn doanh nghiệp có nhiều loại, tuy nhiên có thể chia thành những nhóm chính:

 Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp, khả năng cung ứng của thị trường, kì hạn giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, chủng loại vật tư được cung cấp…đều ảnh hưởng đến tỷ trọng tài sản ngắn hạn vào khâu dự trữ

 Các nhân tố về mặt sản xuất cũng như đặc điểm kĩ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo: độ dài của chu kì sản xuất, trình độ tổ chức của quá trình sản xuất

Trang 10

 Những nhân tố về thanh toán: những doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán hợp lí, giải quyết thanh toán kịp thời thì tỷ trọng tài sản ngắn hạn sẽ không thay đổi Đồng thời việc chấp hành kỉ luật thanh toán của khách hàng cũng ảnh hưởng tới kết cấu của tài sản ngắn hạn

 Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất định tới kết cấu tài sản ngắn hạn Quy mô sản phẩm tiêu thụ lớn hay nhỏ, khoảng cách giữa các công trình và doanh nghiệp dài hay ngắn đều ảnh hưởng đến tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong lưu thông

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Thực tế trong nhiều năm trở lại đây cho thấy tài sản ngắn hạn ở một số doanh nghiệp được sử dụng còn tùy tiện, kém hiệu quả và đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhà nước Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn hiện nay luôn là yêu cầu mang tính cấp thiết đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

1.2.1 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể bám trụ và phát triển trên thị trường Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải cần nhiều cố gắng và có những chiến lược cũng như sách lược hợp lý ngay từ khâu sản xuất cho đến tận khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng

Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu

mà doanh nghiệp đã đề ra Chính vì vậy quan niệm về hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn

đề chung mà các doanh nghiệp đều cần phải quan tâm và chú trọng đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp

Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng, mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau Nếu như các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực chế biến hay về lĩnh vực công nghiệp nặng thì tài sản cố định là phần chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương

Trang 11

Sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm như thế nào để có được nhiều lợi nhuận nhất từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí

1.2.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Dù là loại hình doanh nghiệp nào thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bao giờ cũng là một biện pháp quan trọng giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục

Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý và

sử dụng tài sản ngắn hạn Nếu doanh nghiệp không đảm bảo đủ lượng tài sản ngắn hạn đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh thì quá trình này sẽ bị gian đoạn, ảnh hưởng đến việc quay vòng vốn Ngược lại, nếu doanh nghiệp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ làm cho vốn quay vòng nhanh, chớp được

cơ hội đầu tư, thu được nhiều lợi nhuận Thường xuyên nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận luôn là mối quan tâm và mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những biện pháp mà mất kì một doanh nghiệp nào cũng cần đó là không ngừng nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn Đó chính là chìa khóa, là con đường ngắn nhất giúp doanh nghiệp có được kết quả kinh doanh tốt nhất cho mình

Sự vận động của tài sản ngắn hạn phản ánh sự vận động của vật tư, hàng hóa, vốn bằng tiền…tài sản ngắn hạn luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật

tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, tốc độ thu hồi các khoản phải thu như thế nào Từ

đó, doanh nghiệp có các biện pháp thích hợp nhằm kiểm tra giảm sát một cách toàn diễn đối với các khoản mục trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, đảm bảo tài sản ngắn hạn không bị ứ đọng ở các khâu Sử dụng tài sản ngắn hạn hợp lýkhông những giúp giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường mà còn giúp doanh

Trang 12

nghiệp khai thác tối đa năng lực làm việc của tài sản cố định, làm tăng lợi nhuận, góp phần vào công tác bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh

Mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích

xã hội chung, nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trong đặt ra cho các doanh nghiệp

là bảo toàn tài sản ngắn hạn Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là chu chuyển một lần, toàn bộ vào giá trị của sản phẩm, hình thái vốn lưu động thường xuyên biến đổi nên việc bảo toàn tài sản ngắn hạn thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kì đủ mua một lượng vật tư, hàng hóa tương đương với đầu kì khi giá cả hàng hóa tăng lên

Như vậy, có thể nói nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn

là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp Nó gắn liền với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, là tiêu chí để đo hiệu quả kinh doanh giữa các kỳ Do vậy, phải không ngừng nâng cao hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất, đảm bảo mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn

Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn là mô hình tài trợ cho tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp theo đuổi Trước khi xem xét chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, chúng ta tìm hiểu các mô hình quản lý tài sản ngắn hạn và quản lý nợ ngắn hạn Sự kết hợp giữa chúng sẽ tạo nên những chính sách quản lý tài sản ngắn hạn khác nhau

Chính sách tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể được nhận biết thông qua

mô hình quản lý tài sản ngắn hạn và mô hình quản lý nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Khi kết hợp hai mô hình này, ta có thể có 3 chính sách: chính sách cấp tiến, chính sách thận trọng và chính sách dung hòa

Hình 1.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn

Chính sách quản lý cấp tiến: Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản ngắn

hạn cấp tiến và nợ ngắn hạn cấp tiến tạo nên chính sách tài sản ngắn hạn cấp tiến Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng một phần tài sản ngắn hạn để tài trợ cho tài

Trang 13

Trang 13

sản dài hạn Ưu điểm của chính sách này là chi phí huy động vốn thấp hơn, tuy nhiên

sự ổn định của nguồn không cao do nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo Tóm lại, chính sách này đem lại thu

nhập cao và rủi ro cao

Chính sách quản lý thận trọng:Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình

quản lý tài sản ngắn hạn thận trọng và nợ ngắn hạn thận trọng Doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn tài sản dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn Tóm

lại, chính sách này, doanh nghiệp có mức thu nhập thấp và rủi ro thấp

Chính sách quản lý dung hòa:Với hai kiểu chính sách trên, doanh nghiệp chỉ

có thể đạt được thu nhập cao với mức rủi ro cao (chính sách cấp tiến) hoặc mức rủi ro thấp nhưng thu nhập lại thấp (chính sách thận trọng) Để dung hòa giữa hai phương án, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài sản cấp tiến với nợ thận trọng Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: tài sản dài hạn được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn dài hạn Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trang thái tương thích không hề đơn giản do vấp phải những vấn

đề như sự tương thích kì hạn, luồng tiền hay khoảng thời gian, do vậy chính sách này

chỉ cố tiến tới trạng thái tương thích, duy hòa rủi ro và tạo ra mức thu nhập trung bình

Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm rất khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn quản lý các bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn

1.2.2.2 Quản lý tiền mặt

Tiền mặt là một bộ phận cấu thành của tài sản ngắn, có tính thanh khoản cao nhất

và trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tuy nhiên, tiền mặt bản thân nó không sinh lời, nó chỉ sinh lời khi được sử dụng vào mục đích nhất định Hơn nữa do có tính thanh khoản cao nên tiền mặt rất dễ bị thất thoát, gian lận và lợi dụng

Vì vậy quản lý tiền mặt đòi hỏi vừa phải đảm bảo độ an toàn tuyệt đối, khả năng sinh lời cao song cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp, nhu cầu tiền mặt thường do 3 lý do chính: nhằm đáp ứng yêu cầu giao dịch, thanh toán hằng ngày như chi trả tiền mua hàng, trả tiền lương, tiền công, cổ tức hoặc nộp thuế…; nắm bắt các cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư sinh lời;

Trang 14

nhu cầu dự phòng hoặc đề phòng các rủi ro bất ngờ ảnh hưởng đến việc thu chi tiền mặt của doanh nghiệp Quản lý tiền mặt là nội dung quan trọng trong việc quản lý tài sản ngắn hạn Nội dung chủ yếu của công tác quản trị tiền mặt của doanh nghiệp là xác định đủ mức dự trữ biên và quản lý hoạt động thu chi tiền mặt Để xác định được mức

dự trữ tiền tối ưu, chúng ta có thể áp dụng mô hình Baumol

William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quyết định số dư tiền mặt kết hợp giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch Mô hình này được thiết lập nhằm xác định số dư tiền mặt mục tiêu với các giải định là: Nhu cầu về tiền của doanh nghiệp là

ổn định, không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn, doanh nghiệp chỉ có hai hình thức dự trữ: tiền mặt và chứng khoán khả thị, không có rủi ro trong đầu tư chứng khoán Mô hình này xác định mức tiền mặt mà tại đó, tổng chi phí là nhỏ nhất

 Chi phí cơ hội (OC): là chi phí mất đi khi tiền mặt không đầu tư được vào chứng khoán khả thị

OC = C x K

2

C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình K: lãi suất đầu tư chứng khoán

 Tổng chi phí (TC)

TC = TrC + OC

Để tổng chi phí là nhỏ nhất thì đạo hàm cấp một của TC bằng 0 và mức dự trữ tiền mặt tối ưu là:

Hình 1.2 Mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu

Chi phí giữ tiền mặt

Dự trữ tiền mặt

Tổng chi phí

C*

Phí cơ hội

Trang 15

Mô hình Miller Orr, với các giả định của mô hình Miller Orr là:

 Thu chi tiền mặt tại doanh nghiệp là ngẫu nhiên

 Luồng tiền mặt ròng biến động theo phân phối chuẩn

Trong đó, chênh lệch giữa giới hạn trên và giới hạn dưới phụ thuộc 3 yếu tố: Sự biến động của dòng tiền hàng ngày tại Công ty; phí giao dịch trên thị trường tài chính; lãi suất của các nguồn huy động vốn

Hình 1.3 Mô hình Miller Orr

Việc sử dụng mô hình Miller Orr giúp Công ty có cơ sở để xác định được mức

dự trữ tiền mặt tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với điều kiện phát triển, thông qua hoạt động tính toán mức dự trữ theo công thức:

 Tồn quỹ tiền mặt mục tiêu:

Z* = (3Fσ² / 4K + L)1/3 Trong đó:

Z* là số dư tiền mặt tối ưu

F là chi phí cố định phát sinh khi giao dịch trên thị trường tài chính

0

Giới hạn trên

Giới hạn dưới

Mức tiền mặt theo thiết kế

Trang 16

σ² là phương sai của dòng tiền mặt hàng ngày

K là chi phí cơ hội giữ tiền mặt

L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)

 Tồn quỹ tiền mặt tối đa:

H* = 3Z* - 2L Trong đó:

H* là số dư tiền mặt tối đa

Z* là số dư tiền mặt tối ưu

L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)

 Tồn quỹ tiền mặt trung bình:

Ctrung bình = 4Z

*

- L

3 Trong đó:

Ctrung bình là tồn quỹ tiền mặt trung bình

Z* là số dư tiền mặt tối ưu

L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)

Mục tiêu của quản lý tiền mặt là phải đảm bảo cho việc tăng đầu tư lượng tiền mặt nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận trong khi vẫn duy trì mức thanh khoản hợp lý để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai Các công ty cần phải lập kế hoạch khi nào thì có tiền nhàn rỗi có thể dành cho đầu tư và khi nào thì cần vay thêm tiền

Như vậy để quản lý tiền mặt hiệu quả thì ta cần đưa ra các biện pháp sau:

 Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền doanh nghiệp cần phải xây dựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi, đặc biệt là các khoản thu chi bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưu lợi cho cá nhân

 Tất cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không được chi tiêu ngoài quỹ

 Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán tiền mặt và thủ quỹ Việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày do thủ quỹ tiến hành trên cơ sở các phiếu thu chi tiền mặt hợp thức và hợp pháp

Trang 17

Trang 17

 Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền Dự đoán được thời gian chi trả, doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tiền mặt trôi nổi trên một

số dư tiền mặt nhỏ hơn

 Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt Xác định rõ đối tượng tạm ứng, mức độ tạm ứng và thời gian được tạm ứng

 Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho doanh nghiệp Để chủ động trong thanh toán doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc lập

kế hoạch lưu chuyển tiền tệ, trên cơ sở đó có biện pháp thích ứng nhằm đảm bảo sự cân bằng thu chi tiền mặt của doanh nghiệp và nâng cao khả năng sinh lời của số tiền mặt nhàn rỗi

1.2.2.3 Quản lý hàng tồn kho

Việc quản lý hàng tồn kho rất quan trọng không phải chỉ vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là tránh được tình trạng vật tư hàng hóa bị ứ đọng, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tài sản ngắn hạn Các doanh nghiệp sản xuất thường có ba loại hàng tồn kho ứng với ba giai đoạn khác nhau của một quá trình sản xuất: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho thành phẩm

Đối với các doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là dự trữ hàng hóa

để bán Để xác định được mức độ đầu tư vào hàng tồn kho tối ưu cần so sánh lợi ích đạt được từ dự trữ hàng tồn kho với chi phí phát sinh do dự trữ hàng tồn kho để có phương thức quyết định hợp lí Các chi phí liên quan đến dự trữ hàng tồn kho gồm:

Chi phí đặt hàng: gồm chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển, chi phí giao

nhận hàng theo hợp đồng Trên thực tế chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi Tuy nhiên trong các mô hình quản lý, tài sản ngắn hạn về hàng tồn kho đơn giản thường giả định chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng đặt mua.

Chi phí lưu trữ (chi phí tồn trữ): là những chi phí liên quan đến việc thực

hiện dự trữ hàng tồn kho trong một khoảng thời gian xác định trước Chi phí lưu trữ bao gồm chi phí lưu kho và chi phí bảo quản; chi phí hư hỏng và chi phí thiệt hại do hàng tồn kho bị lỗi thời, giảm giá, biến chất; chi phí bảo hiểm; chi phí cơ hội về tài sản ngắn hạn lưu giữ đầu tư vào hàng tồn kho; chi phí trả tiền lãi vay để mua vật tư, hàng hóa dữ trữ; chi phí thuế Thông thường, chi phí lưu trữ hàng năm giao động từ 20-45% tính trên giá trị hàng tồn kho cho hầu hết các doanh nghiệp 

Trang 18

Chi phí thiệt hại khi không có hàng (hàng tồn kho hết): bao gồm chi phí đặt

hàng khẩn cấp, chi phí thiệt hại do ngừng trệ sản xuất, lợi nhuận bị mất do hết thành phẩm dự trữ để bán cho khách hàng… 

Mô hình đặt hàng kinh tế - EOQ (Economic Order Quantity) là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối

ưu cho doanh nghiệp Dựa trên cơ sở giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch với nhau Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số lần đặt hàng trong kỳ sẽ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm trong khi chi phí tồn trữ hàng hóa lại tăng lên Do đó mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí này: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất Các giả định của mô hình:

 Nhu cầu về hàng tồn kho là ổn định

 Không có biến động giá, hao hụt, mất mát trong khâu dự trữ

 Thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận hàng là không đổi

 Chỉ có duy nhất hai loại chi phí: chi phí đặt hàng và chi phí dự trữ

 Không xảy ra thiếu hụt hàng hàng tồn kho nếu đơn đặt hàng được thực hiện đúng hạn

Hình 1.4 Mô hình EOQ

Trong mô hình EOQ, tổng chi phí bao gồm:

Chi phí đặt hàng là các chi phí về vận chuyển, kiểm tra hàng hóa về chất lượng

và số lượng, bốc xếp hàng vào kho Chi phí này thường là một con số cố định trên mỗi đơn hàng, không phụ thuộc vào số lượng hàng mua/lần là nhiều hay ít Khi doanh

Trang 19

Trang 19

nghiệp tự sản xuất các yếu tố đầu vào thì chi phí đặt hàng chính là chi phí thiết đặt lại chế độ máy móc, dừng việc, chuẩn bị dụng cụ và không phụ thuộc vào số sản phẩm tạo ra sau lần thiết đặt đó là ít hay nhiều

Chi phí đặt hàng = S x O

Q Chi phí cất trữ là chi phí về nhà kho (là các chi phí thuê mặt bằng, người trông coi, điện, nước,….) và chi phí về hàng hóa (chi phí về biến chất, lỗi thời mất cắp, ứ đọng vốn) Chi phí cất trữ có thể được tính toán theo hai cách: một giá trị cụ thể hoặc một tỷ lệ phần trăm của giá mua đơn vị

Chi phí dự trữ =

Q

x C

2 Trong đó:

S: lượng hàng cần đặt trong năm

O: chi phí một lần đặt hàng

Q/2: mức tổng kho trung bình

C: Chi phí dự trữ kho trên một đơn vị hàng tồn kho trong năm

Tổng chi phí = Chi phí đặt hàng + Chi phí dự trữ

Tổng chi phí là một hàm của Q Để tổng chi phí nhỏ nhất, đạo hàm cấp một của hàm tổng chi phí phải bằng 0 và lượng đặt hàng tối ưu hay mức dự trữ kho tối ưu là:

Q* = √2𝑥𝑆𝑥𝑂

𝐶Thời gian dự trữ tối ưu:

T* = Q*

S/360 Điểm đặt hàng (Số lượng hàng còn lại trong kho còn lại trong kho khi bắt đầu đặt hàng)

OP = Thời gian chờ đặt hàng x S + Q an toàn

360 Chú ý: Nếu doanh nghiệp không dự trữ an toàn thì Qan toàn bằng 0

Trang 20

Ngoài mô hình EOQ cũng có thể sử dụng mô hình ABC để quản lý hàng tồn kho

Mô hình ABC là mô hình quản lý hàng tồn kho trên cơ sở: Áp dụng mức độ khác nhau với các nhóm hàng lưu kho có giá trị cao hay thấp khác nhau

Hình 1.5 Mô hình ABC

Ví dụ: Một doanh nghiệp có hàng nghìn danh mục hàng lưu kho với giá trị từ rất đắt đến rất rẻ và chúng ta chia danh mục thành 3 nhóm: A, B và C Nhóm A chiếm 10% về mặt số lượng trong danh mục nhưng lại chiếm đến 50% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho Nhóm B chiếm 30% về mặt số lượng danh mục và chiếm 35% giá trị tiền đầu tư vào hàng tồn kho Nhóm C chiếm 60% về mặt số lượng trong danh mục nhưng chỉ chiếm 15% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho

Bằng việc chia hàng lưu kho thành nhiều nhóm, các doanh nghiệp có thể tập trung vào nhóm mà cần sự kiểm soát hiệu quả nhất, mà cụ thể ở ví dụ cụ thể này là nhóm A, tiếp theo là nhóm B và cuối cùng là nhóm C Nếu như nhóm A được xem xét quản lý một cách thường xuyên thì nhóm B sẽ ít được thường xuyên, có thể là hàng tháng, hàng quý và nhóm C sẽ ít hơn nữa có thể là hàng năm

1.2.2.4 Quản lý các khoản phải thu

Trong số các khoản mục phải thu của doanh nghiệp, phải thu khách hàng đóng vai trò quan trọng nhất Phải thu khách hàng là khoản mục xuất hiện trong quan hệ mua bán trả chậm giữa các doanh nghiệp, hay còn gọi là khoản tín dụng thương mại Khi doanh nghiệp bán hàng trả chậm cho khách hàng của mình nghĩa là doanh nghiệp cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, các khoản tín dụng thương mại ngày càng trở nên phổ biến và cũng thể hiện mối quan hệ ràng buộc giữa các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh

Trang 21

Trang 21

Chính sách tín dụng thương mại

Việc lựa chọn chính sách tín dụng thương mại là hết sức quan trọng vì quyết định bán hàng trả chậm có thể cùng một lúc gây nhiều tác động Chúng ta hãy xem xét những ảnh hưởng của quyết định cấp tín dụng (bán hàng trả chậm)

Việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể giúp tăng lợi nhuận do tăng doanh thu, nhưng cũng gây ra những chi phí cơ hội đầu tư vào các khoản phải thu, chi phí quản lý khoản phải thu hay các chi phí dự phòng nợ phải thu khi khách hàng không trả Do vậy, nguyên tắc cơ bản để đưa ra chính sách tín dụng đó là:

 Khi lợi ích gia tăng lớn hơn chi phí gia tăng thì doanh nghiệp nên cấp tín dụng

 Khi lợi ích gia tăng nhỏ hơn chi phí gia tăng thì doanh nghiệp nên thắt chặt tín dụng

 Trường hợp cả lợi ích và chi phí đều giảm thì doanh nghiệp cần xem xét phần chi phí tiết kiệm được có đủ bù đắp cho phần lợi ích bị giảm đi không

 Tiêu chuẩn về năng lực trả nợ: được xác định bẳng khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời và quy mô vốn bằng tiền của khách hàng

 Tiêu chuẩn về quy mô vốn kinh doanh: thể hiện năng lực tài chính dài hạn của khách hàng

 Tiêu chuẩn về khả năng phát triển: xác định khả năng phát triển của khách hàng và ngành nghề kinh doanh trong tương lai

Sau đó, doanh nghiệp tiến hành đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng dựa trên thông tin từ các nguồn khác nhau như: báo cáo tài chính, báo cáo tín dụng, ngân hàng và các tổ chức thương mại, kinh nghiệm của doanh nghiệp Nếu khách hàng đáp ứng được các tiêu chuẩn của doanh nghiệp đề ra, doanh nghiệp sẽ tiến hành cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Nếu cần cân nhắc, lựa chọn giữa nhiều khách hàng, Công ty có thể sử dụng phương pháp chấm điểm tín dụng trên cơ sở các tiêu chuẩn đã xây dựng kèm theo trọng số Sau đó, doanh nghiệp sẽ xếp hạng khách hàng và có thể phân loại theo từng mức độ rủi ro để dễ dàng quản lý cũng như đưa ra quyết định

Trang 22

 Phân tích lợi ích thu được từ khoản tín dụng thương mại: Để hiểu rõ về các phương án, doanh nghiệp có thể lượng hóa những lợi ích ròng thu được từ việc cấp tín dụng thông qua xác định giá trị hiện tại ròng NPV

 Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: cấp tín dụng

 VC: tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu

 S: doanh thu dự kiến mỗi kỳ

 ACP: thời gian thu tiền trung bình

 BD: tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu

 CD: chi phí tăng thêm của bộ phận tín dụng

 T: thuế suất thuế TNDN

 Sau khi tính toán chỉ tiêu NPV, doanh nghiệp đưa ra quyết định trên cơ sở

Chi phí SX bình quân (AC) AC0 AC1 (AC1> AC0)

 Phương án bán trả ngay (không cấp tín dụng):

Trang 23

Theo dõi các khoản phải thu

Việc theo dõi các khoản phải thu có thể được tiến hành theo ba phương pháp:

 Theo dõi thời gian thu tiền trung bình (ACP):

Thời gian thu tiền trung bình =

Phải thu khách hàng x 365 Doanh thu thuần Theo dõi sự thay đổi của thời gian thu tiền trung bình sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời đưa ra những điều chỉnh về chính sách tín dụng và thu tiền Tuy nhiên, đây lại là một chỉ tiêu tổng quát chịu ảnh hưởng của sự thay đổi về quy mô doanh thu và quy mô khoản phải thu, đồng thời có xu hướng ẩn đi những thay đổi cá biệt trong khách hàng nên không đạt được nhiều hiệu quả trong việc quản lý thu nợ

 Theo dõi mẫu hình phải thu: Mẫu hình phải thu là tỷ lệ phần trăm doanh thu chưa thu được trên tổng doanh thu phát sinh trong một tháng và được theo dõi trong nhiều tháng kể từ tháng phát sinh Theo dõi sự thay đổi trong mẫu hình phải thu có thể giúp doanh nghiệp ghi nhận ngay sự thay đổi trong hành vi thanh toán của khách hàng

do các khoản phải thu đã được chia nhỏ theo từng tháng phát sinh doanh thu

 Theo dõi “tuổi” của các khoản phải thu: Theo phương pháp này, các khoản phải thu sẽ được sắp xếp theo độ dài thời gian để theo dõi và có biện pháp giải quyết thu nợ khi đến hạn cũng như chính sách dự phòng hợp lí

1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ đánh giá khác nhau

1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu tổng quát

Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn:

Trang 24

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời của TSNH =

Lợi nhuận ròng x100 Tài sản ngắn hạn bình quân

Số vòng quay của tài sản ngắn hạn ( sức sản xuất của tài sản ngắn hạn):

Số vòng quay của tài sản ngắn hạn =

Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn bình quân

Đơn vị tính: vòng

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là tốt Hay nói cách khác chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị tài sản ngắn hạn đầu tư trong

kì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận

- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu

Suất hao phí của tài sản ngắn hạn =

TSNH bình quân Doanh thu thuần

Đơn vị tính: lần

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng TSNH, đó là căn cứ để đầu tư các tài sản ngắn hạn cho phù hợp Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao

- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế

Trang 25

Trang 25

Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế =

TSNH bình quân Lợi nhuận sau thuế

Đơn vị tính: lần

Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao Chỉ tiêu này còn là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng dự toán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận như mong muốn

1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn

- Số vòng luân chuyển (số vòng quay) của tài sản ngắn hạn:

- Thời gian một vòng luân chuyển của TSNH:

Thời gian một vòng luân chuyển

Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn bình quân

Tổng số luân chuyển thuần

Đơn vị tính: Lần

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng luân chuyển thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn đầu tư Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao Thông qua chỉ tiêu này các nhà quản trị kinh doanh xây dựng

kế hoạch về đầu tư tài sản ngắn hạn một cách hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh

Số vòng luân chuyển của TSNH = Tổng số luân chuyển thuần

TSNH bình quân

Trang 26

1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn

Đây là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ

số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa được sử dụng, không

sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng những tài sản đó sao cho mang lại hiệu quả hoặc phải loại bỏ những tài sản đó đi Hệ số đo lường khả năng hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu thể hiện vòng quay, thể hiện chu kỳ của tài sản sau đây:

Vòng quay các khoản phải thu:

Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu được tiền

về quỹ do thực hiện chính sách tín dụng thương mại Do đó vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu của doanh nghiệp thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức:

Đơn vị tính: Vòng

Vòng quay các khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu

để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá hiệu quả của một chính sách đầu tư của doanh nghiệp Vòng quay các khoản phải thu càng lớn cho thấy doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản vốn bị chiếm dụng và ngược lại

Kỳ thu tiền trung bình

Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu ngược của vòng quay các khoản phải thu, phản ánh số ngày của một vòng quay Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân để doanh nghiệp thu hồi được các khoản nợ phải thu trong năm

Kỳ thu tiền trung bình = 360

Vòng quay các khoản phải thu

Đơn vị tính: Ngày

Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá việc quản lý các khoản phải thu của doanh nghiệp, số ngày của kỳ thu tiền càng ngắn thì doanh nghiệp càng không bị chiếm dụng vốn lâu và sử dụng khoản phải thu của doanh nghiệp là có hiệu quả.Kỳ thu tiền trung bình càng ngắn còn thể hiện chính sách thu hồi công nợ của doanh nghiệp có hiệu quả Tuy nhiên, nếu thu tiền trung bình quá ngắn có thể gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, do khách hàng sẽ giảm mua hàng dẫn đến giảm doanh thu

Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần

Các khoản phải thu bình quân

Trang 27

Trang 27

Vòng quay hàng tồn kho:

Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ tồn kho bởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu Để tránh trường hợp bị ứ đọng hàng tồn kho thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hoá vừa phải bởi nếu quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản vật liệu Nếu lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tạm ngừng hoạt động ở các khâu sản xuất tiếp theo

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình quân

Đơn vị tính: Vòng

Như vậy chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp Vòng quay hàng tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra Chỉ tiêu này cao phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa được đưa vào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên Vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh, phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (Chu kỳ lưu kho):

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 360

Vòng quay hàng tồn kho

Đơn vị tính: Ngày

Chỉ tiêu này cho ta biết trung bình kể từ khi doanh nghiệp mua hàng đến khi bán được hàng mất bao nhiêu ngày Từ chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu dự trữ Thời gian quay vòng hàng tồn kho càng ngắn thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt vì doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao Thời gian luân chuyển hàng tồn kho càng ngắn càng tốt, điều này chứng tỏ doanh nghiệp không bị tồn đọng hàng dẫn đến thu hồi vốn nhanh và không mất nhiều chi phí

1.2.3.4 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Trang 28

Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường

sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

Khả năng thanh toán ngắn hạn:

Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp và được sử dụng rộng rãi nhất Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết khả năng đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn bằng toàn bộ tài sản ngắn hạn

Khả năng thanh toán ngắn hạn =

Khả năng thanh toán nhanh:

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng nhanh chóng đáp ứng của tài sản ngắn hạn trước các khoản nợ ngắn hạn, vì vậy mà hàng tồn kho được loại trừ do đây là khoản mục có tính thanh toán thấp nhất trong tài sản ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh =

Trang 29

Trang 29

Khả năng thanh toán tức thời:

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng nợ của Công ty được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tiền mặt và các khoản tương đương tiền

Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền

Nợ ngắn hạn

Đơn vị tính: Lần

Tỉ số này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ Chỉ tiêu này nhỏ cho thấy việc dự trữ tiền của Công ty chưa đảm bảo để thanh toán được các khoản nợ tức thời

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài phân tích các chỉ tiêu nói trên, chúng ta cũng cần nghiên cứu đến các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhưng về cơ bản thì có 2 nhóm nhân tố chính đó là các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của nhiều nhân

tố Để đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp, ngoài việc

sử dụng những chỉ tiêu ta phải nghiên cứu tới những nhân tố tác động, từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm những tác động tích cực đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Các nhân tố chủ quan được nói đến ở đây

là những nhân tố xuất phát từ nội bộ của doanh nghiệp

 Việc lựa chọn phương án đầu tư: Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của TSNH, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH và ngược lại

 Thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Với thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài nhưng những doanh

Trang 30

nghiệp khác lại có chu kỳ sản xuất ngắn Điều đó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu? Mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào? Lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tất

cả những nhân tố này tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu

kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp phải tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn sẽ nhanh hơn Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu của doanh nghiệp cũng tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng

 Trình độ quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp: Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả tốt đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch trong những chu kỳ tiếp theo Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị hết sức quan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ sử dụng những loại máy móc thiết

bị đó cũng phải được đào tạo có chuyên môn và có kỹ thuật

 Cơ sở vật chất của doanh nghiệp: Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt, điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những thiết bị máy móc tốt Một doanh nghiệp có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn Cùng chất lượng nguyên vật liệu như nhau nhưng nếu doanh nghiệp nào trang bị tốt máy móc đưa vào dây truyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn Ngược lại với máy móc không tốt doanh nghiệp sẽ không tận dụng được hết giá trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng Như vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao

1.3.2 Nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan có những lúc thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhưng có lúc chính các nhân tốt khách quan này lại kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Sự tác động đó không nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp do vậy khi gặp những nhân tố này các doanh nghiệp luôn phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với tác động của nó

Trang 31

 Nhu cầu của khách hàng: Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh

 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Để phát triển được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua Hiện nay việc đưa ra các phương thức về giá cả, mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệp phải quan tâm hàng đầu

 Sự phát triển của thị trường: Ngày nay thị trường đầu vào, thị trường dịch vụ hàng hóa phát triển rất nhanh, đặc biệt là thị trường tài chính tiền tệ có tác động rất lớn đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.Thị trường với các yếu tố đầu vào đa dạng, phong phú sẽ giúp cho doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn hơn Thị trường đầu vào cạnh tranh mạnh mẽ sẽ làm giảm giá các yếu tố đầu vào đồng nghĩa với việc chi phí đầu vào của doanh nghiệp sẽ giảm và ngược lại Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Tất cả các hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc phát triển sản xuất kinh doanh đều giao dịch trên thị trường tài chính Thị trường tài chính phát triển thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH PHƯƠNG BẮC

2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Tên công ty: Công ty Cổ phần Xây Dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc Tên giao dịch: TRUONG THINH JOINT STOCK COMPANY

Tên viết tắt: TRUONG THINH DECO., JSC

Địa chỉ trụ sở chính: Số nhà 19, Tập thể Thuỷ sản, Đường Lê Văn Thiêm, Phường

Nhân Chính - Quận Thanh Xuân,TP HN

Điện thoại: 04 5576145 Fax: 04 5576146

Mã số thuế: 0102598075

Số vốn điền lệ: 21.696.500.000 đ (năm 2009)

(Hai mươi mốt tỷ, sáu trăm chín mươi sáu triệu, năm trăm ngàn việt nam đồng)

Danh sách cổ đông sáng lập:

Công ty TNHH xây dựng tổng hợp Xây Dựng Thương Mại và Du Lịch

Đại diện : Ông Võ Minh Hoài: 2.109.650 cổ phần

Công ty Cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc được thành lập theo quyết định số 989/QĐ-UB ngày 11/11/1994 của UBND tỉnh Quảng Bình Sau một thời gian hoạt động và làm ăn có hiệu quả Công ty quyết định thành lập ra các Chi nhánh hay các Công ty con để phù hợp với sự phát triển của Công ty và mở rộng quy mô sản xuất

Tiền thân của Công ty Cổ phần Xây Dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc

là Chi nhánh Công ty Xây Dựng Tổng Hợp phía bắc được thành lập vào ngày 03/04/2003 theo quyết định số 124/QĐ-CT của UBND tỉnh Quảng Bình

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty

Công ty Cổ phần Xây Dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc là đơn vị hạch toán phụ thuộc, Công ty vẫn hạch toán hàng ngày và lên báo cáo kế toán hàng tháng, hàng quý, cuối năm và gửi vào Tổng công ty Công ty Cổ phần Xây Dựng Thương

Trang 33

và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty

(Nguồn: Phòng Nhân sự - Hành chính)

Chức năng của từng bộ phận:

Hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty; có nhiệm

vụ thông qua định hướng phát triển của công ty; quyết định các chiến lược, phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư; quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại, được quyền chào bán; tiến hành thảo luận thông qua bổ sung, sửa đổi Điều lệ của công ty; bầu, bãi nhiệm Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát và quyết định bộ máy tổ chức của công ty

Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý của công ty do Hội đồng cổ đông bầu

ra gồm có 4 thành viên Hội đồng quản trị quyết định chiến lược phát triển của công

ty quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc và cán bộ quản lý quan trọng khác của công ty, quyết định mức lương và lợi ích khác của cán bộ quản lý

Hội đồng cổ đông Đầu tư tạm thời bằng cách

Phòng PR – Maketing

Hội đồng quản trị

Ban Giám đốc

Ban kiểm soát

Trang 34

Ban kiểm soát: thay mặt Hội đồng cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh

doanh quản lý và điều hành của Công ty; đảm bảo khách quan, trung thực, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chế độ chính sách Nhà nước, Điều lệ, quy chế của Công ty và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của Công ty; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của Công ty, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến vấn đề quản lý điều hành hoạt động của Công ty theo đúng thẩm quyền

Ban giám đốc: chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định của Hội

đồng quản trị, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động hàng ngày khác của công ty; đề nghị Hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh dưới quyền kiểm soát; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao

Phòng tài chính - kế toán: có nhiệm vụ tham mưu với Ban giám đốc của

công ty trong quản lý và điều hành quá trình sử dụng vốn của công ty; theo dõi và báo cáo giám đốc công ty tình hình sử dụng vốn của công ty; ghi chép phản ánh trung thực, kịp thời đầy đủ mọi phát sinh thu chi trong quá trình sản xuất kinh doanh; tổ chức xây dựng kế hoạch tài chính dựa trên kế hoạch kinh doanh, đôn đốc việc thực hiện các kế hoạch tài chính đã xây dựng; đề xuất việc khai thác, huy động và sử dụng các nguồn vốn phục vụ kịp thời cho kinh doanh đúng theo các quy định về tình hình kinh doanh, tình hình sử dụng nguồn vốn của công ty

Phòng quản lý dự án: có chức năng tham mưu với giám đốc công ty về kế

hoạch sản xuất kinh doanh và các chiến lược phát triển của công ty; theo dõi và báo cáo cho Ban giám đốc về tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng kỳ; nghiên cứu, cập nhật các vấn đề công nghệ, kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh của công ty; tìm kiếm, tiếp thị và đấu thầu các dự án; nghiên cứu, lưu giữu, phổ biến, hướng dẫn thực hiện cho các bộ phận liên quan và báo cáo Ban giám đốc công ty về các quy định của pháp luật

Phòng hành chính – nhân sự: có nhiệm vụ lập kế hoạch nhân sự hàng năm

đồng thời lập kế hoạch đào tạo, nâng bậc, tuyển dụng; theo dõi, cập nhật và phổ biến các văn bản pháp quy hướng dẫn về tổ chức, nhân sự; thực hiện việc giao tiếp về hành chính với bên ngoài; theo dõi và quản lý tài sản, văn phòng của công ty; xây dựng cơ cấu, tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực toàn công ty; xây dựng các quy trình, quy chế hoạt động nhân sự

và tổ chức các hoạt động nhân sự của công ty

Phòng PR và Maketing: có chức năng khảo sát, tìm hiểu hành vi ứng xử

của khách hàng tiềm năng; phân khúc thị trường, xác định mục tiêu, định vị thương

Trang 35

Trang 35

hiệu; làm việc với khách hàng, vạch ra những chiến lược maketing tốt nhất để đạt được hiệu quả và làm vừa lòng khách hàng Đây chính là một khâu cực kỳ quan trọng cho thấy sự thân thiện của công ty với khách hàng

2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

Theo quy định của pháp luật, Công ty được phép kinh doanh các loại hình sau:

 Môi giới thương mại

 Xây dựng công trình dân dụng, công trình công nghiệp

 Lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng

 Sản xuất và sửa chữa thiết bị cơ khí, điện lạnh, vận tải

 Vận tải hàng hoá bằng đường bộ

 Cung cấp dịch vụ cho thuê nhà, văn phòng

 Chuyển giao công nghệ xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng

Tuy nhiên hiện nay, Công ty đang tập trung vào sản xuất, cung cấp nguyên vật liệu cho các công trình tại Hà Nội và các tỉnh thành lân cận Sản phẩm của Công ty đã tạo nên được uy tín cũng như sự tin dùng của các đối tác là các tập đoàn xây dựng lớn trong nước cũng như với các khách hàng nhỏ lẻ có nhu cầu xây dựng dân dụng Với những lợi thế sẵn có, hiện nay Công ty cổ phần xây dựng thương mại và du lịch Phương Bắc đang có kế hoạch mở rộng thêm kinh doanh đặc biệt là trong lĩnh vực xây lắp

2.1.4 Thực trạng sản xuất - kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 - 2013

2.1.4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong những năm trở lại đây thực trạng kinh doanh của công ty phát triển tương đối tốt do Công ty không ngừng tìm kiếm đối tác kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch

vụ cũng như chất lượng sản phẩm Qua những số liệu có được từ bảng Báo cáo kết quả kinh doanh trong 3 năm vừa qua, có thể cho ta thấy rõ được điều này

Công ty có những biến đổi lớn về doanh thu, nhưng lợi nhuận sau thuế lại không

có những bước nhảy vọt qua các năm Để hiểu thêm về vấn đề này ta đi vào phân tích các chỉ tiêu cụ thể:

Trang 36

Bảng 2.1 Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh

Trang 37

Phân tích doanh thu

Qua bảng phân tích ta thấy doanh thu thuần năm 2012 tăng hơn 10,8 tỷ đồng so với năm 2011, tương ứng tăng 71% Trong đó phát sinh khoản giảm trừ doanh thu 4.688.182 đồng trong năm 2011 là do giảm giá bán nguyên vật liệu cho Công ty TNHH Hồng Lợi, một khách hàng quen, có quan hệ mua bán lâu năm và mua một số lượng lớn nguyên vật liệu của công ty Điều này chứng tỏ trong hai năm này công ty vẫn giữ vững được uy tín, những công trình, nhà ở như công trình cải tạo nhà nghỉ Triều Khúc, nhà ở 5 tầng cho công ty cơ khí Đông Anh… vẫn đảm bảo được chất lượng, yêu cầu đạt ra nên không phải sửa chữa nhiều Ngoài ra năm 2012 doanh thu tăng còn do doanh thu xây dựng tăng hơn 9 tỷ đồng so với năm 2011, thu từ dịch vụ tư vấn thiết kế tăng hơn 1 tỷ đồng ngoài ra còn thu từ các khoản khác gần 800 triệu (Số liệu lấy từ thuyết minh tài chính năm 2011) Năm 2013, doanh thu giảm hơn 10 tỷ đồng tương đương với 39,84 % so với năm 2012, nguyên nhân chính là do thị trường bất động sản tại Việt Nam đóng băng làm cho doanh thu từ việc xây dựng của công ty bị ảnh hưởng nghiêm trọng Như vậy ta thấy tình hình kinh doanh của Công ty đang gặp khá nhiều khó khăn Doanh thu giảm là do Công ty đã không có thêm được các hợp đồng mới trong việc xây lắp, bên cạnh đó những vật liệu mà Công ty sản xuất cũng bị giảm số lượng bán Ngoài ra doanh thu từ hoạt động tài chính cũng giảm đều trong 3 năm, từ 10.417.271 đồng năm 2011, giảm xuống chỉ còn 2.674.844 đồng trong năm 2013, đây là số tiền lãi mà Công ty cho các doanh nghiệp khác vay cũng như nhận được từ ngân hàng Lý giải cho sự tụt giảm này là do Công ty đã chủ động rút tiền về để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên số tiền lãi nhận được ngày càng ít

Phân tích chi phí

Giá vốn hàng bán: Giá vốn hàng bán năm 2012 tăng 71% nghĩa là tăng hơn 10 tỷ

đồng điều này cho thấy lợi nhuận của Công ty năm 2011 thu từ hoạt động sản xuất chính

có xu hướng giảm Nguyên nhân là vào năm 2012 giá nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh làm tăng giá vốn hàng bán của doanh nghiệp (giá thép: 16 triệu đồng/tấn tăng 2 triệu; gạch xây dựng 2.000 đồng/viên tăng 255,93% và nhựa đường 18.000 đồng/kg tăng 237,61%) Năm 2013 giá vốn hàng bán đã giảm xuống 13.231.688.490 đồng tương đương giảm 105,02% so với năm 2012, nguyên nhân là do năm 2013 công ty nhận được

ít dự án nên không đầu tư nhiều vào nguyên vật liệu cũng như các hoạt động bất động sản

…Như đã nói ở trên, Công ty có tình hình kinh doanh trong những năm gần đây kém hơn

so với các năm trước, Công ty nhận được ít hợp đồng xây lắp, bán vật liệu Vì vậy giá vốn hàng bán cũng ít hơn

Chi phí tài chính: Năm 2012 giảm 125.896.513 đồng, tương ứng giảm 25,63% so

với năm 2011 Chi phí tài chính của Công ty hoàn toàn là chi phí lãi vay Như vậy trong năm 2012 Công ty đi vay từ bên ngoài ít hơn năm 2011 nên chi phí về lãi vay giảm Đến

Trang 38

năm 2013, chi phí tài chính của công ty bằng 0, hoạt động kinh doanh của công ty dựa hoàn tài vào vốn tự có Mức tự chủ về tài chính của Công ty đang tốt dần lên, giảm sự phụ thuộc tài chính từ các nguồn bên ngoài

Chi phí quản lý doanh nghiệp: Năm 2012 giảm 392.685.027 đồng, tương ứng giảm

16,54% so với năm 2011 Tuy nhiên sang đến năm 2013, chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng 466.868.909 đồng, tương ứng tăng 23,56% so với năm 2012 Sở dĩ có sự sụt giảm ở năm 2012 là do tình hình Công ty có nhiều biến động và trong năm 2012 công ty làm ăn gặp khá nhiều khó khăn, thế nên Công ty đã cắt giảm nhân sự ở bộ phận quản lý, chỉ giữ lại những người thực sự làm được việc Điều này sẽ khiến cho nhân viên Công ty nỗ lực hơn trong công việc, họ sẽ muốn chứng tỏ mình để không bị sa thải Đến năm 2013, Công ty đầu tư thêm trang thiết bị mới phục vụ cho công việc quản lý nên chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên

Yếu tố chi phí thể hiện sự hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nếu chi phí bỏ ra quá lớn hoặc tốc độ chi phí lớn hơn tốc độ doanh thu, chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng nguồn lực không hiệu quả Để có cái nhìn khách quan hơn về chi phí, ta có bảng sau:

Bảng 2.2 Bảng chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí

Đơn vị: %

Tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần 75,5 90,5 84,27

Tỷ lệ chi phí tài chính trên doanh thu thuần 3,22 1,4 0

Tỷ lệ chi phí quản lý DN trên doanh thu thuần 15,6 7,59 15,59

 Tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần: chỉ tiêu này cho biết với 100 đồng doanh thu thuần thu được, Công ty đã phải bỏ ra trung bình 83,41 đồng chi phí giá vốn hàng bán trong các năm 2011 - 2013 Mức tỷ lệ còn cao, nhìn chung công tác quản lý giá vốn của Công ty chưa được thực hiện tốt, nhất là hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, giá cả ngày càng tăng cao, trong khi phải hoàn thành bàn giao công trình mới nhận được tiền công Việc để giá vốn tăng cao như vậy như sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của Công ty

 Tỷ lệ chi phí tài chính trên doanh thu thuần: chỉ tiêu này cho biết với 100 đồng doanh thu thuần thu được, Công ty đã phải bỏ ra trung bình 1,54 đồng chi phí tài chính trong các năm từ 2011 - 2013 Tỷ lệ này khá nhỏ thể hiện việc kiểm soát tốt chi phí tài chính của Công ty Đặc biệt năm 2013, hoạt động kinh doanh của Công ty dựa hoàn toàn vào vốn tự có, không phụ thuộc vào bên ngoài

Trang 39

 Tỷ lệ chi phí quản lý trên doanh thu thuần: chỉ tiêu này cho biết để thu được 100 đồng doanh thu thuần, Công ty đã phải chi ra trung bình 12,91 đồng chi phí quản

lý doanh nghiệp trong các năm 2011 - 2013 Tỷ lệ này có thể chấp nhận được đối với tình hình hiện tại khi Công ty đã cơ cấu lại phòng ban cũng như các chính sách cho hiệu quả hơn, giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy quản lý

a Phân tích lợi nhuận

Mặc dù công tác quản lý bán hàng, quản lý doanh nghiệp được Công ty thực hiện khá tốt, nhưng việc quản lý giá vốn hàng bán còn khá nhiều hạn chế dẫn đến Công ty vẫn làm ăn chưa được tốt

Lợi nhuận sau thuế trong năm 2012 giảm 650.417.315 đồng, tương ứng giảm 97,91% so với năm 2011 Năm 2013 cũng ghi nhận giảm 927.699 đồng, tương ứng giảm 6,69% so với năm 2012 Qua 3 năm lợi nhuận sau thuế của Công ty giảm đi khá nhiều do việc quản lý giá vốn hàng bán chưa tốt dẫn tới việc lợi nhuận gộp cũng giảm theo Dù Công ty đã cố gắng trong việc kiểm soát chi phí tài chính và chi phí quản lý doanh nghiệp nhưng như thế vẫn là chưa đủ để có thể làm tăng mức lợi nhuận thuần Trong 2 năm 2011

và 2012, Công ty còn có khoản lợi nhuận khác từ việc thanh lý TSCĐ và thiết bị thi công, nhưng năm 2013 lại không có sự biến động tại khoản mục này Dẫn tới lợi nhuận sau thuế của Công ty chỉ còn đạt mức 12.948.703 đồng tại năm 2013 Công ty vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm để có thể kéo mức lợi nhuận tăng trở lại trong các năm tới

Nhìn chung ba năm từ 2011-2013 là những năm khó khăn đối với nền kinh tế trong nước cũng như ngành xây dựng Qua phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty ta thấy lợi nhuận sau thuế có những biến động khá thất vọng Lợi nhuận sau thuế giảm liên tục qua các năm Mặc dù Công ty đang phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh đầy gay gắt, khốc liệt và nền kinh tế đang chịu ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh

tế thế giới nhưng Công ty cũng như Ban quản trị vẫn cần phải có những những chiến lược kinh doanh, chiến lược quản lý phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể để đưa Công ty vượt qua khỏi thời điểm khó khăn như hiện tại

2.1.4.2 Thực trạng tài sản – nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2011-2013

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, cho biết tình hình tài sản hiện có và nguồn vốn hình thành tài sản đó của Công ty Thông qua bảng cân đối kế toán

ta có thể nhận xét, đánh giá khái quát về thực trạng tài chính của Công ty Trên cơ sở đó

ta có thể phân tích được tình hình khả năng huy động vốn và quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty

Ngày đăng: 27/05/2015, 09:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào, Tài chính doanh nghiệp, Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Khoa Ngân Hàng-Tài Chính, Nhà xuất bản Lao Động năm 2004 Khác
2. GS.TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ - Học viên tài chính, Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản (Nxb) Tài Chính Khác
3. Nguyễn Kế Tuấn (2013), Kinh tế Việt Nam 2012: Ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế Khác
4. Nguyễn Hải Sản (2010), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Thống Kê, Hà Nội 5. PGS.TS Nguyễn Hữu Tài (2007), Giáo trình lý thuyết tài chính-tiền tệ, Nxb Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
6. PGS.TS. Phạm Quang Trung (2009), Tăng cường năng lực cạnh tranh của các DN vừa và nhỏ, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
7. Trâm Anh, Ngân hàng nhà nước, lãi suất cho vay ở 12-15% một năm, Báo vnexpress.net, (26/9/2012) Khác
8. TS. Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất ban Tài Chính Khác
9. Phan Trọng Phức (2006), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10.Thống kê Ngành: Xây dựng và vật liệu xây dựng năm 2013 trên Stockbiz.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Hình 1.2. Mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu (Trang 14)
Hình 1.3. Mô hình Miller Orr - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Hình 1.3. Mô hình Miller Orr (Trang 15)
Hình 1.4. Mô hình EOQ - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Hình 1.4. Mô hình EOQ (Trang 18)
Hình 1.5. Mô hình ABC - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Hình 1.5. Mô hình ABC (Trang 20)
Bảng 1.1. Quyết định tín dụng - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 1.1. Quyết định tín dụng (Trang 22)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty (Trang 33)
Bảng 2.1. Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.1. Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 36)
Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán so giữa các năm 2011 - 2013 - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán so giữa các năm 2011 - 2013 (Trang 40)
Bảng 2.4. Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.4. Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty (Trang 44)
Bảng 2.5. Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.5. Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty (Trang 47)
Bảng 2.6. Cơ cấu tiền của Công ty - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.6. Cơ cấu tiền của Công ty (Trang 49)
Bảng 2.7. Cơ cấu khoản phải thu của Công ty - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.7. Cơ cấu khoản phải thu của Công ty (Trang 52)
Bảng 2.8. Những khách hàng có tuổi nợ cao trong năm 2013 - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.8. Những khách hàng có tuổi nợ cao trong năm 2013 (Trang 53)
Bảng 2.9. Hàng tồn kho của Công ty  giai đoạn 2011-2013 - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.9. Hàng tồn kho của Công ty giai đoạn 2011-2013 (Trang 54)
Bảng 2.10. Chỉ tiêu tổng quát về hiệu quả sử dụng TSNH của công ty - Khóa luận tốt nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần XD TM và DL Phương Bắc
Bảng 2.10. Chỉ tiêu tổng quát về hiệu quả sử dụng TSNH của công ty (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w