Dựa vào các nguyên tắc đó ta có khái niệm tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ k
Trang 11
CHƯƠNG 1 CÁC VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thân doanh nghiệp mà cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia
mà tại đấy diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh như: Đầu tư, tiêu thụ và phân phối
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tài chính doanh nghiệp, các nhà kinh tế đã tìm kiếm khái niệm tài chính trên các vấn đề có tính chất nguyên lý khác nhau của họ
mà thường tập trung vào 5 nguyên tắc sau:
+ Nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp
+ Sự bảo đảm có lợi ích cho những người bỏ vốn dưới các hình thức khác nhau + Khía cạnh thời hạn của các loại vốn
+ Sự diễn giải các khái niệm về vốn như là tổng giá trị của các loại tài sản dưới hai dạng vốn trừu tượng và vốn cụ thể
+ Chỉ ra quá trình thay đổi của vốn trong các trường hợp tăng giảm và thay đổi cấu trúc của nó
Dựa vào các nguyên tắc đó ta có khái niệm tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối,
sử dụng và quản lý vốn một cách có hiệu quả Các quan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, hay khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu trái phiếu để đáp ứng nhu cầu dài hạn Ngược lại doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, hoặc đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Trang 2Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hoá dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như : chính sách phân chia cổ tức, chính sách đầu tư, chính sách cơ cấu vốn
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có những vai trò chủ yếu sau đây:
Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trước hết phải có một yếu tố tiền đề đó là vốn kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết được thể hiện ở việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất
Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm
và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư tối ưu; huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, hàng hoá bán, dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế… Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh
tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất,
Trang 3Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp và các nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.2 Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá kết quả của việc quản lí và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài chính, phân tích những gì đã làm được, những gì làm chưa được và dự đoán những gì sẽ xảy ra đồng thời tìm ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đề ra các biện pháp tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu và nâng cao chất lượng quản lí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là việc ứng dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích đối với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đưa các dự báo và các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích tài chính còn là việc
sử dụng các báo cáo tài chính để phân tích năng lực và vị thế tài chính của một Công
ty, và để đánh giá năng lực tài chính trong tương lai
1.2.2 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh ngiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng, kể cả các cơ quan Nhà nước và người
Trang 4làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau
Đối với nhà quản lí: Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng
đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục
sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp
không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản
lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
Đối với các nhà đầu tƣ: Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ
là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của
nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính
Đối với các chủ nợ: Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng hay
các nhà cung ứng vật tư hàng hóa cho doanh nghiệp, mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các
Trang 55
khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Đối với người lao động: Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của
doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp
nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Dựa vào các báo cáo tài chính doanh
nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách
hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.2.3 Quy trình phân tích tài chính
Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin về kế toán và thông tin quản lý khác, trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập chung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và ra quyết định
Trang 6Dự đoán và quyết định
Mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Đối với người cho vay và đầu
tư đó là các quyết định về tài trợ và đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp là các quyết định quản lý doanh nghiệp
1.2.4 Thông tin sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng Trong những thông tin bên ngoài, cần lưu ý những thông tin chung (thông tin liên quan đến trạng thái kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lại suất), thông tin về ngành kinh doanh (Thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần, ) và các thông tin pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp )
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động Tài chính trong các doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
Bảng cân đối kế toán
Là một báo cáo tài chính, mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Nó được thành lập từ 2 phần: Tài sản và nguồn vốn Bên tài sản của bảng phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó là tài sản lưu động và tài sản cố định Bên nguồn vốn phản ảnh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một niên độ kế toán, dưới hình thái tiền tệ Nội dung của báo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổi nhưng phải phản ánh được 4 nội dung cơ bản là: doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi, lỗ Số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về phương
Trang 77
thức kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và chỉ ra rằng, các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay lỗ vốn, đồng thời nó còn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay báo cáo dòng tiền mặt là một loại báo cáo tài chính thể hiện dòng tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm tài chính)
Báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của tổ chức Bảng báo cáo dòng tiền mặt thông thường gồm có:
Dòng tiền vào: Bao gồm dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ hoạt động đầu tư tài chính hay từ các hoạt động bất thường khác
Dòng tiền ra: Bao gồm dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, thực hiện hoạt động đầu tư tài chính hay thực hiện hoạt động bất thường khác
Thuyết minh BCTC
Thuyết minh BCTC được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp
Thuyết minh BCTC gồm những nội dung cơ bản sau:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
- Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng
- Các chính sách kế toán áp dụng
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả HĐKD
- Thông tin bổ sung cho khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ
1.2.5 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau
Trang 81.2.5.1 Phương pháp so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được
so với doanh nghiệp cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”
Gốc so sánh: gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc không gian hay thời gian, tùy thuộc vào mục đích phân tích Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác…Việc so sánh về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực…Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua hay kế hoạch, dự toán Ví dụ như: Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của các chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc ở hàng loạt các kỳ trước Lúc này
sẽ so sánh trị số chỉ tiêu ở kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau Hay khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích
Kỳ phân tích: là kỳ có các thông tin, số liệu sử dụng để phân tích tình hình tài chính cửa doanh nghiệp Các số liệu trong kỳ phân tích sẽ được đem ra so sánh với số liệu tương ứng ở năm được chọn là gốc so sánh
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán
Trang 99
1.2.5.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ
sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
1.2.5.3 Phương pháp Dupont
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở
Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn Mô hình Dupont được thể hiện qua công thức:
Hay ROE =ROA* Đòn bẩy tài chính
Ngoài ra, mô hình Dupont còn được khai triển chi tiết qua công thức:
Hay ROE = Hệ số lợi nhuận ròng*ROA*Đòn bẩy tài chính
Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định
Trang 10Phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản
lý của doanh nghiệp
Tóm lại, để tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp một cách hoàn chỉnh, hiệu quả ta cần kết hợp nhiều phương pháp phân tích khác nhau nhằm tận dụng các ưu điểm của từng phương pháp Có như vậy các nhà quản lý mới có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định đầu tư chính xác
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản của doanh nghiệp
Tài sản doanh nghiệp cơ bản công bố trên bảng cân đối kế toán thể hiện cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế doanh nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích khái quát về tài sản hướng đến đánh giá cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế quá khứ, hiện tại và những ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp Xuất phát từ mục đích này, phân tích khái quát về tình hình tài chính được thể hiện qua các vấn đề cơ bản sau: đánh giá năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp hiện tại và đánh giá tính hợp lý của những chuyển biến về giá trị, cơ cấu tài sản
Để nhận định được năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp, trước tiên người phân tích nên tiến hành thẩm định giá trị kinh tế thực của tài sản doanh nghiệp nắm giữ, xem xét tình hình chuyển đổi của chúng trên thị trường Cụ thể, việc xem xét này thường được tiến hành theo nội dung cơ bản sau:
+ Xem xét và đánh giá các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp hiện nay trên thị trường có giá trị kinh tế hay không, so với giá trị kế toán trên báo cáo
kế toán cao hay thấp hơn, khả năng chuyển đổi trên thị trường của các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn như thế nào Một khi các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn doanh nghiệp đang nắm giữ có giá trị kinh tế cao hơn giá trị kế toán, khả năng chuyển đổi trên thị trường diễn thuận lợi thì đây là một dấu hiệu tốt về tiềm lực kinh tế các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, dấu hiệu này ít nhất cũng tác động tích cực đến tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ kế toán tiếp theo
+ Xem xét các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán có thực hay không và tình hình thu hồi có diễn ra thuận lợi hay không Thông thường, khi xem xét năng lực kinh tế của các khoản phải thu chúng ta nên quan tâm đến những dấu hiệu của các con
nợ về uy tín, về khả năng tài chính Một khi, các dấu hiệu về con nợ đều lạc quan thì khả năng kinh tế của các khoản nợ phải thu sẽ cao, mức sai lệch giữa giá trị thực với giá trị kế toán nhỏ và nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong kỳ kế tiếp Ngược lại, nếu những dấu hiệu về con nợ bi quan thì giá trị
Trang 1111
kinh tế của nợ phải thu thường sẽ thấp, mức chênh lệch giữa giá trị thực với giá trị kế toán sẽ tăng cao và đôi khi nó chỉ còn tồn tại trên danh mục tài sản doanh nghiệp chỉ là con số kế toán
+ Xem xét các mục hàng tồn kho của doanh nghiệp có tính hữu dụng trong sản xuất kinh doanh và có giá trị kinh tế thực sự trên thị trường hay không
+ Xem xét tài sản lưu động khác có khả năng thu hồi hay không, có ảnh hưởng đến chi phí, thu nhập của doanh nghiệp tương lai hay không
+ Xem xét tài sản cố định của doanh nghiệp hiện có nguyên giá bao nhiêu, hệ số hao mòn như thế nào, giá trị hữu dụng và giá trị kinh tế của nó trên thị trường Nếu một doanh nghiệp có lực lượng tài sản cố định với tổng nguyên giá lớn, hệ số hao mòn nhỏ, tính hữu dụng và giá trị kinh tế trên thị trường cao thì doanh nghiệp có một tiềm lực kinh tế cao Ngược lại, nếu một doanh nghiệp có lực lượng tài sản cố định với tổng nguyên giá lớn, hệ số hao mòn cao, tính hữu dụng và giá trị kinh tế trên thị trường thấp thì doanh nghiệp có một tiềm lực kinh tế kém Ngày nay, những tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nhanh chóng thì giá trị tài sản cố định trên sổ sách kế toán
có xu hướng giảm thấp so với giá thị trường nên đôi khi số liệu tài sản trên bảng cân đối kế toán thường xa rời năng lực kinh tế thực sự của nó Nhiều lúc người phân tích
dễ bị đánh lừa bởi số liệu khổng lồ về giá trị tài sản cố định trên bảng cân đối kế toán nhưng đó chỉ là những tài sản không còn hữu dụng mà doanh nghiệp không thể thanh
lý, nhượng bán được Ngược lại, những tài sản cố định như quyền sử dụng đất, tài sản
vô hình lại có hướng tăng cao nếu không xem xét rõ năng lực kinh tế tài sản cố định rất dễ đánh giá thấp tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp với số liệu trên bảng cân đối
kế toán
Như đã đề cập, việc phân tích khái quát tình hình biến động tài sản còn thể hiện thông qua việc phân tích sự biến động các khoản mục tài sản Phân tích biến động các khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Phân tích biến động các mục tài sản doanh nghiệp cung cấp cho người phân tích nhìn về quá khứ sự biến động tài sản doanh nghiệp Vì vậy, phân tích biến động về tài sản của doanh nghiệp thường được tiến hành bằng phương pháp
so sánh theo chiều ngang (Phân tích theo chiều ngang so sánh các khoản mục cụ thể của báo cáo tài chính qua một số chu kỳ kế toán) và theo chiều dọc (Phương pháp này
là so sánh một số khoản mục với một khoản mục nhất định trong cùng một kỳ kế
Trang 12toán) Quá trình so sánh tiến hành quá nhiều thời kỳ thì sẽ giúp cho người phân tích có được sự đánh giá đúng đắn hơn về xu hướng, bản chất của sự biến động
1.3.2 Phân tích khái quát tình hình biến động nguồn vốn
Tương tự như phân tích khái quát về tình hình biến động tài sản, việc phân tích tình hình biến động nguồn vốn được tiến hành thông qua các vấn đề cơ bản sau: Đánh giá tính hợp lý, hợp pháp nguồn vốn của doanh nghiệp và Phân tích sự biến động các khoản mục nguồn vốn
Để nhận định được tính hợp lý và hợp pháp của nguồn vốn doanh nghiệp, trước hết nên tiến hành xem xét những danh mục nguồn vốn trên báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện có tại một thời điểm có thực không, nó tài trợ cho những tài sản nào, những nguồn vốn này doanh nghiệp được phép khai thác hợp pháp hay không Cụ thể việc xem xét này thường được tiến hành theo nội dung sau:
+ Xem xét và đánh giá các khoản nợ ngắn hạn doanh nghiệp đang khai thác như vay ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả trước, thuế các khoản phải nộp nhà nước có phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán của doanh nghiệp hay
do bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh hình thành
+ Xem xét và đánh giá các khoản nợ dài hạn doanh nghiệp đang khai thác như vay dài hạn, nợ dài hạn khác có phù hợp với mục đích sử dụng dài hạn, phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán dài hạn của doanh nghiệp hay do bị động trong sản xuất kinh doanh hình thành
+ Xem xét và đánh giá các khoản nợ khác như chi phí phải trả, tài sản thừa chờ
xử lý, nhận ký quỹ ký cược dài hạn có thực sự tồn tại và phù hợp với mục đích sử dụng vốn hay không Đặc biệt là chi phí phải trả cần phải được xem xét trong mối quan hệ với kế hoạch dài hạn của chi phí này, tính hiện thực của nó trong tương lai Chi phí phải trả có thể làm giảm lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp và lại làm tăng lợi nhuận trong tương lai Vì vậy, nếu không phân tích rõ nguồn gốc thì dễ nhận xét sai lầm về bức tranh tài chính của doanh nghiệp
+ Xem xét và đánh giá vốn chủ sở hữu doanh nghiệp đang khai thác như nguồn vốn kinh doanh, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản có phù hợp với loại hình doanh nghiệp hay không, phù hợp với quy định tối thiểu về mức vốn cho từng doanh nghiệp, có phù hợp với mục đích trích lập từng loại quỹ hay không
Phân tích biến động các mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh
Trang 1313
doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không và có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Phân tích biến động về nguồn vốn của doanh nghiệp thường được tiến hành bằng phương pháp so sánh theo chiều ngang và theo chiều dọc tương tự như phân tích tình hình biến động các khoản mục tài sản
1.3.3 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho thấy hiệu quả của các chiến lược, chính sách, kế hoạch của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện qua một số chỉ tiêu trong và ngoài báo cáo tài chính của doanh nghiệp như:
Doanh thu thuần: là lượng doanh thu mà doanh nghiệp thực tế nhận được có giá trị bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu không bao gồm giá vốn hàng bán Doanh thu thuần được so sánh qua các năm và so sánh với mục tiêu đạt ra đầu kỳ nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng giảm của doanh thu thuần, trong đó có nhân tố chủ quan là tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu trong kì doanh nghiệp ký được nhiều hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ thì doanh thu thuần sẽ tăng Ngược lại nếu làm ăn kém hiệu quả, doanh thu thuần của doanh nghiệp sẽ giảm xuống Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến doanh thu thuần như: sự biến động của nền kinh tế, của chính sách, luật pháp hay sự cạnh tranh của các đối thủ Nếu nền kinh tế có nhiều biến động tiêu cực như: lạm phát tăng, sức mua yếu, nợ xấu nhiều, hay Nhà nước ban hành các chính sách hạn chế hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp thì doanh thu thuần của doanh nghiệp sẽ giảm Ngược lại, nếu tình hình nền kinh tế tốt, các chính sách của Nhà nước rõ ràng, ổn định và không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thì doanh thu thuần của công ty sẽ tăng lên
Giá vốn hàng bán: phản ánh toàn bộ chi phí mua hàng để sản xuất sản phẩm, hàng hoá Nếu giá vốn hàng bán tăng lên cho thấy doanh nghiệp đang mua nhiều hàng hóa và nguyên vật liệu đầu vào hơn Như vậy, có thể kết luận rằng doanh nghiệp đang
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc do dự đoán được nhu cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụ chuẩn bị tăng nên tăng cường tích trữ hàng hóa Ngược lại giá vốn hàng bán giảm phản ánh doanh nghiệp đang thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc doanh nghiệp đã tìm được nguồn cung cấp hàng hóa, nguyên vật liệu có giá thành thấp hơn Tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cao cho
Trang 14thấy doanh nghiệp đang tốn quá nhiều chi phí cho hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào
và ngược lại
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm: Chi phí bán hàng là chi phí phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hoá như chi phí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao tài sản cố định, vận chuyển, quảng cáo, tiếp thị… và chi phí quản lý doanh nghiệp Sự tăng giảm của chi phí phụ thuộc nhiều vào những chính sách quản lý của doanh nghiệp cũng như tình hình biến động giá cả nguyên vật liệu trên thị trường, chi phí nhân công và các chi phí khác như: điện, nước, chi phí thuê mặt bằng, Thông qua việc so sánh chi phí qua các năm có thể thấy được hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn của của doanh nghiệp Lợi nhuận: là số tiền lãi mà doanh nghiệp có được sau khi lấy doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán và các loại chi phí Sự tăng, giảm của lợi nhuận qua các năm cho thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hiệu quả hay không hiệu quả Lợi nhuận tăng cho thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp đang bán được nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn và chi phí hoạt động, quản lý thấp hơn các năm khác Lợi nhuận giảm lại thể hiện tình hình làm ăn khó khăn của doanh nghiệp do hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém, nhu cầu thị trường giảm hay doanh nghiệp vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của đối thủ cạnh tranh trên thị trường Nếu lợi nhuận lớn hơn hoặc bằng mục tiêu đặt ra từ đầu kỳ thì các chính sách hoạt động, quản lý của doanh nghiệp đưa ra trong kỳ đã thật sự đem lại hiệu quả như
kỳ vọng ban đầu của doanh nghiệp Nếu lợi nhuận thấp hơn mục tiêu đặt ra đầu kỳ thì doanh nghiệp cần xem xét lại các chính sách của mình nhằm đưa ra biện pháp cải thiện khả năng sinh lời
1.3.4 Phân tích cân đối tài sản- nguồn vốn
Mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Mối quan hệ cân đối này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, sử dụng có hợp lý, hiệu quả hay không Mối quan hệ cân đối này được thể hiện qua tài sản ngắn hạn như sau:
Trang 1515
Nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn là điều hợp lý vì dấu hiệu này thể hiện doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn Đồng thời, nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu chuyển tài sản ngắn hạn và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn điều này chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn vì xuất hiện dấu hiệu doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn Mặc dù nợ ngắn hạn có khi do chiếm dụng hợp pháp hoặc có mức lãi thấp hơn lãi nợ dài hạn tuy nhiên chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán cho nên dễ dẫn đến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể đưa đến một hệ quả tài chính xấu hơn
Ngoài ra mối quan hệ cân đối còn được thể hiện thông qua tài sản dài hạn như sơ
đồ sau:
TSCĐ
Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu Đầu tư tài chính dài hạn
Xây dựng cơ bản dở dang
Ký quỹ, ký cược dài hạn
Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ
sở hữu thì đó là điều hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn và cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt được bù đắp từ nợ ngắn hạn là điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Nếu phần tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn điều này chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn Hiện tượng này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn Điều này có thể dẫn đến lợi nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn do mất cân bằng tài chính doanh nghiệp Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn chúng ta cần chú trọng đến nguồn vốn lưu động thường xuyên Nguồn vốn lưu động thường xuyên không những biểu hiện quan hệ giữa cân đối giữa tài sản với nguồn vốn mà nó còn có thể cho chúng ta nhận thức được những dấu hiệu tình hình tài chính trong sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp Vốn lưu động thường xuyên được tính bằng TSNH trừ đi nguồn vốn ngắn hạn hoặc nguồn vốn dài hạn trừ tài sản dài hạn Như vậy, nếu vốn lưu động thường xuyên lớn hơn không và lớn hơn nhu cầu vốn lưu động thiết yếu, thì đây là một dấu hiệu tài chính lành mạnh và đảm bảo cân đối giữa tài sản với nguồn vốn trong hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn nhu cầu tài sản ngắn hạn thiết yếu hoặc âm thì đây là dấu hiệu tài chính bất bình thường và mất cân đối giữa tài sản với
Trang 16nguồn vốn, nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp rối loạn nghiêm trọng hơn, doanh nghiệp mất dần đến toàn bộ vốn sở hữu và đến bờ vực phá sản
1.3.5 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính
1.3.5.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong mỗi giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ
đó Để phân tích đánh giá khả năng thanh toán và các khoản nợ ngắn hạn khi chúng đến hạn thanh toán, người ta sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết khả năng chuyển đổi tài sản có tính
thanh khoản cao thành tiền để đáp ứng nhu cầu trong ngắn hạn và được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp hay không Nếu chỉ tiêu này >=1 thì toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được xem
là có thể chuyển đổi thành tiền để đáp ứng được nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn Nếu <1 thì một phần nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đã được đầu tư vào tài sản dài hạn là những tài sản khó chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán và khi điều này xảy ra doanh nghiệp được gọi là mất khả năng thanh toán về mặt kỹ thuật Nếu mất khả năng thanh toán về mặt kỹ thuật kéo dài sẽ dẫn đến khả năng phá sản của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán thực sự của doanh
nghiệp trước các khoản nợ ngắn hạn, nó cho biết những chỉ tiêu có tính thanh khoản cao nhất trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu nợ ngắn hạn hay không Hệ số này được tính bằng công thức:
Khả năng thanh toán nhanh =
TSNH – hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Trang 1717
Hệ số này Hệ số này thường được so sánh với hệ số trung bình của ngành, thông thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số này > 1 vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán bớt hàng tồn kho
Khả năng thanh toán tức thời cho biết tiền và các khoản tương đương tiền có
đáp ứng được nhu cầu thanh toán cho các khoản nợ ngán hạn của doanh nghiệp hay không và được tính bằng:
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số này Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh mà tỷ số về khả năng thanh toán tức thời bằng bao nhiêu là hợp lý Thông thường, tỷ số này xấp xỉ 0,5 là tốt Nếu quá lớn cho thấy tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới dạng tiền nhiều làm cho hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp sẽ không cao Ngược lại, nếu tỷ số này quá nhỏ lại phản ánh một tình hình tài chính không lành mạnh, khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ phải trả ngay
1.3.5.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt, vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu (không phải cấp tín dụng cho khách) Ngược lại, vòng quay quá nhỏ sẽ làm giảm doanh thu do chính sách cấp tín dụng cho khách hàng được nới lỏng hơn
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải
thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu) Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu tiền trung bình được xác định theo công thức:
Kỳ thu tiền trung bình =
360 Vòng quay các khoản phải thu
Trang 18Tuy nhiên trong nhiều trường hợp kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp chưa thể có kết luận chắc chắn, mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp Mặt khác dù chỉ tiêu này có thể đánh giá là khả quan thì doanh nghiệp cần phải phân tích
kỹ hơn vì tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán đã che dấu đi các khuyết tật trong việc quản trị các khoản phải thu
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu trong doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi Nhờ các chính sách bán chịu mà doanh nghiệp có thể thu hút thêm khách hàng, mở rộng thị trường, duy trì thị trường có sẵn, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị… Tuy nhiên việc bán chịu có thể khiến doanh nghiệp chịu rủi ro, đó là việc giảm giá trị hàng hoá, tốc độ chu chuyển vốn chậm, rủi ro về khả năng thu hồi nợ Do đó doanh nghiệp cần phải quan tâm đến kỳ thu tiền trung bình và đưa ra các chính sách nhằm rút ngắn thời gian này
Vòng quay hành tồn kho cho biết hàng tồn kho quay vòng bao nhiêu lần trong
một kỳ, nó phản ánh mối quan hệ giữa hàng tồn kho và giá vốn hàng bán trong một kỳ kinh doanh theo công thức:
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho
Tỷ số này có giá trị cao sẽ ủng hộ lòng tin của khách hàng vào khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nếu tỷ số thấp sẽ cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh trì trệ
và kém năng động của doanh nghiệp đó Nhưng cũng có thể doanh nghiệp tăng mức
dự trữ nguyên vật liệu khi dự đoán trước giá sản phẩm sẽ tăng hoặc do có sự gián đoạn trong khâu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất Bởi vậy khi so sánh cần có thêm những thông tin về dự trữ nhằm đảm bảo tính chuẩn xác Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Tỷ số này đo lường tính thanh khoản của hàng tồn kho Nếu việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp không hiệu quả sẽ phát sinh chi phí lưu trữ hàng tồn kho làm giá bán tăng
Thời gian quay vòng hàng tồn kho cho ta biết trung bình kể từ khi doanh
nghiệp mua hàng đến khi bán được hàng mất bao nhiêu thời gian theo công thức:
Thời gian quay vòng hàng
360 Vòng quay hàng tồn kho Biến động vòng quay hàng tồn kho có thể do nhiều yếu tố tác động Việc giảm vòng quay hàng tồn kho có thể do bán hàn chậm, quản lý hàng tồn kho kém, do chính sách doanh nghiệp cần dự trữ nguyên liệu do dự doán hoặc biết trước là giá tăng trong
Trang 1919
tương lai,… Ngược lại, việc giảm vòng quay hàng tồn kho nhưng cải tiến áp dụng trong khâu bán hàng, chất lưọng sản phẩm tăng lên Việc doanh nghiệp duy trì hàng tồn kho thấp có thể khiến vòng quay hàng tồn kho tăng lên tuy nhiên tại một số thời điểm có thể doanh nghiệp sẽ không đủ hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của thị trường làm cho doanh thu bị giảm đi
Vòng quay các khoản phải trả người bán cho biết cứ một đồng doanh nghiệp
đi chiếm dụng của các nhà cung cấp thì có bao nhiêu đồng đầu tư cho giá vốn hàng bán Vòng quay các khoản phải trả được tính bằng:
Vòng quay các khoản phải
trả người bán =
GVHB Phải trả người bán Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt Việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
Thời gian trả chậm trung bình =
360 Vòng quay các khoản phải trả người bán Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển tiền hay số ngày bình quân cần thiết để các khoản trả người bán thực hiện một vòng quay trong kỳ Thời gian luân chuyển tiền càng dài càng tốt
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC - Cash Conversion Cycle) được hiểu là
khoảng thời gian từ khi thanh toán các khoản nợ đến khi thu được tiền và được tình theo công thức:
CCC = RCP + ICP – PDP Trong đó,
RCP (Receivable Collection Period) là kỳ thu tiền khách hàng
ICP (Inventory Conversion Period) là kỳ chuyển đổi hàng tồn kho
PDP (Payable Deferral Period) là kỳ thanh toán cho nhà cung cấp
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt càng ngắn thì thì tốc độ thu hồi vốn lưu động càng nhanh, làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp Chu kỳ tiền mặt có thể được rút ngắn bằng cách giảm thời gian chuyển đổi hàng tồn kho qua việc xử lý và bán hàng hóa nhanh hơn hoặc bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng qua việc tăng tốc thu nợ hoặc bằng cách kéo dài thời gian thanh toán qua việc trì hoãn trả nợ cho nhà cung cấp
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản cho biết một đồng tài sản đem lai bao nhiêu
đồng doanh thu và được tính bằng công thức:
Trang 20Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Doanh thu thuần Tổng tài sản Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản vận động nhanh, góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngược lại Tuy nhiên chỉ số này phụ thuộc vào đặc diểm của ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sản trong các doanh
nghiệp
Hiệu số sử dụng TSNH cho biết một đồng TSNH đem lại bao nhiêu đồng doanh
thu và được tính bằng công thức:
Hiệu suất sử dụng TSNH =
Doanh thu thuần TSNH Hiệu suất sử dụng TSNH càng cao, doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả
Hiệu số sử dụng TSDH cho biết một đồng TSDH đem lại bao nhiêu đồng doanh
thu Tương tự như hiệu suất sử dụng TSNH, hiệu suất sử dụng TSDH được tính bằng công thức:
Hiệu suất sử dụng TSDH =
Doanh thu thuần TSDH Hiệu suất sử dụng TSDH càng cao, doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả
1.3.5.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý nợ phải trả
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cho biết trong 1 đồng vốn hình thành nên tài sản của
doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng được tài trợ bằng vốn nợ, qua đó xác định nghĩa
vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ Tỷ số này được xác định bằng công thức:
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản =
Tổng nợ phải trả Tổng tài sản Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành
Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản
Trang 2121
Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay Tuy nhiên thông thường, ở mức 60/40 là chấp nhận được Có nghĩa Hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60)
Tỷ số khả năng trả lãi này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được
nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào
mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ
Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công
ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay
Tỷ số khả năng trả nợ cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng có thể sử dụng
được để chuẩn bị cho mỗi đồng trả nợ gốc và lãi, được xác định bằng công thức:
Tỷ lệ khả năng trả nợ =
GVHB + Khấu hao + EBIT
Nợ gốc + Chi phí lãi vay Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư vào dự án của doanh nghiệp đặc biệt quan tâm Nói chung đến thời điểm trả nợ, nếu K > 1 thì có thể nói là khả năng trả nợ của công ty
là khá tốt, về mặt lý thuyết hệ số này càng cao cho thấy khả năng trả nợ của doanh nghiệp các tốt Tuy nhiên nếu hệ số này cao quá có thể cho thấy thực trạng rằng việc quản lý và luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp là chưa tốt
1.3.5.4 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Đối với doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, nhưng lợi nhuận không phải là chỉ tiêu để chúng ta đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư - sản xuất - tiêu thụ, khả năng quản lý các mặt của doanh nghiệp Muốn đánh giá được tính hiệu quả của quá trình trên thì chúng ta cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với các yếu tố tạo ra lợi nhuận như doanh thu, vốn, Khả năng sinh lợi là kết quả của các quyết định của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, quyết định nguồn tài trợ, trình độ quản lý tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp Để đánh giá khả năng sinh lời ta căn
cứ vào các tỷ số sau:
Trang 22Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) cho biết một đồng doanh thu thuần từ
bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao ROS có công thức tính là:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) là chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá khả
năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư, nghĩa là 1 đồng tài sản bỏ ra có thể thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận và có công thức tính là:
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tốt và đó là nhân tố giúp nhà quản trị quyết định có nên mở rộng sản xuất kinh doanh hay không
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở thì
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận và có công thức là:
Lợi nhuận sau thuế VCSH
Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy
mô và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành
1.3.6 Phân tích mối quan hệ giữu các chỉ tiêu tài chính bằng phương trình Dupont
Các tỷ số phân tích theo phương pháp so sánh được trình bày ở phần trên đều ở dạng một phân số Điều đó có nghĩa là mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm tùy thuộc vào hai nhân tố: mẫu số và tử số của phân số đó Tuy nhiên các tỷ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau Hay nói cách khác một tỷ số tài chính lúc này được trình bày bằng một vài tỷ số tài chính khác, đó chính là nguyên lý của phương trình Dupont
Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ
số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Trang 2323
Hay ROE =ROA* Đòn bẩy tài chính
Ngoài ra, mô hình Dupont còn được khai triển chi tiết qua công thức:
Việc sử dụng nợ trong đầu tư tài sản có tác dụng tăng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và có lợi nhuận trong kì kinh doanh
Sử dụng phương trình Dupont có ưu điểm là giúp doanh nghiệp phát hiện và tập trung khắc phục những điểm yếu của mình Nếu ROE của doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp cùng ngành thì chủ doanh nghiệp và các nhà phân tích có thể dựa vào phương trình Dupont để tìm ra nguyên nhân chính xác Ngoài ra, các chỉ số trên còn dùng để định hướng phát triển doanh nghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khan mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong tương lai Nhà phân tích tài chính có thể kết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ và phương trình Dupont để đưa ra các kết quả phân tích chính xác nhất
1.3.7 Phân tích lưu chuyển tiền thuần
Hầu hết các công ty chỉ tiến hành phân tích tài chính trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mà chưa hề tiến hành phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ Việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ giúp các nhà quản lý thấy
rõ luồng tiền của công ty sinh ra bằng cách nào và công ty đã sử dụng chúng ra sao Mặt khác, dòng lưu chuyển tiền tệ đặc biệt quan trọng đối với một công ty, nó cho phép công ty có thể mở rộng hoạt động của mình, thay thế các tài sản cần thiết, tận dụng các cơ hội của thị trường và chi trả cổ tức cho các cổ đông Chính vì vậy, để hoàn thiện công tác phân tích tài chính thì việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ là không thể thiếu
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện luồng tiền vào ra, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh Báo cáo có 03 phần chính thể hiện các dòng tiền thu/chi đến từ các hoạt động:
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh chủ yếu bắt nguốn từ các hoạt động sinh lời cơ bản của doanh nghiệp Bởi vậy, nhìn chung luồng tiền này là kết quả giao dịch
và sự kiện có tham gia vào việc xác định lãi hoặc lỗ ròng Các luồng từ các hoạt động kinh doanh thường có: tiền nhận được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ; tiền nhận được từ bản quyền, phí, hoa hồng và các doanh thu khác; tiền trả cho người lao động; tiền trả hay khoản hoàn thuế thu nhập (Trừ trường hợp chũng có thể được xác định cụ thể là hoạt động đầu tư hay tài chính); tiền nhận hay trả từ các hợp đồng dùng
Trang 24cho các mục đích mua bán hay thương mại; các giao dịch mua bán máy móc hay mua bán các trái phiếu cho mục đích thương mại…cũng được xem là các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương cho biết công ty đang làm
ăn có hiệu quả, có khả năng trả ngay các khoản nợ đến hạn Ngược lại, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm tức là công ty đang làm ăn thua lỗ, lúc này doanh thu từ việc bán hàng hóa và dịch vụ không đủ trang trải các chi phí phát sinh, ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của công ty
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm:
- Các khoản chi tiền mua nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản vô hình, các tài sản dài hạn khác liên quan đến các chi phí tăng đã được vốn hóa và các nhà xưởng, máy móc, thiết vị tự tạo; các khoản tiền nhận từ bán các nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản vô hình và các tài sản dài hạn khác
- Trả tiền để mua cổ phần hay các công cụ nợ của các doanh nghiệp khác và lợi tức trong các liên doanh; tiền thu từ việc bán cổ phần hay các công cụ nợ từ các doanh nghiệp khác và lợi tức liên doanh
- Tiền trả hoặc thu từ các hợp đồng trong tương lai, hợp đồng kỳ hạn…
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư âm thể hiện quy mô của công ty ngày càng được
mở rộng Bởi vì công ty cần nhiều tiền để đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị hơn
số tiền thu được từ việc khấu hao, thanh lý và nhượng bán tài sản cố định khiến cho doàng tiền từ hoạt động đầu tư bị âm Ngược lại, nếu dòng tiền từ hoạt động đầu tư dương lại cho thấy công ty đang thu hẹp quy mô
Dòng tiền từ hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là những nghiệp vụ làm thay đổi cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Cụ thể: tăng, giảm các khoản vay; tăng giảm VCSH khi huy động, phát hành
cổ phiếu; mua lại trái phiếu, cổ phiếu; trả cổ tức, lợi nhuận giữ lại Nếu lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh không đủ cho hoạt động đầu tư buộc doanh nghiệp phải điều phối dòng tiền từ hoạt động tài chính Đó có thể là một khoản vay sẽ được tăng lên, phát hành thêm cổ phiếu hay là sự giảm đi hoặc thậm chí ngưng trả các khoản cổ tức
Và các dòng thể hiện số tiền mặt có tại thời điểm đầu kỳ, dòng tiền ròng thu được trong kỳ (từ 3 hoạt động chính trên), và số lượng tiền mặt còn lại vào cuối kỳ của báo cáo Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp cho nhà quản trị một số thông tin quan trọng như: Lượng tiền mặt có được hiện tại là do đâu; tiền được sử dụng chủ yếu cho những hoạt động nào; sự khác biệt giữa lợi nhuận và lượng tiền mặt hiện có
Trang 2525
Dòng tiền từ hoạt động tài chính dương cho thấy lượng vốn cung ứng từ bên ngoài tăng, công ty đang tích cực huy động nguồn vốn nợ Ngược lại, dòng tiều từ hoạt động tài chính âm chứng tỏ công ty đang sử dụng nhiều nguồn vốn bên trong doanh nghiệp để hoạt động hơn là huy động nguồn vốn vay bên ngoài
Một số chỉ tiêu phân tích lưu chuyển tiền thuần của doanh nghiệp
- Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Tỷ trọng dòng tiền từ
hoạt động kinh doanh =
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
- Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt
động đầu tư Tổng dòng tiền vào Chỉ tiêu này cho biết trong tổng dòng tiền thu vào có bao nhiêu phần trăm là dòng tiền từ hoạt động đầu tư Chỉ tiêu này âm cho thấy công ty đang tích cực đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất Ngược lại chỉ tiêu này dương lại cho thấy công ty thu hẹp quy mô hoạt động
- Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt động tài chính
Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt
động tài chính =
Lưu chuyển thuần từ hoạt động
tài chính Tổng dòng tiền vào Chỉ tiêu này cho biết trong tổng dòng tiền thu vào có bao nhiêu phần trăm là dòng tiền từ hoạt động tài chính Chỉ tiêu này dương cho thấy công ty đang sử dụng nguồn vốn nợ nhiều hơn và ngược lại chỉ tiêu này âm cho thấy công ty đang sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn
Trang 26Căn cứ vào Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, kết hợp với các thông tin trên các Báo cáo tài chính khác, nhà quản trị có thể nắm được tình hình sử dụng tiền, dự báo lượng tiền cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có các phương án phù hợp như vay vốn hoặc cho vay để tăng hiệu quả sử dụng tiền
1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến sự hoàn thiện trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Chất lượng thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông tin là một vấn đề hết sức cần thiết trong tất cả các lĩnh vực nói chung và trong công tác phân tích tài chính nói riêng Thông tin vô cùng quan trọng và mang tính bắt buộc vì nếu không có thông tin hoặc thiếu thông tin thì không thể thực hiện được hoạt động phân tích tài chính Mặt khác nếu chất lượng nguồn thông tin không tốt sẽ làm giảm chất lượng phân tích vì khi đó các chỉ tiêu phân tích sẽ không chính xác và trở nên không có giá trị với mọi đối tượng
1.4.1.2 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Với nguồn thông tin đã thu thập được, cán bộ phân tích sẽ phải lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình Việc lựa chọn phương pháp phân tích hợp lý sẽ dẫn tới chất lượng công tác phân tích đạt hiệu quả cao và ngược lại, nếu phương pháp phân tích được lựa chọn là không hợp lý thì chất lượng công tác phân tích sẽ không đạt kết quả mong muốn Ngày nay với sự phát triển của công nghệ tin học thì các phương pháp phân tích tài chính ngày càng hoàn thiện hơn Việc áp dụng công nghệ tin học vào phân tích tài chính đã khiến cho kết quả phân tích chính xác, toàn diện, tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí
1.4.1.3 Trình độ cán bộ thực hiện phân tích tài chính
Ngày nay hoạt động phân tích tài chính ngày càng phát triển với việc ứng dụng công nghệ tin học vào phân tích, từ đó đòi hỏi trình độ cán bộ ngày càng phải nâng cao hơn nữa để đáp ứng nhu cầu công việc đặt ra Trong phân tích tài chính doanh nghiệp cán bộ phân tích là người trực tiếp phân tích và đưa ra phương pháp phân tích, vì vậy yếu tố trình độ của cán bộ phân tích là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng tới tất cả các khâu trong quá trong quá trình phân tích Nếu cán bộ phân tích có trình độ và năng lực cao thì công tác phân tích sẽ đạt chất lượng tốt, ngược lại với đội ngũ cán bộ phân tích trình độ thấp thì kết quả đạt được không thể có chất lượng tốt
1.4.1.4 Tổ chức công tác phân tích tài chính
Quy trình phân tích tài chính có nhiều công đoạn khác nhau và mỗi công đoạn được thực hiện bởi một nhóm cán bộ nhất định Việc bố trí hợp lý các công đoạn trong
Trang 2727
quy trình phân tích là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của quá trình phân tích Ngoài ra, mỗi cán bộ có chuyên môn cao trong một công đoạn nhất định, vì vậy việc bố trí họ vào những công đoạn phù hợp với trình độ sẽ làm công tác phân tích tài chính đạt hiệu quả tốt nhất Như vậy yếu tố tổ chức công tác phân tích tài chính cũng là một yếu tố không kém phần quan trọng khi tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1.5 Đặc điểm, đặc thù của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều có những đặc điểm nhất định, riêng biệt Các đặc điểm này thể hiện trong các quyết định đầu tư, lĩnh vực, quy mô hoạt động, mức độ rủi ro và nhiều lĩnh vực khác Do đó mỗi doanh nghiệp cần thiết lập một tiêu chuẩn cho chình mình khi đã đưa các yếu tố này vào xem xét Vì vậy chuẩn mực để đánh giá các doanh nghiệp trong những ngành kinh doanh khác nhau là hoàn toàn khác nhau Như vậy công tác phân tích tài chính ở các doanh nghiệp khác nhau cũng sẽ có những khác biệt nhất định
1.4.2 Nhân tố khách quan
1.4.2.1 Hệ thống pháp lý
Hệ thống pháp lý có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, khuyến khích hay hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống pháp lý ổn định sẽ tạo điều kiện cho các nhà phân tích có thể lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp Ngược lại nếu hệ thống pháp lý không ổn định, thống nhất sẽ gây khó khăn cho quá trình phân tích, dẫn đến các kết quả sai lệch, các quyết định đầu tư kém hiệu quả
1.4.2.2 Hệ số chỉ tiêu trung bình ngành
Hệ số chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phân tích tài chính Dựa vào hệ số chỉ tiêu trung bình ngành ta có thể khẳng định được các tỷ số tài chính của doanh nghiệp là tốt hay xấu, là cao hay thấp, qua đó nhận thấy những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để từ đó vạch ra được chiến lược phát triển cho doanh nghiệp
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH VẬN TẢI HÀ KHÁNH NĂM 2011-2013 2.1 Giới thiệu về Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
2.1.1.1 Giới thiệu về Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Tên công ty bằng tiếng Việt : CÔNG TY TNHH VẬN TẢI HÀ KHÁNH
Tên công ty bằng tiếng nước
vụ 24/7, giao hàng tận nơi (door to door), v.v…, Công ty TNHH vận tải Hà Khánh không chỉ đáp ứng yêu cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ khách hàng giải quyết những vấn đề phát sinh, giúp khách hàng cắt giảm chi phí, tăng sự chủ động của khách hàng trong kế hoạch vận chuyển
Với phương châm: "Chúng tôi không ngừng cải tiến để xứng đáng với danh hiệu nhà cung cấp dịch vụ vận tải với chất lượng cao và ổn định nhất” Công ty TNHH vận tải Hà Khánh đã có được số lượng lớn khách hàng với tần suất thường xuyên và liên tục, tạo công ăn việc làm cho rất đông số lượng công nhân
Trang 2929
Văn phòng được đặt tại Hà Nội và có sự liên kết chặt chẽ với công ty đầu phía Nam để thuận lợi cho khách hàng liên hệ đồng thời triển khai dịch vụ theo nhu cầu nhanh chóng của khách hàng Đội xe được trang bị 100% thiết bị định vị giám sát hành trình vận tải (GPS) đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp và được quản lý bởi phần mềm Quản lý vận tải hiện đại (TMS- Transportation Management System)
2.1.2 Khái quát ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Khi mới thành lập công ty chủ yếu kinh doanh buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là vật tư máy móc, thiết bị phục vụ ngành giao thông vận tải, hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ), là đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa; dịch vụ vận tải hàng hóa Nhưng sau một thời gian phát triển, trước sự đổi mới và phát triển của thị trường công ty mở thêm ngành nghề kinh doanh như: dịch vụ cho thuê kho bãi, nhà xưởng, phương tiện vận tải; dịch vụ bốc xếp hàng
Với vai trò là lĩnh vực kinh doanh đầu tiên khi Công ty được thành lập, vận tải hàng hóa đang tạo ra doanh thu lớn nhất cho công ty Công ty TNHH vận tải Hà Khánh đã có được số lượng lớn khách hàng với tần suất thường xuyên và liên tục, tạo công ăn việc làm cho rất đông số lượng công nhân với bình quân một ngày 2 chuyến khởi hành vận chuyển hàng hóa vào đầu phía Nam, và các chuyến vận chuyển hàng quanh các tỉnh thành phía Bắc được diễn ra liên tục Nó đặc biệt rầm rộ hơn vào 4 tháng cuối năm khi nhu vầu vận chuyển hàng hóa của khách hàng tăng cao trong dịp tết Nguyên Đán
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Một doanh nghiệp ngay từ khi tồn tại đã phải xây dựng và phát triển cơ cấu tổ chức phù hợp thì doanh nghiệp đó sẽ tạo điều kiện cho công ty phát triển một cách toàn diện Do dó, Công ty TNHH vận tải Hà Khánh đã chọn loại hình như sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng Kế toán
Phòng Kỹ thuật
Phòng Hành chính tổng hợp
Trang 30Với mô hình tổ chức quản lý được thể hiện thông qua sơ đồ 2.1 cho thấy công ty đang có cơ cấu tổ chức theo kiểu trực tuyến Cơ cấu tổ chức này đã giúp công ty làm việc hiệu quả, các phòng ban phối hợp một cách hợp lý và giúp công ty thực hiện được mục tiêu trong các năm tiếp theo Dưới đây là chức năng của từng bộ phận:
- Phó Giám Đốc
Giúp việc cho Giám đốc trong quản lý điều hành các hoạt động của công ty theo
sự phân công của Giám đốc;
Chủ động và tích cực triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về hiệu quả của các hoạt động
Thực hiện trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên theo đúng chế độ, đúng thời hạn Theo dõi quá trình chuyển tiền thanh toán của khách hàng qua hệ thống ngân hàng, chịu trách nhiệm quyết toán công nợ với khách hàng Mở sổ sách, lưu trữ các chứng từ có liên quan đến việc giao nhận hàng
- Phòng Kỹ Thuật
Tham mưu cho Giám đốc quản lý các lĩnh vực sau: công tác quản lý và giám sát
kỹ thuật, chất lượng; công tác quản lý vật tư, thiết bị; công tác quản lý an toàn, lao động, vệ sinh môi trường tại các dự án; công tác soát xét, lập, trình duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công kiểm định chất lượng thi công, chất lượng công trình; soát xét trình duyệt hồ sơ hoàn công công trình; Phối hợp với các phòng, ban chức
Trang 3131
năng để tham gia quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; tham mưu cho Lãnh đạo Công ty trong công tác kỹ thuật, công tác phòng chống lụt bão, bảo hộ lao động, thi nâng bậc, giữ bậc, thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
Công tác vật tư và các công tác khác: lập kế hoạch vật tư, thiết bị, công cụ lao động theo kế hoạch hàng năm, để chủ động đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho hoạt động sản xuất của công ty; thực hiện việc quản lý vật tư của Công ty theo đúng quy chế, có trách nhiệm kiểm tra tình hình sử dụng vật tư ở tất cả các bộ phận trong Công ty, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả; thực hiện chế độ báo cáo, quyết toán vật tư, nguyên nhiên liệu theo quy định của của công ty; ban hành các biểu mẫu, sổ sách phục vụ việc quản
lý vật tư; làm thường trực Hội đồng thẩm định giá của công ty; trực tiếp thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng; thực hiện các nhiệm vụ khác về lĩnh vực kế hoạch kỹ thuật theo sự phân cấp, giao quyền của Giám đốc
- Phòng hành chính tổng hợp
Phòng Hành chính – Tổng hợp là bộ phận tham mưu, giúp việc tổng hợp cho Giám đốc trong công tác: kế hoạch tổng hợp; tài chính – kế toán; tổ chức – cán bộ; thi đua – khen thưởng – kỷ luật; văn thư – lưu trữ; hành chính quản trị; quản lý tài sản – tiền của công ty
Hướng dẫn các phòng thuộc công ty xây dựng các kế hoạch công tác; Tổng hợp
kế hoạch, xây dựng kế hoạch chung của công ty Theo dõi, đôn đốc việc triển khai và đánh giá chất lượng việc thực hiện các kế hoạch đã được duyệt; đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch, đề xuất các biện pháp quản lý, thực hiện Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc bất thường với cơ quan quản lý cấp trên theo quy định Thực hiện công tác tài chính – kế toán theo quy định Quản lý biên chế, lao động; thực hiện chế độ, chính sách về tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức của công ty
Tham mưu kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch về công tác tổ chức – cán bộ; văn thư – lưu trữ; hành chính – quản trị; bảo đảm an toàn, trật tự trong công ty; phục
vụ công tác đối ngoại và các hoạt động chuyên môn của công ty Tham mưu kế hoạch
và tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật; Thường trực Hội đồng thi đua – khen thưởng của công ty Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
Trang 322.2 Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty TNHH vận tải
Đối với phương pháp so sánh: Công ty sử dụng để phân tích các Báo cáo tài chính, qua đó xem xét cấu trúc tài sản, nguồn vốn, phát hiện các đặc trưng trong phân
bố tài sản và nguồn vốn Công ty sử dụng phương pháp này vì nó tương đối đơn giản,
so sánh giữa số liệu năm nay với số liệu năm trước để thấy mức độ tăng trưởng, so sánh số thực hiện với số kế hoạch để đánh giá mực độ hoàn thành so với kế hoạch đã
đề ra
Đối với phương pháp tỷ số: Công ty tiến hành phân tích cả 4 nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời Việc xem xét các nhóm chỉ tiêu này cho thấy cơ cấu vốn, đánh giá khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động và quan trọng nhất là xem xét khả năng sinh lời của Công ty
Công ty vẫn chưa sử dụng phương pháp phân tích Dupont mặc dù đây là một phương pháp đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên nó khá mới mẻ, đòi hỏi phải sử dụng kinh tế lượng để đánh giá sự tác động của các chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp
và giữa các chỉ tiêu thành phần với nhau
2.2.2 Thực trạng tổ chức phân tích tài chính của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Trong những năm gần đây, Công ty đã tiến hành công tác phân tích tài chính, nhưng hiện nay việc tổ chức hoạt động này vẫn còn khá sơ sài, mang tính hình thức bắt buộc, chưa thực sự vì mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính mà mới chỉ dừng lại ở mức thực hiện đúng theo chủ trương của chế độ kế toán mới Chưa xây dựng được một quy trình phân tích hoàn chỉnh từ xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích mà chỉ lặp lại các phương pháp, nội dung phân tích tài chính từ năm này qua năm khác Công ty cũng chỉ phân tích tài chính môt lần duy nhất vào cuối chu kỳ kình doanh (vào cuối mỗi năm) Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do Công
Trang 332.2.3 Thực trạng thông tin sử dụng để phân tích tài chính của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Thông tin được Công ty sử dụng trong phân tích tài chính là các báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, và thuyết minh Báo cáo tài chính Các báo cáo này do phòng Tài chính- Kế toán tiến hành tổng hợp và lập định
kỳ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ mặc dù đã được lập nhưng chưa được công ty sử dụng trong phân tích Công ty thường sử dụng số liệu từ các BCTC này trong ba năm liên tiếp gần nhất để tiến hành so sánh, phân tích
Ngoài những thông tin có được từ các Báo cáo tài chính trên, công ty hầu như không sử dụng thêm một nguồn thông tin nào từ bên ngoài như thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất, các thông tin liên quan đến ngành nghề hoạt động,… Đây là một thực tế không chỉ của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh mà của hầu hết các công ty ở Việt Nam hiện nay
Trang 342.2.4 Thực trạng nội dung phân tích tài chính của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
2.2.4.1 Phân tích tình hình biến động tài sản- nguồn vốn của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Phân tích tình hình biến động tài sản của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Bảng 2.1 Tình hình biến động tài sản của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh giai đoạn năm 2011-2013
Trang 3535
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản ngắn hạn và dài hạn
(Nguồn: Tổng hợp từ BCTC)
Qua biểu đồ 2.1, ta nhận thấy trong ba năm gần đây tài sản ngắn hạn luôn chiếm
tỷ trọng rất lớn trên tổng tài sản và ngày càng có xu hướng tăng lên Cụ thế, năm 2011 tài sản ngắn hạn chiếm 87%, năm 2012 là 99% và đến năm 2013 là 99,6% Là một Công ty chuyên về lĩnh vực vận tải, vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa, đáng nhẽ ra công ty TNHH vận tải Hà Khánh phải có tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm phần lớn trên tổng tài sản, thế nhưng thực tế tài sản dài hạn của Công ty lại rất thấp và càng ngày càng có xu hưởng giảm sút Nguyên nhân là do công ty không chịu đầu tư mua mới tài sản cố định, cụ thể là các xe vận tải phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Tài sản cố định cả công ty hầu hết là các xe vận tải đã cũ do vậy chi phí khấu hao ngày càng lớn khiến giá trị tài sản cố định ngày càng giảm kéo theo tài sản dài hạn giảm Việc không đầu tư cho đoàn xe vận tải sẽ khiến công ty không đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty
Tổng tài sản của Công ty trong giai đoạn năm 2011-2013 luôn có xu hướng tăng lên, cụ thể là năm 2012 tổng tài sản tăng 19,28% so với năm 2011, còn năm 2013 tổng tài sản tăng 28,71% Sự tăng lên này chủ yếu là do tài sản ngắn hạn tăng lên với mức tăng trung bình là khoảng 32,4%, trong khi đó tài sản dài hạn lại tụt giảm đến 68,4% vào năm 2012 và 239,54% vào năm 2013
Tài sản ngắn hạn của Công ty tăng lên là do:
Trong tổng tài sản ngắn hạn thì tiền và các khoản tương đương tiền của công ty
chiếm tỷ trong khá lớn trong cả ba năm liền Cụ thể là năm 2011, tiền và các khoản tương đương tiền chiếm 44,02% trên tổng tài sản ngắn hạn, năm 2012 tăng mạnh lên 79,66%, còn đến năm 2013 thì giảm còn 75,38% Việc tăng cường dự trữ tiền mặt của
Trang 36công ty là khá hợp lý bởi lẽ tiền mặt với tính thanh khoản cao sẽ giúp công ty tăng khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán ngắn hạn của mình, nhất là trong bối cảnh
nợ ngắn hạn của công ty năm 2012 đã tăng 103,86% so với năm 2011, còn năm 2013 tăng 86,35% so với năm 2012 Tuy nhiên, từ bảng 2.1 ta có thể dễ dàng nhận thấy, lượng tiền Công ty dữ trữ nhiều gần như gấp đôi các khoản nợ ngắn hạn Lượng tiền đấy do không được đưa vào sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên không những không đem lại lợi nhuận cho công ty mà ngược lại còn khiến công ty phát sinh thêm chi phí cơ hội và chi phí quản lý khoản tiền này Công ty cần tính toán lại mức
dự trữ tiền tối ưu để sao cho có hiệu quả sử dụng tài sản là tốt nhất, tránh tình trạng bị đọng vốn
Các khoản phải thu ngắn hạn có biến động bất ổn trong ba năm gần đây Năm
2012, các khoản phải thu ngắn hạn giảm 65,89% so với năm 2011 do không phát sinh các khoản phải thu khách hàng như năm trước Các khoản phải thu ngắn hạn trong năm 2012 chủ yếu phát sinh từ số tiền Công ty đã trả trước cho người bán từ năm 2011
mà chưa được thanh toán Năm 2013, các khoản phải thu ngắn hạn tăng 142.169.149 VNĐ (tương đương 276,93%) so với năm 2012 Nguyên nhân là do trong năm công ty
đã tìm kiếm được nhiều hợp đồng hơn, các dự án thực hiện cũng nhiều hơn và điều này cũng chứng tỏ công ty đã nới lỏng chính sách tín dụng với khách hàng hơn so với năm 2012 Thật vậy, nếu như năm 2012, chích sách tín dụng của công ty là 2/10net15 thì sang đến năm 2013, chinh sách tín dụng đã được điều chỉnh là 2/10net20, tức là thời gian cho khách hàng thanh toán chậm đã tăng thêm 5 ngày Hơn thế nữa, công ty còn hạ tiêu chuẩn tín dụng bằng cách cho các công ty có tình hình tín dụng và mức thế chấp thấp hơn trước đây được thanh toán chậm nhằm tăng lượng khách hàng mới, mở rộng thị phần và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, tỷ lệ này là khá cao, vì vậy công ty cần phải tăng cường thu các khoản nợ để tránh bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn bằng các giải pháp như đưa ra tỷ lệ chiết khấu cao cho những khách hàng thanh toán sớm
Hàng tồn kho cũng có biến động khá là bất ổn trong ba năm 2011-2013 Năm
2012, Hàng tồn kho giảm mạnh từ 64.055.881 VNĐ vào năm 2011 xuống còn 11.924.561 VNĐ, tức giảm 81,38% Hàng tồn kho của Công ty chủ yếu là các nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ phục vụ cho ngành vận tải Do trong năm 2012 tình hình nền kinh tế khó khăn nên Công ty đã hạn chế lượng hàng tồn kho để tối đa hóa nguồn tiền mặt cho hoạt động sản xuất kinh doanh Năm 2013, hàng tồn kho tăng 7.651.306 VNĐ (tương đương 64,16%) so với 2012 Nguyên nhân là do ngoài việc cung cấp các dịch vụ vận tải, Công ty TNHH vận tải Hà Khánh mới đầu tư buôn bán các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ
Trang 3737
ngành giao thông vận tải, ngành may mặc và thủ công mỹ nghệ) Việc tăng cường dự trữ hàng tồn kho sẽ tăng khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và nhu cầu của khách hàng Tuy nhiên, lượng tồn khó quá lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và làm cho vòng quay vốn bị chậm lại, chưa kể còn phát sinh nhiều chi phí khác như: chi phí thuê nhà kho, chi phí bảo quản, dự phòng giảm giá hàng tồn kho Do vậy, Công ty cần
có biện pháp thích hợp để tăng hiệu suất của chu trình sản xuất kinh doanh, tăng số lương khách hàng và xác định chuẩn xác hơn về nhu cầu dự kiến trong tương lai để lượng hàng tồn kho là tối ưu nhất nhằm giảm chi phí dự trữ kho và tăng lợi nhuận của mình
Tài sản ngắn hạn khác có xu hướng giảm trong ba năm gần đây Năm 2011 tài
sản ngắn hạn khác là 186.597.182 VNĐ chiếm 26,04% trên tổng tài sản ngắn hạn, năm
2012 tài sản này là 134.054.776 VNĐ, giảm 28,16% so với năm trước, chiếm 13,82% tổng tài sản ngắn hạn, đến năm 2013 tài sản ngắn hạn khác chỉ là 68.759.525 VNĐ, giảm 48,71% và chiếm tỷ trọng 2,6% Tài sản ngắn hạn khác của công ty chủ yếu phát
sinh từ thuế GTGT được khấu trừ và các khoản phải thu Nhà nước
- Thuế GTGT được khấu trừ năm 2012 và năm 2013 đều giảm so với năm trước
Cụ thế là năm 2012 giảm 49.944.044 VNĐ, tương đương giảm 41,49%, năm 2013 giảm 45.918.146 VNĐ, tương đương 65,19% Thuế GTGT phát sinh chủ yếu do công
ty mua các phụ tùng thay thế cho các đầu xe vận tải và đầu tư vào cơ sở hạ tầng của mình Do công ty tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên đã được khấu trừ khoản thuế GTGT đã đóng Tuy nhiên trong hai năm gần đây do công ty hạn chế phát sinh các khoản đầu tư vào thay thế vật tư phụ tùng cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng nên phần thuế GTGT được khấu trừ giảm
- Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước năm 2012 là 63.620.617 VNĐ,
giảm 3,92% so với năm 2011 Sang đến năm 2013 là 44.243.502 VNĐ giảm 30,46%
so với năm 2012 Do trong năm 2012 công ty có số thuế thu nhập doanh nghiệp lớn hơn số thuế tạm nộp nên phần thuế tạm nộp chênh lệch được hoạch toán vào khoản thuế và các khoản phải thu Nhà nước năm 2013 khiến cho khoản này giảm xuống
Tài sản dài hạn giảm mạnh từ 104.495.298 VNĐ vào năm 2011 xuống
5.000.000 VNĐ vào năm 2013 do những nguyên nhân sau:
Tài sản cố định năm 2012 có biến động mạnh so với năm 2011 khi tụt giảm từ
75.357.514 VNĐ xuống còn 3.399.992 VNĐ Như đã giải thích ở trên, sự giảm sút của tài sản cố định là vì chi phí khấu hao của công ty ngày càng lớn trong khi giá trị tài sản
cố định lại không tăng lên do Công ty không đầu tư mua mới tài sản cố định Năm
2013, tài sản cố định không có biến động do thị trường trong nước còn chịu nhiều tác động của khủng hoảng kinh tế khiến Công ty không có kế hoạch mở rộng quy mô kinh
Trang 38doanh Do đó, Công ty không đầu tư vào mua mới hay thuê thêm tài sản cố định Tài sản cố định của công ty chủ yếu là các xe vận tải cũ, đã được trích khấu hao hết Vì vậy trong thời gian tới công ty nên có kế hoạch đầu tư vào việc mua mới TSCĐ để tăng chất lượng phục vụ khách hàng cũng như tăng lợi thế cạnh tranh của mình với các đối thủ trên thị trường
Tài sản dài hạn khác cũng giảm mạnh trong ba năm 2011-2013 Cụ thể là năm
2012, tài sản dài hạn khác là 5.796.632 VNĐ, giảm 80,11% so với năm 2011 Sang đến năm 2013, tài sản dài hạn khác lại giảm tiếp 72,4% xuống còn 5.000.000 VNĐ Tài sản dài hạn khác của công ty chủ yếu là chi phí trả trước dài hạn phát sinh khi công
ty thực hiện trả trước tiền thuê kho bãi cho đoàn xe vận tải Tuy nhiên, do ảnh hưởng
từ khủng hoảng kinh tế khiến công ty gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, công ty hạn chế trả trước các chi phí dài hạn để duy trì nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Phân tích tình hình biến động nguồn vốn của Công ty TNHH vận tải
Hà Khánh
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
giai đoạn năm 2011-2013
(Nguồn: Tổng hợp từ BCTC)
Trong ba năm 2011-2013, tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn ngày càng có xu hướng tăng lên khiến cho tỷ trọng nợ phải trả giảm xuống, mặc dù về mặt thực tế số nợ phải trả vẫn tăng Tuy nhiên, nhìn vào biểu đồ cơ cấu nguồn vốn, ta có thể dễ dàng nhận thấy nợ phải trả chiếm đa số tỷ trọng trên tổng nguồn vốn của Công
ty Là một Công ty chuyên về lĩnh vực vận tải nên cần rất nhiều vốn để đầu tư cho tài
Trang 3939
Bảng 2.2 Biến động nguồn vốn Công ty TNHH vận tải Hà Khánh
Đvt: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
I Nợ phải trả 509.076.701 273.176.691 134.000.000 235.900.010 86,35% 139.176.691 103,86%
1.Nợ ngắn hạn 509.076.701 273.176.691 134.000.000 235.900.010 86,35% 139.176.691 103,86% Người mua trả tiền trước 350.076.701 139.176.691 210.900.010 151,53% 139.176.691
Trang 40sản cố định, do vậy việc Công ty tăng cường chiếm dụng nguồn vốn từ bên ngoài là rất cần thiết Nhưng sự tăng lên của vốn chủ sở hữu trong ba năm gần đây cũng là một dấu hiệu tốt, nó khiến Công ty ít bị phụ thuộc vào các nguồn vốn huy động từ bên ngoài, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được ổn định, nhất là trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế như hiện nay
Tổng nguồn vốn trong ba năm đều có xư hướng tăng, cụ thể là năm 2012 tổng
nguồn vốn là 979.339.775 VNĐ, tăng 19,28% so với năm 2011 Năm 2013 là 1.260.548.905 VNĐ ( tương đương 28,71%) so với 2012 do những nguyên nhân sau:
Nợ phải trả tăng khá nhanh từ 134.000.000 VNĐ vào năm 2011 lên 509.076.701
VNĐ vào năm 2013, tương đương tăng 280% Nợ phải trả chủ yếu phát sinh từ các khoản người mua trả tiền trước và các khoản phải trả khác
- Người mua trả trước không phát sinh vào năm 2011 nhưng đến năm 2012
khoản này là 139.176.691 VNĐ và năm 2013 là 350.076.701 VNĐ, tăng 151,53% so với năm 2012 Việc gia tăng vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp hoặc bên mua ứng trước
sẽ giảm bớt áp lực chi phí và đi vay từ ngân hàng của công ty Từ đó cũng thể hiện công ty kinh doanh có uy tín nên được bạn hàng tin tưởng cho phép trả chậm Tuy nhiên việc tăng quá mức các khoản phải trả và kéo dài kỳ hạn của các khoản này sẽ gây áp lực đến khả năng chi trả, thanh toán các khoản nợ của công ty Vì vậy công ty cần có chính sách hợp lý để có thể giao trả hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng đúng hạn Như vậy sẽ không ảnh hưởng đến uy tín cũng như không phát sinh các chi phí lãi vay hay tiền phạt cho bên mua do không trả hàng đúng hạn
- Ngoài ra, các khoản phải trả ngắn hạn khác năm 2012 không có biến động gì
so với năm 2011, nhưng năm 2013 các khoản phải trả ngắn hạn khác là 159.000.000 VNĐ, tăng 18,66% Nguyên nhân là do một số tài sản Công ty đi thuê mặt bằng như văn phòng làm việc và kho bãi bị đáng giá lại và giá trị của chúng đã tăng lên so với trước đây Chênh lệch giá phát sinh do đánh giá lại các tài sản đó khiến cho khoản phải trả ngắn hạn khác của Công ty tăng lên
Vốn chủ sở hữu tăng từ 687.064.869 VNĐ vào năm 2011 lên 751.472.204 VNĐ
vào năm 2013, tương đương tăng 9,37%, nguyên nhân là do:
Vốn đầu tƣ của chủ sở hữu không có biến động gì trong ba năm gần đây, vẫn
giữ ở mức 470.500.000 VNĐ là do những khó khăn trong thị trường vận tải đã khiến cho công ty không thể mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ có thể tiếp tục duy trì quy mô của công ty ổn định như các năm trước
Lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối có xu hướng tăng dần trong ba năm gần
đây Cụ thể, năm 2012 tăng 8,82% so với năm 2011 và năm 2013 tăng 45.309.120 VNĐ tương đương 19,23% so với năm 2013 Do tình hình nền kinh tế trong những