Từ đó, ông khẳng định rằngnhiệm vụ chủ yếu của tôn giáo là duy trì một cách tích cực sự vận hành bình thường của cuộcsống, những ý tưởng về thần bí chỉ là những ý tưởng do của chính con
Trang 1CÁC CHUYÊN ĐỀ THAM KHẢO CỦA XÃ HỘI HỌC
TÔN GIÁOCHUYÊN ĐỀ 1: QUAN ĐIỂM CỦA EMILE DURKHEIM VỀ TÔN GIÁO
Emile Durkheim (1858 – 1917), nhà xã hội học nổi tiếng của Pháp, là người đặt nềnmóng xây dựng chủ nghĩa chức năng và chủ nghĩa cơ cấu Sự nghiệp của ông gắn liền nhữngcông trình nghiên cứu đồ sộ, đóng góp một phần không nhỏ cho khối kiến thức nền tảng của
xã hội học Những tác phẩm lớn nhất không thể không kể đến của Durkheim là cuốn Phân
công lao động trong xã hội (1893), Các qui tắc của phương pháp xã hội học (1895), Tự tử
(1897) và Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo (1912)
I Quan điểm của Emile Durkheim về tôn giáo trước năm 1895
Những công trình nghiên cứu thời kì này của Emile Durkheim có trọng tâm là các vấn
đề xã hội như sự phân công lao động hay hiện tượng tự tử Tuy nhiên, trong một phần khôngnhỏ của những công trình nghiên cứu, Durkheim vẫn đặt những vấn đề xã hội mà ông quantâm trong mối quan hệ mật thiết với tôn giáo Cụ thể, trong những công trình lớn, tôn giáođược đề cập tới như sau:
Trong cuốn Phân công lao động trong xã hội, tôn giáo được coi là một yếu tố cố kết
các cá nhân trong sự chia rẽ bởi sự phân công lao động Bằng cách tạo ra nhận thức chung củatất cả những thành viên trong xã hội về một vài hiện tượng, một vài hành vi mà tôn giáo tạonên một sự cố kết trực tiếp giữa các thành viên của một xã hội kém phát triển Khi xã hội đó
có những bước tiến vượt bậc về mọi mặt, sự cố kết bền chặt, mạnh mẽ giữa các cá nhân trởnên lỏng lẻo hơn nhưng không hoàn toàn mất đi Các công đoạn của hoạt động sản xuất càngđược chuyên môn hoá cao thì tính phụ thuộc lẫn nhau của chúng càng được gia tăng Cácthành viên trong xã hội phát triển cũng vậy, họ càng được tự do và tự chủ nhưng cũng vẫnphải phụ thuộc vào nhau thông qua các thiết chế xã hội cơ bản, một trong số đó là tôn giáo.Vậy tôn giáo dù có tồn tại ở xã hội với những kiểu đoàn kết nào thì vẫn là yếu tố gắn kết cácthành viên
Tương tự như vậy, trong cuốn Tự tử, Durkheim cũng bàn đến tôn giáo như là chất keo
kết nối các thành viên trong một xã hội Nghiên cứu về hiện tượng tử tự trong xã hội đươngthời với những số liệu cụ thể đã chỉ ra vai trò của tôn giáo đối với vấn đề xã hội này Theoông, tôn giáo là một trong những yếu tố cơ bản làm giảm thiểu các vụ tự tử vị kỉ, nhưng cũngkhuyến khích hình thức tự tử vị tha Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt về sốlượng người tự tử trong những tôn giáo khác nhau Sự phong phú về hệ thống giáo lý, giáo
Trang 2điều, giáo luật, về thế giới quan, về các nghi lễ, nghi thức tôn giáo… là những biến độc lậpchi phối tỉ lệ tự tử khác biệt này Qua đây, tôn giáo được đề cập đến như một yếu tố trực tiếptác động tới hiện tượng tự tử
Tựu chung lại, tôn giáo đã là mối quan tâm của Durkheim trong những nghiên cứutrước 1895 Tuy nhiên, trong những nghiên cứu này, tôn giáo chỉ được đề cập tới như là yếu
tố không thể thiếu của đoàn kết xã hội Hơn nữa, tôn giáo trong những nghiên cứu này “phảngphất” những quan điểm của các nhà khoa học tiền nhiệm như Comte, Rousseau, SaintSimon… Chỉ sau khoảng năm 1895, khi ông được “thức tỉnh” bởi những tác gia lớn ngườiAnh, tôn giáo mới chiếm được vị trí “độc tôn” trong mối quan tâm nghiên cứu của Durkheim
II Quan điểm của Emile Durkheim về tôn giáo sau năm 1895
Có thể nói, thời kì này tôn giáo là mối quan tâm hàng đầu của Emile Durkheim Sốlượng những bài báo, bài luận hay những nghiên cứu về tôn giáo của ông chưa từng nhiều nhưvậy Nhưng điều đáng nói là sự xuất hiện của tôn giáo trong những nghiên cứu về sau nàymang đậm cái nhìn và quan điểm của Durkheim Đặc biệt nhất trong những nghiên cứu về tôn
giáo là bộ ba cuốn sách trong Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo, xuất bản năm
1912 Khác với việc sử dụng hàng loạt số liệu khi nghiên cứu về tự tử, tác phẩm lớn cuối cùngcủa Durkheim tập trung nghiên cứu duy nhất trường hợp của những bộ lạc thổ dân châu Úc,nơi tôn giáo được coi là chiếm giữ những “hình thức sơ đẳng” và tồn tại một cách “nguyênthuỷ” nhất Trong bộ sách này, Emile Durkheim đã bàn đến hai vấn đề lớn khi nghiên cứu tôn
giáo Một là, sự xuất hiện của tôn giáo như một sản phẩm của đời sống hiện thực xã hội Hai
là, nghiên cứu bàn đến những thành phần cơ bản của một tôn giáo nguyên thuỷ Qua việc làm
rõ hai vấn đề trên, Emile Durkheim cũng chỉ ra được ảnh hưởng của tôn giáo tới các cá nhântrong xã hội
1 Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Trong cuốn sách đầu tiên của bộ ba tác phẩm nghiên cứu Những hình thức sơ đẳng
của đời sống tôn giáo, Emile Durkheim đã dẫn nhập tới cái gốc rễ xã hội thông qua việc đưa
ra định nghĩa của cá nhân ông về hiện tượng tôn giáo và tôn giáo Phủ nhận những định nghĩa
về tôn giáo bắt nguồn từ yếu tố tự nhiên và thuyết vật linh, tôn giáo và những hiện tượng tôngiáo được đĩnh nghĩa thông qua hệ thống những yếu tố tồn tại một cách hiện thực và cấuthành một xã hội
1.1 Phê phán tiền khái niệm
Trước khi đưa ra định nghĩa của riêng mình, ông cũng xem xét lại những quan niệm
thông thường về tôn giáo Khái niệm đầu tiên, và được coi là tiêu biểu về tôn giáo là khái
niệm siêu nhiên Theo khái niệm này, tôn giáo là tất cả những cái gì mà khoa học không thể
giải thích được, thuộc thế giới của thần bí Mặc dù thừa nhận vai trò quan trọng của cảm nhận
Trang 3thần bí trong một số tôn giáo, cụ thể là trong Kitô giáo, nhưng Durkheim cũng cho rằng cảmnhận đó có thể xuất phát từ một ý tưởng bị khuất phục với những hiện tượng vĩ đại của thiênnhiên Khái niệm thần bí xuất hiện rất muộn trong lịch sử tôn giáo, vì vậy nó hoàn toàn xa lạvới tôn giáo nguyên thủy Theo Durkheim, những điều thần bí đối với những người có lòngtin không có gì là kì lạ hay phi lý Ông so sánh những nghi thức để đảm bảo đất đai phì nhiềuhay sự sinh sôi nảy nở của vạn vật trong quan niệm của những tín đồ tôn giáo đó cũng giốngnhư những suy nghĩ logic về những biện pháp kĩ thuật của khoa học vậy
Đối với ý tưởng về siêu nhiên, Durkheim cho rằng để có thể xác định được cái gì là
hiện tượng siêu nhiên thì trước hết phải có trật tự tự nhiên của mọi vật, tức là xác định các qui
luật, quan hệ mà theo đó mọi hiện tượng gắn liền với nhau, đó là những khái niệm quyết địnhluận vũ trụ Khi đó, tất cả những gì vi phạm qui luật đó đều nằm ngoài tự nhiên và ngoài lýtrí Ông cũng khẳng định rằng, chỗ đứng của nguyên tắc quyết định luận vũ trụ trong khoahọc xã hội vẫn còn chưa vững chắc Vì thế nên, niềm tin vào sự phụ thuộc của xã hội vào cácqui luật thiết yếu và tạo nên một giới tự nhiên vẫn còn chưa chắc chắn, và kết quả của nó làlòng tin vào phép mầu Ông lý giải rằng, sự tồn tại của lòng tin vào những điều thần bí khôngnằm ở chỗ xã hội “tối tăm và bí hiểm” mà nằm ở chỗ con người bằng lòng với cách giải thích
đó, cách giải thích đó làm họ cảm thấy sáng tỏ hơn cả những luận đề của khoa học mà họchưa muốn thừa nhận Nói về những điều bất ngờ, ông khẳng định, “siêu nhiên không hề dẫnđến điều bất ngờ”, ông cho rằng, ngay cả trong trật tự của các hiện tượng thì vẫn có nhữngngoại lệ Chính vì thế, nếu chỉ chứng kiến những điều bất ngờ mà không thấy được rằngnhững hiện tượng đó gần như là không thể có được thì không thể có được ý tưởng về cái siêunhiên Các khái niệm tôn giáo cần phải phù hợp với khái niệm về cái dị thường và bất ngờ, vàđiều quan trọng là các khái niệm tôn giáo không dùng để giải thích những cái đặc biêt bấtthường mà giải thích những điều thường xuyên và bình thường Từ đó, ông khẳng định rằngnhiệm vụ chủ yếu của tôn giáo là duy trì một cách tích cực sự vận hành bình thường của cuộcsống, những ý tưởng về thần bí chỉ là những ý tưởng do của chính con người tạo ra và chỉ làđặc tính của riêng một số tôn giáo nên không thể coi đó là đặc tính của các hiện tượng tôngiáo
Một cách định nghĩa khác về tôn giáo đó là dựa trên những quan niệm về thần linh.Durkheim đã thay thế chữ thần linh bằng tên gọi “thực thể tâm linh” để có thể có một cáchhiểu đầy đủ hơn Thực thể tâm linh được ông định nghĩa là “những vật có ý thức, cao hơn conngười binh thường; sự đánh giá đó phù hợp với linh hồn người chết, thần linh, ma quỉ cũngnhư với thượng đế Tôn giáo được coi như có mục đích là điều hòa quan hệ giữa con người vànhững vật thể đó, và chỉ có thể có tôn giáo khi cầu kinh, hiến tế và lễ cầu phúc… Đó là địnhnghĩa do thói quen tư duy của con người có được từ giáo dục tôn giáo Để lý giải những sự
Trang 4kiện không thể vận dụng định nghĩa trên những vẫn thuộc về tôn giáo, ông đưa ra quan niệm
về tôn giáo vô thần với ví dụ về Phật giáo Ông cho rằng Phật giáo “vô thần theo nghĩa nókhông quan tâm đến vấn đề có hay không có thượng đế”, nội dung căn bản nhất trong giáo lýđạo phật và Tứ diệu đế và Bát chính đạo, những điều chỉ dẫn con người tự thoát khỏi khổhạnh mà không phải dựa vào bất cứ một quyền lực hay thần linh nào Ông cũng chỉ ra rằng sựtồn tại của những bậc bồ tát trong Phật giáo không phải do quyền lực hơn người của họ màchỉ là do “mức độ tăng tiến” của họ trên con đường ngộ đạo Chính vì vậy, thực chất của Phậtgiáo không nằm ở tính thần linh mà nằm ở khái niệm về giải thoát và tự giải thoát Durkheimcũng chỉ ra rằng có sự tồn tại của những nghi thức không mang ý tưởng về thần linh của chínhnhững tôn giáo hữu thần Từ đó ông đưa ra kết luận về tính thần linh của tôn giáo, ông khẳngđịnh rằng tôn giáo vượt ra khỏi ý tưởng về thần linh hay ma quỉ, vì vậy không thể coi tôn giáochỉ là để giải thích riêng về chức năng của thần linh
1.2 Định nghĩa tôn giáo
Ngoài việc phê phán những khái niệm, định nghĩa tôn giáo như những yếu tố siêunhiên, Emile Durkheim còn đưa ra định nghĩa về tôn giáo theo quan điểm riêng của mình:
“Tôn giáo là một hệ thống thống nhất của niềm tin tôn giáo và những nghi thức tôn giáo có liên quan tới những yếu tố thiêng liêng hay những điều không nên làm và cấm kị Những niềm tin và nghi thức tôn giáo được thống nhất lại và tựu chung trong một tổ chức duy nhất là Nhà thờ Tất cả những người tham gia vào và gắn bó với tổ chức ấy được coi là những thành viên chính thức của tổ chức”.
Emile Durkheim đã chấm dứt vứt bỏ những yếu tố siêu nhiên hay thần thánh của tôngiáo mà gắn chặt tôn giáo với những yếu tố hiện thực trong định nghĩa của mình Niềm tin tôngiáo hay những nghi thức tôn giáo đều là sản phẩm của quá trình hình thành nên xã hội.Những điều thiêng liêng hay những cấm kị đều được đặt ra bởi tập thể những người cùng sinhsống trong một xã hội Hiện thực nhất phải kể đến sự tồn tại của yếu tố nhà thờ trong địnhnghĩa của Durkheim Nhà thờ hiện lên với chức năng chủ yếu là gắn kết những người mộ đạotrong một tổ chức qui củ và điều khiển họ cùng chia sẻ niềm tin và những nghi lễ tôn giáo.Thêm một lần nữa, đoàn kết xã hội gắn liền với tôn giáo bởi sự cố kết những thành viên cùngtham gia vào các hoạt động tôn giáo, tại một tổ chức thống nhất mang tên Nhà thờ Từ đó, ta
có thể thấy được gốc rễ, cái nền tảng để tôn giáo xuất hiện và tồn tại vững chắc chính là thựctại xã hội
1.3 Phân biệt tôn giáo và ma thuật
Ngoài ra, để đưa ra một định nghĩa hoàn toàn đúng đắn với tính xã hội, cũng cần phải
xem xét tôn giáo và phân biệt nó với ma thuật Hai khái niệm này cùng mang nhiều đặc điểm
tương đồng nhưng cũng tồn tại những mặt khác biệt Cái khác biệt mà Emile Durkheim chỉ ra
Trang 5từ phép so sánh ma thuật với tôn giáo đã phần nào lí giải nguồn gốc xã hội mà tôn giáo phátsinh
Ma thuật cũng gồm có niềm tin và nghi thức giống như tôn giáo Nó có những nghi lễ
riêng, những lễ hiến sinh, lễ rửa tội, cầu nguyện, ca khúc và nhảy múa Những vật thể màngười pháp sư viện dẫn và những vật thể được nói đến trong tôn giáo thường là cùng một vậtthể Ví dụ: linh hồn người chết Linh hồn người chết là vật thể vô cùng thiêng liêng và chúng
là đối tượng của nghi thức tôn giáo Đồng thòi chúng cũng giữ một vai trò đáng kể trong mathuật Linh hồn người chết, tóc của họ, xương của họ được coi là những vật trung gian màngười pháp sư thường sử dụng Tuy nhiên, những niềm tin và nghi thức của ma thuật thô sơhơn là trong tôn giáo Nó không mất thời gian vào việc biện minh bởi lẽ nó nhằm vào nhữngmục đích kỹ thuật và thực dụng
Tuy ma thuật và tôn giáo rất gần gũi với nhau nhưng sự khác biệt thể hiện ở sự ghêtởm của tôn giáo đối với ma thuật và sự thù địch của ma thuật đối với tôn giáo Ma thuật cómột thứ thích thú nghề nghiệp để trần tục hóa những vật thánh thiện; trong các nghi thức, nó
là cái đối trọng với những nghi lễ tôn giáo Về phía mình, tôn giáo nếu như không phải lúcnào cũng lên án và bài xích các nghi thức ma thuật, thì nói chung vẫn nhìn bằng con mắt thiếuthiện cảm Hubert và Hauss nhận xét, trong các phương thức của pháp sư có cái gì đó cơ bản
là chống tôn giáo Và E.Durkheim đã phân biệt ma thuật và tôn giáo như sau:
- Các niềm tin tôn giáo thực sự lúc nào cũng là cái chung của một cộng đồng cụ thể
mà những người đó phải gia nhập và thực hành những nghi thức gắn bó họ lại với nhau Các
cá nhân hợp thành cảm thấy gắn bó với nhau vì họ có chung một niềm tin – hình dung theocùng một cách thế giới thiêng liêng và mối quan hệ với thế giới trần tục Họ diễn đạt niềm tinchung đó trong những thực hành giống nhau Các cá nhân đó hợp thành một tổ chức là Giáohội Trong lịch sử, chúng ta không thấy một tôn giáo nào mà không có Giáo hội Giáo hộikhông chỉ là một cộng đồng tăng lữ; đấy là cộng đồng tinh thần do những người có cùng đứctin tập hợp lại, tín đồ cũng như giáo sĩ
- Những niềm tin mang tính ma thuật cũng thường được phổ biến trong những tầng lớpnhân dân rộng rãi và có những dân tộc mà số tín đồ không thua kém gì những tôn giáo chínhthức Tuy nhiên, những niềm tin đó không có khả năng gắn kết những người tham gia vào vớinhau và đoàn kết họ trong cùng một nhóm, cùng một đời sống chung Vì vậy, không hề cókhái niệm Giáo hội ma thuật Trong một số trường hợp, các pháp sư có lập nên những hộiđoàn nhưng những hội đoàn đó không hề cần thiết cho việc thực hành ma thuật; chúng ít khi
có tổ chức và chúng có tính chất tương đối ngoại lệ Để thực hành công việc của mình, ngườipháp sư không cần đến sự liên kết với các đồng nghiệp Hơn nữa, thành viên trong những hội
Trang 6đoàn đó không nhất thiết tất cả phải tin theo ma thuật – nghĩa là những người mà nghi lễ được
cử hành là giành cho họ
- Một câu hỏi đặt ra là khi đưa khái niệm Giáo hội vào tôn giáo, phải chăng chúng ta đãloại trừ những tôn giáo cá nhân mà bản thân cá nhân đã lập nên cho riêng mình và hành lễ choriêng mình? E.Durkheim cho rằng những tín ngưỡng cá nhân hợp thành này không phải làmột hệ thống tôn giáo riêng biệt và tự lập, mà chỉ là những khía cạnh của tôn giáo chung chomọi Giáo hội mà cá nhân là thành viên Chính Giáo hội mà cá nhân thuộc vào đã dạy cho họrằng những vị thần cá nhân đó là gì, vai trò của thần ra sao, làm thế nào để quan hệ với thần
và phải thờ phụng như thế nào Khi chúng ta phân tích một cách hệ thống giáo lý của Giáo hội
đó, dù thế nào chăng nữa, đến một lúc nào đấy, chúng ta sẽ bắt gặp trên con đường của nónhững điều kiện liên quan đến những tín ngưỡng đặc biệt đó Như vậy, đấy không phải là haitôn giáo thuộc 2 loại khác nhau và quay lưng lại với nhau; mà chúng có cùng một ý tưởng vàcùng một nguyên tắc như nhau; ở đây thì được vận dụng trong hoàn cảnh thích hợp với toànthể cộng đồng, ở kia thì thích hợp với đời sống cá nhân
1.4 Tại sao tôn giáo là sản phẩm của xã hội ?
Durkheim đã đưa ra câu trả lời hoàn hảo cho câu hỏi trên Theo ông, tôn giáo là sảnphẩm của xã hội bởi vì nó tồn tại như một nguồn cung cấp sự đoàn kết và dấu hiệu xác nhậncác thành viên trong một xã hội Đặc biệt với các xã hội tồn tại đoàn kết cơ học, các cá nhângắn kết khăng khít với nhau thì tôn giáo càng cần để mỗi cá nhân tự gắn mình vào một tập thể
và một tập thể thừa nhận các cá nhân thành viên Cụ thể hơn, tôn giáo cung cấp cơ hội để:
Thể hiện chủ quyền
Nhấn mạnh yếu tố đạo đức và chuẩn mực xã hội
Điều khiển, duy trì sự tồn tại của xã hội như một phần không thể thiếu của hệ thốngcác thành phần cấu thành xã hội
Liên kết, trao đổi thông tin, thúc đẩy những tương tác xã hội
Những nhu cầu tương tác, trao đổi thông tin, xác nhận chuẩn mực, nhấn mạnh vai trò đạo đức
xã hội… được đáp ứng một phần thông qua tôn giáo Nói cách khác, tôn giáo ra đời nhằmphục vụ chức năng đảm bảo các nhu cầu trên mà các thành phần khác của hệ thống xã hộikhông thể đáp ứng Đó chính là nguồn gốc xã hội của tôn giáo theo quan điểm của EmileDurkheim
2 Các thành tố sơ đẳng của tôn giáo
Sở dĩ lựa chọn những bộ lạc thổ dân châu Úc để nghiên cứu là vì tôn giáo mà họ chia
sẻ mang những biểu hiện của hình thức tôn giáo nguyên thuỷ Để xác định được tôn giáo cómang những đặc điểm sơ khai nhất hay không, cần dựa vào những yếu tố sau: tôn giáo đóphải tồn tại trong các xã hội mà tính chất tổ chức của chúng không thể đơn giản hơn; nó có
Trang 7thể được giải thích mà không cần dựa vào những tôn giáo tồn tại trước Những hiện tượng tôngiáo, những hành vi tôn giáo tồn tại trong các xã hội là rất đa dạng, phong phú Nhưng dù thếnào, thì căn nguyên của các hiện tượng, các hành vi ấy đều dựa trên sự phân chia thành hai
yếu tố: cái linh thiêng và cái trần tục
Cái linh thiêng được hiểu như những yếu tố thiêng liêng, quan trọng, thần thánh và
luôn được đặt ở vị trí cao hơn những cái trần tục Cái linh thiêng có thể thuộc mọi lĩnh vựccủa tôn giáo, một phần của những lễ nghi, là đối tượng của sự sùng kính hoặc đơn giản là
hành động mang đậm niềm tin tôn giáo Cái trần tục ngược lại với cái linh thiêng, nó là tập
hợp bao gồm toàn bộ những yếu tố không mang chức năng tôn giáo hoặc không nắm giữ ýnghĩa tôn giáo Cái linh thiêng và cái trần tục luôn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ, bổsung cho nhau Để phân biệt cái linh thiêng và cái trần tục, chỉ cần chỉ ra được đặc điểm mangđậm yếu tố đạo đức
Tuy vậy, cái linh thiêng và cái trần tục trong tư duy con người luôn nằm ở hai thế giớikhác biệt và không bao giờ có điểm chung, nhưng vẫn có sự chuyển đổi của một vật từ giới
nọ sang giới kia, và sự chuyển đổi này có thể được nhìn nhận như một sự lột xác hoàn toàn.Tính không thuần nhất của hai giới còn khiến nó suy thoái thành sự đối kháng thực sự Từ đó,ông đưa ra nhận định rằng niềm tin tôn giáo là những biểu trưng nói lên bản chất của cái linhthiêng và quan hệ chúng duy trì giữa cái linh thiêng với nhau hoặc giữa cái linh thiêng với cáitrần tục, và nghi thức vì vậy, được xác định là cách thức con người hành xử với cái thiêng
Durkheim đưa ra định nghĩa: “khi một cái linh thiêng nâng đỡ cái này với cái kháctrong mối quan hệ phối hợp và phụ thuộc, bằng cánh tạo nên một hệ thống có sự đồng nhấtnào đấy, nhưng bản thân nó lại không phụ thuộc vào bất cứ một hệ thống nào cùng loại, thìtoàn thể những niềm tin và nghi thức tương ứng tạo nên một tôn giáo” Mỗi nhóm thuần nhấtcủa những cái linh thiêng và xung quanh nó là một nhóm những tín ngưỡng và nghi thức, một
sự thờ cúng riêng biệt được coi như là những đặc trưng của một tôn giáo
Ngoài ra, trong cuốn hai và cuốn ba của bộ sách Những hình thức sơ đẳng của đờisống tôn giáo, Emile Durkheim tập trung bàn về Totem giáo và những Nghi lễ cơ bản của tôngiáo Tựu chung lại, nội dung chính của hai cuốn sách này cũng mang lại những cái nhìn vềtôn giáo như một biểu trưng tập thể Tức là, tôn giáo như một đại diện kéo các thành viên lạigần nhau trong hình thức của các lễ nghi và các niềm tin tôn giáo
III Kết luận
Những nghiên cứu của Durkheim đã mang lại cái nhìn khác biệt về tôn giáo thời bấygiờ Vì vậy mà sau khi bộ sách Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo ra đời đãkhông tránh khỏi những phản bác từ phía xã hội đương thời Mặc dù vậy, những kết quảnghiên cứu rút ra được mang tầm ảnh hưởng lớn Nó không những chỉ ra được yếu tố xã hội
Trang 8trong nguồn gốc của tôn giáo, tách biệt khái niệm tôn giáo ra khỏi những yếu tố thần linh vàsiêu nhiên, mà còn chỉ ra được những đặc điểm chung nhất của các loại hình tôn giáo khácnhau ở những điểm cấu thành căn bản Song song với hai việc làm sáng tỏ hai mục đích chínhcủa nghiên cứu tôn giáo, Emile Durkheim còn đặt tôn giáo trong mối quan hệ với đoàn kết xãhội, mối quan tâm lớn của sự nghiệp nghiên cứu của ông Từ đó, chỉ ra được rằng đoàn kết xãhội như là nền tảng của tôn giáo, cũng như tôn giáo là nguồn “cung cấp năng lượng” cho sựtồn tại của đoàn kết xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên) (1997): Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Emile Durkheim (Author) – Joseph Ward Swain (Translator), The element forms of the religious life,
Free Press New York, 1997
3 Vũ Quang Hà (Biên dịch) (2001): Các lí thuyết xã hội học tập 1, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Lê Ngọc Hùng (2008): Lịch sử và Lý thuyết xã hội học – Tái bản lần 1, NXB Khoa học xã hội
5 Thư viện trực tuyến http://www.questia.com/ , từ khoá “Sociology of Religion”, tra cứu ngày 0h ngày 14/9/2008
6 Từ điển bách khoa trực tuyến http://en.wikipedia.org/wiki/ , từ khoá “Emile Durkheim”, tra cứu 0h ngày 13/9/2008
7 http://www.aboutsociology.com/sociology/Emile_Durkheim
8 http://www.emiledurkheim.com/default.htm
9 http://www.hewett.norfolk.sch.uk/curric/soc/durkheim/durkw3.htm
10 Thanh Lê (2007): Xã hội học, NXB Khoa học xã hội
CHUYÊN ĐỀ 2: QUAN ĐIỂM CỦA MAX WEBER VỀ TÔN GIÁO.
I.Tiểu sử của Max Weber(1864 – 1920)
“Xã hội học….là khoa học cố gắng giải thích nghĩa hành động xã hội và… tiến tới cách giải thích nhân quả về đường lối và hệ quả của hành động xã hội”
Max weber, Kinh tế và xã hội, 1925, trang 4.
Weber học giỏi Ông đã tốt nghiệp đại học và đỗ bằng tiến sĩ với luận án “Lịch sử các hãng thương mại trong thời trung cổ” tại trường Đại học Tổng hợp ở Berlin.
Năm 1896, Weber được bổ nhiệm làm giáo sư tại trường Đại học Tổng hợp Freiburg, sau đó làm giáo sư dạy kinh tế học chính trị và kinh tế tại trường Đại học Tổng hợp Heidelburg.
Năm 1897 đến năm 1903 vì lý do sức khỏe nên Weber ngừng giảng dạy để đi du lịch khắp nơi ở các nước châu Âu dưỡng bệnh Năm 39 tuổi Weber mới trở lại các hoạt đông khoa học Các tác phẩm chính của ông:
“Tính khác quan” trong khoa học xã hội và chính sách công cộng(1903)
“Đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản (“The protestant Ethics and the Spirit of Capitalism”) (năm 1904)
Trang 9Weber tiếp tục nghiên cứu về tôn giáo, nguồn gốc của thành thị và phương pháp luận khoa học xã hội và viết 1 loạt các tác phẩm có giá trị Trong đó quan trọng nhất là cuốn: Xã hội học tôn giáo (“ Sociology of Religion”) (1912), Tôn giáo Trung Quốc (“The religion of China”) (1913), Tôn giáo Ấn Độ (“ The religion of India”)(1916 – 1917)
II Quan điểm của Weber về tôn giáo.
1 Tinh thần của Chủ nghĩa tư bản
Weber tìm thấy những biểu hiện “tinh thần chủ nghĩa tư bản” dưới dạng những lờikhuyên, những châm ngôn nổi tiếng nêu trong những cuốn sách xuất bản vào giữa thế kỉ 18,
ví dụ như sau:
- Thời gian là tiền bạc: ai có thể kiếm được 10 đồng một ngày làm việc mà lại nghỉ,không làm việc là bỏ phí mất 10 đồng;
- Cho vay nợ là tiền bạc: ai chịu nợ tiền thì phải trả lãi vì đó là số tiền lãi có thể được tạo
ra trong thời gian chịu nợ;
- Tiền bạc biết sinh sôi: 5 đồng có thể sinh thành 6 đồng, do đó ai bỏ phí 1 đồng tiền cónghĩa là giết chết một hạt giống và dòng giống con cháu, họ hàng của nó nữa;
- Người thanh toán tiền tốt là chủ nhân của ví tiền người khác: Ai trả tiền kịp thời vàđúng thời gian đã hứa thì có thể vào bất cứ lúc nào đều có thể huy động được số tiền còn dưcủa người khác;
- Sự miệt mài, chăm chỉ là yếu tố tác động mạnh nhất tới niềm tin : nếu người cho bạnvay tiền mà thấy bạn mải chơi trong giờ làm việc thì bạn có thể bị đòi lại tiền, nhưng nếu thấybạn đang miệt mài làm việc thì niềm tin vào bạn và khả năng chi trả của bạn sẽ tăng;
- Sự thận trọng và trung thực của bạn luôn làm tăng niềm tin ở người khác;
- Cần phải tính toán những gì bạn có và hãy sống một cách phù hợp với gì bạn có;
- Ai bỏ phí một lượng thời gian đáng giá 5 đồng thì người đó bị mất 5 đồng và có thể đãmất tất cả những ưu thế có thể có trong khoảng thời gian đó
Những nhận định mang tính chuẩn mực như nêu ở trên có khả năng điều chỉnh hành vicủa con người và là những biểu hiện của tinh thần chủ nghĩa tư bản Những câu châm ngônđại loại như vậy không chỉ nói đến biện pháp kiếm tiền mà ngụ ý rằng bản thân quá trìnhkiếm tiền là mục đích; không chỉ nói về cách kiếm tiền như thế nào, mà ám chỉ rằng bản thânviệc làm, công việc là mục đích, đạo đức Chất lượng cuộc sống không chỉ đơn giản là sốlượng tiền hay khoản thu nhập từ lao động, mà bản thân việc lao động một cách cần cù, chịukhó có suy nghĩ tính toán trung thực nhiệt tình là chất lượng cuộc sống, là đạo đức
Theo Weber cái tinh thần của chủ nghĩa tư bản hiện đại chỉ xuất hiện ở châu Âu và Bắc
Mĩ Chủ nghĩa tư bản kiểu truyền thống đã có ở Trung Quốc, Ấn độ và nhiều nơi khác, nhưng
ở đó theo Weber không có tinh thần của chủ nghĩa tư bản hiện đại như trình bày Theo tinhthần của chủ nghĩa tư bản truyền thống, người ta chỉ nhằm vào mục đích kiếm tiền để đủ ăn
Trang 10hoặc nhiều lắm cũng chỉ coi kết quả lao động là mục đích cuối cùng mà không coi quá trìnhlao động là mục đích cuộc sống, là lẽ sống: không coi bản thân lao động là đạo đức xã hội,đạo đức cá nhân.
Trong một xã hội không phải truyền thống, Weber viết: “ con người bị thống trị bởi việckiếm tiền, bởi sự dành được với tính cách là mục tiêu cuối cùng của cuộc đời Sự thu lợi kinh
tế đối với con người không còn là phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu vật chất nữa” Sựkiếm lời kinh tế trở thành phương tiện để thỏa mãn nhu cầu tinh thần, và hơn thế nữa trởthành mục đích sống, lẽ sống, nguyên tắc sống, đạo đức Điều này như Weber nhận xét, có vẻrất ngược đời xét theo cách nghĩ thông thường và rất xa lạ, khó hiểu đối với những ai chưatừng trải qua áp lực chủ nghĩa tư bản, nhưng nó lại là nguyên lý sống của chủ nghĩa tư bản
Từ góc độ nghiên cứu khoa học vấn đề đặt ra ở đây là: tại sao việc kiếm tiền việc thu lợikinh tế lại mang một ý nghĩa lớn như vậy? tại sao con người phải tuân theo các quy tắc hànhđộng kiểu tư bản chủ nghĩa? Điều gì làm cho quá trình làm việc, quá trình lao động hay việckiếm tiền, việc thu lợi kinh tế trở thành lương tâm đạo đức của xã hội, của cá nhân? Webertìm thấy câu trả lời trong mối liên hệ với các ý tưởng tôn giáo Chính tôn giáo mà cụ thể làđạo Tin lành ở thế kỉ 17 đã làm cho bản thân quá trình lao động mang một ý nghĩa đặc biệtđối với cuộc sống con người Bởi vì một người mộ đạo sẽ tin theo một giáo lý rằng: ai chămchỉ kinh doanh người đó sẽ được đến với Chúa “ việc kiếm tiền trong trật tự kinh tế hiện đại,nếu đúng pháp luật, là kết quả và biểu hiện của đạo hạnh và sự thành thạo trong nghề nghiệp”
và đức hạnh đó và sự thành thạo đó chính là đạo đức
2 Thuyết khổ hạnh và tinh thần chủ nghĩa tư bản.
2.1 Các cơ sỏ tôn giáo của thuyết khổ hạnh trần thế:
Weber cho rằng trong lịch sử xã hội phương Tây tồn tại bốn hình thức cơ bản gắn bóchặt chẽ với nhau của đạo Tin lành khổ hạnh: thuyết Calvin ảnh hưởng mạnh ở Tây Âu vàothế kỉ thứ 17, Hội Sùng Đạo, Hội Giám Lý và các dòng phái Baptist
Khi nghiên cứu những biến đổi tôn giáo,Weber không quan tâm đến câu hỏi, ví dụ, điều
gì đã được răn dạy trong các giáo lí của tôn giáo này hay tôn giáo kia, mà ông quan tâm đến ýnghĩa thực tế của hệ giá trị, văn hóa, chuẩn mực tôn giáo; Weber quan tâm đến sự ảnh hưởngcủa những quy phạm tâm lí nào bắt nguồn từ niềm tin tôn giáo và từ thực hành tôn giáo đãđem lại sự định hướng cho hành động thực tế và gắn với cá nhân với hành động đó Nói cáchkhác, Weber muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa các ý tưởng tôn giáo với các lợi ích tôn giáothực tế
Cơ sở tôn giáo của thuyết khổ hạnh có lẽ bắt nguồn từ câu trả lời cho những câu hỏi rất
cơ bản và quan trọng về số phận con người, về ý nghĩa cuộc sống, về đức tin Ví dụ, có baonhiêu người và ai sẽ được chọn cho sự vinh quang đời đời? Tôi có phải là một trong những
Trang 11người được Chúa trời lựa chọn hay không? Làm thế nào để tôi có thể tin chắc vào sự vinhquang? Làm thế nào để duy trì được lòng tin? Đây là những câu hỏi vô cùng quan trọng đốivới bất kì một người nào mộ đạo, có đức tin Theo thuyết Calvin chỉ có một bộ phận nhỏ sốngười được chọn cho sự vinh quang đời đời và mọi thứ chỉ có ý nghĩa như là phương tiện cho
sự vinh quang và uy nghi của Chúa Trời Cách tốt nhất để duy trì lòng tin- là hoạt động trầnthế, nhờ hoạt động này mà sự hoài nghi tôn giáo bị xua tan và đem lại sự xác định cho vinhquang Những người theo đạo Tin lành cho rằng bằng hành động trần thế mà cụ thể là hoạtđộng lao động của mình họ sẽ được lựa chọn và được giải thoát
Trong khi đó theo Weber giáo dân theo cơ đốc giáo thời kì Trung cổ sống một cách đạođức kiểu “ từ tay đến mồm”, “ tay làm hàm nhai”, tức là chỉ quan tâm đến lợi ích vật chấttrước mắt Họ có ý thức thực hiện các nghĩa vụ truyền thống của họ, nhưng chỉ thực hiện ởmức tối thiểu chứ không phải một cách hệ thống, kiên trì “ Đạo đức cơ đốc giáo là đạo đứccủa các ý định”.Cơ đốc giáo không thực hiện quá trình duy lí hóa thế giới, không loại bỏ mathuật với tư cách là phương tiện để giải thoát như Thanh giáo Đối với Cơ đốc giáo, sự tuyếtđối hóa nhà thờ là sự bù đắp cho sự thiếu hoàn thiện của họ Cha cố là người của ma thuật cókhả năng thực hiện những sự thần kì và là người nắm giữ chìa khóa của cuộc sống đời đờitrong tay
Cơ đốc giáo chỉ đòi hỏi con chiên những việc làm tốt riêng lẻ, rời rạc Trong khi đó,Chúa trời của thuyết Calvin đòi hỏi con chiên của mình không phải những việc thiện riêng lẻ
mà là cả một cuộc đời làm việc thiện và các việc thiện đó hợp thành một hệ thống thống nhất.Đối với những người theo đạo Tin lành, không còn cái vòng luẩn quẩn như ở Cơ đốc giáo là:tội lỗi- ăn năn hối cải- sự chuộc lỗi- sự giải thoát- tội lỗi mới Đối với người theo đạo Tinlành, họ phải tự cứu mình bằng hành động trần thế, bằng những nỗ lực làm việc hàng ngày
Đã hình thành một quá trình duy lí, phương pháp hành động duy lí một cách hệ thốngvới mục tiêu là vượt qua trạng thái thiên nhiên, là giải phóng con người khỏi quyền lực củacác kích thích phi lí và sự phụ thuộc vào thế giới và phụ thuộc vào thiên nhiên
Thanh giáo, tương tự như bất kì một loại thuyết khổ hạnh duy lí nào khác đã cố gắnglàm cho con người có khả năng hoạt động và duy trì hành động không theo cảm xúc Mục tiêucuối cùng của thuyết khổ hạnh là giúp đưa con người đến một cuộc sống duy lí, cuộc sống củatrí tuệ và thông minh: nhiệm vụ cấp bách nhất mà thuyết này đặt ra cho con người là hãy chối
bỏ sự vui sướng tự phát, tức thời; và phương tiện quan trọng nhất mà thuyết này cung cấp chocon người là xác lập lại trật tự cho hành động, có thể hiểu là hãy hành động theo trật tự của
nó, quy luật của nó
Theo Weber, một người sống cuộc đời duy lí theo nghĩa tôn giáo sẽ chỉ là một thày tu
Cơ đốc giáo hay Thiên chúa giáo đòi hỏi con chiên sống một cuộc đời thày tu Thuyết Calvin
Trang 12đưa ra quan niệm khác hẳn và tích cực hơn: con chiên cần phải chứng minh niềm tin của mìnhtrong hoạt động trần thế chứ không phải trong cuộc sống tu viện Theo nghĩa như vậy, thuyếtCalvin đòi hỏi con người phải thường xuyên tự kiểm soát và điều chỉnh cuộc sống của mình,tức là phải sống có đạo đức một cách duy lí Với những phân tích này, Weber muốn nói đếnmột quá trình xã hội sâu sắc hơn đó là quá trình duy lý hóa đời sống xã hội mà bộ phận quantrọng hàng đầu của nó là ý tưởng tôn giáo của đạo Tin lành khổ hạnh thế kỉ 17
2.2 Nội dung;
Có thể tìm thấy những ý tưởng tôn giáo cơ bản của đạo Tin lành khổ hạnh ở đâu? Weber
đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung tài liệu đối với các văn bản Thanhgiáo( Puritanism) và các công trình của nhiều tác giả tiêu biều khác để làm sáng tỏ ảnh hưởngcủa tôn giáo trong đời sống xã hội phương Tây thế kỉ 17- 18
Giáo lý Calvin – quan điểm cực đoan có ảnh hưởng lớn nhất đối với chủ nghĩa Tư Bản.Thuyết Calvin nhấn mạnh quyền tối thượng của Chúa và sự tiền định Thuyết này thường đặttầm quan trọng của nhà nước dưới giáo hội, tu dưỡng đạo đức khắt khe, tình cảm gia đình,kinh doanh, giáo dục và khoa học Sự phát triển của học thuyết Calvin, cụ thể là thuyết tiềnđịnh và sự bác bỏ thuyết đồng thể chất, học thuyết trong niềm tin của tín đồ dòng Luther chorằng máu tách trong đạo Tinh Lành giữa dòng Luther và dòng Giáo hội Trưởng lão
Đạo Thanh giáo Anh, được rút ra từ thuyết Calvin, đưa ra những nền tảng tôn giáo nhấtquán triệt nhất cho ý tưởng về thiên hướng nghề nghiệp Đại diện tiêu biểu nhất, nổi bật nhấtcho đạo lý Thanh giáo là Richard Baxter bởi quan điểm rõ ràng khả thi và thực tế của ông.Ông là thành viên của Giáo hội Trưởng lão và là người biện hộ cho Hội nghị tôn giáoWestminster, nhưng đồng thời, cũng giống như nhiều nhà tư tưởng lớn cùng thời với mình,ông dần xa rời những giáo lý của thuyết Calvin thuần túy Trong lòng ông phản đối sự tiếmquyền của Cromell cũng như với mọi cuộc cách mạng Ông có xu hướng không ủng hộ cácgiáo phái và sự cuồng nhiệt đối với các thánh, nhưng ông lại rất cởi mở với những gì khác lạbên ngoài và khách quan với những đối thủ của mình Ông tìm môi trường lao động của mìnhđặc biệt chủ yếu từ sự thăng tiến thực tế của đời sống đạo đức thông qua Giáo hội Trong việctheo đuổi mục đích này, là một trong những mục sư thành công nhất được biết đến trong lịch
sử, ông đã đặt công sức của mình vào việc loại bỏ Chính quyền Nghị viện, Cromwell, và
vương triều Trung hưng (Restoration) tới tận khi nghỉ hưu, trước ngày lễ Thánh
Bartholomew Hướng dẫn Ki tô (Christian Directory) của ông là bản trích yếu hoàn chỉnhnhất về đạo lý Thanh giáo và liên tục được điều chỉnh với những kinh nghiệm thực tế từ hoạtđộng lãnh thổ của bản thân ông Giáo lý cơ bản của Thanh giáo như sau:
Nó đã phản đối việc thu vét của cải trần tục một cách sắc bén hơn nhiều so với
Calvin, người không thấy có cản trở nào từ sự giàu có của các mục sư đối với tính hiệu quả
Trang 13của họ, mà lại hoàn toàn là điều có lợi được mong muốn cho uy tín của họ Vì thế ông đã chophép họ được sử dụng thu nhập của mình theo cách có thể sinh lời Chống đối đạo đức thực tế
là đối với việc nghỉ ngơi trong sự đảm bảo của của cải vật chất, việc tận hưởng giàu sang vớihậu quả là sự lười nhác và những cám dỗ thân xác, trên hết là làm rối trí con người trong việctheo đuổi một cuộc sống đúng đắn Sự thật, sở hữu của cải bị phản đối chỉ vì nó chứa đựngmối nguy hiểm của việc nghỉ ngơi Bởi vì sự yên nghỉ vĩnh viễn của các thánh là ở thế giớibên kia; con người trên trái đất để chắc chắn được hưởng ân huệ của Chúa phải “làm nhữngviệc mà Chúa giao cho đến tận ngày được hưởng ân huệ đó” Không phải hưởng lạc và giảitrí, mà chỉ có những hành động làm nâng cao vinh quang của Chúa, theo quyết định hiện thâncủa ý Chúa
Lãng phí thời gian vì vậy là tội lỗi đầu tiên và tồi tệ nhất Đời sống con người thật vô
cùng ngắn ngủi và quí giá làm sao đảm bảo cho việc lựa chọn của mỗi người Lãng phí thờigian vào những cuộc chuyện trò mang tính xã giao và vô bổ, sự xa xỉ, thậm chí cả việc ngủnhiều hơn mức cần thiết cho sức khỏe, từ sáu đến nhiều nhất tám tiếng, là rất đáng bị lên án
về mặt đạo đức Nó chứa hàm ý đúng, trong trường hợp Franklin, rằng thời gian là tiền bạc,nhưng phần nào là sự thực theo một ý nghĩa tâm linh nhất định Điều này có giá trị đích thựcbởi mỗi một giờ mất đi là mất vào việc lao động vì sự vinh quang của Chúa Bởi vậy ý nghĩthụ động cũng là vô giá trị, thậm chí còn đáng bị khiển trách một cách thẳng thắn nếu như đây
là việc mà ai đó làm hàng ngày Vì rằng nó làm Chúa hài lòng ít hơn so với việc thực hiện ýChúa một cách nhiệt tình trong một thiên hướng Theo Baxter những người siêng năng trongcông việc của mình là những người không có thời gian dành cho Chúa khi cần thiết Do đó,công việc chính của Baxter bao trùm bởi những bài giảng đầy nhiệt huyết về việc lao động trí
óc và chân tay một cách liên tục, chuyên cần được thường xuyên lặp lại Điều này là sự kếthợp của hai động cơ khác nhau Một mặt lao động là phương thức khổ hạnh được công nhận,như nó đã luôn được công nhận trong Giáo hội phương Tây, trong sự tương phản rõ nét khôngnhững chỉ với phương Đông mà còn với phần lớn những kỷ luật tu viện khác trên thế giới.Đặc biệt là sự tự vệ cụ thể chống lại mọi cám dỗ mà Thanh giáo đã gộp lại dưới cái tên cuộcsống không trong sạch, mà vai trò đối với nó không phải là nhỏ
Thuyết khổ hạnh tình dục của Thanh giáo chỉ về mức độ, không khác về nguyên tắc
cơ bản, so với chủ nghĩa tu viện (monasticism) và trong quan niệm Thanh giáo về hôn nhân,
tác động thực tế của nó sâu rộng hơn so với chủ nghĩa tu viện Vì rằng sinh hoạt tình dục đượccho phép, thậm chí trong hôn nhân, chỉ như một hình thức được Chúa cho phép để nhằm tăngthêm sự vinh quang của Người theo điều răn: “Hãy sinh sôi nảy nở” Cùng với việc ăn chayvừa phải và tắm lạnh, quy định tương tự cũng được dành cho mọi cám dỗ tình dục, được sửdụng để chống lại những nghi ngờ tôn giáo và một dạng của sự vô giá trị về đạo đức: “Hãy
Trang 14cần cù trong công việc của mình” Nhưng điều quan trọng nhất, thậm chí vượt qua cả sự laođộng đó, chính là ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống, điều đó được Chúa ban tặng Câu nói củaThánh Paul:
“Người không làm thì sẽ không ăn”
Câu nói này luôn đúng với tất cả mọi người Không tự nguyện làm việc là một triệuchứng của sự thiếu lòng thương và ân huệ của Chúa
Hiện tượng phân công lao động và nghề nghiệp trong xã hội: trong quan điểm
Thanh giáo đặc tính phù hộ trong vai trò của lợi nhuận kinh tế có sự nhấn mạnh phần nàokhác biệt Trung thành với khuynh hướng Thanh giáo đối với những lí giải thực dụng, mụctiêu được phù hộ của sự phân công lao động được biết đến bởi những kết quả của nó Baxterbộc lộ mình bằng cách hơn một lần trực tiếp nhắc đến sự tôn vinh lí tưởng nổi tiếng về phâncông lao động của Adam Smith Chuyên môn hóa trong nghề nghiệp dẫn tới tiến bộ trong sảnphẩm cả về số lượng lẫn chất lượng vì nó làm cho sự phát triển kĩ năng trở nên có thể, và vìthế phục vụ sự tốt đẹp chung, điều đồng nghĩa với sự tốt đệp nhất có thể Baxter cũng đưa ramột kết luận : người lao động chuyên nghiệp sẽ thực hiện công việc của mình trong trật tựtrong khi những người khác ở trong tình trạng không chắc chắn triền miên, và công việc củangười lao động chuyên nghiệp không biết đến thời gian hay không gian – “ người hay thayđổi là một người xa lạ ngay trong chính ngôi nhà của mình”, vì vậy môt nghề nghiệp là tốtnhất cho mọi người
Đạo lí Quaker cho rằng cuộc sống của một người trong thiên hướng của mình là sự rènluyện đạo đức khổ hạnh, một minh chứng cho ân huệ của Chúa đối với người lao độngchuyên nghiệp thông qua sự tận tâm của mình, điều được thể hiện trong sự quan tâm vàphương cách mà người lao động chuyên nghiệp theo đuổi thiên hướng của mình Điều Chúađòi hỏi không phải là bản thân lao động mà là lao động duy lí trong một thiên hướng Trong ýniệm Thanh giáo về thiên hướng, điểm nhấn mạnh luôn được đặt trên đặc điểm này của thuyếtkhổ hạnh trần tục
Sự hữu dụng của một thiên hướng và như vậy là có sự ủng hộ trong tầm mắt của Chúa,được đo chủ yếu bằng các giới hạn đạo đức, và do đó trên phương diện mức độ quan trọngcủa hàng hóa được sản xuất trong thiên hướng đó cho cộng đồng Nhưng một tiêu chuẩn caohơn và trên hết, trong thực tế là quan trọng nhất, được tìm thấy trong việc mang lại lợi nhuậnriêng “ Nếu Chúa chỉ ra cho anh ta một con đường mà anh có thể thu lợi một cách hợp phápnhiều hơn so với con đường khác( không sai trái đối với lương tâm của anh hay đối với ngườikhác), nếu anh từ chối điều này và lựa chọn con đường ít có lợi hơn, anh bỏ qua một trongnhững mục tiêu của thiên hướng của mình, và ạnh từ chối trở thành người quản gia của Chúa
Trang 15và chấp nhận những món quà của Người để sử dụng chúng cho Người khi Người yêu cầu:anh ta có thể lao động để trở nên giàu có vì Chúa, mặc dù không vì thể xác và tội lỗi”.
Việc nhấn mạnh tầm quan trọng khổ hạnh của một thiên hướng cố định cung cấp mộtcách biện giải mang tính đạo lí cho sự phân công lao động chuyên môn hiện đại Theo mộtcách tương tự, lí giải về sự phù hộ của việc tạo ra lợi nhuận biện giải cho những hoạt độngcủa một doanh nhân Cả sự tự buông thả hợm hĩnh của địa chủ lẫn sự phô trương của những
kẻ mới phất đều là đáng ghét ngang nhau đối với thuyết khổ hạnh Nhưng mặt khác, nó cóđánh giá mang tính đạo lí cao nhất đối với những người nghiêm túc, thuộc tầng lớp trung lưu
và tự thành đạt “Chúa phù hộ công việc mua bán của anh” là nhận xét chắc chắn về nhữngngười tốt đã đi theo lời khuyên thần thánh một cách thành công Toàn bộ quyền lực của Chúatrong kinh Cựu Ước, người ban thưởng cho các con chiên của Người vì sự phục tùng của họtrong cuộc đời này, thực hành một cách cần thiết sự tác động tương tự lên tín đồ đồ Thanhgiáo, những người, theo lời khuyên của Baxter, so sánh ân huệ của chính mình với ân huệ củacác anh hùng trong Kinh thánh, và trong quá trình lí giải những tuyên bố của Kinh thánh nhưcác điều khoản trong một cuốn sách luật
Thuyết khổ hạnh đã tạo ra một động cơ đạo lí, một tâm lí cho rằng lao động như là “một thiên hướng nghề nghiệp, như là điều tốt nhất… là phương tiện duy nhất của việc đạtđược ân huệ chắc chắn” và đã “ hợp pháp hóa việc khai thác sẵn sàng lao động cụ thể này,trong đó nó còn lí giải hoạt động kinh doanh của giới chủ như một thiên hướng nghề nghiệp”
CHUYÊN ĐỀ 3: QUAN ĐIỂM CỦA CÁC MÁC VỀ TÔN GIÁO
I Quan điểm của Các Mác về tôn giáo
1.Nguồn gốc của tôn giáo
1.1 Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Theo Mac “ Sự khổ đau mang tính tôn giáo đồng thời là biểu hiện của khổ đau trong
hiện thực, vừa là sự chống lại khổ đau ấy” Như vậy, ở đây, các trạng thái tâm lý tiêu cực, tình
cảm đau buồn, nỗi cô đơn, sự bất hạnh, sự không thỏa mãn trong đời sống riêng…đóng vai tròquan trọng trong sự hình thành tôn giáo
Tôn giáo đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, góp phần bù đắpnhững hụt hẫng, nỗi trống vắng trong tâm hồn, an ủi, vỗ về, xoa dịu cho các số phận lúc gặpnhững khó khăn trong cuộc sống Vì thế, dù chỉ là hạnh phúc hư ảo nhưng nhiều người vẫn
tin, vẫn bám vào đó Mác cho rằng, để có hạnh phúc thực sự của nhân dân, đòi hỏi việc xóa
bỏ tôn giáo, hạnh phúc ảo tưởng của họ.
1.2 Nguồn gốc kinh tế- xã hội của tôn giáo
Trang 16Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, conngười cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, “vì con người trướchết phụ thuộc vào thiên nhiên, nên tự nhiên là đối tượng ban đầu của tôn giáo”1 Vì vậy, họ đãgán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh đó Ví
dụ như những thuộc tính được dùng làm cơ sở cho sự khác biệt giữa thượng đế với con người,
là những thuộc tính của thiên nhiên Đó là tính vạn năng, tính vĩnh hằng, tính hiện hữu rộngkhắp Thêm vào đó, khi xã hội xuất hiện những giai cấp đối kháng, con người lại cảm thấy bấtlực, sợ hãi trước sức mạnh của thế lực thống trị trong xã hội không giải thích được nguồn gốccủa sự phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột, tội ác… ,và của những yếu tố ngẫu nhiên, mayrủi, con người thường hướng đến niềm tin ảo tưởng vào “thế giới bên kia” dưới hình thức tôngiáo
Như vậy, sự yếu kém của trình độ phát triển lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh
tế, áp bức về chính trị, thất vọng, bất lực trước những bất công xã hội là nguồn gốc sâu xa củatôn giáo
1.3 Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo được Mác lý giải đó là ở một giai đoạn lịch sử nhấtđịnh nhận thức của con người là có giới hạn, khoảng cách giữa những điều đã biết và chưabiết vẫn luôn tồn tại, điều gì mà khoa học, con người chưa giải thích được thì tôn giáo thaythế
Thêm nữa, nhận thức của con người ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn thế giới kháchquan, khái quát hóa thành các khái niệm, phạm trù, quy luật nhưng càng khái quát thì có lúcnhững sự vật hiện tượng đó lại bị con người trừu tượng hóa đến mức hư ảo, xa rời hiện thực,phản ánh sai lệch hiện thực Mác cho rằng chỉ có sự hiểu biết thực sự những lực lượng củagiới tự nhiên mới đuổi được ác thần hoặc thượng đế ra khỏi lĩnh vực tôn giáo
2 Bản chất của tôn giáo
Các Mác cho rằng, tôn giáo là kiến trúc thượng tầng là một hình thái ý thức xã hội,phản ánh một cách hư ảo hiện thực khách quan Ông coi tôn giáo là một “cõi mịt mù”, trongcái cõi ấy, các sản phẩm của bộ óc con người thể hiện ra thành những sinh vật độc lập có cuộcsống riêng của chúng, có những mối quan hệ nhất định với con người và giữa chúng với nhau.Trong tôn giáo, con người bị chính sản phẩm của đầu óc mình thống trị Người ta quy cho bộ
óc, cho sự phát triển và hoạt động của bộ óc tất cả công lao làm cho nền văn minh phát triểnnhanh chóng, và đáng lẽ phải giải thích hoạt động của mình và nhu cầu của mình, thì người talại quên giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình, và chính vì thế mà dần dần xuấthiện một thế giới quan duy tâm, nó thống trị đầu óc con người
Trang 17Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch
sử xã hội xác định Do vậy, xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh
sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội Theo Các Mác: “Sự nghèo nàn của
tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo
nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giớikhông có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn
giáo là thuốc phiện của nhân dân”
3 Tính chất của tôn giáo
3.1 Tính lịch sử của tôn giáo
“Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người” Tôngiáo không phải xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người mà nó chỉ xuất hiện khi khảnăng tư duy trừu tượng của con người đạt tới một mức độ nhất định
Trong từng thời kỳ lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi phù hợp với tình hình chính trị xãhội của thời đại đó Đến một thời kỳ nhất định, khi con người giải thích được những hiệntượng “thần bí” của tự nhiên và xã hội, thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đờisống xã hội và cả niềm tin của con người Các Mác đã nói tôn giáo sẽ mất đi khi mà “conngười không chỉ mưu sự mà lại còn làm cho thành sự nữa”, thì chỉ khi đó, cái thế giới mà tôngiáo đang phản ánh cũng sẽ mất đi Ông cũng cho rằng: “sự phản ánh có tính chất tôn giáocủa thế giới thực tại chỉ có thể mất đi khi nào những quan hệ trong đời sống thực tiễn hàngngày của con người được biểu hiện bằng những mối liên hệ rõ ràng và hợp lý giữa người ta vàvới thiên nhiên”2
3.2 Tính chính trị của tôn giáo
Như trên đã nói, trong xã hội không có giai cấp tôn giáo chưa mang tính chính trị.Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt
về lợi ích Các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình
Trong lịch sử, những cuộc chiến tranh tôn giáo đã diễn ra rất nhiều Tại Ấn Độ đã có
sự thù nghịch diễn ra giữa người Hồi giáo và Ấn Độ giáo, các cuộc xung đột tôn giáo ởAngieri, bắc Ailen đều có những thế lực lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu chính trị củamình Cần thấy rõ rằng, đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tinhthần, song trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị-xã hội lợi dụng cho cácmục đích ngoài tôn giáo của họ
Nhận thức được tính chính trị của tôn giáo, Mác đã nói “Sự giải phóng chính trị khỏitôn giáo vẫn để cho tôn giáo có hiệu lực, mặc dù không ở dưới dạng một tôn giáo có đặcquyền Mâu thuẫn giữa những người theo một tôn giáo riêng nào đó với chính bản thân mình
2 C Mác và Ph Angghen: Toàn tập, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tập 23, tr 126.
Trang 18với tư cách là một công dân nhà nước, chỉ là một phần của mâu thuẫn thế tục phổ biến- giữanhà nước chính trị và xã hội công dân…Giải phóng nhà nước khỏi tôn giáo không phải là giảiphóng con người hiện thực của tôn giáo”3
4 Chức năng xã hội của tôn giáo
4.1 Chức năng đền bù hư ảo
Chủ nghĩa Mác xuất phát từ chỗ cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội có nguồngốc của nó trong những điều kiện tồn tại vật chất của xã hội ở những giai đoạn phát triển lịch
sử nhất định, nghĩa là ở những mối quan hệ hạn chế của con người đối với giới tự nhiên vàđối với nhau Sự bất lực của con người trước những sức mạnh tự nhiên và xã hội đã sinh ranhu cầu khắc phục những mâu thuẫn thực tế trong ý thức, trong tượng tưởng nhu cầu đền bù
sự hạn chế của các mối quan hệ hiện thực, quan hệ “trần gian” ở thế giới bên kia, thế giới siêutrần gian Vì vậy, có thể gọi chức năng đền bù – hư ảo là chức năng chủ yếu và đặc thù củatôn giáo
Luận điểm nổi tiếng của Mac: “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bậtchức năng đền bù - hư ảo của tôn giáo Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra vẻ bề ngoàicủa “sự làm nhẹ” tạm thời nỗi đau khổ của con người, đồng thời gây nên tác động có hại đốivới con người khi tạo ra ở họ nhu cầu thường xuyên tách khỏi hiện thực, tiêm nhiễm trong họ
cả một hệ thống những quan niệm phản khoa học
4.2 Chức năng thế giới quan
Khi phản ánh một cách tưởng tượng, hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo có tham vọngtạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức của conngười dưới một hình thức xuyên tạc Bức tranh thế giới đó đã in sâu vào ý thức giáo dân vàtác động tiêu cực đến thái độ của họ đối với thế giới xung quanh (giới tự nhiên, xã hội và conngười)
4.3 Chức năng điều chỉnh
Thực hiện chức năng này, tôn giáo đã tạo ra hệ thống những chuẩn mực, những giá trịnhằm điều chỉnh hành vi của những người có đạo, đó không chỉ là những hành vi trong thờcúng mà cả trong đời sống hàng ngày, trong quan hệ xã hội, quan hệ gia đình của giáo dân Vìvậy, hệ thống chuẩn mực giá trị trong các lý thuyết đạo đức và xã hội do các nhà tư tưởng tôngiáo tạo ra và tuyên truyền đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người Cầnphải nhấn mạnh rằng, trong hiện thực những chuẩn mực và giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ đặctrưng khách quan và xuất hiện như là sự phản ánh sai lầm, hư ảo những giá trị trần thế Nhữnggiá trị trần thế ở đây đã bị phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên
4.4 Chức năng giao tiếp
Trang 19Chức năng giao tiếp thể hiện khả năng của tôn giáo có thể liên hệ những người cùngtín ngưỡng với nhau Sự liên hệ được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng Và sự giaotiếp với thần thánh được xem là sự giao tiếp tối cao Ngoài mối liên hệ, giao tiếp trong quátrình thờ cúng, ở quần chúng tín đồ còn có những mối liên hệ ngoài tôn giáo: liên hệ về kinh
tế, liên hệ trong sinh hoạt hàng ngày, liên hệ trong gia đình…Những mối liên hệ ngoài tôngiáo này đã củng cố và tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của tín đồ
4.5 Chức năng liên kết
Trong lịch sử các xã hội trước tôn giáo với tính cách là bộ phận tất yếu của kiến trúcthượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổnđịnh những trật tự xã hội đang tồn tại dựa trên các hệ thống giá trị và chuẩn mực chung củahành vi xã hội Nhưng không nên từ đó mà quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờcũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, đảm bảo sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất xãhội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội, chứ không phải bởi sự cộngđồng tín ngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiệnnhư là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối xã hội, chống lại chế độ đương thời
Như vậy, quá trình hoạt động của tôn giáo trong xã hội là quá trình biểu hiện bản chất
xã hội của nó Đó là một quá trình lịch sử Trong những điều kiện lịch sử cụ thế nội dung xãhội của các chức năng của tôn giáo có thể biến đổi một cách căn bản và được các giai cấpkhác nhau lợi dụng
CHUYÊN ĐỀ 4: KHÁI NIỆM TÔN GIÁO
I Lịch sử hình thành thuật ngữ “Tôn giáo”
“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từcuối thế kỷ XIX Xét về nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nộidung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây
Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có mộtquá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lạivấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền vănminh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôngiáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới
- “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát
từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Vào đầucông nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung vàmuốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng củađạo Kitô Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo Đến thế kỷ XVI, với sự
Trang 20ra đời của đạo Tin Lành - tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu,
“religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa Với sự bànhtrướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộccác nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằmchỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới
- Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vàođầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷXIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật(Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật)
- Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăngtrên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”
Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đóthuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo
II Khái niệm tôn giáo.
1 Một số khái niệm tôn giáo
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiêu.Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:
- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”
- Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trongnỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có
tôn giáo” [Lê Thanh Hà – Lê Hà Thu, Giáo trình tôn giáo học,
- Hiểu theo nghĩa rộng thì tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, vô hình màcon người cho là linh thiêng, được con người sùng bái, cầu khấn và để nhờ cậy che chở ban
điều tốt lành [Mai Thanh Hải, Từ điển tôn giáo tín ngưỡng thế giới và Việt Nam, NXB Văn
hóa – Thông tin, năm 2006; tr 639]
2.Quan niệm của Các Mác – P Ăngghen.
- Trong Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen , Mác viết: “Tôn giáo làtiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giốngnhư nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân
dân” [C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Sđd, tr.570]
Nhận định này đã toát lên đầy đủ tính xã hội của tôn giáo Nó là sự đền bù lại cho sựnghèo nàn của hiện thực xã hội - với những nghèo nàn của tri thức để lý giải thế giới, tôn giáolấp đầy vào đó bằng những huyền thoại: thế giới được tạo thành ra sao?; mây, gió, sấm, chớp
sự thực là thế nào? và với những sự nghèo nàn trong đời sống do sự thấp kém của trình độ
Trang 21khoa học kỹ thuật cùng sự bất công, bạo ngược của xã hội đương thời, tôn giáo như một liềuthuốc an thần xoa dịu những vết đau của con người.
- Ph Ăngghen nêu rõ trong tác phẩm Chống Đuyrinh: “Tôn giáo chẳng qua chỉ là sựphản ánh hư ảo - vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộcsống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình
thức những lực lượng siêu trần thế” [Ph Ăngghen Chống Đuyrinh Trong: C Mác-Ph.
Ăngghen toàn tập Tập 20 Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 1994 tr.437]
Định nghĩa này của Ăngghen được nhiều người đánh giá cao và coi là một định nghĩakinh điển thể hiện rõ nhất quan điểm mácxít về bản chất, nguồn gốc của tôn giáo:
+ Bản chất: Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử Cũng hhư C.Mác “Con người sángtạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” Tôn giáo là một thực thể kháchquan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dungcũng như hình thức biểu hiện Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (haytín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng Tôn giáo thường đưa ra các giá trị cótính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy đượcthể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…
+ Nguồn gốc: P Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy xuấthiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất Trình độ thấp của sự phát triểnsản xuất đã làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng
tự nhiên
Nguồn gốc xã hội: tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con ngườivới nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyếtđịnh là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lộtngười Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên tráiđất, nhưng họ đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia
Nguồn gốc nhận thức: Tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định,Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừutượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo Đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của conngười về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài
Nguồn gốc tâm lí: Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởngcủa yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa ra luận điểm”
“Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”
+ Định nghĩa này còn mang tính khái quát dưới góc độ triết học khi nêu lên mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hộiquyết định Đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật
Trang 22chất Khi xã hội còn áp bức, bóc lột, điều thiện điều ác thì tôn giáo như một liều thuốc an thầnxoa dịu những vết đau của con người Đó là sự đền bù cho sự hạn chế, sự lệ thuộc bất lực củacon người về phương diện xây dựng lại ý thức, cũng như cải biến điều kiện sinh tồn kháchquan
3 Quan niệm của các nhà xã hội học.
Vốn có hai quan điểm về tôn giáo, bất kể ta có tin vào tôn giáo hay không Một, tôngiáo là hiện thực tối cao vượt lên mọi khách thể nghiên cứu của xã hội học Hai, tôn giáo làmột sự mê tín phi lý về những sự việc không tồn tại Phần lớn các nhà tư tưởng xã hội có quanđiểm thứ hai Các nhà vị lợi và cải cách hợp lý có xu hường xem tôn giáo là một động lực phi
lý, lạc hậu Nó là nguồn gốc của mê tín, niềm tin vào một thế giới vô hình của các hồn ma.Các nhà làm luật nói đến tôn giáo như là một thiết chế của Tòa án tôn giáo và những kẻ săntìm người dị giáo, thiếu người trên dàn lửa do niềm tin tôn giáo của họ hoặc do bị coi là phùthủy Những người cấp tiến thì xem tôn giáo là kẻ duy trì hiện trạng, một loại môi giới củagiai cấp thống trị có chức năng làm cho người dân chấp nhận tình trạng bất công về kinh tế vàchính trị để đổi lấy một cuộc sống hứa hẹn trên thiên đường sau khi chết Các nhà trí thức duy
lý cho rằng chẳng có căn cứ gì, tôn giáo chỉ là một tàn tích của thời Trung cổ, rồi sẽ mất hẳnkhi xã hội hiện đại hóa Có một thời điều tin tưởng này có vẻ đúng, nhưng rồi người ta lạichứng kiến sự hồi sinh mạnh mẽ của tôn giáo, ngay cả ở những xã hội công nghiệp phát triểncao
Nhà xã hội học không chấp nhận cả hai quan điểm trên về tôn giáo, mà đưa ra cáchquan niệm và lý giải khác hẳn Các nhà xã hội học đã đưa ra hai loại hình định nghĩa về tôngiáo: định nghĩa bản thể và định nghĩa chức năng Trong khi định nghĩa bản thể cố gắng xácđịnh tôn giáo là gì, thì định nghĩa chức năng tìm xem tôn giáo làm gì cho các cá nhân, nhóm
và xã hội Hay nói cách khác, định nghĩa bản thể nêu lên tôn giáo là gì trong khi định nghĩachức năng cho thấy tôn giáo làm cái gì, đáp ứng nhu cầu nào, tôn giáo có những hệ quả gì với
sự vận hành của cơ cấu xã hội
- Định nghĩa bản thể:
P Berger đã đưa một định nghĩa bản thể khá điễn hình : "Tôn giáo là sản phẫm của
con người qua đó vũ trụ linh thiêng được thiết lập” Định nghĩa này đã đề cao vai trò tuyệt
đối của con người trong vũ trụ, phần nào làm sáng tỏ quan điểm: “con người sáng tạo ra tôngiáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người”
- Định nghĩa chức năng:
Trang 23J M Yinger cho ta một định nghĩa chức năng khá rõ ràng: "Tôn giáo có thể được địnhnghĩa như một hệ thống niềm tin và thực hành qua đó một nhóm người chiến đấu với những
vấn đề tối hậu của nhân sinh ” [J.M.Yinger, Religion, Society and Indiviual: An Introduction
to the Sociology of Religion, NewYork, Macmilian, 1957,p9] Những vấn đề tối hậu của nhân
sinh theo Yinger đó là những suy tư về cái chết, sự phiền nảo, hận thù đang xâu xé xã hội conngười
S.A Tokarev đã đưa ra một định nghĩa chức năng: “Từ lâu tôn giáo không còn có ýđịnh giải thích thế giới vật chất; trái lại nó xác định ý đồ của mình đem lại một ý nghĩa tổngquát cho cuộc sống và giải quyết những vấn đề triết học và đạo đức quan trọng nhất Trướchết nó muốn trả lời câu hỏi về nguồn gốc cái ác và đưa ta những giải pháp để đấu tranh chống
cái ác” [Nguyễn Xuân Nghĩa Định nghĩavề tôn giáo và những hệ luận trong nghiên cứu quá
trình thế tục hóa (nhìn từ góc độ xã hội học); Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 2/ 2002]
Cả hai loại hình định nghĩa trên đều có sự hạn chế nhất định Trước hết với loại địnhnghĩa bản thể, loại định nghĩa này thường xem đặc tính bản chất nhất của tôn giáo là cái linhthiêng, cái siêu tự nhiên Nhưng trong thực tế có những cái được mọi người xem là tôn giáonhưng không qui chiếu vào cái linh thiêng và ngược lại có những cái qui chiếu vào cái linhthiêng, siêu tự nhiên nhưng tính chất tôn giáo của chúng bị đặt thành vấn đề Ví dụ, Phật giáođược xem là tôn giáo nhưng những tôn giáo này thực chất không đặt trọng tâm vào cái linhthiêng, cái siêu tự nhiên Nếu xác định tính chất chủ yếu của tôn giáo là cái linh thiêng, cáisiêu tự nhiên thì ai có thẩm quyền xác định cái linh thiêng này? Và như vậy xã hội học tôngiáo có trùng lẫn với triết lý tôn giáo hay một nền thần học nào không?
Các định nghĩa chức năng về tôn giáo cũng có những hạn chế nhất định Hạn chếtrước hết là chúng có ý nghĩa rất rộng và có thể bao trùm nhiều hình thái ý thức (triết học, mỹhọc, nghệ thuật ) Ví như định nghĩa của Yinger đã nêu ở trên hay định nghĩa của R Bellah
"Tôn giáo là một tập hợp các hình thức biểu tượng và các hành động, chúng nối kết con ngườivới những điều kiện tối hậu của sự tồn tại” Thứ hai, định nghĩa này cũng tùy thuộc vàonhững bối cảnh cụ thể của những thành phần xã hội khác nhau, ví như có người đánh giá cácgiáo phái có vai trò trong xã hội, trong khi những người khác xem chúng là phi tôn giáo, cótác dụng tiêu cực đối với xã hội Và chức năng quan trọng nhất hay được gắn liền với tôn giáo
là chức năng hội nhập xã hội, hợp thức hóa hiện trạng và nếu vậy thì tôn giáo đánh mất đichức năng “tiên tri", phê phán của mình Thật ra tôn giáo bên cạnh chức năng biện minh, hợp
pháp hóa hiện trạng xã hội, còn có chức năng phản kháng xã hội [Nguyễn Xuân Nghĩa Định
Trang 24nghĩavề tôn giáo và những hệ luận trong nghiên cứu quá trình thế tục hóa (nhìn từ góc độ xã hội học); Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 2/ 2002]
- Bên cạnh hai loại hình định nghĩa chính nêu trên, còn có một loại định nghĩa hỗnhợp cả bản thể và chức năng Ví như định nghĩa của E Durkheim hay định nghĩa của giáo sưĐặng Nghiêm Vạn
hội”.[E Durkheim, Định nghĩa hiện tượng tôn giáo và về tôn giáo trong Hội khoa học lịch sử
VN Những vấn đề nhân học tôn giáo, NXB Đà Nẵng, năm 2006, tr 6])
Định nghĩa của E Durkheim vừa là một định nghĩa bản thể (nhấn mạnh cái linhthiêng) vừa là một định nghĩa chức năng (chức năng liên kết của tôn giáo) Định nghĩa nàycho thấy tôn giáo với tư cách là một hệ thống thống nhất gồm các niềm tin và hành động nghi
lễ đối với những thứ được kiêng thờ thần thánh hóa tạo thành một cộng đồng đạo đức cá nhântheo tôn giáo đó cảm thấy có sức mạnh hơn để chịu đựng và vượt qua khó khăn của cuộc sốngcho dù nhiều khi cách thức hành động của họ chỉ giới hạn trong phạm vi tinh thần ý thức Nhưvậy trong định nghĩa của mình, E.Durkheim đã chỉ ra được tôn giáo là hệ thống tín ngưỡng
và thực hành tín ngưỡng, đồng thời ông cũng chỉ ra rất rõ ràng chức năng tôn giáo là đoàn kết
xã hội Đây được đánh giá là một trong những định nghĩa tiêu biểu của xã hội học về tôn giáo
+ Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn: “ đối tượng chung nhất của tôn giáo, Tây cũng nhưĐông, là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lạimột cách hư ảo giữa con người và thế giới đó nhằm giải lý những vấn đề trên trần thế, cũngnhư thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn
giáo hay xã hội khác nhau” [Nguyễn Xuân Nghĩa Định nghĩavề tôn giáo và những hệ
luận trong nghiên cứu quá trình thế tục hóa (nhìn từ góc độ xã hội học); Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 2/ 2002].
Trang 25Định nghĩa này đã chỉ rõ bản chất và tôn giáo chức năng của tôn giáo là sự đền bù hư
ảo cho sự bất lực của con người trước tự nhiên đồng thời cũng thể hiện mong ước của conngười thông qua thế giới siêu nhiên vô hình
Nếu như các nhà xã hội học như E.Durkheim, S.A Tokarev, J M Yinger, P Bergertrong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về tôn giáo đã đưa ra những khái niệm theo những cáchriêng khác nhau Thì theo MacWeber, ông cho rằng không thể định nghĩa được tôn giáo là gì,chúng ta không nên cố gắng để định nghĩa nó mà có chăng chỉ nêu lên nó là gì ở phần kết luậncủa mỗi công trình nghiên cứu Theo ông xã hội học coi tôn giáo như một hiện tượng xã hộithực tế, nghĩa là mọi tôn giáo là sản phẩm của sự tương tác giữa con người với nhau, là mộtkiến tạo xã hội, chứ không phải do các lực lượng siêu nhiên tạo ra Theo cách hiểu này chúng
ta nhận thấy rằng bằng cách này hay cách khác, các nhóm xã hội nhắc đến cái siêu nhiêntrong lời nói, trong hành động thực tiễn của họ đó là những hiện tượng xã hội có thật
Nhìn chung, xét dưới góc độ xã hội học tôn giáo có ý nghĩa ở chỗ nó là ví dụ về việcmột hiện tượng phi hợp lý nhưng lại đóng một vai trò căn bản trong đời sống xã hội Lýthuyết xã hội học về tôn giáo cho phép ta hiểu nghi lễ xã hội và cái cách thức mà nghi lễ xãhội tạo ra tình cảm đạo đức cũng như các ý tưởng mang tính biểu trưng, vượt ra khỏi phạm vihiểu về tôn giáo, lý thuyết xã hội học về tôn giáo còn giúp ta hiểu về chính trị và hệ tư tướng,
về tiến trình đoàn kết mà lại tạo ra xung đột giữa các nhóm Thậm chí nó còn giúp ta hiểu vềnhững cơ sở của sự thế tục riêng tư trong đời sống hiện đại Nghi lễ xã hội là cái gì đó phổquát, thấm trong mọi ngóc ngách của đời sống hiện đại, hệt như nó đã từng là như vậy trongmọi thời, chỉ có các hình thái và sự sấp xếp của các nghi lễ là thay đổi mà thôi
CHUYÊN ĐỀ 5: CÁI THIÊNG TRONG TÔN GIÁO
1 Định nghĩa:
Cái thiêng là cái cốt lõi của tín ngưỡng, nếu thiếu nó thì không thể có tín ngưỡng.Nhưng từ tín ngưỡng đến tôn giáo còn một khoảng cách xa phụ thuộc vào thái độ ứng xử củacon người đối với cái thiêng Cái thiêng mang giá trị biểu trưng Có một khoảng cách từ tínngưỡng đến tôn giáo thì cũng có một khoảng cách từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể thực tế
đến trừu tượng, tư tưởng Những sự khác nhau này là điểm xuất phát trong quan niệm về cái
thiêng.
Sự thiêng liêng trước hết là đặc tính của thế giới tự nhiên bao quanh con người Đó là
sự thiêng liêng của nguồn ánh sáng mặt trời, của nguồn nước, của chiếc rìu hay cây lúa, nghĩa
Trang 26là những gì cụ thể và thiết thực, bảo lãnh cho sự sống Những năng lượng thiêng của một consông, dù là sông Nin hay sông Hằng của một ngọn núi, dù là núi Olympe hay núi Tản Viêncũng chỉ đủ phát sáng cho từng nhóm cư dân ở những vùng lãnh thổ riêng biệt Khi nhu cầuliên kết cộng đồng càng mở rộng, người ta cần đến một nguồn thiêng toàn năng và bao quáthơn Giống như những vệ tinh viễn thông thời hiện đại, biên độ phủ sóng tỷ lệ thuận vơikhoảng cách bay xa, lên cao khỏi mặt đất, ý tưởng về sự thiêng liêng cũng phát triển từ đặctính của thế giới tự nhiên hữu hình đến ý niệm về một bản thể siêu nhiên vô hình là biểutượng cao nhất là Đức Chúa trời hiện hữu khắp thế gian và chi phối mọi giống loài.4
Sự thiêng liêng (Sacré) vốn là những gì mang tính thiết thực, cụ thể, bảo lãnh cho cuộcsống Sự vận động của từ Sacré trong ngôn ngữ phương Tây cũng thể hiện quá trình hìnhthành khái niệm “thiêng”- một khái niệm cốt lõi của tư duy tôn giáo
Cái thiêng là sự ám chỉ những gì được xác định là phi thường, tạo cảm giác kính sợ,
sùng kính thậm chí là sợ hãi ( E Durkheim)
Cái linh thiêng là những yếu tố thiêng liêng, quan trọng, thần thánh và luôn được đặt ở
vị trí cao hơn cái trần tục
Là một trong những hệ tư tưởng thuộc về lịch sử tôn giáo, việc phân biệt cái thiêngvới cái trần tục (cái phàm) hay cái thiêng với tín ngưỡng nhằm nắm bắt được thực chất, nộihàm của từng hiện tượng tôn giáo cụ thể
Hình thức biểu hiện:
Cái thiêng là những vật linh thiêng được thờ cúng và thể hiện bằng những nghi lễ,hành vi chính thức long trọng xung quanh những vật đó Vật đó được gọi là vật tổ: là vậtmang đặc trưng của yếu tố tự nhiên, thấm nhuần đặc điểm thần thánh Không chỉ đơn giảnđược hiểu là các vị thần, cái thiêng có thể là một hòn đá, một cái cây, hoặc một con sông…bất kỳ cái gì cũng có thể coi là cái thiêng
Để giao tiếp với thần linh, con người đã "mượn" những "vật thiêng" làm trung gian
Đó là những người thiêng (thầy cúng, ông mo, bà đồng ), những vật thiêng (mặt nạ, conrối ), những lời thiêng (lời khấn), những chữ thiêng (bùa chú), những hành vi mô phỏng haydọa nạt, những điệu múa phấn khích, những lời tụng ca Những thứ này đều được cách điệuhóa mang tính biểu tượng cao Kèm theo những hành vi là những ma thuật với những nănglực đặc biệt: dẫm chân lên lưỡi cày nung đỏ, xuyên sắt qua cổ, qua bụng, phun ra lửa, dùngnước thánh chữa bệnh (“Thế giới tâm linh”_GS.TS Phạm Đức Dương, 10h12’ ngày 14 tháng
9 năm 2008_http://wwwchungta.com)
Trang 27Ví dụ:
Cơ Đốc giáo lấy biểu tượng linh thiêng là cây thập tự, nơi mà Chúa Jesu đã bị hànhhình bằng cách đóng đinh lên đó Đây cũng là biểu hiện niềm tin vào sự thần thánh của ChúaJesu đối với tất cả tín đồ Cơ Đốc giáo
Hồi giáo: thông qua đấng tiên tri là Mohammad_là người ghi lại lời của thành Allah_một vị thánh của Hồi giáo Kinh Koran là quyển sách ghi lại những lời này Vì thế đối với tín
đồ Hồi giáo, kinh Koran rất linh thiêng như lời răn dạy của thánh Việc tín đồ nghiền ngẫm vàphần lớn phải học thuộc lòng kinh Koran là biểu hiện cho đức tin của họ
Là một trong những hệ tư tưởng thuộc về lịch sử tôn giáo, việc phân biệt cái thiêngvới cái trần tục (cái phàm) hay cái thiêng với tín ngưỡng nhằm nắm bắt được thực chất, nộihàm của từng hiện tượng tôn giáo cụ thể
2 Phân biệt giữa cái thiêng và cái phàm (cái trần tục):
Trong đời sống hàng ngày chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được những yếu tố thôngthường của trần tục (cái phàm, cái đời thường).Cái thiêng là tất cả những gì trái với cái trầntục, yếu tố thiêng liêng thấm nhuần đặc điểm, sức mạnh của thần thánh, truyền cảm nhữngcảm hứng kính sợ, sợ hãi
Nhìn từ thực tế, có thể nhận thấy rằng sự đối lập giữa cái thiện và cái ác trong hiệntượng đạo đức hay sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu trong hiện tượng thẩm mỹ Nhưng rõràng sự đối lập giữa cái thiêng và cái tục là hoàn toàn khác nhau và không dễ nhận thấy được
Đó là hai thế giới khác nhau về chất, cái này không chuyển hóa cho cái kia Giữa chúng cónhững điều cấm kỵ nghiêm ngặt quy định
Mối quan hệ giữa cái thiêng và cái phàm:
Cái thiêng và cái phàm đều là do tôn giáo trên thế giới tự chia, chứ không phải thế giới
tự nhiên phân chia nó Cái thế tục càng mờ nhạt thì càng gần với cái thiêng Cái thiêng chỉđược cảm thụ khi có tác động đối với đời sống con người Một số đối tượng phàm nhờ thế màlại được thiêng hóa Và cái thiêng nhập vào cái phàm nào thì cái phàm đó trở thành cái thiêng.VD: Sông Hằng ở Ấn Độ mang tính linh thiêng đối với tín đồ Ấn Độ giáo Các tín đồ này chorằng việc tắm nước sông sẽ rửa sạch mọi tội lỗi tinh thần Vì vậy, trong dịp Kumbh Mela(diễn ra 12 năm một lần) hàng triệu tí đồ hành hương phải tham gia nghi lễ này
Giữa cái thế tục và cái thiêng là mối qua hệ không đồng cấp Cái thiêng và những gìđặc biệt, đầy quyển năng và phẩm chất cao cả trong khi thế giới phàm tục và bản thân con
Trang 28người tự coi mình chiếm một vi trí thấp hơn và phụ thuộc vào các sự vật thiêng Hơn nữa,giữa hai thế giới là một ranh giới tuyệt đối bởi tính không đồng chất giữa chúng Trong lịch
sử tư duy của loài người chúng ta biết đến những cặp phạm trù phản ánh hai mặt đối lập trongtính thống nhất biện chứng của các sự vật, hiện tượng mà trong quá trình vận động của chúng
có thể chuyển hóa lẫn nhau Đó là sự đối lập giữa cái thiện và cái ác của hiện tượng đạo đức
sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu của hiện tượng thẩm mỹ Nhưng sự đối lập giữa cái thiêng
và cái tục hoàn toàn khác Đó là hai thế giới khác nhau về chất, không cố sự chuyển hóa qua
lại trong quá trình vận động, tinh lực của cái này không phải là tinh lực của cái kia Dukheim
E viết: "Tùy theo mỗi tôn giáo, sự đối lập ấy được nhận thức một cách khác nhau Ở tôn giáonày, để tách riêng hai loại sự vật ấy chỉ cần khu trú chúng vào những khu vực khác nhau trong
vũ trụ vật chất, ở tôn giáo kia, những sự vật này được đưa vào một môi trường ý tưởng và siêuviệt Còn thế giới vật chất thì để cho những sự vật khác chiếm làm sở hữu Nhưng nếu nhưhình thức tương phản có khác nhau, thì sự tương phản là phổ biến”
Ngoài ra ta còn thấy thông qua Giáo chủ ( người truyền giáo) cái thiêng đến được với
người phàm
3 Các nghiên cứu XHH về “cái thiêng”:
Trong các nghiên cứu về tôn giáo, đặc biệt là những nghiên cứu Xã hội học về tôngiáo, chủ đề “cái thiêng” là một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất Điều đókhông chỉ thể hiện ở số lượng lớn các công trình nghiên cứu khác nhau mà còn ở chiều sâucủa vấn đề về “cái thiêng” được đề cập đến trong các công trình đó
Có khá nhiều dòng quan điểm về “cái thiêng”, và ở mỗi dòng quan điểm đó đều cónhững nhóm tác giả đã đưa ra các công trình nghiên cứu thực sự sâu sắc
3.1 Quan điểm của E Durkheim về “cái thiêng”:
Trong tác phẩm nổi tiếng định ra trường phái Durkheim - Các hình thức sơ đẳng của
đời sống tôn giáo Hệ thống tôtem ở Châu úc (Les formes élémentaires de la vie religieuse
-Le système totémique en Australie) xuất bản năm 1912, ông đã lần đầu tiên đưa ra cặp phạm
trù Profane / Sacré (Cái thế tục / Cái thần thánh).
E Durkheim viết: "Tất cả các tín ngưỡng tôn giáo đã biết, đơn giản hay phức tạp, đều
có một đặc điểm chung: chúng đều giả định một phân loại các sự vật, thực tế hay quan niệm,
mà con người biểu hiện ra, thành hai lớp, hai loại đối nghịch nhau, nói chung được chỉ địnhbằng hai thuật ngữ khác biệt nhau mà các từ Profane và Sacré diễn đạt khá tốt Sự phân chia thếgiới thành hai lĩnh vực gồm có một lĩnh vực tất cả những cái gì là Sacré, một lĩnh vực khác tất cảnhững cái gì là Profane; đó là nét đặc trưng của đời sống tôn giáo " Như vậy, ở đây Durkheim
Trang 29đã coi cái thiêng là một trong hai phạm trù cơ bản của đời sống tôn giáo giúp phân loại thế giới
các sự vật, thực tế và cả các quan niệm Đồng thời theo đó có thể hiểu thì theo Durkheim, tôn giáo
đã phân chia thế giới thành hai phần là Profance và Sacré chứ không phải là thế giới tự chia
thành hai phần đó Và hai khái niệm này là hai phạm trù được đặt trong “các tín ngưỡng tôngiáo đã biết” Nghĩa là chỉ trong các tôn giáo đã xác định, đã được định hình, hay nói cách
khác là chỉ khi nào xuất hiện tôn giáo thì mới xuất hiện cặp phạm trù cái thế tục và cái thiêng
đóng vai trò phân loại thế giới như trên
Trong quan niệm của E Durkheim, cái thần thánh gồm có các tín ngưỡng, thần thoại, truyền thuyết diễn đạt bản chất, quyền lực, đặc tính, lịch sử của các cái thần thánh và mối quan hệ của chúng với các cái thế tục Theo đó thì cái thần thánh (cái thiêng) không chỉ bao hàm các vị thần mà bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành cái thiêng, từ hòn đá, cái cây đến ngôi
nhà, ngọn núi Đây chính là đặc điểm nổi bật nhất của tín ngưỡng totem mà cụ thể là tínngưỡng của các bộ lạc thổ dân châu Úc mà ông nghiên cứu
Tuy nhiên, cặp phạm trù mà E Durkheim xây dựng lên này cũng bị một số nhà Tôn
giáo học phê phán, trong đó đáng chú ý là nhận xét của Henri Hatzfeld trong cuốn Các nguồn
gốc của tôn giáo - Truyền thống, nghi thức, các giá trị: "Khi E Durkheim đặt khởi điểm công
trình nghiên cứu về tôn giáo của ông trên sự đối lập của Profane với Sacré, đó là một hiện tượngtín ngưỡng mà ông cho là phổ quát và bảo với chúng ta là như thế Nhưng những quan niệm, vànhất là những quan niệm đó, có phải là cái mà tôn giáo tạo ra hay không? Chúng giải thích tôngiáo? Phải chăng trái lại chính tôn giáo giải thích chúng Cho nên, chúng tôi muốn tìm một sựkiện độc lập với các tín ngưỡng mà có thể là cái tạo thành các tín ngưỡng, và chúng tôi có thể xuấtphát từ đó như một cơ sở không thể chối cãi được"
Có thể nói, đóng góp quan trọng nhất của E Durkheim chính là việc ông đã xác định
và xây dựng nên bước đầu về những khái niệm cái thiêng, cái trần tục mặc dù đây có thể là
những khái niệm chưa thật sự đầy đủ theo những quan điểm tôn giáo học hiện đại cũng nhưnhững quan điểm của các nhà nghiên cứu Xã hội học tôn giáo Điểm đáng lưu ý trong nghiêncứu của E Durkheim chính là ở việc ông đã thấy được bản chất của quan niệm tôn giáo từhình thức căn bản, sơ khai nhất đã có sự phân chia, phân định hai thực trạng cơ bản của một
thế giới có tôn giáo, đó chính là yếu tố cái thiêng (cái thần thánh) được phân biệt với cái thế
tục (cái phàm trần).
3.2 Nghiên cứu của Hồ Liên về Cái thiêng tôn giáo:
Nguồn: (truy cập ngày 19/9/2008)
Trang 30Trong số những nghiên cứu về tôn giáo và đặc biệt là những nghiên cứu tập trung đi
sâu vào những thành tố cơ bản của tôn giáo như cái thiêng thì bài viết nghiên cứu của Hồ
Liên là một trong những công trình khá tiêu biểu Tác giả không chỉ làm rõ, giải thích khái
niệm về cái thiêng mà còn đề cập sâu hơn vào khái niệm này thông qua hai mặt, hai dòng quan điểm, hai thái độ sóng đôi của con người về cái thiêng:
Sự tôn kính và biết ơn: thể hiện qua việc thờ cúng, làm các lễ biểu hiện ”lòng thành”
đối với những gì trở nên xa cách, trừu tượng hư ảo Chẳng hạn, đó là thờ cúng tổ tiên, các vịgia thần, rồi đến các vị cao hơn, xa hơn Đối tượng được tôn thờ, chịu ơn càng cụ thể, gầngũi thì tình cảm càng sâu sắc, hành vi ứng xử càng thiết thực Trên phương diện này thì theo
như tác giả nói, cái thiêng đã bị hiện thực hóa
Thái độ sợ hãi trước sức mạnh đầy bí ẩn: trái với lòng tôn kính và biết ơn, sự sợ hãi
càng gia tăng khi đối tượng càng mù mờ bí ẩn Cái thiêng càng trừu tượng siêu hình baonhiêu, quyền năng chế ngự con người của nó càng lớn bấy nhiêu Hệ quả tất yếu của giải đápchế ngự là hành vi phù phép, dẫn đến những hủ tục mê tín dị đoan
Thực chất, thái độ sợ hãi trước sức mạnh đầy bí ẩn kể trên của con người là một thái
độ tương đối đặc trưng của con người tôn giáo (homo religiosus), nó tồn tồn tại đồng thờitrong các cá nhân tôn giáo Con người thường bị đặt vào một hình thế nước đôi, vừa tôn kínhhàm ơn, lại vừa sợ hãi nên không tránh khỏi hành vi ứng xử mang tính chất thụ động Người
ta cầu khấn và chỉ còn biết khấn nguyện mà thôi bởi không thể triệt tiêu hoặc né tránh Đây lànét đặc trưng của hành vi tôn giáo Cần phải nhận xét rằng trong thái độ của người bình dânđối với cái thiện tôn giáo thì sự sợ hãi chiếm ưu thế, nó quy định tính chất thụ động của hành
vi ứng xử
Như vậy, vấn đề cái thiêng tôn giáo được Hồ Liên đề cập đến xét về một khía cạnh nào đó có sự tương đồng với E Durkheim, đó là sự tiệp nối tư tưởng của Durkheim về cái
thiêng và tác giả đã minh họa rõ hơn sự hiện diện của cái thiêng trong đời sống tôn giáo.
3.3 Trần Văn Hiệp và Cái thiêng trong văn hóa Việt Nam:
Vấn đề cái thiêng cũng được tác giả Trần Văn Hiệp đề cập đến ở một khía cạnh khác,
đó là cái thiêng đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của con người Việt Nam, nó ăn sâu
vào tâm thức người Việt và đi vào đời sống tín ngưỡng nói chung chứ không chỉ tồn tại trongmột dạng tôn giáo nào như các nhà nghiên cứu khác đã đề cập đến
Nói như tác giả thì “có một cảm thức về cái thiêng trong nền văn hóa Việt Nam Ðây
là thực tại được hình thành và được cưu mang trong hồn dân tộc, được thể hiện qua những
Trang 31biến chuyển của lịch sử, được ăn sâu trong tâm khảm, trong nếp sống, lối nghĩ của mỗi côngdân đất Việt”.
Chính vì cái thiêng được đặt trong văn hóa nên nó cũng được xét trong mối quan hệ với
những thành tố của văn hóa mà cụ thể ở đây, Trần Văn Hiệp chỉ ra đó là : tín ngưỡng, lịch sử,tương quan với thiên nhiên, trong phong tục thờ cũng tổ tiên
Cái thiêng trong tín ngưỡng: Thực tại "thiêng liêng" tồn tại rất thật trong cuộc sống, đi
vào trong thơ ca, âm nhạc, tín ngưỡng, tôn giáo dân gian “Cảm thức về cái thiêng trởthành hồn sống và nền tảng cho mọi tín ngưỡng và mọi tôn giáo dân Việt Ảnh hưởngcủa nó quan trọng đến độ, thiếu cảm thức này thì tôn giáo chỉ còn là một sự giả tạokinh khủng, thần thánh hay Thiên Chúa chỉ còn là tượng đất, thánh kinh thành huyềnthoại, và nghi lễ thành hát tuồng Trái lại, có nó thì dù tổ quốc cũng thành thiêng liêng,
và chủ nghĩa cũng nhuốm mùi tôn giáo”5
Cái thiêng trong lịch sử: Xét trong khía cạnh lịch sử dân tộc, cái thiêng được tác giả đề
cập đến gắn liền với những chiến công hiển hách, gắn với truyền thống cũng như tinhthần bất khuất của quân dân ta chống lại mọi kẻ thù xâm lược Điều đó làm nên tínhthiêng liêng của truyền thống hào hùng “Ðất nước là thiêng liêng, dân tộc là linhthánh, vì thế truyền thống dân tộc đã bộc lộ tư tưởng yêu nước là yêu dân, cứu nước làcứu dân”6 và đó cũng là cảm thức về cái thiêng trong văn hóa Việt Nam.
Cái thiêng trong tương quan với thiên nhiên: Sự thiêng liêng ở đây trước hết là đặc
tính của thế giới thiên nhiên bao quanh con người Cái thiêng trong tương quan vớithiên nhiên được biết đến như là “khí thiêng” của trời và đất, của dòng sông, cây lúa,của “những gì cụ thể và thiết thực bảo đảm cho sự sống của người dân lao động nôngnghiệp” bởi đời sống lao động nông nghiệp vốn là điều quen thuộc, gần gũi nhất đối
với đa phần người dân Việt Nam từ bao đời Chính quan niệm về cái thiêng gắn với
thiên nhiên như vậy đã góp phần tạo nên cho con người có sự gắn bó, hòa hợp với môitrường tự nhiên xung quanh mình hơn, tạo nên mối tương quan tốt hơn giữa con người
và thiên nhiên “Một quan niệm như vậy không đẩy cái thiêng thành phạm trù nhậnthức trừu tượng, trái lại trở thành đối tượng của những ứng xử cụ thể trong cuộc sốnghằng ngày đối với thiên nhiên, đối với con người với nhau mà cụ thể nhất trong phongtục nhân gian”7
5Hoành Sơn, Tín lý tinh yếu, Toà Tổng giám mục Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr 59-60
6,4 Trần Văn Hiệp, Cái thiêng và vấn đề hội nhập văn hóa Việt Nam
75Nguyễn Phan Quang, Bản tính người Việt nhìn từ góc độ tâm linh, bài viết trong tác phẩm
Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc, Nxb Tp.
Hồ Chí Minh, 2000, tr 150
Trang 32 Cái thiêng trong phong tục thờ cúng tổ tiên: Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt
Nam thể hiện một tâm thức về thực tại linh thiêng trong tương quan con người vớinhau Đó là sự bày tỏ tình cảm của người còn sống với những người đã khuất: tìnhcảm hiếu thuận của con cháu với ông bà tổ tiên, lòng biết ơn, ngưỡng mộ đối vớinhững vị anh hùng, những người có công lao đối với dân tộc “Tình cảm linh thiêng
ấy trở thành một tôn giáo, trở thành "Ðạo" dân Việt” Và nếu như cong người ta “thiếu
đức tin đó thì chẳng khác nào một sự bội bạc, vô ơn, một sự phủ nhận cội nguồn củamình, một điều tối kỵ trong tâm linh người Việt”8
4 Những lí thuyết Xã hội học được áp dụng lý thuyết để giải thích về cái thiêng:
Áp dụng từ khía niệm cái thiêng vào việc xây dựng và phát triển lý thuyết xã hội học chúng
ta có thể nhận thấy các mô hình lý thuyết :
4.1 Mô hình tương tác biểu trưng (Peter Berger):
Peter Berger là một nhà xã hội học có những đóng góp quan trọng trong phân tích xã hội học
về tôn giáo Quan điểm của Berger được định hướng bằng mô hình tương tác biểu tượng, xem
xã hội như là sự hình thành tương tác con người đang tiếp diễn sử dụng biểu tượng xã hội.Theo Berger, xã hội với tất cả thành phần của nó, trong đó có tôn giáo, là một thực thể đượchình thành bằng cách tương tác với con người tác động trở lại người hình thành xã hội
Ông lý giải rằng: Một sự vật hiện tượng trong đời sống tín ngưỡng sở dĩ thiêng liêngkhông phải là những thuộc tính vật chất mà nó ở giá trị biểu trưng Nghi lễ là cách thức thựchành của con người không phải là giao tiếp với các sự vật hiện tượng cụ thể mà là hành vigiao tiếp với cái thiêng liêng mà nó là biểu tượng
4.2 Mô hình quyền lực xã hội ( E Durkheim):
Ông cho rằng việc nhận thức về thánh thần, niềm tin tôn giáo thực chất lf sự nhận thức xã hội,thể hiện về quyền lực của xã hội Vì thế, niềm tin tôn giáo mang tính xã hội, con người nênkính trọng QLXH vì lẽ bản thân xã hội vốn giống như thần ( niềm tin tôn giáo phản ánhQLXH)
4.3 Mô hình mâu thuẫn xã hội ( Karl Mark):
Mô hình mâu thuẫn xã hội cũng đưa ra một phân tích tôn giáo, phần lớn là cách đánh giá rút
ra từ quan điểm của Karl Mark Từ cái thiêng của tôn giáo mà con người đặt niềm tin vào sự
thiêng liêng trong tôn giáo Tuy nhiên theo Marx, tôn giáo là một hình thức ý thức hệ, nó làmhợp pháp hóa đời sống thực của con người và làm cho con người không còn chú ý đến nhữngvấn đề bất công xã hội và những vấn đề xã hội bức thiết đang diễn ra hàng ngày Mark cũng
Trang 33nhấn mạnh rằng một tôn giáo mang ý thức hệ sẽ bảo vệ và mang lại quyền lợi cho nhữngngười có quyền thế trong xã hội và hạn chế quyền lợi của đa số những người còn lại, và đóchính là nguyên nhân của những mâu thuẫn xã hội do tôn giáo gây ra Trong xu thế sáp nhậptôn giáo trên thế giới hiện nay tôn giáo nào chiếm ưu thế sẽ đạt được nhiều quyền lực gây nên
sự bất công trong xã hội Niềm tin tôn giáo cũng khuyến khích sự thống trị của nam giới trongđời sống xã hội
4.4 Mô hình biến đổi xã hội (Max Weber):
Từ mâu thuẫn xã hội có thể thúc dẩy thay đổi xã hội Xã hội tư bản phát triển là sản phẩm từ
sự mâu thuẫn xã hội Theo thuật ngữ của Weber “ đạo đức tin lành” là tiếp cận có kỷ luật cao
và duy lý đối với cuộc sống được thay đổi thành “tinh thần ” chủ nghĩa tư bản
II Chức năng của cái thiêng
Cái thiêng mang tính tư duy của con người biểu hiện qua niềm tin Nó không dựa trênmột cơ sở giải thích hay một chứng cứ khoa học nào bởi “ vì chúng ta bước đi bởi đức tin chứkhông phải bởi mắt thấy ” (Trích Kinh thánh Cơ đốc giáo)
Thông qua thái độ của con người đối với cái thiêng đó là sự tôn kính biết ơn (thể hiện bằngcác nghi lễ tượng trưng như việc thờ cúng tổ tiên) Đây là một thái độ tích cực vì đó là hành vimang tính chất nhân văn hình thành nên những phong tục giầu sắc thái văn hóa dân tộc.Nếu người phàm có thái độ sợ hãi trước những sức mạnh đầy bí ẩn Người ta cảm thấy sự siêuhình, quyền vạn năng của cái thiêng chế ngự chính bản thân con người sẽ tạo ra những hoạtđộng tiêu cực mê tín dị đoan
Cái thiêng đặt con người ở thế nước đôi tạo nên ranh giới tuyệt đối giữa cái thiêng và cái tục.Hành vi của con người mang tính thụ động con người phải tự tạo ra hành vi khuôn mẫu ứng
xử đối với cái thiêng này
Ý nghĩa xã hội (chức năng) của cái thiêng
Cái thiêng là nền tảng, là cơ sở để phát sinh ra mọi tôn giáo Nếu không có cái thiêng
thì cũng không có tôn giáo Do đó, cái thiêng và tôn giáo gắn bó với nhau không thể tách rời,
và ý nghĩa của tôn giáo cũng chính là ý nghĩa của cái thiêng Emile Durkheim đã nhận địnhrằng “sự khác biệt giữa cái thiêng và cái trần tục là nền tảng của niềm tin tôn giáo trong lịch
sử con người Tuy nhiên dưới góc độ xã hội học thì vấn đề mà chúng ta cần quan tâm là ýnghĩa của cái thiêng đối với hoạt động xã hội chứ không phải xem cái thiêng tồn tại như thếnào và liệu trong tương lai có bị diệt vong hay không…Và theo tôi, ý nghĩa của cái thiêngcũng chính là ý nghĩa của tôn giáo:
Trang 34- Tôn giáo, trong đó có cái thiêng thúc đẩy tính cố kết xã hội, đoàn kết thành viên xã
hội qua các giá trị và tiêu chuẩn chung Trong các xã hội thô sơ, vật tổ là biểu tượng hữu hình
của sự đoàn kết này Các cộng đồng tôn giáo trên thế giới đoàn kết, cố kết với nhau dưới vậtthiêng của mình Người Hồi giáo có kinh Koran và thánh địa Jerusalem, người theo đạo Thiênchúa có kinh Cựu ước, Tân ước và vùng đất thánh Vatican, tương tự đạo Phật cũng có sáchriêng của tôn giáo mình Ở Mỹ, để thể hiện mục đích sự đoàn kết tập thể dựa trên cơ sở niềmtin, tất cả tiền giấy của Mỹ đều in dòng chữ “Chúng con tin tưởng tuyệt đối vào Chúa”, hơnnữa cờ Mỹ cũng có mục đích tương tự, biểu tượng hóa ý chí “Một quốc gia dưới sự che chởcủa Chúa, không thể bị chia cắt”
Tuy nhiên, tôn giáo, hay cái thiêng có thể rối loạn chức năng bằng cách gây sự chia rẽ trong
xã hội hoặc tạo ra mâu thuẫn giữa các xã hội Ví dụ, vào đầu thời kỳ Trung cổ, niềm tin tôngiáo đã thúc đẩy tín đồ Cơ Đốc châu Âu tổ chức thành những đạo quân Thập tự chinh chốnglại tín đồ Hồi giáo ở phương Đông Về phần mình, tín đồ Hồi giáo tìm cách bảo về đức tin củamình chống lại tín đồ Cơ Đốc xâm lăng Mâu thuẫn giữa tín đồ Hồi giáo, Do Thái giáo và CơĐốc vẫn là nguồn bất ổn chính trị ở Trung Đông ngày nay, và công dân Bắc Isreal bị chia rẽthành hai phái vũ trang trên cơ sở trung thành với các niềm tin tôn giáo Cơ Đốc hay Tin Lành
- Cái thiêng hay tôn giáo có chức năng kiểm soát xã hội Điều này được thể hiện một cách rõràng trong xã hội phương Tây khi mà giai đoạn thần quyền đang bao trùm toàn bộ xã hội Nhàthờ có quyền lực lớn hơn nhà nước…
- Khi niềm tin tôn giáo được chia sẻ trong xã hội, thì chiều hướng có ý nghĩa và có mục đích
sẽ phát sinh trong sự cố kết xã hội và ổn định xã hội Durkheim phân tích về chức năng tôngiáo không ngụ ý một niềm tin tôn giáo bất kỳ là có giá trị hay vô giá trị Chắc chắn thế giới
có rất nhiều niềm tin tôn giáo, phần lớn niềm tin này mâu thuẫn với nhau, những gì một ngườicho là vấn đề đức tin, thì người khác lại cho rằng phi lý Nhưng khi đối mặt với cái chết, bệnhtật, thiên tai và vô số những thất bại của con người, đời sống có vẻ dễ bị tổn thương, hỗn độn
và vô nghĩa một cách vô vọng lúc này, dù là niềm tin tôn giáo nào chăng nữa đều tạo cảmgiác an ủi rằng nhiều kinh nghiệm con người – từ khi sinh ra cho đến khi mất đi - đều có mụcđích nhiều hơn Củng cố niềm tin như thế, con người ít bị sự tuyệt vọng quật ngã hơn khi đốimặt với những tai họa trong đời sống, và rất có thể đóng góp tích cực nhiều hơn vào phúc lợi
xã hội
CHUYÊN ĐÈ 6: HÀNH VI TÔN GIÁO
Trang 351.Hành vi:
- Hành vi là cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định được biểu hiện bằng cửchỉ, lời nói, hành động Gồm có hành vi thô bạo, hành vi tốt đẹp, hành vi phạm pháp (theođại từ điển tiếng việt)
- Hành vi: Hành vi con người là hành vi có ý thức, được tạo nên thông qua hoạtđộng có ý thức của con người, nó là kết quả của việc điều chỉnh có ý thức của cá nhân đốichiếu tương ứng với thực tiễn xã hội Hành vi của con người được xác định từ các chuẩn mực,giá trị, các yếu tố tâm lý xã hội, phong tục tập quán, các quan hệ xã hội
Hành vi hàm chứa yếu tố nhận thức, hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, giá trị xãhội, thể hiện qua hành động cụ thể của con người
2 Tôn giáo:
Là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấpnhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trêntrần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vàonhững thời kì lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôngiáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộngđồng xã hội tôn giáo khác nhau
Theo Durkheim thì tôn giáo là: “một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm tin
và những thực hành liên quan đến những điều thiêng liêng, nghĩa là được tách biệt, cấm đoán những niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng tinh thần,
được gọi là giáo hội”
Từ những cách hiểu về hành vi và tôn giáo như trên thì chúng ta có thể hiểu hành vi tôn giáo là việc thực hành các nghi lễ (lễ thức) tôn giáo và các hành vi của con người liên quan đến tôn giáo Về cơ bản, hành vi tôn giáo dựa trên cơ sở niềm tin và nghi lễ Khi cá
nhân có niềm tin vào tôn giáo thì cá nhân đó sẽ thể hiện niềm tin vào đấng siêu nhiên thôngqua những nghi lễ
Hành vi tôn giáo phải liên quan đến một thực thể siêu nhiên, vô hình hay đến mộtniềm tin tôn giáo được quy định trong quy tắc, giáo luật của một loại hình tôn giáo hay trongluật lệ của một cộng đồng xã hội/ tôn giáo, một mục đích cầu xin điều tốt lành, ngăn cản điềuxấu xa, mà bản thân con người hay cộng đồng mong muốn ở thực thể siêu linh Có thể nói
Trang 36thông qua thực hành hành vi tôn giáo sẽ làm cho nội dung giáo lý trở nên sống động hơn, làcầu nối mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian của cộng đồng
và cá nhân
Hành vi tôn giáo thường mang tính cộng đồng như ngày lễ kỷ niệm ngày thương binhliệt sỹ, ngày lễ phật đản, lễ VuLan… hoặc nếu cá nhân nào thực hiện hành vi tôn giáo mộtcách riêng lẻ thì cũng phải tuân theo quy tắc của cộng đồng`xã hội/ tôn giáo
Trong bài báo cáo này chúng tôi đi sâu vào việc thực hành các nghi lễ tôn giáo – đặctrưng quan trọng của hành vi tôn giáo, mỗi hình thức tôn giáo có những nghi lễ thể hiện ởnhững dạng khác nhau mang tính đặc thù và bắt buộc
II Hình thức biểu hiện của hành vi tôn giáo
1 Sự thờ cúng.
Bất kỳ tôn giáo nào muốn tồn tại phải có những hành vi thờ cúng, phổ biến ở bất kỳmột tôn giáo nào và hành vi này liên quan đến niềm tin, giáo lý và được thực hiện bởi cácchức sắc, những người làm nghi lễ tôn giáo chuyên nghiệp hoặc tự thực hiện dưới sự chỉ dẫncủa một nguyên lý và nội dung nhất định Hành vi thờ cúng có thể được thực hiện bằng tự cánhân hoặc dưới hình thức cộng đồng Những hành vi tôn giáo đó thường được gọi là nghi lễhay lễ thức
Từ việc thực hiện hành vi thờ cúng thì các cá nhân cầu nguyện, cầu xin và khấn lễdiễn ra do sự thúc ép của bản thân, hay theo quy định của từng tôn giáo: Như đạo Hindou thờcon bò cái Đạo Phật thì thờ Phật (Phật Thích ca, Bồ Tát, Phật Adi Đà…) với hình thứcphong phú như ngồi thiền, lần tràng hạt, gõ mõ, mong sự yên bình, thanh thản ở cõi trần vàthoát khỏi kiếp luân hồi Đạo thờ tổ tiên, thờ cúng vào ngày mồng một và ngày rằm ngoài ra
tổ chức ngày giỗ, nhằm cầu xin tổ tiên cho con cháu gặp nhiều may mắn…Ở các tôn giáo độcthần cầu nguyện theo quy định của nhà thờ, công giáo có lễ hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng,trong các buổi lễ trọng như lễ Noel,…ở nhà hay ở nhà thờ, nhà nguyện, lễ xưng tội với Chúaqua các linh mục nhằm cầu mong sự cộng cảm với tội lỗi bản thân Lễ cầu nguyện của đạoIslam thường xuyên 5 lần 1 ngày hướng về nơi thánh địa vào lúc sang sớm lúc mặt trời mọc,giữa trưa, chiều, lúc mặt trời xế bóng và đêm – là phương pháp quan trọng để làm sạch tráitim, mong muốn thiết lập được mối quan hệ cá nhân và trực tiếp với đấng Allah
Trang 37Ngày nay, trong những hoàn cảnh và thời gian khác nhau, do tình hình tôn giáo pháttriển hay giảm sút, giao lưu văn hóa, nên những buổi lễ cầu nguyện tập thể hay cá nhân, haynhững hình thức thực hành tôn giáo khó có thể giữ đúng được nguyên tắc như xưa Ví như khinói đến cầu nguyện không thể không nói đến sự hiến sinh hay dâng lễ vật, vì hai hành vi nàythường đi đôi với nhau, sự hiến sinh có thể là đồ vật mà người sống dâng cho một thực thểsiêu linh, nhưng gần đây thì có thể không có cũng được Hay như tục của người do Thái trướcngày giải phóng còn có hiện tượng chia của cho người thân đã khuất như gạo, y phục, các vậtgia dung và sản xuất và buộc con gà kèm theo để dẫn đường cho hồn về với tổ tiên…Ngàynay họ đã thay bằng vật tượng trưng, người Kinh thường đốt vàng mã, các vật bằng giấy thay
đồ vật, hay để quả trứng gà và bát cơm để thay con gà dẫn đường, và tượng trưng cho cuộcsống dưới âm no đủ trong vòng 3 năm Đặc biệt có hiện tục bắt người sống phải chết làm vậthiến tế để cầu xin thần linh, ở nước ta cuối thế kỷ XIX, vùng người Tày – thuộc Bạc Liêu códuy trì tục dâng thần sông Gâm một trai tơ, sau này mới thay bằng đôi trâu, một đen, mộttrắng Thế nhưng, thực tế cũng cho thấy xu hướng gia tăng các đồ hiến tế, lễ vật, có một sốngười đến những nơi thờ tự để cầu nguyện, thờ cúng với cái tâm thiếu trong sạch, với mụcđích không trong sáng thiên về “ mâm cao, cỗ đầy”, hình thức có tính phô trương, nên ý nghĩa
có phần giảm sút
Thực hiện hành vi tôn giáo tạo nên sự gắn kết giữa tín đồ và tôn giáo, tạo nên cho các
cá nhân niềm tin vào các vị thần linh, đối tượng được thờ cúng, như E Durkhiem nói: “ trên
thực tế ai đã thực sự theo một tôn giáo nào đều biết rõ rằng chính sự yên ổn nội tâm sự thanh thản, lòng nhiệt thành là những điều được xem như bằng chứng thực nghiệm về tín ngưỡng này Sự thờ cúng không chỉ đơn thuần là một hệ thống những dấu hiệu qua đó đức tin biểu hiện ra ngoài, đó là sự tập hợp các phương tiện, qua đó đức tin được sáng tạo và tái tạo theo từng thời kỳ”
Nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian củacộng đồng và cá nhân, nó làm cho nội dung giáo lý tôn giáo trở nên sống động, phổ quát quathực hành hành vi tôn giáo
2. Những sự kiêng cữ
Kiêng cữ là việc con người không được làm điều gì khác với lệ tục quy định Nhữngkiêng cữ này có thể là sự kiêng cữ đối với các lễ vật, thức ăn mang tính nghi lễ, đối với nhữngngười được coi là thiêng liêng Ví như trong ngày Đạo Phật vào những ngày lễ đình chùa thìngười đi lễ không được ăn tỏi và thịt chó, đối với các vị chức sắc thì không được lấy vợ, mặc
Trang 38y phục riêng, không được ăn thịt mà phải ăn chay Đạo Hòa Hảo không thờ các thần thánhnếu không rõ căn tích Người Chăm Islam do đặt trọn niềm tin vào một thượng Đế duy nhất,
mà thượng Đế là đấng vô hình không thể mô tả bằng hình ảnh nào, do đó họ chỉ có thể tônkính trong trí tưởng tượng, vì thế trong gia đình họ không treo hình ảnh kể cả di ảnh củangười thân đã mất, trong bữa ăn không ăn thịt heo, vì cho thịt heo là dơ bẩn, không được xămmình, không để con vật như chó, mèo, heo liếm hoặc cắn phải nếu có trường hợp đó xảy ra thìphải rửa bằng nước bùn một lần và sau đó rửa lại nước sạch bảy lần kèm theo việc đọc mộtcâu kinh để xin Thượng Đế xác nhận đã tẩy sạch thân thể…
Một số kiêng cữ được áp dụng trong thời kỳ lễ hội Như trong tháng ăn chayRamadan diễn ra vào tháng 9 của người Chăm Islam hàng năm thì họ phải giữ mình trongsạch, phải chịu mọi thử thách, người Chăm nhịn mọi thứ vào ban ngày và chỉ được phép ănuống, hút thuốc vào ban đêm, không được hát xướng, vui chơi, hoặc quan hệ tình dục, khôngđược sát sinh… kiêng cữ có khi trong cả đời thường Những sự kiêng cữ này rất đa dạng vàliên quan đến hầu hết đến các lĩnh vực trong đời sống con người: có tục kiêng một số loạithức ăn của phụ nữ khi chửa đẻ hay sau khi sinh nở, những kiêng cữ giữa nàng dâu và bốchồng hay anh em chồng như không được ngồi cùng mâm, ở cùng buồng, …qua đó thấy được
có những kiêng cữ thật khó phân biệt đâu là mang tính xã hội đâu là có tính tôn giáo
Kiêng cữ là một bộ phận của hành vi tôn giáo và trong đó có nhiều biểu hiện lạc hậu,gần đây đã dần dần mất đi
3. Lễ hội
Lễ hội là hoạt động quan trọng trong đời sống tôn giáo Có thể nói rằng nếu không cóthờ cúng, không có lễ hội thì không có tôn giáo Lễ hội trước hết là sự lặp đi lặp lại trongcộng đồng nhằm khơi dậy niềm tin, gợi lên cho từng cá nhân thấy rằng mình thuộc về mộtcộng đồng tôn giáo hay một xã hội nhất định Lễ hội làm cho con người thấy rằng mình không
lẻ loi, thấy mình được sự đùm bọc và che chở của cộng đồng Lễ hội có khi còn gắn với hànhhương Không một tôn giáo nào lại không có một vài nơi thiêng mà các tín đồ muốn được đến
đó, chí ít là một lần trong đời Có thể coi đây là một hình thức tổng hợp hoàn thiện nhất củahành vi tôn giáo Ví dụ: người theo đạo Hồi hành hương đến thánh địa Mecca, đạo Cao Đài ởViệt Nam hành hương về tòa thánh Tây Ninh, Công giáo hành hương đến Roma…
III Tính chất của hành vi tôn giáo:
Trang 39Hành vi tôn giáo là hành vi có ý thức của tín đồ thể hiện niềm tin vào đấng tối cao,siêu nhiên Niềm tin đó thể hiện ở những nơi thiêng liêng và trên cao như bàn thờ tổ tiên thìđặt trên cao, đình chùa, nhà thờ…đó là nơi thờ tự nên các cá nhân ai cũng tâm niệm một điềukính trọng, nơi đó không ai có thể xâm phạm và làm những điều không đúng với qui tắc.
Thông qua việc thực hiện hành vi tôn giáo của các cá nhân trong cộng đồng thì ta cóthể hiểu được đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng tôn giáo, cá nhân…Mỗi tôn giáo cónghi lễ khác nhau để thể hiện niềm tin vào những bậc thần thánh và sự khác nhau về địa lý,không gian, thời gian cũng sẽ tạo ra những hành vi khác nhau Và mỗi nơi sẽ là đặc trưng tôngiáo vùng miền nơi cá nhân đó sống, vì thế tôn giáo mang màu sắc của từng cộng đồng người
Hành vi tôn giáo của tín đồ vì tuân thủ theo những qui định của tôn giáo nên mangtính chất thụ động Cá nhân nhất nhất thực hiện theo mà không có sự linh hoạt của bản than,bởi đôi khi do quá tin tưởng vào các bậc thần thánh nên con người không dám làm trái lạinhững gì đã có từ xa xưa, sợ phật ý của đấng siêu nhiên
IV Dưới góc độ xã hội học và hướng nghiên cứu trong xã hội học.
Hành vi tôn giáo trong nhãn quan xã hội học được xem xét như là hành động xã hội
Theo hướng tiếp cận của Pareto: “ Là hành động mà tồn tại mối quan hệ giữa phương
tiện và mục đích, giữa chủ quan và khách quan trong quá trình diễn ra hành động đó”.
Ứng dụng quan điểm của Pareto vào hành vi tôn giáo ta thấy được hành động xã hộithể rõ ở việc chủ thể hành động là các tín đồ thực hiện các hoạt động tôn giáo như: thờ cúng,cầu nguyện, cầu xin, khấn lễ, … nhằm hướng tới mục đích cầu xin đến các vị thần linh phù
hộ, mang lại điều tốt lành cho bản thân và gia đình, phát tài phát lộc, mong điều tốt lành vàtránh tai họa… Để đạt được những nguyện vọng của bản thân các tín đồ này sử dụng phươngtiện rất rõ rang và cụ thể mà con người nhìn thấy rất rõ như: Hương, hoa, xôi, oản, vàng mã,gạo … Những hành vi tôn giáo của tín đồ là do xuất phát từ niềm tin tôn giáo, giáo lý tôngiáo, thể hiện mối quan hệ giữa các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian củacộng đồng và cá nhân, tạo ra tập quán ăn sâu vào tâm thức tôn giáo của các thành viên trongcộng đồng, nên có thể gọi đó là hành động xã hội Tuy nhiên trong việc thực hiện hành vi tôngiáo đó ta thấy chủ thể hành động hướng tới mục đích ảo tưởng, phi hiện thực – các vị thầnthánh đó không thể đem lại cho họ cuộc sống hạnh phúc, ấm no, như những gì họ cầu xin,trong khi đó phương tiện để họ thực hiện mục đích lại là thực tế, qua đó thấy được mối quan