787 Thực trạng hứng thú học tập các môn Tâm lí học của sinh viên trường đại học tài chính Marketing tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_
NGUYỄN KIM VUI
THỰC TRẠNG HỨNG THÚ HỌC TẬPCÁC MÔN TÂM LÍ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM VUI
THỰC TRẠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP CÁC MÔN TÂM LÍ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH
Thành p hố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Kim Vui, học viên cao học lớp Tâm lý học K19 khóa 2008 - 2011
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ “Thực trạng hứng thú học tập các môn tâm lí học của sinh viên Trường Đại học Tài chính Marketing tại Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
NGUYỄN KIM VUI
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời tri ân đầu tiên xin gửi đến bà ngoại, ba mẹ, anh chị em, các cháu và nhất là người bạn đời yêu quý của tôi, những người đã luôn bên tôi, động viên, khuyến khích và dành cho tôi những gì tốt đẹp nhất
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng hữu ích trong những năm học vừa qua
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Tâm lý giáo dục, Trường Đại học sư phạm, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong ba năm cao học Đặc biệt, 1TS Nguyễn Thị Tứ
đã trực tiếp chỉ bảo, dành nhiều thời gian và tâm huyết, 1góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp1
Xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Cơ bản và sinh viên các lớp 10CTM, 10CKQ, 10DNH3, 10DTC, Trường Đại học Tài chính Marketing đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình công tác, nghiên cứu, thu thập số liệu
C ảm ơn anh, chị và các bạn khóa Tâm lý học K19 và đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
1
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể
tr ánh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô và đồng nghiệp
1
Tp.Hồ Chí Minh, 22 ngày 8 năm 2011
Nguyễn Kim Vui
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV giảng viên
P P-value: giá trị P
SD Standard deviation: độ lệch chuẩn
Sig Significant: mức ý nghĩa
SV sinh viên
TB Trung bình
TLH Tâm lý học
TT Thứ tự
10 CTM Khoa Thương mại, chuyên ngành Thương mại
10 DNH Khoa Tài chính ngân hàng, chuyên ngành Ngân hàng
10 CKQ Khoa Thương mại, chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
10 DTC Khoa Tài chính ngân hàng, chuyên ngành Tài chính
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động học tập là một trong những hình thức hoạt động không thể thiếu của con người
nhằm lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài người đã được tích lũy qua nhiều thế hệ Đối với sinh viên ở trường đại học, học tập là dạng hoạt động cơ bản, thông qua đó, người sinh viên “nắm
v ững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về nghề, có khả năng phát hiện và giải quyết
nh ững vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo” [19, tr.12], để trở thành chuyên gia trong
lĩnh vực được đào tạo, có khả năng lao động nghề, phục vụ bản thân và xã hội trong tương lai Do
đó, việc học tập của sinh viên bên cạnh sự nỗ lực của bản thân trong tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện các kỹ năng, còn cần sự đóng góp to lớn của giảng viên
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại đã đặt ra những yêu cầu rất cao về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực [17],[18] Liệu sinh viên có khả năng đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của
xã hội và hòa nhập được xã hội mới hay không? Làm thế nào để người học có hứng thú tập trung học tập, nắm được những tri thức khoa học cơ bản, kiến thức chuyên ngành, đặc biệt, họ có khả năng tự học, tự nghiên cứu, có kỹ năng, kỹ xảo để đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của thực
tế
Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý, về hành vi và về đời sống tinh thần của con người, với mục tiêu là đem lại cái nhìn sâu sắc và khái quát về những vấn đề đã được khám phá về con người, đồng thời đề nghị những phương cách nhằm vận dụng tri thức Tâm lý học vào cuộc sống Tâm lý học là môn học cơ bản trong hệ thống các môn học thuộc chương trình đào tạo bậc đại học, bởi đây cũng là môn khởi đầu giúp sinh viên tiếp cận với hệ thống các bộ môn khoa học cơ bản Tâm lý học còn giúp sinh viên nói riêng và con người nói chung nhận biết được các dạng tâm lý, biểu hiện tâm lý, quy luật hình thành, phát triển tâm lý, hoạt động giao tiếp, sự hình thành tính cách, khí chất và xu hướng năng lực,… [3]
Thật vậy, hứng thú học tập giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của sinh viên Hứng thú trước hết tạo sự chú ý đến nội dung được nghe, nội dung học tập, khơi dậy sự tìm tòi, sáng tạo, đặc biệt, gia tăng ý chí tự học, tự nghiên cứu của sinh viên đồng thời
có thể giảm mệt mỏi, căng thẳng nơi sinh viên Do đó, việc hình thành hứng thú học tập đặc biệt là hứng thú học tập các môn tâm lý học sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên, tăng thêm kiến thức và khả năng hiểu biết về bản thân cũng như thiết lập các mối quan hệ với những người xung quanh của sinh viên
Trang 9Tâm lý học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý vừa gần gũi, cụ thể, gắn bó với con người vừa rất phức tạp, trừu tượng khó hiểu Khi nói hiện tượng tâm lý cụ thể thì ai cũng biết, nhưng hiểu được bản chất của nó lại rất khó khăn Hầu hết sinh viên đều nhận thấy tầm quan trọng của môn tâm
lý, nhưng việc học tập nghiên cứu một cách khoa học lại không được sinh viên quan tâm đúng mức, dẫn đến sinh viên chưa chủ động trong khi học trên lớp cũng như ngoài giờ học, chưa tích cực tìm
và đọc thêm các tài liệu tham khảo
Trong nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập Đông Đô” (2005), tác giả Phan Thị Thơm khẳng định: hứng thú học tập môn tâm lý học phát triển chưa cao, chưa đồng đều [24]
Nghiên cứu về “phong cách học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên” của PGS.TS Nguyễn Công Khanh - Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2008, cho thấy: có tới hơn 50% sinh viên được hỏi cho rằng mình không hứng thú với việc học tập tại các trường đại học Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực, khả năng học của mình Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu [12]
Nghiên cứu về “Hứng thú học tập môn tâm lí học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng của tác giả Lê Thị Lâm (2008) cho thấy: đại bộ phận sinh viên đều thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ học tập của mình, với các biểu hiện sau chiếm ưu thế như: ghi chép bài đầy đủ, đi nghe giảng đầy đủ, đúng giờ; bước đầu đã có một số ít sinh viên chú ý đến cách thức học tập, cách vận dụng các tri thức tâm lí học vào thực tế Tuy nhiên, biểu hiện hứng thú với môn học chưa cao, chỉ
có số ít sinh viên thể hiện hứng thú học tập qua “tự đọc thêm sách, tài liệu tham khảo”, hoặc “có sổ tay ghi chép bộ môn để ghi lại những phương pháp giải quyết các tình huống sư phạm điển hình, có hiệu quả cao” [13]
Và hầu hết các đề tài nghiên cứu hứng thú học tập của sinh viên từ những năm 90 trở lại đây đều có kết quả không cao về hứng thú học tập ở các môn học Điều đáng quan tâm là tỷ lệ sinh viên không hứng thú học tập ngày càng gia tăng
Trường Đại học Tài chính – Marketing chính thức đưa các môn Tâm lý học vào chương trình giảng dạy từ những năm 90, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về hứng thú học tập của sinh viên với các môn tâm lý
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi lựa chọn đề tài và hình thành mục tiêu nghiên cứu khảo sát “Thực trạng hứng thú học tập các môn Tâm lý học của sinh viên Trường Đại học Tài chính - Marketing tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 10
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hứng thú học các môn tâm lý học của sinh viên Trường Đại học Tài chính - Marketing Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc dạy
và học môn học này
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing
Đối tượng nghiên cứu: hứng thú học tập các môn tâm lý học
4 Giả thuyết khoa học
- Mức độ biểu hiện hứng thú học tập môn tâm lý học của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing ở mức trung bình
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing, trong đó, chủ yếu nhất là phương pháp giảng dạy của giảng viên và cách thức học tập của sinh viên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: hứng thú, hứng thú học tập, biểu hiện hứng thú học môn tâm lý của sinh viên
- Khảo sát thực trạng mức độ biểu hiện hứng thú học môn tâm lý của sinh viên Trường Đại học Tài chính Marketing
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn tâm lý của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing
- Đề xuất một số biện pháp góp phần kích thích hứng thú học các môn tâm lý học của sinh viên
6 Giới hạn đề tài
Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu như sau:
- Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu trên sinh viên các khoa Thương mại, chuyên ngành Thương mại và Kinh doanh quốc tế, Khoa Tài chính ngân hàng chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính thuộc
Trường Đại học Tài chính Marketing năm học 2010 – 2011
- Đối tượng nghiên cứu: hứng thú học tập các môn Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh và Tâm
lý học quản trị
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp một số phương pháp: phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, và phương pháp thống
kê toán học
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn đã thực hiện về hứng thú học tập môn tâm lý của sinh viên Các tư liệu trên được nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa và được sử dụng trong đề tài như một thư mục tham khảo Ngoài ra, đề tài còn thu thập các số liệu dựa trên báo cáo về tình hình học tập thực tế của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing, Tp.HCM
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm tìm hiểu mức độ biểu hiện hứng thú và các yếu
tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn tâm lý
Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến theo các bước:
- Bước 1: Xây dựng phiếu thăm dò mở
- Bước 2: Xây dựng phiếu thăm dò thử nghiệm
- Bước 3: Xây dựng phiếu thăm dò chính thức
b) Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này thực hiện theo kiểu phỏng vấn nhóm tập trung và phỏng vấn sâu cá nhân
- Phỏng vấn nhóm tập trung: tập trung phỏng vấn các nội dung gắn với bảng hỏi để tăng tính thuyết phục cũng như độ phong phú và thực tế của số liệu
- Phỏng vấn sâu cá nhân: chọn một vấn đề nào đó nổi trội trong phần trả lời để phỏng vấn sinh viên
c) Phương pháp thống kê toán học
Xử lý và phân tích dữ liệu từ phiếu thu thập
Tạo tập tin dữ kiện sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu
Thống kê mô tả: phân bố tần số, tỉ số,…
Thống kê phân tích: trị số trung bình, kiểm định T, ANOVA,… với khoảng tin cậy 95% Trình bày kết quả nghiên cứu dưới dạng bảng, biểu đồ
Trang 12II PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Ovide Decroly (1871 – 1932) bác sĩ và nhà tâm lý người Bỉ khi nghiên cứu về khả năng tập đọc và tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và về lao động tích cực [38, tr 5]
Từ những năm 1940 của thế kỷ XX: A.F.Bêliep đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về “Tâm
lý học hứng thú” Các nhà tâm lý học như S.LRubinstein, N.G.Morodov đã quan tâm nghiên cứu khái niệm hứng thú, con đường hình thành hứng thú, và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm
John Dewey (1859 – 1952) nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ năm 1896 sáng lập ra trường thực nghiệm, ưu tiên hứng thú của học sinh và nhu cầu của học sinh trong từng lứa tuổi Hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ý tưởng hoặc một vật thể, đồng thời, tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ [35]
Năm 1955, A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về mối quan hệ khắng khít giữa tri thức học viên với hứng thú học tập Trong đó, sự hiểu biết nhất định về môn học được xem là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối với môn học
Năm 1967, N.G (A.K) Marôsôva đã nghiên cứu vấn đề “Tác dụng của việc giảng dạy, nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên” Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong quá trình học tập Năm
1976, tác giả đưa ra cấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh
Trong công trình nghiên cứu của mình L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ giữa hứng thú với tính tích cực học tập của học sinh I.G.Sukira trong công trình “Vấn đề hứng thú trong khoa học
Trang 13giáo dục” (1972) đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận thức cùng với biểu hiện của nó và nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh
J.Piaget (1896 – 1980) chú trọng đặc biệt đến hứng thú của học sinh Trẻ em cũng là một thực thể như người lớn, hoạt động bị chi phối bởi hoặc quy luật hứng thú hoặc nhu cầu Hoạt động
sẽ không đem lại hiệu quả nếu người ta không khơi gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa [16]
Langevin (1971) nghiên cứu trên trẻ trong độ tuổi đến trường, đo lường trí thông minh và tính ham hiểu biết bằng bảng hỏi tự trả lời và bằng hành vi biểu hiện, kết hợp với việc giáo viên đánh giá tính ham hiểu biết của từng học sinh Ông gợi ý phân biệt độ rộng và độ sâu của hứng thú Ông đã chỉ ra cách phân tích yếu tố độ rộng để thấy được những sự đo lường khác nhau về tính ham hiểu biết có tương quan với nhau như thế nào [40]
6
Ainley (1998) định nghĩa chiều sâu của hứng thú là “khuynh hướng mong muốn khám phá
và tìm hiểu những đối tượng, sự kiện, ý tưởng mới nhằm hiểu được chúng”; và độ rộng của hứng thú là “khuynh hướng mong muốn tìm ra những kinh nghiệm thay đổi và khác biệt để nghiệm ra chúng giống cái gì” [40]
Từ những công trình nghiên cứu trên, ta có thể khái quát lịch sử nghiên cứu hứng thú theo các hướng sau: xu hướng giải thích bản chất tâm lý của hứng thú; xu hướng xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung, vốn tri thức của cá nhân nói riêng; xu hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi
1.1.2 Trong nước:
Do nền tâm lý học Việt Nam còn non trẻ nên những công trình nghiên cứu về hứng thú mãi đến những năm 1960, 1970 mới có những công trình nghiên cứu như “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III” của Trương Anh Tuấn, Phạm Huy Thụ, Đặng Trường Thanh
Năm 1973, Phạm Tất Dong đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến Sĩ ở Liên Xô với đề tài
“Một số đặc điểm hứng thú nghề của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp” Kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về hứng thú học tập giữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề của xã hội, công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh
là cơ sở để đề ra nhiệm vụ hướng nghiệp một cách khoa học
Năm 1977 tổ nghiên cứu của khoa tâm lý học giáo dục trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội I đã nghiên cứu đề tài “Hứng thú học tập của học sinh cấp II đối với môn học cụ thể” kết quả cho thấy hứng thú học tập các môn của học sinh cấp II là không đồng đều
Trang 14Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đề tài luận văn “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học văn học lớp 10 ở một số trường Phổ thông Trung học tại Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1982, Đinh Thị Chiến “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm của giáo sinh Cao đẳng sư phạm Nghĩa Bình” Tác giả đưa ra nhiều biện pháp để cải thiện hứng thú với nghề sư phạm cho giáo sinh, trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của dư luận xã hội
Năm 1984, Trần Thị Thanh Hương đã thực nghiệm nâng cao hứng thú học toán của học sinh qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh
Năm 1987, Nguyễn Khắc Mai với đề tài luận án “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoa tâm lý giáo dục” Tác giả đã đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú là do ý nghĩa của môn học, trình độ của sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên
Năm 1988, Vũ Thị Nho với đề tài thực nghiệm “Tìm hiểu hứng thú với năng lực học văn của học sinh lớp 6”
Năm 1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông” tác giả kết luận dạy học trực quan là biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học sinh
Năm 1999, Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tập các môn lý luận của sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao I” Tác giả rút ra kết luận: phương pháp, năng lực chuyên môn của giảng viên là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh viên
Năm 2000 Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng hứng thú học môn toán của học sinh trung học cơ sở thị xã Tân An” Kết quả cho thấy đa số học sinh trong diện điều tra chưa có hứng thú học toán
Năm 2003, Dương Thị Kim Oanh nghiên cứu “ảnh hưởng của việc sử dụng đa phương tiện trong giảng dạy tới hứng thú 1học nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Khoa sư phạm kỹ thuật1, trường Đại học Bách khoa Hà Nội” Tác giả đưa ra kết luận: thiết kế bài giảng phần hoạt động nhận thức bằng cách sử dụng đa phương tiện góp phần làm tăng hứng thú học môn này ở sinh viên
Năm 2004, Mai Văn Hải với đề tài nghiên cứu khoa học “Hứng thú của sinh viên Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn với môn học thể chất” Các sinh viên chưa thấy hết được học thể chất có tác dụng như thế nào trong cuộc sống
Năm 2005, Phạm Mạnh Hiền nghiên cứu “Hứng thú học tập của học viên thuộc Trung tâm Phát triển kỹ năng con người Tâm Việt” Trong đó nổi bật lên phương pháp giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa to lớn tác động tới hứng thú học của học viên
Năm 2007, Lê Thanh Hà với luận văn thạc sĩ về “Hứng thú của sinh viên đối với môn học tư tưởng Hồ Chí Minh”
Trang 15Năm 2009, Phạm Thanh Thủy với “Hứng thú học tập môn Giáo dục quốc phòng-an ninh của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội”
Năm 2010, Lê Văn Bích với luận văn Thạc sĩ “Hứng thú học tập các môn Lý luận chính trị của sinh viên hệ chính qui trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh”
Riêng với hứng thú học tập môn tâm lý, có những công trình nghiên cứu sau:
Năm 1980, Dương Diệu Hoa “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên Khoa Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”
Năm 1997, Đặng Mai Khanh với Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học “Tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với môn Tâm lý học của sinh viên trường Đại học Cần thơ” Tác giả khảo sát thực trạng
hứng thú học Tâm lý học và các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập tâm lý học của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ và thử nghiệm bằng cách cải tiến và sử dụng hệ thống bài tập thực hành trong chương trình Tâm lý học nhằm nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên sư phạm
Năm 1998, Đặng Minh Thư với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với môn Tâm lý học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai”
Năm 1999, Nguyễn Thị Nhượng, “Nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn Tâm lý học của
giáo sinh, sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Phú Yên” Tác giả nêu những nguyên nhân gây nên
thực trạng trên, bước đầu thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học Tâm lý học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Phú Yên
Năm 2001, Phạm Thị Ngạn nghiên cứu “Hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ” (luận án thạc sĩ Tâm lý học – Hà Nội 2002), tác giả đã tiến hành thử nghiệm biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn Tâm lý học của sinh viên: cải tiến nội dung các bài tập thực hành, cải tiến cách sử dụng các bài tập thực hành, tăng tỉ lệ các giờ thực hành
Năm 2002, Đặng Quốc Thành nghiên cứu “Hứng thú học môn Tâm lý học quân sự của học viên các trường Cao đẳng, đại học Kỹ thuật Quân sự” tác giả đã đề xuất một số biện pháp: kết hợp phương pháp giảng giải và phương pháp nêu vấn đề; Cải tiến hình thức tổ chức dạy học (kết hợp hình thức bài giảng hình thức thảo luận - bài tập thực hành) Và tác giả nêu một số biện pháp nâng cao hứng thú: cấu trúc lại nội dung chương trình; vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề kết hợp với phương pháp dạy học truyền thống; nâng cao tay nghề sư phạm cho giảng viên; đổi mới việc kiểm tra đánh giá; đảm bảo điều kiện vật chất
Năm 2002, Lê Thị Phương Thảo tìm hiểu hứng thú học tập môn Tâm lý học và biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Huế
Năm 2005, Phan Thị Thơm với luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập Đông Đô”, trong đó, tác giả khẳng định: hứng thú học
Trang 16tập môn Tâm lý học phát triển chưa cao, chưa đồng đều; có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên trong đó, phải kể đến yếu tố của giảng viên
Năm 2008, Lê Thị Lâm với đề tài nghiên cứu “Hứng thú học tập môn Tâm lí học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng” kết luận: phần lớn sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của môn học, tuy nhiên giữa nhận thức và hành động lại có sự mâu thuẫn, nguyên nhân căn bản là do chưa có động cơ học tập đúng đắn và có sự khác biệt về mức độ hứng thú giữa hai khối tự nhiên và xã hội, sinh viên khối tự nhiên có mức độ xúc cảm và nhận thức cao hơn nhưng sinh viên khối xã hội lại có những hành động học tập tích cực hơn Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập như: phát động được động cơ học tập đúng đắn; khơi dậy ở sinh viên nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập; tạo điều kiện học tập thuận lợi; giáo viên cần trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngày càng chính xác, hấp dẫn, có chất lượng,…
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú học tập môn tâm lý nói riêng trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã được nghiên cứu rất phong phú, đa dạng Chính từ những công trình này, cơ sở lý luận về hứng thú ngày càng được hoàn thiện, góp phần làm giàu thêm cho nền Tâm lý học Tuy nhiên, với mỗi công trình nghiên cứu khác nhau, khách thể nghiên cứu cũng có nhiều sự khác biệt, ấy là chưa đề cập đến yếu tố lịch sử của khách thể nghiên cứu
Từ trước đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về hứng thú học tập, đặc biệt là với các môn Tâm lý học tại Trường Đại học Tài chính Marketing Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu hứng thú học tập các môn Tâm lý học của sinh viên Trường Đại học Tài chính Marketing là hết sức cần thiết
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Hứng thú
1.2.1.1 Khái niệm
- Một số quan niệm vế hứng thú của các nhà Tâm lý học trên thế giới
Từ những năm nửa đầu thế kỷ XX, khái niệm hứng thú đã được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học quan tâm nghiên cứu Nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy khái niệm “hứng thú” được sử dụng khá rộng rãi, được hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau do đó, có nhiểu cách giải thích khác nhau
Một số nhà tâm lý học, giáo dục học phương Tây quan niệm rằng hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn có của con người (I.Ph.Shecbac); hứng thú không những chỉ toàn bộ những hành động khác nhau mà nó còn thể hiện cấu trúc bao gồm các nhu cầu, là dấu hiệu của nhu cầu bản năng cần được thỏa mãn (Charlette Buhler, Sbinle)
Trang 17Theo E.K.Strong và W.James, hứng thú là một trường hợp riêng của thiên hướng biểu hiện trong xu thế hoạt động của con người muốn học một số đối tượng nhết định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướng tính cách nhất định vào những hoạt động đó
Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân
mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại của cá nhân Thái độ đó xuất hiện do kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa điều kiện sống và hoạt động của con người
Một số nhà Tâm lý học Macxit coi hứng thú là thái độ nhận thức tích cực của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan (V.G.Ivanôp, A.G.Ackhipop); thậm chí, A.A Luiblinxcaia khẳng định hứng thú là thái độ nhận thức, thái độ khao khát đi sâu vào một khía cạnh nhất định của thế giới xung quanh
P.A.Rudich coi hứng thú là sự hiểu biết của xu hướng đặc biệt trong sự nhận thức thế giới khách quan, là thiên hướng tương đối ổn định với một loại hoạt động nhất định [20, tr.335]
A.V.Daparôzét coi hứng thú như là khuynh hướng lựa chọn của sự chú ý và đưa ra khái niệm hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định là nguyện vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng tốt Còn B.M.Cheplốp thì coi hứng thú là thiên hướng ưu tiên chú ý vào một đối tượng nào đó
Trong quyển sách Tâm lý học cá nhân, A.G.Côvaliốp coi hứng thú là sự định hướng của cá nhân vào một đối tượng nhất định, tác giả đã đưa ra một khái niệm được xem là khá hoàn chỉnh về hứng thú “Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong cuộc sống và sự hấp dẫn về mặt tình cảm của nó” [1, tr.228]
- Một số quan niệm về hứng thú của các nhà Tâm lý học Việt Nam:
Nhóm của tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó
Nguyễn Quang Uẩn trong Tâm lý học đại cương đã tổng hợp và phát biểu khái niệm hứng thú tương đối thống nhất: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có
ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động [33, tr 204] Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân
Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thoả mãn những điều kiện
Trang 18sau: một là, có ý nghĩa với cá nhân, điều kiện này quyết định nhận thức trong cấu trúc của hứng thú, đối tượng nào càng có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của cá nhân thì càng dễ dàng tạo ra hứng thú Muốn hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của mình, nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú Hai là, có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân Trong quá trình hoạt động với đối tượng, hứng thú quan hệ mật thiết với với nhu cầu Khoái cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm có tác dụng thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động, điều đó chứng tỏ hứng thú chỉ có thể hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân Biện pháp quan trọng nhất, chủ yếu nhất để gây ra hứng thú là tổ chức hoạt động, trong quá trình hoạt động và bằng hoạt động với đối tượng, mới có thể nâng cao được hứng thú của cá nhân
Bên cạnh đó, cũng như những chức năng cấp cao khác, hứng thú được quy định bởi những điều kiện xã hội lịch sử Hứng thú của cá nhân được hình thành trong hoạt động và sau khi được hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạt động Vì lý do trên hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng gây ra nó, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào cái làm cho mình hứng thú, hướng dẫn và điều chỉnh các quá trình tâm lý theo một hướng xác định, do đó tích cực hóa hoạt động của con người theo hướng phù hợp với hứng thú của nó dù phải vượt qua muôn ngàn khó khăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao
Đề tài nghiên cứu đồng ý với khái niệm hứng thú của A.G.Côvaliốp và Nguyễn Quang Uẩn Khái niệm hứng thú được phát biểu như sau: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”
về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng Bất kỳ những hứng thú nào cũng là cảm xúc tích cực của chủ thể với đối tượng Nó là sự thích thú với bản thân
Trang 19đối tượng và với hoạt động với đối tượng Nhận thức luôn là tiền đề là cơ sở cho việc hình thành thái độ
N.G.Mavôzôva đã tổng hợp từ nhiều nhà tâm lý học cũng cho rằng hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm, tình cảm thực sự với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ
có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú
Nếu chỉ nói đến mặt nhận thức, thì chỉ là sự biểu hiện của con người đối với đối tượng Nếu chỉ nói đến mặt hành vi, là chỉ đề cập đến hình thái bên ngoài, mà chưa nói đến nội dung bên trong Vậy hứng thú phải là sự kết hợp giữa ba thành tố: Nhận thức – Xúc cảm tích cực – Hành động Ba thành tố này có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú Để có hứng thú đối với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên
1.2.1.3 Phân loại hứng thú
Theo nghiên cứu và tổng hợp của P.A.Ruđich [20, tr 335 - 338], dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau, nên có nhiều cách phân loại hứng thú khác nhau
- Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú, có 2 loại:
+ Hứng thú thụ động: là loại hứng thú tĩnh quan dừng lại ở hứng thú ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, không thể hiện mặt tích cực để nhận thức sâu hơn đối tượng, làm chủ đối tượng và hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực mình hấp thụ
+ Hứng thú tích cực: là loại hứng thú không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, mà lao vào hoạt động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng Nó là một trong những nguồn kích thích sự phát triển nhân cách, hình thành kỹ năng kỹ xảo, nguồn gốc của sự sáng tạo
- Căn cứ vào nội dung đối tượng, nội dung hoạt động: Chia ra làm 5 loại:
+ Hứng thú vật chất: là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng như muốn có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp
+ Hứng thú nhận thức: ta có thể hiểu hứng thú dưới hình thức học tập như: hứng thú vật lý học, hứng thú triết học, hứng thú tâm lý học
+ Hứng thú lao động nghề nghiệp: hứng thú một ngành nghề cụ thể: hứng thú nghề sư phạm, nghề bác sĩ
+ Hứng thú xã hội – chính trị: hứng thú một lĩnh vực hoạt động chính trị
+ Hứng thú mĩ thuật: hứng thú về cái hay, cái đẹp như văn học, phim ảnh, âm nhạc
Trang 20- Căn cứ vào khối lượng của hứng thú: Chia ra 2 loại:
+ Hứng thú rộng: bao quát nhiều lĩnh vực nhiều mặt thường không sâu
+ Hứng thú hẹp: hứng thú với từng mặt, từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi có hứng thú rộng - hẹp, vì chỉ có hứng thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của
họ sẽ không toàn diện, song chỉ có hứng thú rộng thì sự phát triển nhân cách cá nhân sẽ hời hợt thiếu sự sâu sắc
- Căn cứ vào tính bền vững: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú bền vững: thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình
+ Hứng thú không bền vững: hứng thú thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt đối tượng hứng thú
- Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú sâu sắc: thường thể hiện thái độ thận trọng có trách nhiệm với hoạt động, công việc Mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mức hoàn hảo đối tượng của mình
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: đây là những người qua loa đại khái trong quá trình nhận thức, trong thực tiễn họ là những người nhẹ dạ nông nổi
- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú trực tiếp: hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động, hứng thú với quá trình nhận thức, quá trình lao động, và hoạt động sáng tạo
+ Hứng thú gián tiếp: loại hứng thú gắn với kết quả hoạt động
1.2.1.4 Vai trò của hứng thú
Theo Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Thạc trong Giáo trình Tâm lý học đại cương, hứng thú có những vai trò sau: [29, tr 226 - 227]
- Đối với hoạt động nói chung:
Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người say mê hoạt động đem lại hiệu quả cao trong hoạt động của mình Hứng thú hình thành và phát triển dẫn đến nhu cầu trong lĩch vực đó phát triển dễ dàng hơn Nhu cầu và hứng thú
có quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ sở của hứng thú, khi có hứng thú với một cái gì thì cá nhân sẽ hoạt động tích cực chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống lúc đó xuất hiện nhu cầu mới cao hơn
Công việc nào có hứng thú cao hơn người thực hiện nó một cách dễ dàng, có hiệu quả cao, tạo ra xúc cảm dương tính mạnh mẽ đối với người tiến hành hoạt động đó, và họ sẽ tìm thấy niềm
Trang 21vui trong công việc, công việc trở nên nhẹ nhàng, ít tốn công sức hơn, có sự tập trung cao Ngược lại người ta cảm thấy gượng ép, công việc trở nên nặng nhọc khó khăn làm cho người ta mệt mỏi, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt
- Đối với hoạt động nhận thức:
Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứng thú làm tích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng )
- Đối với năng lực:
Khi chúng ta được làm việc phù hợp với hứng thú, thì dù phải vượt qua khó khăn, người ta vẫn cảm thấy thoải mái làm cho năng lực trong lĩnh vực hoạt động ấy dễ dàng hình thành, phát triển Năng lực phụ thuộc vào sự luyện tập, nhưng chỉ có hứng thú mới cho phép người ta say sưa làm một việc gì đó tương đối lâu dài không mệt mỏi mà không sớm thỏa mãn mà thôi Hứng thú làm cho năng khiếu thêm sắc bén
Đối với người học việc hình thành năng lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có hứng thú của người học đối với môn học là rất quan trọng, trong quá trình giảng dạy giảng viên phải thu hút được người học vào bài giảng làm cho người học có hứng thú đối với môn học Hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân Hứng thú và năng lực có quan hệ biện chứng với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại Hứng thú và năng lực là một cặp không tách rời khỏi nhau, có nghĩa là tài năng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ, nói chung hứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những năng lực cần thiết
để thỏa mãn hứng thú
Đối với người học hứng thú học tập có vai trò quan trọng Nó tạo ra động cơ chủ đạo của hoạt động học tập, đối với người học, vì vậy việc hình thành và phát triển hứng thú nói chung hứng thú học tập nói riêng của người học là mục đích gần của người giảng viên
1.2.1.5 Biểu hiện của hứng thú
- Phạm Tất Dong và nhiều nhà tâm lý cho rằng hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau:
+ Biểu hiện trong khuynh hướng của con người đối với hoạt động có liên quan tới đối tượng của hứng thú đó
+ Biểu hiện trong sự trải nghiệm thường xuyên những tình cảm dễ chịu do đối tượng này gây ra + Biểu hiện trong khuynh hướng bàn luận thường xuyên về đối tượng này, về việc có liên quan tới chúng
+ Biểu hiện trong sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứng thú + Biểu hiện trong sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi với đối tượng này, trong
Trang 22hoạt động tưởng tượng phong phú, trong tư duy căng thẳng những vấn đề có liên quan đến đối tượng của hứng thú đó
- Theo G.I.Sukina, hứng thú biểu hiện ở những khía cạnh sau:
+ Khuynh hướng lựa chọn các quá trình tâm lý con người nhắm vào đối tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh
+ Nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn tìm hiểu một lĩnh vực, hiện tượng cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thỏa mãn cho cá nhân
+ Nguồn kích thích mạnh mẽ, tính tích cực cho cá nhân, do ảnh hưởng của nguồn kích thích này, mà tất cả các quá trình diễn ra khẩn trương, còn hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao + Thái độ đặc biệt (không thờ ơ, không bàng quan mà tràn đầy những ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, một ý trí tập trung đối với các đối tượng, hiện tượng, quá trình )
1.2.2 H ứng thú học tập
1.2.2.1 Hoạt động học tập
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường để phát hiện lại những gì đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí,
…), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó, bản chất của
hoạt động học tập là lĩnh hội tri thức, hình thành các kỹ năng kỹ xảo, các phương thức hành động bằng cách tái tạo lại tri thức nơi người học, làm thay đổi chính người học
Chủ thể của hoạt động học là người học, còn đối tượng là những tri thức khoa học, với mục tiêu cuối cùng là hình thành nhân cách cho người học Chủ thể khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức thì chính tri thức đó trở thành tinh thần, thôi thúc người học Muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học [10, tr 64 - 71]
1.2.2.2 H ứng thú nhận thức
Trong nhà trường, hứng thú nhận thức nhằm vào việc tiếp thu và đạt được tri thức các môn
học “Hứng thú nhận thức tạo ra động cơ quan trọng nhất của học tập và đó là cơ sở cho thái độ đúng đắn của học sinh đối với nhà trường, đối với kiến thức” [21, tr.13] Hứng thú nhận thức có thể làm thay đổi bản thân hoạt động học tập Không chỉ có tinh thần trách nhiệm mà cỏn với hứng thú
Trang 23nhận thức, học sinh luôn cố gắng tìm tòi, hiểu biết nhiều hơn, do vậy, tri thức của học sinh ngày càng phong phú và sâu sắc
Hứng thú nhận thức liên quan chặt chẽ với nhu cầu nhận thức nhưng chúng không đồng nhất với nhau “Nhu cầu không đồng nhất với hứng thú nhưng là cơ sở để hình thành hứng thú Hơn nữa, bản thân hứng thú cũng có thể trở thành nhu cầu của cá nhân” [1, tr 226] Hứng thú và nhu cầu đều
là các yếu tố kích thích bên trong của các hoạt động, và có thể những giai đoạn phát triển ban đầu của chúng là như nhau Nhưng khi nhu cầu được đáp ứng sẽ dẫn đến trạng thái mãn nguyện và bão hòa, nảy sinh nhu cầu khác cao hơn Ngược lại, hứng thú nhận thức không có đạt đến giới hạn thỏa mãn, hoặc nếu có, nguyện vọng kích thích lại có được một kích thích mới (chẳng hạn như kết quả làm việc) khiến cho hứng thú nhận thức được tiếp tục củng cố [21, tr.27]
Hứng thú nhận thức là xu hướng lựa chọn của cá nhân nhắm vào việc nhận thức một hay một
số lĩnh vực khoa học, nhằm vào nội dung của nó và nhằm vào quá trình hoạt động Hứng thú nhận thức hình thành trong quá trình hoạt động và có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu, tính tò mò, ham hiểu biết
1.2.2.3 Hứng thú học tập
Theo Nguyễn Quang Uẩn, hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, mà đối tượng của hoạt động học tập chính là nội dung của môn học đó vì nó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống (tính thiết thực), vừa có khả năng đem lại khoái cảm (cuốn hút về mặt tình cảm) cho chủ thể
Đề tài nghiên cứu cho rằng hứng thú học tập là thái độ nhận thức đặc biệt của người học đối với hoạt động học tập, bởi hoạt động này có ý nghĩa thiết thực đối với cá nhân người học trong quá trình sống, học tập và làm việc
Do đó, để có hứng thú học tập, nội dung môn học cần gây được sự chú ý, hấp dẫn và phải được chủ thể (người học) ý thức, hiểu rõ ý nghĩa của môn học đối với bản thân và nhất là nội dung môn học cần phải tạo được tình cảm đặc biệt với cá nhân
Có như vậy, hứng thú học tập mới tạo nên khát vọng tiếp cận và đi sâu vào môn học nơi cá nhân Khát vọng này biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung cao độ vào nội dung môn học, đồng thời, điều chỉnh các quá trình tâm lý cũng như những hoạt động cá nhân sao cho phù hợp với hứng thú
ấy Vì lẽ đó, một khi được tiếp cận với môn học phù hợp với hứng thú, người học sẽ cảm thấy thoải mái và từ đó kết quả học tập mới cao
- UBiểu hiện của hứng thú học tập:
Trang 24Theo N.G.Marôzôva để nhận biết hứng thú học tập có thể căn cứ vào các nhóm dấu hiệu như hành vi, hoạt động của người học trong quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp hoặc những quan điểm, lối sống xuất hiện nơi người học do chịu ảnh hưởng của hứng thú học tập
Đặc trưng của nhóm dấu hiệu hành vi và hoạt động học tập trên lớp là tính suy nghĩ tích cực, tập trung chú ý khi nghe giảng, phát biểu ý kiến xây dựng bài, tích cực tham gia thảo luận những vấn đề giảng viên đặt ra cho cả lớp, trao đổi với giảng viên khi có thắc mắc, … Và nhất là, khi hứng thú, người học muốn đi sâu vào bản chất của vấn đề, bản chất của đối tượng nhận thức nên nảy sinh những câu hỏi và lời giải đáp cho những câu hỏi đó
Với nhóm dấu hiệu liên quan đến sự thay đổi hành vi của cá nhân ngoài giờ lên lớp thể hiện qua việc sinh viên không vội vàng ra chơi mà còn gặp riêng giảng viên để trao đổi, đặt câu hỏi hoặc nêu suy nghĩ của cá nhân về vấn đề thầy cô vừa giảng Sinh viên tập trung lại thành nhóm tranh luận với nhau về vấn đề giảng viên đặt ra,…
Biểu hiện của những dấu hiệu liên quan đến cách sống ở nhà là biểu hiện độ bền vững của hứng thú học tập: mức độ thường xuyên của người học đọc thêm sách báo, tài liệu liên quan đến môn học, có kế hoạch dùng thời gian rảnh rỗi phục vụ cho yêu cầu của môn học,…
Từ những nghiên cứu phân tích trên, những biểu hiện hứng thú học tập các môn tâm lý của
sinh viên như sau: một là sinh viên nhận thức tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực của môn học đối với chuyên ngành và cuộc sống của mình; hai là sinh viên tự thấy mình thích thú với các môn tâm
lý, sau mỗi tiết học hài lòng về giảng viên và kiến thức được cung cấp; ba là sinh viên biểu hiện mức độ hứng thú học tập qua các hành vi như: trên lớp, tập trung nghe giảng, phát biểu; ở nhà, đọc sách, tài liệu tham khảo,…
+ Có hứng thú: Sinh viên nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của môn học, có thái độ học tập nghiêm túc, chú ý nghe giảng, nghiên cứu tài liệu, nhưng tính tích cực chưa cao, chủ yếu dựa vào tài liệu trong giáo trình mà chưa đầu tư nhiều cho môn học
+ Bình thường: Sinh viên học để cho qua các môn, học theo nghĩa vụ, không biểu hiện sự hứng thú học tập
Trang 25+ Không hứng thú: Trên lớp không tập trung vào nội dung bài học, làm việc riêng, không chú
ý nghe giảng, không đọc giáo trình hay tài liệu liên quan
+ Rất không hứng thú: không muốn đến lớp, vô cùng chán nản mỗi khi có giờ học và phải học môn này
1.2.2.4 Nh ững yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển hứng thú học tập của sinh viên trong quá trình học tập, trong đó, yếu tố xuất phát từ bản thân người học là cơ sở của hứng thú học tập Có thể chia những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập thành hai nhóm lớn sau: nhóm những yếu tố chủ quan và nhóm những yếu tố khách quan
+ Nhóm những yếu tố chủ quan:
Trình độ phát triển trí tuệ của người học là cơ sở cần thiết để phát triển hứng thú học tập, và hơn thế nữa, đây là điều kiện quan trọng để bồi dưỡng hứng thú học tập Một khi cá nhân có được những tri thức ban đầu về đối tượng, có những kỹ năng, kỹ xảo đơn giản, có vốn thao tác trí tuệ nhất định, cá nhân đó mới có thể có được thái độ nhận thức với đối tượng và mới có thể có hứng thú Khi người học hiểu được toàn bộ ý nghĩa của việc học tập, sẽ nảy sinh thái độ tự giác trong quá trình học tập Và chính thái độ tự giác ấy là cơ sở củng cố hứng thú học tập
Mặt khác, sự phát triển trí tuệ còn là cơ sở để cá nhân tạo nên thành tích và song song
đó là xúc cảm của sự thành công Cá nhân không thể hành động đạt hiệu quả khi không có trình độ phát triển trí tuệ, kỹ năng nhất định Khi nói về vai trò của thành tích trong quá trình hình thành và phát triển hứng thú, ta cần lưu ý đến tính chất, phương thức hoạt động Một công việc quá dễ dàng
sẽ dễ dàng dẫn đến thành công, tuy nhiên, sự thành công dễ dàng ấy không tạo nên sự thỏa mãn thực sự và “niềm vui chiến thắng” Còn những khó khăn, trở ngại khi đã vượt qua với sự nỗ lực, cá nhân sẽ làm cho công việc trở nên hấp dẫn và điều đó tạo nên hứng thú
Cho nên, có thể nói, sự xuất hiện của hứng thú học tập trước hết phụ thuộc vào trình độ phát triển trí tuệ, kinh nghiệm và tri thức của cá nhân, và không chỉ là điều kiện để hình thành hứng thú, chúng tạo nên chất liệu mới cho hứng thú
Thái độ đúng đắn với đối tượng được xem là yếu tố đi trước của hứng thú học tập Thái
độ đúng đắn này thể hiện ở hai mặt: ở thái độ cảm xúc với đối tượng và ở thái độ ý thức với đối tượng
Thái độ xúc cảm đúng đắn với đối tượng của hứng thú là tổ hợp những rung cảm có liên quan đến những gì diễn ra đồng thời với quá trình lĩnh hội môn học, một chương trình, một bài học nào đó Khi người học chưa có hứng thú nhận thức, hình thành thái độ cảm xúc này là đặc biệt cần thiết V.A.Xukhomlinxki, N.G.Marozova, G.I.Sukina đánh giá cao vai trò của những xúc cảm tích
Trang 26cực trong việc hình thành hứng thú nhận thức Bởi chúng tham gia vào việc tạo nên thái độ đúng đắn với đối tượng, với hoạt động và với chủ thể hoạt động Trong quá trình hoạt động nghiên cứu đối tượng, ở cá nhân xuất hiện những cảm xúc khác như niềm vui nhận thức, niềm vui về kết quả sẽ đạt được Chính những xúc cảm đó sẽ giúp cho sự duy trì và phát triển hứng thú
A.G.Côvaliôp nhận xét, hứng thú có thể được hình thành một cách tự phát do đối tượng
có sự hấp dẫn về tình cảm sau đó mới đến nhận thức về sự cần thiết của đối tượng Quá trình hình thành nhận thức có thể theo hướng ngược lại: từ chỗ ý thức về ý nghĩa của đối tượng đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn [1,tr 228] Cho nên, để tạo hứng thú học tạo cho người học, cần lưu ý áp dụng các biện pháp hướng dẫn người học có thái độ cảm xúc và có ý thức đúng đắn với môn học
Ngoài ra, sự hình thành và phát triển tâm lý còn phụ thuộc vào các đặc điểm tâm lý khác như nhu cầu, năng lực nhận thức, sự thúc đẩy của ý chí, thói quen, Nhu cầu nhận thức thể hiện ở tính ham hiểu biết, tự tìm tòi khám phá Hứng thú nhận thức được phát triển trong mối tương quan chặt chẽ với năng lực Trong mối liên quan này, năng lực vừa là cơ sở vừa là điều kiện để thành công trong hoạt động, mà thành công là tiền đề nảy sinh hứng thú Ngược lại, đến lượt mình, hứng thú lại phát huy năng lực của cá nhân trong phạm vi hoạt động đó Khi cá nhân hứng thú với một lĩnh vực tri thức hoặc một phạm vi hoạt động nào đó, đó cũng chính là dấu hiệu chứng tỏ người
ấy có năng lực và có khả năng phát huy năng lực của mình
+ Nhóm những yếu tố khách quan:
Những công trình nghiên cứu về hứng thú học tập đều cho thấy một trong những yếu tố khách quan ảnh hưởng nhiều nhất đến hứng thú học tập là yếu tố người dạy, cụ thể là phương pháp giảng dạy, cách thức tổ chức lớp học, khả năng sư phạm Người dạy, trong bậc đại học, cao đẳng gọi là giảng viên là người tổ chức, điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức của người học là sinh viên theo một kế hoạch, mục đích xác định Giảng viên giúp sinh viên của mình nhận thấy ý nghĩa của xã hội học tập, của tri thức, thu hút họ vào việc phân tích mọi việc xảy ra trong lớp, thúc đẩy họ phát hiện những thiếu sót và tìm cách khắc phục Đồng thời, giảng viên tạo ra nơi sinh viên những rung cảm với niềm vui nhận thức, niềm vui học tập
Mặt khác, thái độ của giảng viên như quan tâm, nghiêm khắc đưa những yêu cầu cao, công bằng, hài hước, thậm chí thái độ lạc quan yêu nghề cũng ảnh hưởng nhiều đến hứng thú của sinh viên
Đặc điểm của môn tâm lý học là môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con người, có đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và hệ thống tri thức, kỹ năng tương ứng tạo thành nội dung của môn học Vì thế học tâm lý học phải nắm được lý luận và biết thực hành thì mới hiểu được nội dung của nó một cách đầy đủ Đồng thời tâm lý học là môn nghiệp vụ trong hệ thống các khoa
Trang 27học tham gia vào việc đào tạo con người, hình thành nhân cách con người nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng Như vậy yêu cầu đặt ra đối với người học là: không những hiểu kiến thức mà người học cần phải biết vận dụng để quan sát, phân tích các biểu hiện tâm lý thông qua hành vi của bản thân và của học sinh từ đó có phương pháp dạy học, hành vi ứng xử mang tính mô phạm, nhằm đạt được hiệu quả giáo dục
Tuy nhiên, một số sinh viên chỉ chú trọng đến những môn chuyên ngành kinh tế nên các môn khác, trong đó có các môn tâm lý, không được các sinh viên đầu tư nghiên cứu Phần lớn sinh viên
có suy nghĩ các môn tâm lý là những môn học lý thuyết, nhiều khái niệm trừu tượng đặc biệt là môn Tâm lý học đại cương, là những môn chỉ cần học thuộc bài là có thể có điểm cao không cần tìm tòi, hứng thú trong học tập Do đó, các sinh viên học tập trong trạng thái thụ động, tham dự đầy đủ các giờ học nhưng đầu óc lại đặt vào những chuyện khác
Điều kiện vật chất không phải là yếu tố quyết định hứng thú nơi người học, nhưng là yếu tố cần thiết ảnh hưởng đến kết quả học tập Phòng học được trang bị những dụng cụ bổ trợ như
hệ thống ánh sáng, âm thanh, trang thiết bị, máy chiếu,… sẽ tạo nơi sinh viên cảm giác tiện nghi, thoải mái, dễ chịu khi ngồi học
Thời khóa biểu phù hợp, khoa học cùng với sĩ số sinh viên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu, hứng thú học tập Lớp học quá đông, nhất là học trong phòng học rộng như hội trường chẳng hạn, giảng viên khó lòng “quán xuyến” quản lý lớp
Bầu không khí tập thể, không khí tích cực học tập của tập thể sinh viên cũng đóng vai trò động viên khích lệ mọi người trong tập thể cùng hăng say học tập
Hứng thú nảy sinh và phát triển chịu sự ảnh hưởng bởi những yếu tố chủ quan (bên trong) và những yếu tố khách quan (bên ngoài) nhất định Trước hết, hứng thú nảy sinh trên cơ sở mức độ phát triển tri thức và kinh nghiệm cá nhân nhất định Trên cơ sở tích cực hoạt động của cá nhân càng đa dạng, phong phú mang tính sáng tạo, hứng thú càng bền vững Chất lượng hoạt động cũng như trình độ phát triển tâm lý của sinh viên được phát triển dưới ảnh hưởng chủ đạo của giáo dục Nói cho cùng, việc giảng dạy của giảng viên và cách thức học tập của sinh viên là những yếu tố cơ bản để hình thành hứng thú học tập Bên cạnh đó, những điều kiện vật chất của nhà trường, thái độ của những người xung quanh mà ở đây là tập thể sinh viên cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hình thành và phát triển hứng thú học tập
Trang 281.2.3 Đặc điểm hứng thú trong hoạt động học tập của sinh viên
1.2.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên
Ở lứa tuổi sinh viên, sự phát triển thể chất đạt đến mức hoàn thiện, đặc biệt, với sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh, sinh viên có thể tích lũy 2/3 khối lượng tri thức của cuộc đời trong khoảng thời gian 6 -7 năm ngồi trên ghế giảng đường
Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi sinh viên là hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và học nghề Hoạt động học tập ở trường đại học không mang tính phổ thông mà mang tính chất chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, chuyên sâu hơn, nhằm đào tạo những chuyên gia, những trí thức cho đất nước Bởi vậy, cách dạy, cách học ở đây khác với ở phổ thông Để học tập có kết quả ở bậc đại học, người sinh viên phải thích ứng được với phương pháp mới khác về chất so với ở bậc học phổ thông
Do được sống trong thời đại của cuộc cách mạng thông tin, sinh viên hiện nay có điều kiện nắm được nhiều thông tin có tính chất toàn cầu và được giao lưu rộng rãi trong một xã hội cởi mở hơn trước rất nhiều Cho nên, một trong những nhu cầu cấp bách đặt ra là, sinh viên luôn phải tích cực bổ sung kiến thức và nâng cao trình độ của mình hơn các thế hệ sinh viên trước đây rất nhiều, phải nhanh chóng nắm được những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, những thông tin, kiến thức mới
về nhiều ngành khoa học công nghệ và đời sống quốc tế
Ngày nay, bên cạnh việc học kiến thức chuyên môn và nghề nghiệp, ngoại ngữ được coi là tri thức công cụ quan trọng để sinh viên có thể đào sâu, mở rộng kiến thức, cũng như phục vụ cho công việc sau này Việc trang bị vốn liếng ngoại ngữ cho bản thân được nhiều sinh viên coi như là việc chuẩn bị những bước đệm vững chắc để vào đời
Do tính chất của đào tạo đại học, song song với hoạt động học tập, ở bậc đại học xuất hiện một hoạt động rất đặc trưng, đó là hoạt động nghiên cứu khoa học Thực chất hoạt động này đã có mầm mống và được hình thành từ các lứa tuổi trước đây nhưng hình thái của nó còn mờ nhạt Chỉ đến tuổi sinh viên, do những đòi hỏi bức bách đối với các chuyên gia tương lai, hoạt động nghiên cứu khoa học đang dần dần trở thành hình thái chính thức của nó và chiếm vị trí ngày càng quan trọng
Cùng với học tập và nghiên cứu khoa học, trong quá trình học tập ở bậc đại học còn có một hoạt động rất quan trọng, đó là hoạt động học nghề Tuy nhiên, đặc trưng của việc học nghề ở đây khác với việc học nghề truyền thống hoặc ở các trường dạy nghề Muốn làm việc tốt, sinh viên phải
có được những năng lực, tay nghề thích ứng với nền kinh tế thị trường hiện nay Đó là tính chất nghề của những cử nhân, kỹ sư, những chuyên gia tương lai Việc học nghề tập trung chủ yếu vào những thao tác, những kỹ thuật, những nguyên tắc chung có tính chất trí óc là chính
Bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập, nghiên cứu khoa học, để có thể thích nghi được với
cơ chế kinh tế mới, nhiều sinh viên đã tự tìm kiếm những công việc làm thêm phần để trang trải cho
Trang 29chi phí học tập và cuộc sống, phần để tích lũy kinh nghiệm làm việc, chuẩn bị bước vào cuộc sống lập thân
Nét đặc trưng cho hoạt động nhận thức của sinh viên là sự căng thẳng về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy, như: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá Có thể nêu các đặc điểm trong hoạt động nhận thức của sinh viên như sau:
- Sinh viên học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, những kỹ năng,
kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách của người chuyên gia tương lai Hoạt động nhận thức của họ vừa gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu khoa học, vừa không tách rời hoạt động nghề nghiệp của chuyên gia
- Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp đào tạo theo thời gian một cách chặt chẽ nhưng đồng thời không quá bị khép kín, mà có tính chất mở rộng khả năng theo năng lực, sở trường để họ có thể phát huy được tối đa năng lực nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực Có những sinh viên không chỉ theo học một khoa mà hai ba khoa khác nhau hoặc gần nhau, để bổ sung kiến thức toàn diện của mình
- Phương tiện hoạt động nhận thức của sinh viên được mở rộng và phong phú với các thư viện, phòng đọc, phòng thực nghiệm, phòng bộ môn với các thiết bị khoa học cần thiết của từng ngành đào tạo Do đó, phạm vi hoạt động nhận thức của sinh viên rất đa dạng: vừa rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy việc học nghề một cách rõ rệt
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao Hoạt động tư duy của sinh viên trong quá trình học tập chủ yếu là theo hướng phân tích, diễn giải, chứng minh các định đề khoa học
Hoạt động nhận thức của lứa tuổi sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ, căng thẳng, có cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động trí tuệ này vẫn lấy những sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở Song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt
có sự phối hợp uyển chuyển, tinh tế tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề Bởi vậy, đa số sinh viên lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén những vấn đề mà thầy, cô giáo trình bày Họ thường ít thoả mãn với những
gì đã biết mà muốn đào sâu suy nghĩ để nắm vấn đề sâu hơn, rộng hơn
Về mặt xúc cảm, tình cảm, theo B.G Ananhev và một số nhà tâm lý học khác, tuổi sinh viên
là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Hơn ai hết, sinh viên là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ ở các sự vật, hiện tượng của thiên nhiên hoặc con người tạo ra Khác với những lứa tuổi trước, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ ở tuổi sinh viên biểu hiện một chiều
Trang 30sâu rõ rệt Họ yêu thích cái gì họ đều có thể lý giải, phân tích một cách có cơ sở Cá biệt có những sinh viên đã xây dựng được “triết lý” cho cái đẹp của mình theo chiều hướng khá ổn định
Bên cạnh tình bạn, tình bạn khác giới phát triển có chiều sâu, tình yêu nam nữ ở lứa tuổi sinh viên là một lĩnh vực rất đặc trưng Như phần trên đã trình bày, sinh viên là lứa tuổi phát triển một cách toàn diện, hoàn thiện và hoàn mỹ về thể chất cũng như tư tưởng, tinh thần Họ bước vào lĩnh vực của tình yêu nam nữ với một “tư thế” hoàn toàn khác so với lứa tuổi trước đó do vị thế xã hội, trình độ học lực và tuổi đời quy định Song loại tình cảm này cũng không thể hiện đồng đều ở sinh viên Điều này lại tuỳ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tuỳ thuộc vào quan niệm và kế hoạch đường đời của mỗi người
Tóm lại, trong sự phát triển tâm lý lứa tuổi sinh viên, bên cạnh nhiều mặt tích cực, lứa tuổi này cũng không tránh khỏi những mặt còn hạn chế Một mặt, sinh viên ngày nay đang được sống trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, nhiều thuận lợi để họ học tập, nắm bắt những cơ hội mới Nhưng mặt khác, đây cũng là nguyên nhân khiến sinh viên luôn phải đối diện với những thử thách nhằm tìm được cho mình một chỗ đứng trong xã hội tương lai Ngoài ra, lứa tuổi sinh viên còn chứa đựng một mâu thuẫn rất lớn giữa một bên là ước mơ, khát vọng cao xa với một bên là hoàn cảnh hiện tại họ đang còn ngồi trên ghế nhà trường, chưa trực tiếp tham gia lao động, sản xuất tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Cuối cùng, bên cạnh những sinh viên có nếp sống năng động vẫn còn một số sinh viên có nếp sống khép mình, thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hoà nhập vào đời sống xã hội
1.2.3.2 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
- Hoạt động học tập của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động, bởi khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng mà thay đổi chính bản thân người học Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất, nhân cách người chuyên gia tương lai
- Hoạt động học tập được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
- Phương tiện hoạt động học tập là thư viện, sách vở, máy tính…
- Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập cao Cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập
- Tính tích cực học tập của sinh viên được thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Trong giờ học sinh viên có chú ý tới bài giảng hay không
Trang 31+ Tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép… + Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao
+ Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
+ Có hứng thú học tập
+ Biết vận dụng những tri thức được học vào thực tiễn
+ Có sáng tạo trong quá trình học tập
1.2.3.3 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing
Là tập hợp con trong tập hợp lớn, sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing cũng có những đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đặc điểm hoạt động học tập như sinh viên Việt Nam trong bối cảnh văn hóa xã hội hiện nay Tuy nhiên, sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing có những đặc điểm tâm lý và môi trường học tập đặc thù
Hầu hết sinh viên của trường đã phần nào định hình xu hướng nghề nghiệp của bản thân nên trong quá trình tiếp thu bài học, sinh viên chỉ tri giác những thông tin nào của giảng viên hay trong sách báo có liên quan đến hứng thú nhận thức, có ích cho hoạt động nghề nghiệp Do ý thức bản thân thuộc khối ngành kinh tế, cần độ chính xác cao với những con số, số liệu cụ thể nên sinh viên thể hiện óc phê phán, chỉ thừa nhận những tri thức trên cơ sở có lập luận logic chặt chẽ, chính xác, những dẫn chứng thuyết phục
Tính cách sinh viên của trường rất đa dạng, phong phú, và chủ yếu có tính cách hướng ngoại, năng động, thực tế Ngay từ những năm đầu tiên, nhiều sinh viên đã đặt kế hoạch làm thêm vừa để
có thêm thu nhập, vừa có điều kiện cọ sát thực tế có thêm kinh nghiệm làm việc Bên cạnh việc làm gia sư, các công việc làm thêm chủ yếu của sinh viên của trường là tiếp thị sản phẩm mới, điều tra thị trường, chăm sóc khách hàng, tìm nguồn tiêu thụ cho các sản phẩm,
Tinh thần tự giác trong học tập và tham gia tích cực các hoạt động đoàn hội, văn hóa nghệ thuật, thể thao của sinh viên trường khá cao Các cuộc vận động xã hội như: đi bộ vì người nghèo, xây nhà tình thương, cứu trợ thiên tai bão lụt, động đất, cũng được đông đảo sinh viên trường tham gia, ủng hộ
Từ học kỳ thứ hai của năm đầu tiên, sinh viên trường đã được tiếp xúc với các môn tâm lý học Đây là môn học mới mẻ đối với các em cả về nội dung và phương pháp học tập Tốt nghiệp Phổ thông trung học, các em chỉ có một số tri thức khoa học cơ bản, phổ thông về các môn học như Toán, Lý, Hoá, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ, … Môn Tâm lý học hầu như còn xa lạ với các em Các em chỉ hiểu tâm lý theo nghĩa thông thường, do kinh nghiệm sống đem lại, vì thế nó có thể chính xác,
Trang 32nhưng phần lớn là không đầy đủ, không chính xác, chưa khoa học Đây là thuận lợi, cũng là khó khăn của sinh viên khi học các môn Tâm lý
Nội dung chương trình các môn Tâm lý giảng dạy cho sinh viên đa phần là những khái niệm, những qui luật, nên nó có tính chất lý luận khái quát và trừu tượng, đòi hỏi sinh viên phải có một sự hiểu biết nhất định mới có thể tiếp thu được Hơn nữa, sinh viên học tâm lý không phải để giảng dạy
bộ môn này, mà để sử dụng nó làm cơ sở cho việc giao tiếp, giao dịch trong kinh doanh, nghề nghiệp tương lai Do đó đòi hỏi người học phải hiểu tri thức Tâm lý học một cách khái quát đầy đủ, khoa học, đồng thời có tư duy sáng tạo, linh hoạt thì mới có thể vận dụng nó được
Hơn nữa, khi sinh viên ngồi học trong lớp với sĩ số đông (>100 sinh viên), giảng viên cũng khó có thể quan sát và tạo tình huống có vấn đề, khó phát huy tính tích cực tới tất cả các sinh viên trong lớp lớn như vậy khiến cho các em có điều kiện làm việc riêng Đó cũng là một trong những
nguyên nhân khiến cho giờ học môn Tâm lý khó gây hứng thú với các em
Hứng thú học tập môn tâm lý học là thái độ lựa chọn đặc biệt của sinh viên đối với kết quả, quá trình của sự lĩnh hội và vận dụng những tri thức tâm lý học do ý nghĩa thiết thực và hấp dẫn của chúng trong cuộc sống, trong quá trình học tập và làm việc của mỗi sinh viên
Hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức – xúc cảm tích cực và hoạt động
Các nhóm biểu hiện hứng thú học tập các môn tâm lý của sinh viên:
- Nhóm nhận thức: sinh viên nhận thức tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực của môn học đối với chuyên ngành và cuộc sống của mình
- Nhóm thái độ cảm xúc: mức độ yêu thích với các môn tâm lý, sau mỗi tiết học hài lòng về giảng viên và kiến thức được cung cấp
- Nhóm các hành vi học tập: trên lớp và ngoài giờ trên lớp
Trang 33CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH
MARKETING
2.1 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1.1 Nghiên c ứu lý luận:
- Nghiên cứu về bản chất của hứng thú học tập dưới góc độ Tâm lý học Trên cơ sở đó, nghiên cứu các biểu hiện cụ thể của hứng thú học tập môn tâm lý
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn tâm lý của sinh viên
- Nghiên cứu các biện pháp để cải thiện hứng thú học môn tâm lý học
2.1.1.2 Nghiên c ứu thực tiễn:
- Đề tài nghiên cứu hứng thú học tập môn tâm lý học trên các mặt nhận thức, thái độ, hành
Địa điểm: Trường Đại học Tài chính - Marketing
2.1.2.1 Nghiên c ứu lý luận:
- Đọc các tài liệu trong và ngoài nước viết về hứng thú, hứng thú học tập nhằm xác định vấn
đề cần nghiên cứu với những mục tiêu cụ thể và đặt ra giả thuyết nghiên cứu
- Xây dựng các khái niệm công cụ và lựa chọn các phương pháp nghiên cứu, cũng như xác định khách thể nghiên cứu
2.1 2.2 Khảo sát thăm dò:
- Lập hệ thống câu hỏi mở, thăm dò sơ bộ trên 30 sinh viên Trường Đại học Tài chính Marketing nhằm xác định các vấn đề:
+ Những biểu hiện khi sinh viên có hứng thú học tập môn tâm lý
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học môn tâm lý của sinh viên
Trang 34- Tổng hợp các ý kiến thu được qua các phiếu thăm dò sơ bộ, đối chiếu với những vấn đề lý luận, để thiết lập hệ thống câu hỏi đóng trong phiếu khảo sát
2.1.2.3 Xây d ựng phiếu khảo sát :
Tham khảo ý kiến chuyên gia, người hướng dẫn, giảng viên bộ môn và 30 sinh viên Trường Đại học Tài chính Marketing về hệ thống câu hỏi trong phiếu thăm dò Sau đó, chỉnh lý và tiến hành
đo thử, để xác định độ tin cậy của thang đo
Xây dựng phiếu khảo sát, gồm những phần chính sau:
+ Các thông tin về cá nhân khách thể: giới tính, khoa, môn học
+ Câu 1: Ý kiến tham khảo về vai trò của các môn tâm lý ở ba mức độ
1: Không đồng ý; 2: Đồng ý; 3: Rất đồng ý
+ Câu 2: Các biểu hiện khi hứng thú học tập một môn học nào đó
+ Câu 3: Sĩ số cần thiết để tạo hứng thú học tập
+ Câu 4, 7, 8: Các biểu hiện hứng thú học môn tâm lý về thái độ cảm xúc
+ Câu 5, 6, 11: Các biểu hiện hứng thú học môn tâm lý về nhận thức
+ Câu 9, 14, 16, 17, 18: Các biểu hiện hứng thú học môn tâm lý về hành vi học tập trên lớp
+ Câu 10, 12, 13,15, 20: Các biểu hiện hứng thú học môn tâm lý về hành vi học tập ngoài giờ trên lớp
Các biểu hiện hứng thú học môn tâm lý trên được đánh giá trên thang đo năm mức độ:
1 Hoàn toàn không Hoặc 1 Không bao giờ
+ Câu 19, 21: Mức độ đánh giá bản thân sau khi học xong môn tâm lý trên năm mức độ: 1: Không
rõ ràng; 2: Ít rõ ràng; 3: Trung bình; 4: Khá rõ ràng; 5: Rất rõ ràng
+ Câu 22: Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học môn tâm lý trên năm mức độ: 1: Giảm hứng thú mức độ nhiều; 2: Giảm hứng thú mức độ vừa; 3: Không ảnh hưởng; 4: Tăng hứng thú mức độ vừa; 5: Tăng hứng thú mức độ nhiều
+ Câu 23: Các biện pháp có thể áp dụng để tăng hứng thú học môn tâm lý ở ba mức độ: 1: Không kích thích; 2: Kích thích mức độ vừa; 3: Kích thích mức độ nhiều
2.1.2.4 Khách th ể khảo sát:
- Đề tài khảo sát ý kiến của 361 sinh viên năm thứ nhất hệ chính quy bậc cao đẳng và đại học thuộc các khoa:
Trang 3510 CTM: Khoa Thương mại, chuyên ngành Thương mại
10 DNH: Khoa Tài chính ngân hàng, chuyên ngành Ngân hàng
10 CKQ: Khoa Thương mại, chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
10 DTC: Khoa Tài chính ngân hàng, chuyên ngành Tài chính
- Do đề tài nghiên cứu tiến hành vào học kỳ hai năm 2011, nên chỉ khảo sát được ở hai môn Tâm lý ứng dụng trong kinh doanh và Tâm lý học quản trị Với môn Tâm lý học đại cương, chỉ tiến hành thăm dò sơ bộ trên 30 sinh viên nhằm xác định các vấn đề liên quan đến đề tài
Nam:92 SV 25,5%
Trang 36Hứng thú học tập của sinh viên được biểu hiện qua thái độ nhận thức của họ về tầm quan trọng, sự cần thiết của các môn tâm lý đối với chuyên ngành và cuộc sống Nhằm xác định ý nghĩa của các môn tâm lý đối với sinh viên, chúng tôi đưa ra ba mức ý nghĩa Các mức ý nghĩa: Không đồng ý: 1 điểm, Đồng ý: 2 điểm, Rất đồng ý: 3 điểm
Đánh giá kết quả trung bình:
Khoảng điểm từ 0 – 1: mức độ thấp Khoảng điểm từ > 1 – 2: mức độ trung bình Khoảng điểm từ > 2 – 3: mức độ cao
Bảng 2.2: Những ý kiến của sinh viên về vai trò của các môn tâm lý học
TT Ý kiến về vai trò của môn Tâm lý học
Không đồng ý
Đồng
ý
Rất đồng ý Điểm TB
1 Giúp bạn nhận biết một cách hệ thống những đặc điểm
2 Giúp bạn giải quyết các tình huống tâm lý một cách
3 Giúp bạn có cách giao tiếp, ứng xử
4 Cung cấp kiến thức bổ ích cho ngành học khác 16,9 65,6 17,5 2,01
5 Cần có trong chương trình đào tạo bậc đại học, cao
Điểm trung bình 2,22 (SD=0,336)
Hầu hết sinh viên đồng ý với những ý kiến về vai trò quan trọng của môn tâm lý đối với cá nhân trong cuộc sống, giao tiếp, ứng xử,… và với việc cung cấp kiến thức bổ ích cho các chuyên ngành khác, cũng như cần có trong chương trình học (83,1% - 97,5% sinh viên chọn đồng ý đến rất đồng ý)
So sánh trung bình mức độ đồng ý về vai trò quan trọng của môn tâm lý học với mức trung bình (giá trị thử nghiệm là 2) cho kết quả p=0,000<0,05, cho thấy đồng ý ở mức độ cao Như vậy, hầu hết sinh viên nhận thức cao vai trò quan trọng và sự cần thiết của môn tâm lý học
Ba ý kiến đầu tiên thể hiện vai trò của tâm lý học trong cuộc sống thực tế, bao gồm “Giúp bạn nhận biết một cách hệ thống những đặc điểm tâm lý con người”, “Giúp bạn giải quyết các tình huống tâm lý một cách hợp lý”, “Giúp bạn có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp” Hai ý kiến tiếp sau thể hiện vai trò của tâm lý học trong chương trình đại học, cao đẳng
Khảo sát tương quan giữa hai nhóm ý kiến này:
Trang 37Bảng 2.3: Điểm trung bình ý kiến của sinh viên về vai trò môn tâm lý học
TT Vai trò môn TLH Điểm TB Độ lệch chuẩn
Kiểm định T mối tương quan giữa hai nhóm ý kiến về vai trò tâm lý học cho thấy không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm ý kiến về vai trò môn Tâm lý học (p=0,838>0,05) Kết quả này cho thấy sinh viên nhận định tâm lý học trong cuộc sống và trong chương trình học có vai trò quan trọng như nhau
Bảng 2.4: Ý kiến của sinh viên về vai trò của các môn tâm lý học theo giới tính và theo môn học
TT Ý kiến của sinh viên theo Điểm TB Độ lệch chuẩn
Tóm lại, phần lớn sinh viên có nhận thức đúng đắn, phù hợp về vai trò của Tâm lý học Sinh viên được khảo sát nhận định giống nhau về vai trò của Tâm lý học nói chung, vai trò của Tâm lý học trong cuộc sống và vai trò của Tâm lý học trong chương trình cao đẳng, đại học nói riêng
Kết quả này khả quan hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thơm (2005) với đề tài
“Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường đại học dân lập Đông Đô” Trong đề tài này tác giả khẳng định: phần lớn sinh viên đã nhận thức vai trò sự cần thiết tầm quan trọng của môn tâm lý học đại cương đối với hoạt động học tập và công tác sau này của họ Tuy nhiên, sự nhận thức của sinh viên về vai trò tác dụng của môn tâm lý học đại cương chưa sâu sắc và chưa toàn diện Điều này một phần lớn là do tên gọi và nội dung của môn học Cùng thời điểm xuất phát bắt đầu mỗi môn học, sinh viên học môn Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh và Tâm lý học
Trang 38quản trị có thể phán đoán vai trò của hai môn này với cá nhân và chuyên ngành của họ như thế nào Trong khi đó, với môn Tâm lý học đại cương là môn với tên gọi rất chung chung, nên có thể sẽ hứng thú với sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu, nhưng rõ ràng ngay từ ban đầu sinh viên khó có thể nhận thức sâu sắc, toàn diện được
b) Biểu hiện của hứng thú học tập của sinh viên với một môn học nào đó
Biểu đồ 2.2: Những biểu hiện của hứng thú học tập của sinh viên với một môn học nào đó
Về những biểu hiện của hứng thú học tập môn học nào đó, “tham gia tích cực trong các buổi học”, “phát biểu ý kiến, trao đổi với giảng viên” là hai biểu hiện được 283 sinh viên lựa chọn (chiếm 78,4%) và 281 sinh viên lựa chọn (chiếm 77,8%) Đa số sinh viên lựa chọn biểu hiện hứng thú học tập là “đọc tài liệu, sách tham khảo liên quan” (được 274 sinh viên lựa chọn, chiếm 75,9%)
Một số biểu hiện khác như: đi học đầy đủ, đúng giờ (có 237 sinh viên lựa chọn), chuẩn bị các yêu cầu của giảng viên (192 sinh viên lựa chọn) cũng được sinh viên cho là những biểu hiện của người hứng thú học tập Có 168 sinh viên (chiếm 56,5%) cho rằng ghi chép bài học cẩn thận, đầy đủ cũng là biểu hiện của một người hứng thú học tập
Kết quả nghiên cứu này cho thấy, phần lớn sinh viên đánh giá cao tính tích cực chủ động của mình trong quá trình học tập Bên cạnh việc chuyên cần đến lớp, ghi chép bài vở, chuẩn bị yêu cầu của giảng viên là những yêu cầu cơ bản của người cắp sách đến trường, hơn thế, sinh viên bậc cao đẳng, đại học chủ động, tích cực tìm kiếm tri kiếm tri thức và năng động, tự tin thể hiện sự hiểu biết, quan niệm của mình
Đi học đầy
đủ, đúng giờ
Ghi chép bài cẩn thận, đầy đủ
Tham gia tích cực trong các buổi học
Phát biểu ý kiến, trao đổi với GV
Đọc tài liệu, sách tham khảo liên quan