Thuế được tính trên số thu nhập còn lại sau khi đã trừ tất cả các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ với thuế suất ổn định cho nên những doanh nghiệp có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều, ngược
Trang 1
TIỂU LUẬN:
Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội
Tuthienbao.com
Trang 2
Lời mở đầu
Kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm cho các thành phần kinh tế trong xã hội có điêù kiện cạnh tranh một cách lành mạnh để phát triển và dần khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế Kinh tế Nhà nước- bộ phận kinh
tế chủ đạo của nền kinh tế nước ta nói chung và bộ phận các doanh nghiệp công nghiệp nói riêng đã thực sự đổi mới Với phạm vi hoạt động rộng lớn và mang tính chất đa dạng phong phú, bộ phận này không những đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà hàng năm còn đóng góp vào số thu của ngân sách Nhà nước một tỷ lệ khá lớn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của bộ phận các doanh nghiệp công nghiệp, công tác quản lý thu thuế cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi những doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không thực hiện tốt các nghĩa vụ với Nhà nước, luôn lợi dụng những sơ hở của chính sách chế độ và sự yếu kém trong công tác quản lý để thực hiện hành vi trốn lậu thuế gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước Trước nhu cầu tài chính rất lớn để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, yêu cầu lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, chống lại những biểu hiện tiêu cực của các doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước là một công tác được ngành thuế nói riêng và ngành tài chính nói chung rất quan tâm và nỗ lực thực hiện
Xuất phát từ tình hình trên, qua thời gian thực tập tại Cục thuế Hà Nội và cùng với những kiến thức được trang bị ở trường đại học, tôi xin mạnh dạn nghiên cứu đề
tài:“Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Nhằm phân tích thực trạng của công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Nội và đưa ra một số biện pháp góp ý nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý này trong những năm tới Đề tài được trình bày với các nội dung sau:
Chương I : Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 3
Chương II : Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương I
Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp
I Bản chất, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
1 Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Trước khi xem xét về thuế TNDN, chúng ta có thể tìm hiểu thêm một số vấn đề chung về thuế cũng như nguồn gốc ra đời của thuế
Thuế ra đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước, từng bước hoàn thiện vai trò và chức năng của nhà nước đối với nền kinh tế Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có một bộ máy hành chính để quản lý điều hành và bảo vệ đất nước, vì vậy cần phải có một nguồn tài chính thường xuyên phục vụ cho các hoạt động này
Do đó thuế ra đời với tư cách là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Xã hội ngày càng phát triển đi lên và nhà nước cũng đã dần dần hoàn thiện được chức năng và nhiệm vụ của mình Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng điều hành và bảo vệ đất nước mà còn là tác nhân chủ đạo trong việc phát triển kinh tế đất nước Trong đó, thuế đóng góp một phần rất quan trọng với chức năng là công cụ bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và là công cụ vĩ mô quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết đối với nền kinh tế
Trang 4
Thuế được hình thành và phát triển gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, do đó có rất nhiều những quan điểm khác nhau về thuế với những góc độ nhìn nhận ở từng thời điểm lịch sử nhất định
Theo ăng-ghen:“ Để duy trì quyền lợi công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân của nhà nước đó là thuế” Còn theo một số nhà kinh tế hiện đại: “Thuế là khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh của nhà nước bắt buộc mọi công dân hoặc các tổ chức kinh tế nộp vào ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước Khoản nộp về thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp mà qua các khoản trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng thuế được hoàn trả gián tiếp”
Ngoài ra còn một số các quan điểm khác và ở mỗi quan điểm cũng đã nhấn mạnh được tác dụng của thuế đối với nền kinh tế
Qua những quan điểm của các nhà kinh tế ta có thể rút ra được bản chất cơ bản của thuế như sau:
- Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước, thuế
do Nhà nước đặt ra và được luật pháp qui định
- Thuế thu vào ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho Nhà nước, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng nộp thuế
- Thuế đảm bảo cho Nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế, phân phối lại thu nhập
* Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập đem ra sử dụng
( gọi chung là thuế tiêu dùng hay thuế hàng hoá)
* Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập đã hình thành nên tài sản ( gọi chung là thuế tài sản hay thuế vốn)
Trong đó thuế TNDN là một sắc thuế thuộc loại thuế thu nhập,nó được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu Mỗi
Trang 5
nước với những đặc diểm kinh tế xã hội khác nhau thì việc áp dụng thuế TNDN ở từng nước cũng khác nhau Tuy nhiên, ta có thể đưa ra một khái niệm được pháp luật Việt Nam thừa nhận như sau:
“Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập đó”
2 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế TNDN là loại thuế trực thu Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh
tế, không có sự chuyển giao gánh nặng về thuế từ người nộp thuế sang người chịu thuế
- Về thực chất thuế TNDN đánh vào lợi nhuận của các cơ sở kinh doanh Bởi vậy, mức động viên của ngân sách Nhà nước đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều Ngược lại, những doanh nghiệp có thu nhập thấp, gặp khó khăn sẽ được giảm thuế, thậm chí được miễn thuế
- Thuế TNDN chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan tạo ra khoản thu nhập đó
3 Vai trò của thuế TNDN trong nền kinh tế thị trường
- Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước Điều này được thể hiện ở phạm vi áp dụng thuế TNDN rất rộng Nó khai thác nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế có tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn Mặt khác, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao, tích luỹ từ nội bộ doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho ngân sách Nhà nước
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động kinh doanh Thông qua hệ thống thuế suất ưu đãi, thuế TNDN góp phần định hướng cho các nhà kinh doanh đầu tư vào những lĩnh vực mà Nhà nước cần khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý Thuế TNDN còn góp phần khuyến khích
Trang 6
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua miễn, giảm thuế cho các cơ sở kinh doanh mới thành lập trong một thời hạn nhất định nhằm giúp doanh nghiệp giảm bớt những khó khăn ban đầu khi khởi nghiệp Mặt khác, thông qua hoàn thuế TNDN cho tái đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, qua việc tính trừ các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ…cũng góp phần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư theo chiều rộng và theo chiều sâu, thúc đẩy tăng cường hạch toán kinh tế, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp
Thuế TNDN thực sự là công cụ hữu hiệu để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo một
cơ cấu kinh tế hợp lý theo ngành và theo địa bàn
- Thuế TNDN góp phần thực hiện công bằng xã hội
Luật thuế TNDN được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi hình thức kinh doanh Thuế được tính trên số thu nhập còn lại sau khi đã trừ tất cả các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ với thuế suất ổn định cho nên những doanh nghiệp có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp thì nộp thuế ít, thậm chí doanh nghiệp không phải nộp thuế nếu không có thu nhập đã tạo ra
sự bình đẳng công bằng trong động viên đóng góp cho ngân sách Nhà nước giữa các
cơ sở kinh doanh
Bởi những vai trò quan trọng không thể thiếu của thuế TNDN do đó nó luôn luôn
là một loại thuế cần thiết đối với mọi quốc gia Dù cho thực tế hiện nay, các nước phát triển đang có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu, nhưng trong một tương lai gần thuế TNDN vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thuế quốc gia, đặc biệt là đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam
II Quản lý thuế TNDN ở Việt Nam
1 Bối cảnh ra đời của thuế TNDN ở Việt Nam
ở nước ta, trước năm 1990 khu vực kinh tế Nhà nước áp dụng chế độ thu trích nộp lợi nhuận và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh áp dụng chế độ thuế lợi tức theo biểu thuế luỹ tiến từng phần Luật thuế Lợi tức ở nước ta được ban hành vào năm 1990 áp dụng chung cho các doanh nghiệp cả khu vực kinh tế Nhà nước và ngoài quốc doanh Qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt
Trang 7
trong hoàn cảnh Việt Nam ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ hơn nữa với các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng với Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế TNDN được chính thức ban hành vào tháng 5/1997, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999
* Sự cần thiết phải ban hành Luật thuế TNDN ở Việt Nam
Việc ban hành Luật thuế TNDN thay cho Luật thuế Lợi tức là do những lý do sau đây:
- Luật thuế TNDN ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của Luật thuế Lợi tức
Vì Luật thuế Lợi tức có quá nhiều thuế suất: Đối với các doanh nghiệp trong nước
có 3 mức thuế suất, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 4 mức thuế suất Ngoài ra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phải nộp thuế lợi nhuận chuyển ra khỏi Việt Nam
- Luật thuế TNDN phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khoản thu của doanh nghiệp rất đa dạng Có nhiều khoản thu nhập mới phát sinh như : lãi do bán cổ phiếu, cổ phần; thu nhập từ hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị mà thuế Lợi tức không bao quát được Nay được quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để quản lý nộp thuế
Thuế TNDN bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của Việt Nam
- Thực hiện ưu đãi thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Từng bước hoàn chỉnh chính sách thuế cho phù hợp với các nước trong khu vực và trên thế giới
2 Nội dung cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
2.1 Đối tượng nộp thuế ( ĐTNT)
* Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế
* Đối tượng không phải nộp thuế TNDN:
Trang 8
Là các hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trừ hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất nông nghiệp có giá trị hàng hoá lớn, có thu nhập cao
Thu nhập chịu thuế để làm căn cứ tính thuế TNDN được xác định theo công thức sau:
Thu nhập Thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu
chịu thuế = từ hoạt động kinh + thuế khác
trong kỳ doanh trong kỳ trong kỳ
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh:
Thu nhập chịu thuế Doanh thu tính thu Chi phí kinh doanh
từ hoạt động kinh = nhập chịu thuế _ hợp lý
doanh trong kỳ trong kỳ trong kỳ
* Doanh thu tính thu nhập chịu thuế :
Doanh thu tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở sản xuất, kinh doanh được hưởng
Trang 9Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp hoặc trả chậm, nếu bên mua và bên bán có thoả thuận chuyển quyền sở hữu, thì doanh thu của hàng bán tính theo giá bán trả một lần kể từ khi giao hàng hoặc khi xuất hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng,(không bao gồm lãi trả góp hoặc lãi trả chậm Trường hợp này, lãi trả góp và lãi trả chậm hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính)
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu tặng
- Đối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó
- Đối với gia công hàng hoá doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền thu về gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá
- Trường hợp bán hàng qua đại lý, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định khi đại lý giao hàng chi người mua hoặc khi :
+ Bên nhận đại lý chuyển quyền sở hữu cho người mua
+ Bên nhận đại lý xuất hoá đơn
Trang 10
Đồng thời trong trường hợp này phải có hợp đồng đại lý bằng văn bản giữa bên giao và bên nhận đại lý, nếu không có hợp đồng thì việc giao hàng cho đại lý sẽ coi như hoạt động bán hàng thông thường
- Đối với hoạt động cho thuê nhà, thuê tài sản, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
là số tiền thu từng kỳ theo hợp đồng.Trường hợp bên thuê trả trước chi nhiều năm thì doanh thu được tính phân bổ tương ứng theo thời gian thuê từng năm trả trước
- Đối với hoạt động tín dụng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền lãi cho vay thực thu được trong kỳ tính thuế
- Doanh thu vận tải hàng không là toàn bộ số tiền doanh nghiệp vận tải hàng không được hưởng từ việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá sau khi đã hoàn thành quá trình vận chuyển, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là dịch vụ vận chuyển đã hoàn thành
- Doanh thu bán điện là số tiền ghi trên hoá đơn GTGT Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế căn cứ vào ngày cuối cùng ghi chỉ số công tơ trên hoá đơn tính tiền điện không phân biệt đầu tháng hay cuối tháng Ngày cuối cùng ghi chỉ
số công tơ thuộc tháng nào thì tính vào doanh thu của tháng đó
Đối với các dịch vụ có hoạt động xuất hoá đơn, thu tiền tương tự như: nước, bưu điện…thì cũng xác định như trên
- Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là số tiền phải thu về phí bảo hiểm gốc, phí đại lý giám định, phí nhận tái bảo hiểm, thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản thu khác
- Trong trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu ngoại tệ
* Các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ được trừ để tính thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bao gồm :
Trang 11- Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động, tiền ăn giữa ca :
+ Tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước theo chế độ hiện hành + Tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động trong các cơ sở kinh doanh khác theo hợp đồng lao động Nếu chưa thực hiện chế độ hợp đồng lao động thì tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động được tính vào chi phí để tính thu nhập chịu thuế căn cứ vào mức tiền lương, tiền công bình quân của ngành nghề tại địa phương
Không được tính vào chi phí tiền lương, tiền công các khoản chi phí sau :
Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Tiền lương, tiền công của sáng lập viên doanh nghiệp mà họ không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Đối với các sáng lập viên trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thì được hạch toán tiền lương vào chi phí
+ Chi phí tiền ăn giữa ca cho người lao động
- Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ; sáng kiến, cải tiến, tài trợ cho giáo dục; y tế; đào tạo lao động theo chế độ quy định
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Điện, nước, điện thoại, sửa chữa tài sản cố định, kiểm toán, bảo hiểm tài sản, chi trả tiền sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép công nghệ không thuộc tài sản cố định, các dịch vụ kỹ thuật
Trang 12
- Các khoản chi cho lao động nữ theo quy định của pháp luật ; chi bảo hộ lao động ; chi bảo vệ cơ sở kinh doanh ; trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội ; bảo hiểm y tế , kinh phí công đoàn theo chế độ quy định
Mức trích nộp hình thành quỹ quản lý của Tổng công ty do Hội đồng quản trị Tổng công ty phê duyệt, thông báo, sau khi có ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính có thẩm quyền
Chi trang phục cho cán bộ công viên của các cơ sở dùng trang phục thống nhất, nhưng mức chi tối đa cho một người không quá 500.000 đồng/1năm Phần chi trang phục thực tế vượt mức khống chế phải sử dụng nguồn thu nhập sau thuế để bù đắp
- Chi trả lãi tiền vay vốn của các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác theo lãi suất thực tế khi ký hợp đồng vay nhưng tối đa không quá lãi suất cho vay cao nhất của các ngân hàng thương mại trên địa bàn taị thời điểm sử dụng tiền vay( nhận tiền vay) theo hợp đồng vay
Các khoản chi phí trả lãi tiền vay để góp vốn pháp định, vốn điều lệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều không được tính vào chi phí hợp lý, để xác định thu nhập chịu thuế
- Trích các khoản dự phòng : giảm giá hàng tồn kho, giảm giá các loại chứng khoán trong hoạt động tài chính và dự phòng các khoản thu khó đòi
- Trợ cấp thôi việc cho người lao động theo chế độ hiện hành
- Chi về tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ bao gồm : chi phí bảo quản, chi bao gói, vận chuyển, bốc vác, thuê kho, bãi, bảo hành sản phẩm, hàng hoá
- Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản chi phí khác được khống chế tối đa không quá 7% tổng số chi phí Đối với hoạt động thương nghiệp tổng chi phí để xác định mức khống chế không bao gồm giá mua vào của hàng hoá bán ra
- Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất phải nộp có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ( trừ thuế thu nhập doanh nghiệp ) bao gồm:
+ Thuế xuất khẩu
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 13
+ Thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra (đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng )
+ Thuế môn bài
+ Thuế tài nguyên
+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Các khoản chi phí không dược coi là chi phí hợp lý và không được tính trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:
- Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi hoặc không chi hết như : trích trước về sửa chữa lớn, phí bảo hành sản phẩm hàng hoá, công trình xây dựng và các khoản tích trước khác
- Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp
- Các khoản tiền phạt như phạt vi phạm giao thông, phạt vi phạm chế độ đăng ký kinh doanh, phạt vi phạm chế độ kế toán, thống kê, phạt vi phạm hành chính về thuế
và các khoản phạt khác
- Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế như chi về đầu
tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội; chi từ thiện
và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế
- Các khoản chi do các nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp; chi trợ cấp khó khăn thường xuyên, khó khăn đột xuất…
- Chi phí không hợp lý khác
Thu nhập chịu thuế khác: Bao gồm các khoản thu nhập sau:
- Chênh lệch về mua, bán chứng khoán
- Thu nhập về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản
Trang 14
- Lãi từ chuyển nhựơng, thanh lý tài sản
- Lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm
- Chênh lệch do bán ngoại tệ
- Kết dư cuối năm các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng bù đắp các khoản phải thu khó đòi
- Thu các khoản thu khó đòi đã xoá sổ kế toán nay đòi được
- Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ
- Các khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất,kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót mới phát hiện ra
- Thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài Trường hợp nhận được khoản thu nhập đã nộp thuế thu nhập ở nước ngoài thì cơ sở kinh doanh phải xác định số thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước ngoài để tính thuế TNDN Khi xác định số thuế thu nhập cả năm sẽ được trừ số thuế thu nhập
đã nộp ở nước ngoài nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính theo Luật thuế TNDN cho khoản thu nhập nhận được đó
- Các khoản thu nhập liên quan đến viẹc tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ không tính trong doanh thu, sau khi đã trừ các khoản chi phí theo quy định của Bộ Tài chính
để tạo ra khoản thu nhập đó
- Các khoản thu nhập khác
Thuế suất thuế TNDN:
- Thuế suất thuế TNDN áp dụng đối với cơ sở kinh doanh trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là 32%
- Thuế suất 25% áp dụng đối với các cơ sở kinh doanh dưới đây trong thời hạn 3 năm kể từ khi Luật thuế TNDN có hiệu lực thi hành :
+ Khai thác mỏ, khoáng sản, lâm sản và thuỷ sản
+ Luyện kim, sản xuất sản phẩm cơ khí
+ Sản xuất hoá chất cơ bản, phân bón, thuốc trừ sâu
+ Sản xuất vật liệu xây dựng (trừ sản xuất xi măng)
Trang 15
+ Xây dựng ( trừ khảo sát, thiết kế, tư vấn, giám sát)
+ Vận tải ( trừ vận tải hàng không, vận tải taxi)
- Các cơ sở kinh doanh có thu nhập cao do địa điểm kinh doanh thuận lợi, ngành nghề kinh doanh ít bị cạnh tranh mang lại thu nhập cao, sau khi nộp thuế thu nhập theo thuế suất 32% mà phần thu nhập còn lại cao hơn 20% vốn chủ sở hữu hiện có thì
số vượt trên 20% phải chịu thuế TNDN bổ sung với thuế suất 25% Thu nhập chịu thuế TNDN bổ sung được xác định bằng cách lấy thu nnhập còn lại( sau khi nộp thuế TNDN theo thuế suất 32%) trừ đi 20% vốn chủ sở hữu hiện có
Tạm thời chưa thu thuế TNDN bổ sung đối với các cơ sở kinh doanh sau :
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được áp dụng thuế suất TNDN 25% trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày 1/1/1999
+ Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư được hưởng mức thuế suất thuế TNDN ưu đãi
+ Các cơ sở sản xuất nếu xuất khẩu trên 50% sản phẩm sản xuất ra hoặc có doanh thu xuất khẩu chiếm 50% tổng doanh thu
+ Các hộ kinh doanh
+ Các đơn vị sự nghiệp hưởng kinh phí ngân sách cấp, không được cấp vốn kinh doanh thì không phải nộp thuế TNDN bổ sung Trường hợp hoạt động có thu đã thực hiện chế độ kế toán theo pháp lệnh kế toán thống kê hiện hành, xác định được vốn chủ sở hữu thì phải nộp thuế TNDN bổ sung( nếu có )
- Đối với các dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư được áp dụng thuế suất thuế TNDN như :
+ Nếu thuộc các lĩnh vực, ngành nghề được ưu đãi đầu tư theo quy định của Chính phủ được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 25%
+ Nếu dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư vào huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số miền núi và hải đảo, vùng có khó khăn khác theo quy định của Chính phủ được hưởng mức thuế suất 20%
Trang 16
+ Nếu dự án thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư vào huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số ở miền núi cao theo quy định của Chính phủ được hưởng mức thuế suất 15%
- Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, áp dụng thuế suất chung là 25%
3 Quy trình quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp
3.2 Quy trình quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp :
* Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế:
- Doanh nghiệp lập đăng ký thuế: Doanh nghiệp mới ra kinh doanh phải liên hệ với
Cục thuế( bộ phận ấn chỉ) để nhận và kê khai tờ khai đăng ký thuế theo mẫu quy định Sau khi kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai, doanh nghiệp gửi tờ khai đăng ký thuế tới cơ quan thuế để được cấp mã số thuế Các Chi cục thuế tập hợp các đăng ký thuế tại chi cục theo từng đội thuế, kèm theo bản kê danh sách ĐTNT để gửi về cục thuế đề nghị cấp mã số thuế
Trang 17
- Tiếp nhận đăng ký thuế: Phòng hành chính nhận tờ khai đăng ký thuế của các doanh nghiệp và nhận các tệp tờ đăng ký thuế từ các Chi cục gửi lên Cục, ghi sổ nhận đăng ký thuế theo mẫu Phân loại tờ đăng ký thuế của các doanh nghiệp theo từng phòng quản lý thu để chuyển cho phòng quản lý thu và chuyển các tệp đăng ký thuế của các Chi cục cho phòng KH-KT-TK
- Kiểm tra tờ khai đăng ký: Phòng quản lý thu kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên tờ đăng ký thuế của các doanh nghiệp, phát hiện nếu có sai sót thì liên hệ với doanh nghiệp để chỉnh sửa Sau đó, chuyển tờ khai đăng ký thuế đã kiểm tra cho phòng KH-KT-TK
- Nhập đăng ký thuế và cấp mã số thuế: Phòng KH-KT-TK nhận các tệp tờ khai đăng ký thuế của các chi cục từ phòng hành chính và các tờ khai đăng ký thuế của các doanh nghiệp từ phòng quản lý thu, thực hiện nhập các thông tin trên tờ khai đăng ký thuế vào máy tính Máy tính sẽ gán mã số thuế cho ĐTNT Cán bộ nhập đăng ký thuế
sẽ ghi lại mã số của ĐTNT vào tờ khai đăng ký
- Chuyển dữ liệu đăng ký thuế về Tổng cục: Phòng KH-KT-TK Cục thuế truyền dữ liệu đăng ký thuế về Tổng cục thuế để kiểm tra sự trùng lắp mã số thuế trên phạm vi
toàn quốc
- Kiểm tra tại Tổng cục: Tổng cục kiểm tra dữ liệu đăng ký thuế các cục thuế trên phạm vi toàn quốc để tránh việc đăng ký trùng lắp, đồng thời kiểm tra quan hệ doanh nghiệp chủ quản với đơn vị trực thuộc thông qua mã số thuế Gửi trả kết quả kiểm tra cho cục thuế
- In giấy chứng nhận cấp mã số thuế: Phòng KH-KT-TK nhận kết quả kiểm tra từ Tổng cục Đối với các trường hợp được chấp thuận thì tiến hành in Giấy chứng nhận đăng ký thuế và bảng kê danh sách mã số ĐTNT chuyển cho các phòng quản lý thu
và các Chi cục thuế để gửi tới ĐTNT Các trường hợp không được chấp thuận, phòng KH-KT-TK thực hiện in thông báo mã số thuế tạm để cấp cho ĐTNT, nhưng đồng thời yêu cầu các phòng quản lý thu và các Chi cục thuế liên hệ với các ĐTNT hoàn chỉnh tờ khai để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế chính thức
* Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế
Trang 18
- Hướng dẫn ĐTNT lập tờ khai thuế: Phòng quản lý thu hướng dẫn và nhắc nhở các doanh nghiệp lập tờ khai thuế TNDN theo mẫu và gửi cơ quan thuế chậm nhất ngày
25 tháng 1 hàng năm
- Tiếp nhận tờ khai : Phòng hành chính nhận tờ khai thuế, ghi sổ theo dõi việc nhận
tờ khai theo mẫu sổ số 01/QTR, đóng dấu vào ngày nhận tờ khai và chuyển tờ khai cho các phòng quản lý thu Cán bộ phòng quản lý thu khi nhận tờ khai phải ký sổ nhận tờ khai
- Kiểm tra tờ khai ban đầu:
Phòng quản lý thu nhận tờ khai và tiến hành kiểm tra phát hiện lỗi Tờ khai được coi là có lỗi nếu:
Ghi sai tên ĐTNT
Không ghi hoặc ghi sai mã số thuế
Khai thiếu chỉ tiêu hoặc sai mẫu tờ khai
áp dụng thuế suất sai, tính toán sai
Các chỉ tiêu trên tờ khai bằng ngoại tệ chưa quy đổi ra tiền Việt Nam Phòng quản lý có trách nhiệm liên hệ với ĐTNT để sửa lỗi tờ khai( lỗi nhẹ có thể liên hệ qua điện thoại để sử, lỗi nặng có thể gửi trả hoặc yêu cầu ĐTNT tới cục thuế
Tính toán số học trên tờ khai
Số thuế còn nợ, còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang tháng này trên tờ khai không khớp với số theo dõi của ngành thuế
Trang 19
Phòng KH-KT-TK in danh sách ĐTNT kê khai sai mà máy tính đã sửa theo máy,
lý do sai và thông báo cho phòng quản lý thu biết để báo cáo cho ĐTNT về các sai sót trên tờ khai và các nội dung cơ quan thuế đã sửa
- Sửa lỗi kê khai: ĐTNT liên hệ qua điện thoại hoặc trực tiếp đến cơ quan thuế để sửa lỗi kê khai Việc sữa lỗi kê khai thuế TNDN phải diễn ra trước ngày 28/2 của năm Nếu quá thời hạn này, doanh nghiệp chưa sửa xong tờ khai thì phòng quản lý thu tiến hành ấn định thuế theo Luật định
- ấn định thuế: Phòng quản lý thu theo dõi ĐTNT không nộp tờ khai và các ĐTNT quá hạn sửa lỗi tờ khai để thực hiện việc ấn định thuế cho các đối tượng này Phòng quản lý thu lập danh sách ấn định thuế cho kỳ thuế theo mẫu và gửi phòng KH-KT-
TK để tính thuế Đối với thuế TNDN, sau 6 tháng đầu năm, nếu ĐTNT có sự thay đổi lớn về thu nhập chịu thuế và có đầy đủ thủ tục đề nghị thay đổi, phòng quản lý thu kiểm tra tờ khai điều chỉnh về các chỉ tiêu kê khai và xác định có đúng đối tượng điều chỉnh không Sau đó, làm thủ tục chuyển tờ khai điều chỉnh đã kiểm tra cho phòng KH-KT-TK để tính lại số thuế phải nộp của 2 quý cuối năm
- In thông báo thuế :
+ Thông báo thuế lần một: Phòng KH-KT-TK tính nợ kỳ trước chuyển sang, tính thuế phải nộp kỳ này dựa vào tờ khai và danh sách ấn định thuế và in thông báo thuế Khi nộp thuế TNDN kê khai nộp cả năm, máy tính sẽ tự động tính thuế TNDN quý 1 bằng 1/4 số thuế kê khai nộp cả năm Số thuế TNDN các quý sau, nếu phòng quản lý thu thấy cần điều chỉnh thì lập danh sách và số thuế phải nộp
+ Thông báo thuế lần hai: Qua theo dõi thu nộp của ĐTNT, phòng quản lý thu lựa chọn đề xuất danh sách ĐTNT quá hạn nộp thuế ghi trên thông báo thuế mà vẫn chưa nộp thuế để gửi phòng KH-KT-TK phát hành thông báo thuế lần 2 Số tiền trong thông báo thuế lần 2 gồm số tiền chưa nộp và số tiền nộp chậm
+ Ký và gửi thông báo thuế : Thông báo thuế in xong được chuyển cho lãnh đạo cục thuế ký Sau đó chuyển cho phòng hành chính sao thành 2 bản, đóng dấu và gửi cho ĐTNT 1 bản, 1 bản cho phòng quản lý thu lưu vào sổ hồ sơ của doanh nghiệp
- Xử lý phạt :
Trang 20+ Phạt hành chính: Phòng quản lý thu hoặc phòng TT-XL-TT xem xét, lựa chọn ĐTNT cần phạt hành chính trong lĩnh vực thuế, dự thảo quyết định phạt hành chính
để trình lãnh đạo cục duyệt
Phòng KH-KT-TK nhập số tiền phạt hành chính của các ĐTNT từ phòng quản lý thu chuyển sang để theo dõi việc nộp phạt Số tiền phạt hành chính không đưa vào số thuế phải nộp ghi trong thông báo thuế của kỳ thuế đó mà gửi quyết định phạt hành chính coi như thông báo số tiền phạt ĐTNT phải nộp Sang kỳ thuế sau, nếu ĐTNT chưa nộp phạt thì số tiền phạt còn nợ kỳ trước sẽ được đưa vào số nợ đầu kỳ trong thông báo thuế kỳ này
- Lập lệnh thu: Phòng quản lý thu theo dõi tình hình nợ đọng thuế, lựa chọn và lập danh sách các ĐTNT nợ thuế lớn, kéo dài nhiều tháng để đề xuất lập lệnh thu Phòng quản lý thu phối hợp với phòng KH-KT-TK để xác định số thuế nợ đọng sẽ ghi vào lệnh thu, dự thảo lệnh thu và tờ trình lãnh đạo duyệt
- Nộp thuế : ĐTNT căn cứ vào tờ khai tính thuế của mình để tự viết giấy nộp tiền và nộp thuế vào kho bạc Khi nhận được thông báo thuế, nếu chưa nộp đủ số tiền thuế theo thông báo thì viết giấy nộp tiền nộp tiếp số tiền thuế còn thiếu vào kho bạc
- Thu thuế tại kho bạc: Kho bạc( hoặc ngân hàng) thu tiền thuế hoặc trích chuyển tài khoản ghi ngày nộp tiền, số tiền nộp theo đúng chương, loại, khoản, mục và xác nhận vào giấy nộp tiền, chuyển 1 liên cho cơ quan thuế
- Nhận giấy nộp tiền: Phòng KH-KT-TK hàng ngày ( hoặc 3-5 ngày) nhận giấy nộp tiền từ kho bạc hoặc từ các chi cục chuyển lên đối với các doanh nghiệp nộp thuế tại chi nhánh kho bạc huyện xã và nhập số liệu trên giấy nộp tiền vào máy tính để theo dõi tình hình nộp thuế của ĐTNT Cuối ngày lập nhật ký thu cung cấp cho các phòng quản lý thu để thực hiện nhiệm vụ nhắc nhở các ĐTNT chưa nộp tiền hoặc nộp thiếu
Trang 21
tiền thuế bằng việc thông báo nhắc nhở, thông báo nộp thuế lần 2 hoặc trực tiếp gọi điện thoại Phòng KH-KT-TK và các phòng quản lý thu khai thác danh sách ĐTNT
có nghi vấn về kê khai thuế trên máy tính
- Xử lý danh sách ĐTNT có nghi vấn: Phòng TT-XL-TT và các phòng quản lý thu khai thác và phân tích thông tin về ĐTNT có nghi vấn về tờ khai, phân tích các thông tin có nghi vấn
- Kiểm tra trực tiếp ĐTNT: Phòng TT-XL-TT phối hợp với phòng quản lý thu thực hiện kiểm tra trực tiếp tại cơ sở theo các quy trình kiểm tra quy định của ngành Kết quả kiểm tra được các phòng này lập danh sách theo mẫu gửi về phòng KH-KT-TK
để điều chỉnh số thuế phải nộp
- Nhập kết quả sau kiểm tra: Phòng KH-KT-TK nhận và nhập danh sách kết quả kiểm tra, điều chỉnh số thuế phải nộp kỳ hiện tại
- Lập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế: Phòng KH-KT-TK lập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định Thực hiện đối chiếu số thu với kho bạc, theo dõi tiến độ thực hiện ké hoạch của các đơn vị trong ngành báo cáo lãnh đạo cục thuế và Tổng cục thuế để phục vụ công tác chỉ đạo thu
* Quy trình xử lý hoàn thuế :
- ĐTNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế
- Tiếp nhận hồ sơ: Phòng hành chính nhận hồ sơ hoàn thuế và ghi vào sổ nhận hồ sơ theo mẫu, sau đó đóng dấu ngày nhận vào đơn đề nghị xét hoàn thuế và chuyển các phòng quản lý thu
- Kiểm tra hồ sơ, xác định số thuế được hoàn: Phòng quản lý thu tiến hành kiểm tra các thủ tục hồ sơ đề nghị hoàn thuế của ĐTNT Sau khi kiểm tra hồ sơ đề nghị hoàn thuế, nếu phát hiện hồ sơ lập không đầy đủ thì cán bộ phòng quản lý thu thông báo lại cho ĐTNT biết để bổ sung, chỉnh sửa kịp thời
- Lãnh đạo duyệt: Lãnh đạo xem xét, duyệt các trường hợp được hoàn thuế và ký quyết định hoàn thuế Quyết định hoàn thuế được chuyển tới phòng hành chính
- Gửi và lưu các quyết định hoàn thuế : Phòng hành chính sao quyết định hoàn thuế thành 3 bản, đóng dấu, lấy số công văn và gửi 1 bản cho ĐTNT; 1 bản cho kho bạc
Trang 22- Kho bạc hoàn thuế : Trong thời hạn 5 ngày, kể từ khi nhận được quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế, kho bạc thực hiện thủ tục hoàn thuế
- Nhập chứng từ hoàn thuế : Phòng KH-KT-TK nhập số thuế được hoàn từ danh sách kết quả hoàn thuế, điều chỉnh số thuế phải nộp của kỳ hiện tại
* Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế :
- Lập, gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm, tạm giảm thuế: ĐTNT thuộc diện được miễn, giảm, tạm giảm thuế theo luật thuế phải lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm, tạm giảm thuế theo đúng quy định để gửi cơ quan thuế
- Tiếp nhận hồ sơ: Phòng hành chính nhận hồ sơ đề nghi miễn thuế, giảm, tạm giảm thuế và ghi vào sổ nhận hồ sơ theo mẫu, đóng dấu ngày nhận vào đơn đề nghi xét miễn, giảm, tạm giảm thuế và chuyển cho các phòng quản lý thu
- Kiểm tra, xác định số thuế được miễn, giảm, tạm giảm: Sau khi tập hợp đủ hồ sơ theo đúng quy định, phòng quản lý thu xác định số thuế miễn, giảm hoặc tạm giảm
- Duyệt hồ sơ, ký quyết định miễn, giảm hoặc tạm giảm thuế: Lãnh đạo duyệt, ký quyết định miễn thuế, tạm giảm thuế hoặc giảm thuế theo thẩm quyền, sau đó gửi phòng hành chính
- Gửi quyết định miễn, giảm hoặc tạm giảm thuế: Phòng hành chính sao quyết định thành 3 bản, đóng dấu, lấy số cơ quan thuế và gửi 1 bản cho ĐTNT; 1 bản cho phòng
Trang 23- Điều chỉnh số thuế phải nộp: Phòng KH-KT-TK nhận danh sách kết quả quyết định miễn, giảm, tạm giảm thuế, nhập số thuế được miễn, tạm giảm hoặc giảm để điều chỉnh số thuế phải nộp từng kỳ của ĐTNT
- Lưu hồ sơ: Phòng quản lý thu tổ chức lưu hồ sơ, quyết định, các biên bản kiểm tra
và quyết định xử lý về giảm, tạm giảm thuế vào hồ sơ của từng doanh nghiệp
* Quy trình xử lý quyết toán thuế :
- ĐTNT lập và gửi quyết toán thuế: ĐTNT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch, phải lập và gửi quyết toán thuế cho cơ quan thuế
Đối với ĐTNT chia, tách, sát nhập, giải thể…phải lập và nộp quyết toán thuế cho
cơ quan thuế thời hạn 45 ngày kể từ khai có quyết định sát nhập, chia, tách, giải thể… Phòng quản lý thu giải đáp vướng mắc về thủ tục lập quyết toán thuế cho các ĐTNT theo đúng quy định
- Nhận quyết toán thuế: Phòng hành chính nhận quyết toán thuế và ghi vào sổ nhận quyết toán thuế theo mẫu, sau đó đóng dấu ngày nhận vào quyết toán thuế và chuyển các phòng quản lý thu
- Kiểm tra số liệu quyết toán thuế:
+ Kiểm tra ban đầu: Phòng quản lý thu nhận quyết toán thuế, kiểm tra phát hiện các chỉ tiêu kê khai sai trong quyết toán thuế như : Ghi sai tên ĐTNT, không ghi hoặc ghi sai mã số thuế, khai thiếu chỉ tiêu trong quyết toán hoặc sai mẫu, các chỉ tiêu về tiền kê khai bằng ngoại tệ Đối với các lỗi này, cán bộ phòng quản lý thu liên hệ với ĐTNT để chỉnh sửa và các thông tin chỉnh sửa phải được ghi lại bằng phiếu điều chỉnh theo mẫu
+ Kiểm tra xác minh số liệu quyết toán thuế: Đối với các bản quyết toán thuế kê khai không rõ ràng, đầy đủ chứng từ chứng minh số liệu, phòng quản lý thu kiểm tra
Trang 24
tính chính xác của các số liệu kê khai trên quyết toán; kiểm tra đối chiếu số liệu trên bản quyết toán với các bản phụ lục chi tiết kèm theo; đối chiếu với số theo dõi thu nộp của cơ quan thuế và số liệu liên quan trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Phòng quản lý thu phối hợp với phòng TT-XL-TT lập kế hoạch kiểm tra các đối tượng này tại cơ sở để trình lãnh đạo duyệt
- Xác định kết quả quyết toán thuế: Phòng quản lý thu xác định số thuế còn thừa hoặc thiếu sau quyết toán thuế của từng ĐTNT Đói với trường hợp ĐTNT nộp thừa tiền thuế, phòng quản lý thu phải xác định hình thức xử lý là trừ số thuế thừa này vào
số thuế phải nộp của kỳ thuế tới hay yêu cầu ĐTNT lập thủ tục đề nghị hoàn thuế theo mẫu, lãnh đạo phòng quản lý thu ký xác nhận và gửi phòng KH-KT-TK để điều chỉnh số thuế phải nộp của ĐTNT Phòng quản lý thuế lập danh sách ĐTNT nộp chậm hoặc không nộp quyết toán, trình lãnh đạo quyết định phạt hành chính Chuyển danh sách ghi số tiền phạt hành chính cho phòng KH-KT-TK để theo dõi thu nộp
- Điều chỉnh số thuế phải nộp : Phòng KH-KT-TK nhận và nhập danh sách kết quả quyết toán thuế từ phòng quản lý thu chuyển sang, điều chỉnh số thuế phải nộp vào tháng hoặc quý hiện tại
- Lưu hồ sơ quyết toán
* Quản lý hồ sơ doanh nghiệp
- Phòng quản lý thu có nhiệm vụ tạo lập và quản lý hộ sơ các doanh nghiệp
- Phòng KH-KT-TK có nhiệm vụ tổ chức lưu giữ các tờ khai, bảng kê, chứng từ nộp thuế của ĐTNT theo từng sắc thuế, kỳ thuế và theo phòng quản lý thu
- Chế độ thông tin, báo cáo : các bộ phận theo phần công việc của mình, định kỳ tháng, quý lập một số báo cáo lãnh đạo Cục và sao gửi các phòng liên quan tới công tác quản lý thu thuế thuộc Cục
III Kinh nghiệm quản lý thu thuế TNDN ( Thuế thu nhập công ty) của một số
nước trên thế giới
Để đảm bảo quản lý tốt thuế thu nhập Công ty, ở tất cả các quốc gia đều muốn xây dựng một chính sách thuế thu nhập Công ty hoàn chỉnh, tốt nhất Nhưng thuế thu nhập Công ty thực chất là đánh vào lợi nhuận của công ty mà phần lợi nhuận đó chủ
Trang 25
yếu chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các khoản chi phí Do đó, cần phải xác định chính xác các khoản chi phí được khấu trừ, đó là:
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có liên quan tới việc tạo
ra thu nhập của công ty
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí thực sự có chi ra
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có mức trả hợp lý
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có tính thu nhập hơn tính vốn Những khoản chi phí có tính vốn được hiểu là những khoản chi phí có liên quan đến cơ cấu vốn
Tuy nhiên có những nguyên tắc chung để xác định các khoản chi phí được khấu trừ, song trên thực tế nhiều khoản chi phí không nằm trong phạm vi các nguyên tắc trên , nhưng với xu hướng phát triển cần phải xem xét khi đánh thuế thu nhập Công
ty Đó là các khoản chi phí sau :
- Các khoản lợi tức cổ phần phải trả Cổ tức tượng trưng cho phần được chia từ lợi nhuận của công ty sau khi đã chịu thuế Do đó, cổ tức mà cổ đông nhận được tiêu biểu cho thu nhập đã bị đánh thuế rồi Nếu cổ đông bị đánh thuế trên lợi tức cổ phần thì họ đã phải chịu thuế hai lần cho cùng một thu nhập của họ Đã có nhiều nước áp dụng chính sách cho phép lợi tức cổ phần được hưởng mức thuế đặc biệt để loại bỏ hay giảm đi yếu tố đánh thuế hai lần
Phương án đầu tiên và cũng là phương án đơn giản nhất đó là miễn thuế lợi tức cổ phần Như vậy công ty sẽ phải trả thuế trên lợi nhuận của công ty, khi công ty chia lợi nhuận đã chịu thuế ra thành cổ tức và các cổ đông sẽ không phải trả thêm thuế nữa Đây là phương pháp đang được sử dụng ở Hồng Kông nhưng ít được các quốc gia khác áp dụng Tại Việt Nam, thuế TNDN không đánh trên phần cổ tức thu được do doanh nghiệp góp cổ phần ( vì đã nộp ở đơn vị nhận vốn) để tránh đánh thuế hai lần Phương án thứ hai là áp dụng chế độ miễn thuế từng phần Tức là một phần cổ tức phải chịu thuế và phần còn lại không phải chịu thuế Một số quốc gia đã áp dụng phương án này như ở Đài Loan: 80% lợi tức cổ phần của một công ty nhận được từ các cổ phần của họ trong một công ty khác được miễn thuế, 20% còn lại phải chịu
Trang 26- Các thuế thông thường được chia là : 2 loại
Đối với thuế thu nhập Công ty thì không được coi là khoản chi phí kkhấu trừ Trong việc áp dụng đối với Việt Nam, thuế TNDN cũng không được coi là một khoản chi phí được khấu trừ
Đối với thuế đánh trên hàng hoá thì được coi là chi phí và được khấu trừ, vì thực chất đây là một khoản chi phí mà công ty phải trả khi mua hàng hoá và nó được coi như một khoản chi phí tạo ra lợi nhuận Đối với Việt Nam, các khoản thuế liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế môn bài được phép khấu trừ khi tính thuế thu nhập chịu thuế
- Đối với khoản chi phí cho liên hiệp công ty, chi phí trả cho quyền sở hữu công nghiệp
- Đối với khoản chi phí dự phòng của công ty Tuy nhiên các khoản dự phòng phải hợp lý, khách quan, phù hợp với hoạt động của công ty
- Đối với khoản nợ khó đòi, nếu thực sự xảy ra, thì hầu hết các quốc gia đều cho phép khấu trừ trược khi tính thuế thu nhập Công ty Người ta coi đây là chi phí rủi ro trong quá trình kinh doanh
- Đối với khoản chi phí trả lãi tiền vay Hiện nay có hai quan điểm về việc có khấu trừ và không khấu trừ lãi tiền vay khi xác định thu nhập chiụ thuế
Trang 28
Chương II Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh
nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
I Tổng quan về Cục thuế Hà Nội
1 Vài nét về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của Hà Nội
Hà Nội là một thành phố có vị trí vô cùng thuận lợi, nằm giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thuận lợi cho việc phát triển rất nhiều các ngành kinh tế Từ Hà Nội có tất cả các tuyến đường bộ và đường sắt đi tới các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế của cả nước, với các nước lân cận như Bắc Kinh, Lào Ngoài ra, về đường không, Hà Nội có sân bay Nội Bài là sân bay quốc tế lớn, là phương tiện chủ yếu để chuyên chở khách nước ngoài từ các nước về Việt Nam và từ Việt Nam sang các nước khác Hà Nội còn có một cơ sở vật chất hiện đại nhất cả nước, thường xuyên được đầu tư nâng cấp và mở rộng, là điều kiện rất thuận lợi để phát triển sản xuất trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài
Hà Nội là nơi tập trung tất cả các ngành quan trọng của cả nước như ngành năng lượng, xây dựng, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, cùng đội ngũ lao động dồi dào
và các điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải, về cơ sở vật chất, về vốn đầu tư và thị trường rộng lớn đã tạo điều kiện cho các ngành phát triển với tốc độ cao Với diện tích rộng và mật độ dân số cao nhất cả nước, tuy còn nhiều vấn đề xã hội nổi cộm song Hà Nội vẫn là trung tâm văn hoá chính trị của cả nước nên trật tự luôn được duy trì ổn định, người dân có trình độ dân trí cao, có ý thức chấp hành pháp luật tốt Do
đó, Hà Nội đã tạo mội trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm bỏ vốn đầu tư phát triển kinh tế
Không những thế Hà Nội còn là một trung tâm kinh tế thương mại của cả nước, là đầu mối lưu chuyển hàng hoá đi tất cả các tỉnh thành và các nước khác Chính nhờ những lợi thế này mà trong những năm qua tổng sản phẩm sản xuất của Hà Nội (GDP) luôn cao hơn mức bình quân của cả nước từ 6%- 9%
2 Khái quát về Cục thuế Hà Nội và phòng công nghiệp
Trang 29
2.1 Khái quát về Cục thuế Hà Nội
Cục thuế Hà Nội nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính
được thành lập theo Nghị định số 281- HĐBT ngày 07/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng để quản lý thống nhất trong cả nước công tác thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước Cục thuế Hà Nội là cơ quan chuyên môn thuộc Tổng cục thuế Nhà nước, đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của UBND thành phố Cơ quan đặt tại địa điểm 57 Giảng Võ- Hà Nội
* Cục thuế Hà Nội trực tiếp quản lý thu thuế các đối tượng sau :
- Doanh nghiệp nhà nước Trung ương, doanh nghiệp Nhà nước thuộc huyện, quận, thành phố, doanh nghiệp của Đảng, đoàn thể, đơn vị vũ trang nhân dân
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các công ty nước ngoài và tổ chức
cá nhân nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ sở kinh tế tập thể, hợp tác xã
- Các đơn vị sự nghiệp kinh tế, nhà khách, nhà nghỉ và các tổ chức kinh tế khác của các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể, hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương
- Các hộ cá thể sản xuất kinh doanh đăng ký được nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục thuế Hà Nội :
- Hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện thống nhất các chính sách, chế độ, thể
lệ, nguyên tắc về quản lý, thu thuế trên địa bàn theo đúng các Luật, pháp lệnh, các văn bản quy định của Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng và các hướng dẫn của
Bộ tài chính và cơ quan thuế cấp trên; tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách cho các đối tượng nộp thuế, các ngành, các cấp và toàn dân để hiểu và chấp hành
- Lập kế hoạch thu thuế và thu khác trên địa bàn (tháng, quý, năm), báo cáo UBND tỉnh và Bộ tài chính theo quy định; phối hợp chặt chẽ với Sở tài chính
Trang 30- Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên các Chi cục thuế trong việc tổ chức công tác thu thuế, thực hiện Luật, pháp lệnh, kế hoạch thu thuế và thu khác; tổng kết, đúc rút kinh nghiệm về các biện pháp tổ chức thu thuế
- Thực hiện công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, chế độ thuế, kỷ luật thu nộp thuế của các ĐTNT và trong nội bộ ngành thuế ở địa phương; kiểm tra, kiểm soát
sổ sách kế toán, chứng từ…có liên quan đến số thuế phải nộp, xử lý các vi phạm về thuế, các khiếu nại theo thẩm quyền được Luật thuế quy định
- Được quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân nộp thuế cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ cần thiết chi việc tính toán các khoản thuế và thu khác ( kể cả kế hoạnh kinh tế- tài chính của các Bộ, ngành và cơ sở ) ; tham gia cùng các cơ quan chức năng xét duyệt đăng ký kinh doanh và đăng ký nộp thuế, trực tiếp quản lý hồ sơ đăng ký kinh doanh
và các tài liệu có liên quan đến việc tính thuế của các đối tượng do Cục thuế trực tiếp quản lý thuế
- Tổ chức công tác kế toán thuế, kế toán ấn chỉ, kế toán hàng tịch thu, tạm giữ đầy
đủ, kịp thời, chính xác; hướng dẫn các chi cục thuế thực hiện các quy định về kế toán thu; tổ chức công tác thống kê các chỉ tiêu kinh tế và thu nộp thuế, lập các báo cáo về tình hình và kết quả thu thuế phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, UBND đồng cấp và các cơ quan có liên quan
- Quản lý biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu của hệ thống thuế ở địa phương theo đứng các quy định của Nhà nước và theo sự phân cấp của Tổng cục thuế; tổ chức bồi
Trang 31bạ, phòng ngoài quốc doanh ( theo khu vực chia thành ngoài quốc doanh I và ngoài quốc doanh II)
Trong đó mỗi phòng được phân theo chức năng và nhiệm vụ cụ thể đảm bảo sự quản lý có tính chuyên môn cao và toàn diện tất cả các công tác, nhiệm vụ được giao Sau đây là sơ đồ cấu trúc tổ chức của Cục thuế Hà Nội
Chỉ đạo khối các chi cục quận
Phòng trước bạ
Phòng nghiệp vụ 1
Phòng ngoài quốc doanh 1
Phòng ngoài quốc doanh 2
Trang 32
Cục thuế Hà Nội là đơn vị luôn luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao với đội ngũ trên 1800 cán bộ hoạt động trên một địa bàn rộng phức tạp nhưng các cán bộ thuế luôn đi sâu, đi sát cơ sở và thực hiện tốt 10 điều kỷ luật của ngành thuế
Trong những năm qua, Cục thuế Hà Nội luôn luôn hoàn thành số thu thuế vượt mức kế hoạch được giao, số thu năm sau cao hơn số thu năm trước
Biểu 1: Tình hình thực hiện thu thuế trong 2 năm 2000-2001 của Cục thuế Hà Nội
Đơn vị : Tỷ đồng
Số thực hiện
năm 2000
Số thực hiện năm 2001
% thực hiện năm 2000 so với kế hoạch năm 2000
% thực hiện năm 2001 so với kế hoạch năm 2001
% thực hiện năm 2001 so với thực hiện năm 2000 12.679 13.437 124,25% 113,21% 105,98%
Với số liệu ở trên cho thấy: Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, Thành
uỷ, HĐND và UBND thành phố Hà Nội cùng sự phối hợp của các cấp, các ngành và các ĐTNT, năm 2000 số thu của ngành thuế là 12.679 tỷ đồng vượt 24,25% so với kế hoạch và đến năm 2001 số thu là 13.437 tỷ đồng vượt 13,21% so với kế hoạch và tăng 5,98% so với năm 2000
Trong sự đóng góp về số thu của toàn Cục thuế Hà Nội, điều đáng kể là thu từ sản xuất công nghiệp , bộ phận này được đặt dưới sự quản lý của phòng Công nghiệp
2.2 Khái quát phòng Công nghiệp :
Phòng Công nghiệp là một phòng trực thuộc Cục thuế Hà Nội Phòng Công nghiệp gồm có 1 trưởng phòng, 3 phó phòng và 24 cán bộ trong biên chế trực tiếp quản lý các doanh nghiệp công nghiệp , đó là :
- Các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp trên địa bàn Hà Nội như: than, điện, điện tử, cơ khí, hoá chất, địa chất…
- Các doanh nghiệp thuộc liên hiệp xe đạp, xe máy Hà Nội, liên hiệp vệ sinh, Công
ty sản xuất và nhập khẩu tổng hợp Hà Nội, công ty điện Hà Nội
Nhiệm vụ của phòng Công nghiệp :
Trang 33
- Nắm chắc các ĐTNT, hướng dẫn các đơn vị mới trong việc đăng ký nộp thuế, trong sát nhập, chia tách, chuyển đổi hình thức kinh doanh, hướng dẫn chế độ cho các doanh nghiệp
- Đôn đốc các đơn vị nộp tờ khai thuế
- Kiểm tra các tờ khai của các doanh nghiệp
- Kiểm tra các thông báo thuế của phòng máy tính gửi lưu
- Đánh giá lập các báo cáo thuế
- Xử lý hoàn thuế, kiểm tra sau hoàn thuế đối với các đối tượng được hoàn thuế
- Kiểm tra làm tờ trình xử lý giảm, miễn thuế đối với các đối tượng nộp thuế trong diện miễn, giảm
- Kiểm tra tình hình sử dụng hoá đơn chứng từ ở các đơn vị
Phòng Công nghiệp là phòng có trang bị tương đối đầy đủ phục vụ cho công tác quản lý thu thuế với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, luôn luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ của mình Trong những năm qua, phòng Công nghiệp luôn hoàn thành tốt và vượt mức kế hoạch được giao, số thu hàng năm lớn ( luôn lớn hơn 1000 tỷ đồng)
Biểu 2: Tình hình thực hiện thu thuế 3 năm 1999 - 2000 - 2001 của phòng Công nghiệp
Trang 34
vậy để quản lý được các đối tượng này khá là khó khăn và phức tạp Muốn quản lý được một cách triệt để và bao quát nhất chúng ta cần phải nghiên cứu những đặc điểm của các doanh nghiệp này
Các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Nội được chia thành 2 bộ phận, đó là: Bộ phận DNTW ( doanh nghiệp công nghiệp trung ương) và bộ phận DNĐP( doanh nghiệp công nghiệp địa phương)
- Đối với các DNTW: phần lớn là các doanh nghiệp có vốn lớn, quy mô sản xuất lớn, điều kiện trang thiết bị máy móc luôn được đầu tư mới và thường xuyên được thay đổi cải tiến để nâng cao năng lực sản xuất, đội ngũ lãnh đạo ở trình độ cao, hầu hết các giám đốc và kế toán trưởng đều có trình độ đại học và trên đại học
- Đối với các DNĐP: nhìn chung các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ bé, cơ sở vật chất nghèo nàn, vẫn đang còn sử dụng các trang thiết bị máy móc cũ nhập của các nước Liên Xô cũ, các nước Đông Âu…từ những năm trước đây Thường do vốn đầu
tư từ ngân sách của địa phương còn eo hẹp nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới và đầu tư chiều sâu do đó cơ sở vật chất kỹ thuật chậm đổi mới Bên cạnh đó, trình độ quản lý của cán bộ còn hạn chế Đội ngũ công nhân chủ yếu là làm gia công, làm thuê, do đó trình độ tay nghề và kinh nghiệm sản xuất còn yếu kém Vì vậy nên trong những năm qua các doanh nghiệp này chỉ có khoảng 30-40% doanh nghiệp làm ăn có lãi, còn lại thì làm ăn hoà vốn hoặc lỗ Số thu của bộ phận DNĐP chiếm tỷ trọng thấp (16-20%) so với DNTW Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp công nghiệp đã thực sự phát huy tốt vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế nói chung và trong lĩnh vực công nghiệp của Hà Nội nói riêng Hàng năm, sản lượng công nghiệp chiếm tỷ trọng cao, nộp ngân sách ổn định, xuất nhập khẩu tăng, đã giải quyết công ăn việc làm cho số đông người lao động, dẫn dắt tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, góp phần đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Hà Nội
II Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN
1 Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN đối với một số khu vực trên địa bàn Hà Nội
Trang 35
* Đối với các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương:
Trong năm 2001vừa qua, Cục thuế Hà Nội đã thu được từ các DNNN Trung ương đạt 11,34% so với kế hoạch đặt ra; tăng 5,37% so với cùng kỳ năm trước
Trong đó: Thuế TNDN, đại bộ phận các doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế TNDN ngay từ đầu năm và thực hiện nộp ngân sách theo thông báo thuế tương đối tốt Đối với một số doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế thấp hơn thực tế, cơ quan thuế thông qua công tác quản lý nắm kết quả sản xuất kinh doanh đã thực hiện ấn định thuế và phát hành thông báo yêu cầu nộp ngân sách; đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra quyết toán thuế, đôn đốc các doanh nghiệp nộp ngay số thuế nợ đọng vào ngân sách…Vì vậy, thuế TNDN nộp ngân sách đạt kết quả khá: 5.044 tỷ đồng; đạt 109.5% so với kế hoạch; tăng 4,92% so với thực hiện năm 2000 Trong đó, một số doanh nghiệp có số nộp ngân sách lớn:
- Ngân hàng Nhà nước (nộp chênh lệch thu chi) 1.529 tỷ
- Tổng công ty bưu chính viễn thông 1.624 tỷ
- Tổng công ty điện lực 417 tỷ
- Bộ quốc phòng 173 tỷ
-Ngân hàng Nông nghiệp 382 tỷ
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 96 tỷ
* Đối với các doanh nghiệp Nhà nước địa phương:
Các doanh nghiệp Nhà nước địa phương chấp hành các luật thuế tương đối tốt, công tác đôn đốc thu, đôn đốc quyết toán thuế được tăng cường…Vì vậy, kết quả thu ngân sách hoàn thành vượt mức kế hoạch: đạt 103,01% kế hoạch Tuy nhiên, so với thực hiện năm 2000 chỉ bằng 97,71% do kinh tế địa phương có mức tăng trưởng khá nhưng tập trung ở các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu không phải nộp thuế GTGT, mặt khác do thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế
Do đó thuế TNDN nộp ngân sách chỉ đạt 86,24% kế hoạch và đạt 83,17% so với năm 2000
* Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
Trang 36
Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã
đi vào ổn định và một số ngành đã đạt được mức tăng trưởng khá, các doanh nghiệp thực hiện kê khai và nộp ngân sách kịp thời, công tác đôn đốc thu, công tác kiểm tra chống thất thu ngân sách được tăng cường…Vì vậy, thu ngân sách đạt khá: đạt 107,34% kế hoạch, tăng 16,52% so với thực hiện năm 2000
Trong đó thuế TNDN: đạt 113,69% kế hoạch, và đạt 146,55% so với thực hiện năm
2000
* Đối với khu vực Công thương nghiệp - Ngoài quốc doanh:
Để thực hiện thu ngân sách từ khu vực này đạt kết quả tốt, Cục thuế Hà Nội đã chỉ đạo thu quyết liệt ngay từ đầu năm, giao nhiệm vụ thu cho các đơn vị hoàn thành vượt mức kế hoạch Bộ tài chính giao Từ cuối năm 2000, Cục thuế Hà Nội đã chỉ đạo các Chi cục thuế và 2 phòng quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp quốc doanh quận tiến hành kiểm tra, rà soát lại doanh thu tính thuế để thực hiện ấn định thuế, ; tăng cường công tác kiểm tra chống thất thu ngân sách, kiểm tra quyết toán thuế đối với các doanh nghiệp thu theo phương pháp khấu trừ Đứng trước tình hình ĐTNT quá lớn, Cục thuế đã chủ động báo cáo Tổng cục thuế phương án phân cấp cho các Chi cục quản lý Trong năm đã thực hiện chuyển gần
3000 đối tượng là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, ăn uống; nhà nghỉ; hợp tác
xã, tổ sản xuất …cho các Chi cục, công tác kế toán hộ kinh doanh được đẩy mạnh Thực hiện chỉ thị số 15/2001/CT-TTG ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố đã chỉ đạo thành lập các ban chỉ đạo chống thất thu ngân sách ở tất
cả các quận, huyện do cơ quan thuế làm thường trực Do đó công tác chống thất thu ngân sách đã được tăng cường, các khoản thuế tồn đọng đã được phân loại và đôn đốc ráo riết nộp vào ngân sách…Vì vậy năm 2001, thu ngân sách từ khu vực này là 527 tỷ; đạt 105,55% kế hoạch, tăng 16,75% so với thực hiện năm 2000
Trong đó thuế TNDN đạt 121,10% kế hoạch và đạt 118,27% so với thực hiện thu năm 2000
nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Trang 37
Luật thuế TNDN là một luật thuế mới đi vào thực hiện hơn 3 năm nay Ta có thể khái quát công tác tổ chức quản lý thu thuế TNDN đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Nội như sau:
Năm 1999, khi luật thuế TNDN mới đưa vào áp dụng, số đối tượng nộp thuế là
376 đơn vị Tổng số đối tượng đăng ký thuế được cấp mã là 376 đơn vị Số đối tượng
đã quản lý thu thuế có thông báo thuế thường xuyên, hàng tháng là 348 đơn vị Số đối tượng không thông báo thuế thường xuyên mà khi nào có phát sinh thì thông báo là
28 đơn vị bao gồm các văn phòng Tổng công ty, các cơ quan sự nghiệp có thu Các tháng đầu năm nhiều doanh nghiệp kê khai thuế chưa đúng, kê khai chậm do doanh nghiệp chưa thật hiểu về thuế GTGT và do kê khai phức tạp mất nhiều thời gian…Các tháng sau được phòng quản lý hướng dẫn, các đơn vị tiếp tục nghiên cứu sâu hơn do đó việc kê khai và nộp thuế đã đi vào nề nếp hơn Tuy nhiên còn nhiều đơn vị chưa nộp sát với thông báo thuế do tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, còn có những đơn vị nợ đọng lớn không có khả năng thanh toán Năm 2000, số đối tượng đăng ký thuế tăng hơn năm 1999 là 30 đơn vị, chủ yếu là các chi nhánh các tỉnh, các đơn vị thuộc Bộ Công nghiệp được sắp xếp lại
Sang năm 2001, số đối tượng đăng ký thuế cũng tăng hơn so với các năm trước và quá trình cấp mã số thuế đã có nhiều tiến triển hơn Hiện nay Cục thuế Hà Nội đã phấn đấu sau 5 ngày có mã số thuế cho các doanh nghiệp Nhà nước do Cục quản lý ( chỉ bằng 1/3 thời gian so với trước đây) Nhìn chung các đơn vị đều đăng ký thuế kịp thời Tuy nhiên, hiện tượng nộp thuế chậm và nợ đọng thuế vẫn xảy ra ở nhiều đơn
vị
Công tác quản lý thu thuế thực hiện theo quy trình của Tổng cục thuế do đó có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các bước trong quy trình quản lý thu thuế cũng như sự phân công về chức năng, nhiệm vụ giữa các phòng ban giúp cho công tác này đạt hiệu quả hơn Công tác kiểm tra, thanh tra thuế được tiến hành thường xuyên để kịp thời phát hiện và xử lý những doanh nghiệp vi phạm Luật thuế
Số thu thuế TNDN qua 3 năm thực hiện như sau:
Trang 38có 27 tỷ, nhưng sau 9 tháng thực hiện có lãi lớn do đó đã nộp thuế TNDN cao hơn 27
tỷ
- Năm 2000, thuế TNDN theo kế hoạch là 765 tỷ 660 triệu đồng nhưng thực hiện là
492 tỷ 323 triệu đồng, tức là giảm 36% Nguyên nhân chủ yếu là do Tổng công ty điện lực theo kế hoạch thu thuế TNDN năm 2000 là 596 tỷ ( trong đó có 141 tỷ thuế lợi tức năm 1999 chuyển sang) nhưng lợi nhuận năm 2000 của các công ty điện lực giảm do các nguyên nhân khách quan như : giá dầu các loại nhiên liệu tăng, nhu cầu điện thương phẩm tăng,… làm tăng chi phí Nếu loại trừ các nguyên nhân khách quan thì số thuế thu được sẽ không bị giảm so với kế hoạch
- Năm 2001, chỉ đặt kế hoạch thu thuế TNDN có 602 tỷ 553 triệu đồng vì dựa vào tình hình thực hiện thu thuế năm 2000 thấp hơn so với kế hoạch nhưng số thực hiện năm 2001 lại đạt được 620 tỷ 630 triệu đồng, vượt số thuế thực hiện năm 2000 là 26,06% Nguyên nhân là do Công ty bia Hà Nội thực hiện thu thuế TNDN tăng so với
kế hoạch khoảng 10 tỷ đồng Tuy nhiên, số thuế thực thu năm 2001 chỉ tăng 3% so với kế hoạch bởi khối Công nghiệp địa phương thuế TNDN giảm so với kế hoạch (
Trang 39
chỉ thu được khoảng 12 tỷ đồng so với khối Công nghiệp Trung ương là 608 tỷ) do một số đơn vị khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh , một số đơn vị có đầu tư được hưởng chế độ ưu đãi về thuế suất cũng như giảm hoặc miễn thuế TNDN nên cũng làm giảm số thuế TNDN của khối địa phương
Năm 2001 là năm có nhiều khởi sắc, tình hình kinh tế tăng trưởng có nhiều thuận lợi, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhìn chung là ổn định
III Đánh giá tình hình quản lý thu thuế TNDN đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
1 Những kết quả đạt được:
Mặc dù luật thuế TNDN mới đi vào thực hiện hơn 3 năm nay nhưng qua số liệu về kết quả thu thuế TNDN trong một số năm 1999, 2000 và 2001 chúng ta có thể thấy rằng công tác quản lý thu thuế của phòng công nghiệp tương đối tốt Nhất là năm
1999 là năm đầu tiên luật thuế có hiệu lực thi hành nhưng số thuế TNDN thu thực tế vượt xa kế hoạch đề ra(vượt 64%) Số thực thu thuế TNDN năm 2000 tăng so với năm 1999 là 18.988 triệu đồng và đến năm 2001 số thực thu thuế TNDN tăng so với năm 2000 lên tới 128.307 triệu đồng
Kết quả trên đạt được là do:
- Những điều kiện khách quan mang lại:
Năm 2001, tình hình kinh tế cả nước và thành phố Hà Nội đạt được nhiều kết quả khả quan, trên địa bàn thủ đô tình hình kinh tế xã hội vẫn được duy trì ổn định và phát triển là yếu tố cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Hà Nội tổ chức thu ngân sách đạt kết quả tốt Mặc dầu gặp nhiều khó khăn về thời tiết, giá cả hàng hoá xuất khẩu giảm, suy thoái kinh tế thế giới…nền kinh tế thủ đô vẫn đạt được nhiều kết quả khả quan, thực hiện được những mục tiêu chủ yếu do Nghị quyết HĐND đề ra, so với năm trước hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều tăng:
+Tổng sản phẩm nội địa tăng 10,03%
+ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,90%
+ Giá trị sản xuất nông lâm thuỷ sản tăng 0,72%
+ Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 9,00%
Trang 40
+Tổng mức bán ra hàng hoá và dịch vụ tăng 10,00%
+Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng 8,60%
- Sự nỗ lực của cơ quan thuế:
+ Điều đó được thể hiện qua ý thức trách nhiệm cao của các cán bộ thuế trong việc hướng dẫn, đôn đốc, nhắc nhở các doanh nghiệp thi hành luật thuế mới
+ Công tác kiểm tra, thanh tra được tiến hành khá tốt Cơ quan thuế thường xuyên
đi sâu đi sát các đơn vị nhanh chóng tìm ra những sai phạm của các doanh nghiệp để
từ đó đề ra biện pháp xử lý chống lại hiện tượng trốn lậu thuế và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác quản lý thuế Qua công tác này, cơ quan thuế đã làm lợi cho Nhà nước khoản thu khá lớn
+ Cơ quan thuế cũng không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ thuế thông qua việc tổ chức các khoá học bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu kết hợp với việc mở rộng các lĩnh vực đào tạo Công tác tuyên truyền giải đáp các chính sách, luật thuế được coi trọng đồng thời có sự phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng
- ý thức chấp hành luật thuế của các ĐTNT:
Việc chấp hành luật thuế TNDN ở các doanh nghiệp năm 2001 nói chung có tiến
bộ hơn so với năm 2000, 1999 tuy còn tồn tại những hiện tượng doanh nghiệp thực hiện các hành vi trốn thuế Một số doanh nghiệp khi bị phát hiện vi phạm đã nhanh chóng chấp hành những hình thức xử lý do cơ quan thuế đề ra và không có biểu hiện chống đối, tái phạm
2 Những tồn tại và nguyên nhân
2.1 Khái quát những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu
Bên cạnh những kết quả đạt được còn khá nhiều những tồn tại khiến cho công tác
quản lý thu thuế chưa thực sự đạt được mục đích đề ra là thu đúng, thu đủ, thu kịp thời:
- Còn nhiều đơn vị kê khai sai, hạch toán sai khiến cho số thuế phải nộp không đúng với thực tế