1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA

129 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hơn 10 năm hình thành và phát triển đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, là một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, các công ty chứng khoán đã thu được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh doanh chứng khoán như: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán... Một hoạt động tương đối quan trọng của các công ty chứng khoán đó là hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán. Hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán đã mang lại hiệu quả cho các nhà đầu tư nói riêng và cho thị trường chứng khoán nói chung. Hoạt động phân tích cơ bản giúp nhà đầu tư có thể đánh giá được giá trị của các chứng khoán, trên cơ sở đó có thể đưa ra những quyết định đầu tư mang lại hiệu quả cao, giúp cho thị trường chứng khoán phát triển một cách bền vững. Tuy nhiên, hoạt động phân tích cơ bản là một hoạt động đòi hỏi kiến thức và trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân lực là rất cao, nên việc đầu tư nguồn lực con người cho hoạt động này là vô cùng cần thiết và quan trọng. Chi phí đầu tư cho đội ngũ nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động phân tích cơ bản là tương đối lớn nhưng lợi ích hữu hình mà hoạt động này mang lại lại rất khó lượng hóa, do vậy mà đôi khi các nhà quản trị công ty chứng khoán chưa quan tâm chú trọng phát triển. Công ty cổ phần chứng khoán Vina là một trong những công ty chứng khoán liên doanh nước ngoài ở Việt Nam. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán có nhiều thăng trầm, trải qua gần 5 năm hoạt động và phát triển công ty đã đạt được những kết quả đáng kể, tuy nhiên cũng gặp không ít những khó khăn. Hoạt động phân tích chứng khoán cơ bản của công ty là bộ phận hoạt động có hiệu quả tuy nhiên hoạt động nghiệp vụ này vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn và hạn chế nhất định. Với thực tế đó, đề tài: “Phát triển hoạt động Phân tích tại Công ty cổ phần chứng khoán Vina ” đã được lựa chọn nghiên cứu.

Trang 1

******** ********

TRẦN THỊ MINH HIỀN

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

******** ********

TRẦN THỊ MINH HIỀN

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ - TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS LÊ THỊ HƯƠNG LAN

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Người thực hiện

Trần Thị Minh Hiền

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

TÓM TẮT LUẬN VĂN i

CHƯƠNG I i

CHƯƠNG II v

CHƯƠNG III viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 3

1.1.Tổng quan về công ty chứng khoán 3

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công ty chứng khoán 3

1.1.2.Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán 6

1.1.2.1.Hoạt động môi giới chứng khoán 6

1.1.2.2.Hoạt động tự doanh chứng khoán 7

1.1.2.3.Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán 7

1.1.2.4.Hoạt động tư vấn doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng khoán 8

1.1.2.5.Các hoạt động phụ trợ 8

1.2.Hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán 12

1.2.1.Khái niệm và vai trò hoạt động phân tích cơ bản 12

1.2.1.1.Khái niệm hoạt động phân tích cơ bản 12

1.2.1.2.Vai trò của hoạt động phân tích cơ bản đối với công ty chứng khoán 13

1.2.2.Nội dung của hoạt động phân tích cơ bản 14

1.2.2.1.Phân tích vĩ mô 15

1.2.2.2.Phân tích ngành kinh doanh 17

1.2.2.3.Phân tích công ty 20

1.2.3.Quy trình hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán 30

1.3.Phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán 33

1.3.1.Quan điểm phát triển hoạt động phân tích cơ bản 33

1.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán 34

1.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán 35

1.4.1.Nhân tố chủ quan 35

1.4.1.1.Chính sách của công ty chứng khoán 35

1.4.1.2.Quy trình của hoạt động phân tích cơ bản 36

Trang 5

1.4.1.5.Yếu tố vật chất, kỹ thuật 37

1.4.1.6.Cơ sở dữ liệu 38

1.4.2.Nhân tố khách quan 39

1.4.2.1.Môi trường chính trị- xã hội 39

1.4.2.2.Môi trường pháp lý 40

1.4.2.3.Sự phát triển của thị trường chứng khoán 41

1.4.2.4.Sự tuân thủ của các doanh nghiệp trong việc minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp 42

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA 43

2.1.Khát quát về công ty 43

2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của của công ty 43

2.1.2.Kết quả hoạt động chủ yếu 46

2.2.Thực trạng hoạt động phân tích cơ bản của công ty 51

2.2.1.Tình hình thực hiện hoạt động phân tích cơ bản tại công ty 51

2.2.2.Phân tích sự phát triển của hoạt động phân tích cơ bản tại công ty 57

2.3.Đánh giá thực trạng của hoạt động phân tích cơ bản của công ty 60

2.3.1.Kết quả đạt được 60

2.3.2.Hạn chế 62

2.3.3.Nguyên nhân của những hạn chế 63

2.3.3.1.Nguyên nhân chủ quan 63

2.3.3.2.Nguyên nhân khách quan 66

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA 67

3.1.Định hướng phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty 67

3.1.1.Định hướng phát triển của công ty 67

3.1.2.Định hướng phát triển hoạt động phân tích cơ bản 72

3.2.Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty 73

3.2.1.Hoàn thiện quy trình hoạt động phân tích cơ bản 73

3.2.2.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 75

3.2.3.Hoàn thiện bộ máy hoạt động và công tác quản trị 76

3.2.4.Phát triển đồng bộ các hoạt động khác của công ty 79

3.2.5.Tăng cường năng lực tài chính của công ty 81

3.2.6.Tăng cường hợp tác với các tổ chức kinh tế 81

Trang 6

3.3.2.Kiến nghị với Ủy ban chứng khoán Nhà nước 85

3.3.3.Kiến nghị với các doanh nghiệp 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 1 90

PHỤ LỤC 2 105

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AUD : Australian dollar

DCF : Discounted cash flow

Trang 7

DDM : Discount dividend model

EBIT : Earnings before interest and taxes

ECM : Equity capital market

EPS : Earnings per share

FCFE : Free cash flow to equity

FCFF : Free cash flow for the firm

M & A : Mergers and acquisitions

OTC : Over the counter

P/E : Price-Earnings ratio

ROE : Return on equity

TMET : Telecommunications, Media, Entertainment & TechnologyVNSC : Vinasecurities

Trang 8

Bảng 1: Quy trình hoạt động phân tích cơ bản 30

Bảng 2: Tình hình tài chính công ty năm 2009 và năm 2010 46

Bảng 3: Doanh thu và lợi nhuận công ty năm 2009 và năm 2010 47

Bảng 4: Các chỉ tiêu an toàn tài chính công ty năm 2009 và năm 2010 47

Bảng 5: Quy trình hoạt động phân tích cơ bản công ty đang áp dụng 55

Bảng 6: So sánh bộ chỉ số phân tích của công ty và các công ty chứng khoán khác tại tháng 12/2010 58

Bảng 7: Báo cáo doanh thu từ hoạt động kinh doanh của công ty năm 2009 và 2010 60

Bảng 8: Mức khuyến nghị đầu tư của công ty 61

Bảng 9: Chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty năm 2009 và 2010 63

Bảng 10: Quy trình hoạt động phân tích cơ bản tại công ty sau khi hoàn thiện 73

Trang 9

******** ********

TRẦN THỊ MINH HIỀN

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ - TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2011

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN CỦA

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Trong chương 1, tác giả đã trình bày khái quát cơ sở lý luận liên quan đến khái

niệm, đặc điểm và vai trò của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một tổchức trung gian tài chính có những đặc điểm: trung gian thực hiện các giao dịch trênthị trường chứng khoán, trung gian về thông tin Mô hình tổ chức kinh doanh củacông ty chứng khoán: mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ, mô hình

chuyên doanh chứng khoán Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán bao gồm:

hoạt động môi giới chứng khoán, hoạt động tự doanh chứng khoán, hoạt động bảolãnh phát hành chứng khoán, hoạt động tư vấn doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng

khoán và các hoạt động phụ trợ (hoạt động lưu ký chứng khoán, hoạt động quản lý

sổ cổ đông, hoạt động tín dụng, hoạt động quản lý quỹ)

Đồng thời tác giả cũng đi sâu nghiên cứu khái niệm, vai trò và nội dung củahoạt động phân tích cơ bản công ty chứng khoán

Phân tích chứng khoán là một tập hợp các phương pháp và công cụ xử lý thông tinnhằm trợ giúp cho việc ra quyết định đầu tư chứng khoán Phân tích cơ bản chứngkhoán là phân tích tình hình tài chính của các công ty, thiết lập các hệ số tài chính

để thấy được những mặt mạnh và yếu trong hoạt động tài chính của công ty

Hoạt động phân tích cơ bản có rất nhiều vai trò đối với công ty chứng khoán: manglại doanh thu cho công ty; hỗ trợ việc tạo ra doanh thu cho các nghiệp vụ khác; gópphần tạo nên thương hiệu của công ty

Phân tích cơ bản chứng khoán có thể thực hiện theo 2 phương pháp: Phương phápphân tích từ trên xuống; Phương pháp phân tích từ dưới lên Dù thực hiện theophương pháp nào thì phân tích cơ bản cũng bao gồm các nội dung phân tích:

- Phân tích vĩ mô

Các điều kiện kinh tế vĩ mô sẽ quyết định rủi ro chung của thị trường (rủi ro hệthống) Rủi ro này tác động đến toàn bộ thị trường, đến tất cả mọi chứng khoán màbản thân từng doanh nghiệp, hay từng ngành không thể tránh được

Trang 11

- Phân tích ngành kinh doanh

Mục đích của phân tích ngành kinh doanh là nhằm giúp cho các nhà đầu tư thấy rõnhững lợi thế hoặc rủi ro có thể gặp khi quyết định đầu tư vào chứng khoán của mộtdoanh nghiệp hoạt động trong một ngành kinh doanh cụ thể Những nội dung cầnthực hiện trong phân tích ngành kinh doanh bao gồm: phân tích đặc điểm và chu kỳkinh doanh của ngành, xác định hệ số rủi ro của ngành kinh doanh

- Phân tích công ty

Phân tích công ty là quá trình tìm hiểu các thông tin về công ty như: các báo cáo tàichính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng qua đó đánh giá hoạt động tài chính công ty

để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định Khi thực hiện phân tích

cơ bản các nhà phân tích sử dụng các phương pháp định giá cổ phiếu: phương phápP/E, phương pháp giá trị tài sản ròng, phương pháp chiết khấu dòng tiền

Quy trình hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán bao gồm các bước

Bước 1: Xác định mục tiêu phân tích

Bước 2: Xây dựng chương trình phân tích

Bước 3: Sưu tầm tài liệu và xử lý số liệu

Bước 4: Tính toán, phân tích và dự đoán

Phát triển hoạt động phân tích cơ bản là quá trình gia tăng về mặt lượng và sự biến đổi sâu sắc về mặt chất của hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán Phát triển hoạt động phân tích chứng khoán là đưa hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện hơn đến hoàn thiện hơn

Sự phát triển của hoạt động phân tích cơ bản được thể hiện ở các khía cạnh sau: quy

mô báo cáo (số lượng các loại báo cáo, tần suất các báo cáo cung cấp); chất lượngsản phẩm (độ tin cậy của các báo cáo cung cấp, thái độ của khách hàng đối với cácbáo cáo); chất lượng hiệu quả (doanh thu, tỷ trọng doanh thu)

Sản phẩm đầu ra của hoạt động phân tích là các thông tin được thể hiện ở dạng cácbáo cáo phân tích Do vậy, tiêu chí để đánh giá sự phát triển hoạt động phân tích cơbản được dựa trên: số lượng các loại báo cáo phân tích, tần suất cung cấp báo cáo,đối tượng sử dụng các báo cáo phân tích, doanh thu của hoạt động phân tích Bên

Trang 12

cạnh đó, không thể không nhắc tới các nhân tố ảnh hưởng hoạt động phân tích cơbản của công ty chứng khoán, bao gồm các nhân tố chủ quan và khách quan

Trước hết là các nhân tố chủ quan.

Thứ nhất, chính sách của công ty chứng khoán Chính sách của công ty chứng

khoán là sự cụ thể hóa nhận thức về mục tiêu kinh doanh của lãnh đạo công ty Vớinguồn lực dành cho phát triển kinh doanh là có hạn, nên việc sử dụng các nguồn lực

đó như thế nào để mang lại hiệu quả to lớn luôn là bài toán cần phải giải của cácnhà quản trị doanh nghiệp

Thứ hai, quy trình của hoạt động phân tích cơ bản Quy trình là một trong những

yếu tố cực kỳ quan trọng đem lại sự thành công cho mọi hoạt động của tổ chức, nógiúp cho mọi thành viên tham gia hoạt động từ người cũ đến người mới, đều có thể

xử lý đồng bộ công việc tương ứng vị trí của mình thông qua cách thức chung thống

nhất của tổ chức

Thứ ba, năng lực của cán bộ trong công ty Ngành chứng khoán là một ngành đặc

thù trong đó đội ngũ nhân lực đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động Nhân viên công

ty chứng khoán làm việc năng động, chịu áp lực rất lớn Khả năng và trình độchuyên môn của người lao động đóng góp rất lớn vào kết quả hoạt động của ngànhchứng khoán

Thứ tư, khả năng tài chính của công ty chứng khoán Khả năng tài chính thể hiện

sức mạnh của công ty chứng khoán Các công ty chứng khoán cung cấp nhiều dịch

vụ như: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán nên đòi hỏi nguồn vốn kinhdoanh lớn Công ty chứng khoán có nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanhcàng lớn thì cung cấp dịch vụ càng đa dạng

Thứ năm, yếu tố vật chất, kỹ thuật Cơ sở vật chất và trang thiết bị là “phần xác”

của doanh nghiệp, đóng vai trò lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh và có ý nghĩahết sức quan trọng với việc vận hành của công ty chứng khoán nói chung và hoạtđộng phân tích cơ bản nói riêng

Thứ sáu, cơ sở dữ liệu Cơ sở dữ liệu phân tích chứng khoán là những tài liệu, số

liệu liên quan cần thiết được lưu trữ trong một khoảng thời gian đủ dài Cơ sở dữ

Trang 13

liệu chứng khoán được coi là “ nguyên liệu đầu vào” và báo cáo phân tích được coi

là “sản phẩm đầu ra” của hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán

Sau đó là các nhân tố khách quan.

Thứ nhất, môi trường chính trị- xã hội Môi trường chính trị- xã hội có mối quan hệ

chặt chẽ và sự tác động mạnh mẽ đối với hoạt động của các doanh nghiệp và nềnkinh tế Sự ổn định của môi trường chính trị- xã hội của đất nước đó vừa là điềukiện vừa là biện pháp đảm bảo cho sự phát triển cho các doanh nghiệp và nền kinh

tế

Thứ hai, môi trường pháp lý Môi trường pháp luật có những tác động rất lớn đến

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và thị trường chứng khoán Hoạt động của thịtrường chứng khoán liên quan đến hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật chiphối hoạt động của các nhà đầu tư, nhà kinh doanh, nhà môi giới, nhà phát hành

Thứ ba, sự phát triển của thị trường chứng khoán Nền kinh tế thế giới đã và đang

có những thay đổi hết sức nhanh chóng Thị trường chứng khoán ra đời có vai tròhết sức quan trọng trong việc thúc đẩy việc tăng cường sức mạnh kinh tế của cácquốc Thị trường chứng khoán phát triển sẽ là cơ hội phát triển cho các thành viêncủa thị trường

Thứ tư, sự tuân thủ của các doanh nghiệp trong việc minh bạch hóa thông tin doanh

nghiệp Phân tích cơ bản được tiến hành dựa trên thông tin tình hình tài chính của

các doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Do đó, sự tuânthủ của các doanh nghiệp trong việc minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp thực sựảnh hưởng rất lớn đến hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán

Trang 14

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA Tại chương 2, sau khi khái quát quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ

chức và kết quả các mặt hoạt động kinh doanh, tác giả tập trung nghiên cứu thựctrạng hoạt động phân tích cơ bản của công ty

* Tổ chức bộ máy nhân sự

- Đội ngũ nhân lực: hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán tại công ty được thựchiện bởi bộ phận nghiên cứu và phân tích gồm sáu chuyên viên, và được lãnh đạobởi một chuyên gia phân tích có 13 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực phân tích

- Phân công nhiệm vụ trong bộ phận là: hai chuyên viên được phân công nhiệm vụ

là nghiên cứu, thu thập, xử lý các dữ liệu về nền kinh tế vĩ mô; bốn chuyên viênđược phân công nhiệm vụ là nghiên cứu, thu thập, xử lý các dữ liệu về các công tynằm trong khối ngành mà mình phụ trách

*Phương pháp định giá cổ phiếu mà công ty đang áp dụng: Định giá cổ phiếu phổ

thông theo theo phương pháp hệ số P/E

*Quy trình hoạt động phân tích cơ bản công ty đang áp dụng:

Bước 1: Xác định mục tiêu phân tích

Bước 2: Xây dựng chương trình phân tích

Bước 3: Sưu tầm tài liệu và xử lý số liệu

Bước 4: Tính toán, phân tích và dự báo

Những kết quả mà hoạt động phân tích cơ bản của công ty đạt được:

Thứ nhất, số lượng các loại báo cáo của công ty tăng trưởng Qua bốn năm hoạt

động số lượng các loại báo cáo tăng lên 300%

Thứ hai, công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phân tích khác biệt Bên cạnh

các sản phẩm truyền thống công ty còn cung cấp những sản phẩm khác biệt, đặctrưng

Thứ ba, đối tượng sử dụng các báo cáo phân tích của công ty rất đa dạng Khách

hàng sử dụng báo cáo phân tích của công ty không chỉ là khách hàng trong nước màcòn là khách hàng nước ngoài

Trang 15

Thứ tư, công ty luôn đóng vai trò đi đầu trong việc cung cấp loại hình báo cáo mới.

Công ty là đơn vị đầu tiên cho ra các báo cáo: báo cáo với các khuyến; các bản tin

nhanh tóm lược về các công ty niêm yết

Thứ năm, công ty đã đạt được các giải thưởng Trong năm 2010, công ty nhận được

giải thưởng The 2010 Best Analyst trong thị trường chứng khoán Việt Nam do tổchức Bloomberg Inc đánh giá

Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động phân tích cơ bản của công ty còntồn tại một số hạn chế:

Thứ nhất, tần suất cung cấp các báo cáo của công ty là thấp Hiện nay, đối với báo

cáo phân tích công ty và báo cáo phân tích ngành, công ty cung cấp định kỳ báo cáophân tích lần đầu hoặc cập nhật theo tháng

Thứ hai, công ty chưa cung cấp bộ chỉ số phân tích so sánh của các ngành nghề

kinh doanh chứng khoán

Thứ ba, doanh thu hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán đóng góp là rất thấp.

Trong năm 2009, doanh thu từ hoạt động này của công ty là hơn 200 triệu đồng vàtrong năm 2010, doanh thu từ hoạt động này của công ty là hơn 250 triệu đồng Những hạn chế của hoạt động phân tích cơ bản của công ty là do các nguyên nhân,bao gồm các nhân tố chủ quan và khách quan

Trước hết là các nguyên nhân chủ quan.

Thứ nhất, chính sách của công ty chưa quan tâm, chú trọng đến hoạt động phân

tích cơ bản Hiện nay, ban lãnh đạo công ty xác định hoạt động tư vấn tài chínhdoanh nghiệp là hoạt động then chốt, nên công ty tập trung nguồn lực chủ yếu chohoạt động này

Thứ hai, khả năng tài chính của công ty chứng khoán có hạn Trong vòng vài năm

gần đây công ty kinh doanh không có lãi Kết quả trong năm 2010 công ty lỗ 35 tỷđồng, tăng 5% so với kết quả lỗ năm 2009

Thứ ba, đội ngũ nhân viên phân tích còn hạn chế về mặt số lượng Số lượng nhân

lực của bộ phận phân tích các công ty chứng khoán có nghiệp vụ phân tích chứngkhoán mạnh thường nhiều gấp đôi lượng nhân viên phân tích của công ty

Trang 16

Thứ tư, quy trình hoạt động phân tích chứng khoán bộc lộ hạn chế, chưa đáp ứng

thực tiễn của hoạt động phân tích đang thay đổi Các cán bộ phân tích chưa chútrọng đến việc tìm kiếm, sưu tầm dữ liệu từ chính doanh nghiệp phân tích

Sau đó là các nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 và tình trạng suy thoái

của nền kinh tế thế giới năm 2010 đã gây ra sự sụt giảm của hầu hết các thị trườngchứng khoán trên thế giới trong năm 2008 và năm 2011

Thứ hai, sự hạn chế của khung khổ pháp lý thể hiện ở khâu sự vận hành vào thực

tiễn còn yếu và kém hiệu quả

Thứ ba, ủy ban chứng khoán nhà nước được sáp nhập vào Bộ Tài Chính đã làm Ủy

ban chứng khoán Nhà nước thiếu tính độc lập, chủ động và trách nhiệm

Thứ tư, chế độ công bố thông tin của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay không

theo thông lệ quốc tế tốt nhất hoặc bị sai lệch như gian lận kiểm toán, do thamnhũng

Trang 17

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA Trong chương 3, sau khi tìm hiểu mục tiêu, định hướng phát triển công ty

nói chung cũng như mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động phân tích cơ bản củacông ty nói riêng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt độngphân tích cơ bản, cụ thể là:

Thứ nhất, hoàn thiện quy trình hoạt động phân tích cơ bản

Quy trình hoạt động phân tích của công ty cần được hoàn thiện thêm các bước

*Bổ sung trong bước 3: Sưu tầm tài liệu và xử lý số liệu thêm các bước sau:

Bước 3.2: Tiếp xúc doanh nghiệp Sau khi có được tài liệu và số liệu, chuyên viênphân tích phải chủ động tiếp xúc doanh nghiệp bằng cách gọi điện thoại, gửi côngvăn xin gặp để tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Công ty cần có những chính sách để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

-Thu hút thêm những nhân lực có kinh nghiệm cho công ty: đội ngũ nhân lực của bộ

phận nghiên cứu và phân tích hiện nay còn đang thiếu về số lượng Công ty cần cónhững chính sách tuyển dụng phù hợp để thu hút những nhân sự có trình độ chuyênmôn và ngoại ngữ

-Chính sách “ Giữ chân“ đội ngũ nhân lực của bộ phận phân tích: công ty cần có

những chính sách đãi ngộ nhân viên phù hợp để họ có thể yên tâm công tác, phấnđấu vì hoạt động công ty (chính sách về đào tạo nhân lực; chú trọng đến đời sốngtinh thần và vật chất của đội ngũ nhân lực; thiết lập một cơ chế thăng tiến trongnghề nghiệp rất rõ ràng; luôn luôn lắng nghe ý kiến đóng góp của người lao động )

Thứ ba, hoàn thiện bộ máy hoạt động và công tác quản trị

Bộ phận nghiên cứu phân tích của công ty cũng cần được tổ chức sắp xếp lại theohướng chuyên nghiệp, hợp lý Công ty sắp xếp lại bộ phận nghiên cứu và phân tích

Bộ phận nghiên cứu và phân tích bao gồm bốn khối:

- Khối nghiên cứu và phân tích kinh tế vĩ mô

- Khối nghiên cứu và phân tích ngành kinh doanh

Trang 18

- Khối nghiên cứu và phân tích doanh nghiệp

- Khối phiên dịch

Thứ tư, phát triển đồng bộ các hoạt động khác của công ty

- Phát triển hoạt động môi giới: hoạt động môi giới luôn được coi là hoạt động quantrọng của công ty chứng khoán Công ty cần mở rộng mạng lưới kinh doanh, giatăng số lượng khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng

- Phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp: hoạt động tư vấn tài chínhdoanh nghiệp bên cạnh nhiệm vụ chính là mang lại nguồn doanh thu lớn nhất chocông ty, hoạt động này còn có chức năng là tạo ra những điều kiện căn bản để xúctiến cho hoạt động phân tích và nghiên cứu phát triển

- Phát triển hoạt động của bộ phận công nghệ thông tin: công nghệ thông tin là hoạtđộng có tính chất vô cùng quan trọng đối với bất cứ hoạt động nào trong công tychứng khoán Thị trường chứng khoán diễn biến nhanh, liên tục và chính xác trongtừng giây giao dịch Chính vì vậy, trong thời gian tới công ty cần tiến hành tậptrung phát triển hệ thống công nghệ thông tin về phần cứng và phần mềm

- Phát triển hoạt động quản lý sổ cổ đông: công ty tăng cường hoạt động quản lý sổ

cổ đông Việc mở rộng và phát triển nghiệp vụ quản lý sổ cổ đông rất có ý nghĩa đốivới sự phát triển của hoạt động phân tích Khi thiết lập được mối quan hệ với các tổchức phát hành, công ty chứng khoán sẽ thu thập được những dữ liệu kinh doanhcủa đối tác phục vụ cho hoạt động phân tích

Thứ năm, tăng cường năng lực tài chính của công ty

Khả năng tài chính của công ty có ảnh hưởng rất lớn tới hầu hết các hoạt động củacông ty Do vậy công ty cần phải có những biện pháp nhằm tăng cường năng lực tàichính của công ty Bên cạnh việc tăng cường năng lực tài chính, công ty cần cónhững chính sách nhằm tăng cường năng lực quản trị tài chính

Thứ sáu, tăng cường hợp tác với các tổ chức kinh tế

Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới và cánh cửa thu hút đầu tư

đã mở rộng với tất các mọi nguồn lực, mọi đối tượng, thể hiện rõ nhất qua sự pháttriển vượt bậc của thị trường chứng khoán Không nằm ngoài xu thế hội nhập chung

đó, mỗi công ty chứng khoán cũng tích cực gia nhập vào nền kinh tế thế giới thôngqua việc hợp tác, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế quốc tế

Trang 19

Bên cạnh đó, tác giả còn đề xuất một số kiến nghị

- Nâng cao tính công khai, minh bạch và chất lượng quản trị công ty Quản trịdoanh nghiệp tốt là việc làm thiết thực nhất để bảo vệ quyền lợi và mang lại hiệuquả cao cho nhà đầu tư

- Tăng cường đào tạo nhân lực cho hoạt động kinh doanh chứng khoán Kết hợpgiữa đạo tạo đào tạo chính quy với đào tạo vừa học vừa hành và đẩy mạnh cung cấpthông tin, tri thức kinh doanh chứng khoán cho nhà đầu tư

- Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước qui mô lớn và gắn kết trực tiếp tiếntrình này với phát triển thị trường chứng khoán theo một lộ trình thích hợp

- Nâng cao năng lực của nền kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kết hợp chặt chẽgiữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa theo tín hiệu thị trường, đảm bảo anninh tài chính quốc gia, cải thiện môi trường đầu tư trong nước

- Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc; phát triểnmạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị trường; mở rộng hệthống các nhà đầu tư

- Thường xuyên theo dõi thị trường, nâng cao kỹ năng dự báo và năng lực xử lý kịpthời các tình huống phát sinh, sử dụng các công cụ can thiệp vào thị trường khi cầnthiết trên cơ sở tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường

* Hoàn thiện cơ sở pháp lý

- Nhanh chóng bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý của hoạt động kinh doanh chứngkhoán đồng bộ với các quy định khác của Việt Nam và phù hợp với các cam kếtquốc tế

Trang 20

- Mở rộng cung cấp thông tin, đẩy mạnh hoạt động thanh tra, giám sát kinh doanhchứng khoán, nâng cao năng lực giám sát các sản phẩm chứng khoán tại thị trườngthứ cấp

- Kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động tín dụng bất động sản và tập trungvào giám sát luồng vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài, kiểm soát luồng tiền thôngqua quản lý ngoại hối, giám sát các tổ chức tín dụng

- Tiến hành thường xuyên việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính, loại bỏ, sửa đổi,những thủ tục hành chính không còn phù hợp, minh bạch hoá các thủ tục hànhchính; chuẩn hoá các mẫu hồ sơ, thủ tục

*Chuẩn hóa hệ thống dữ liệu về doanh nghiệp

- Thực hiện chế độ công bố thông tin - tiền đề quan trọng cho sự minh bạch củadoanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các nhà đầu tư

- Xây dựng hệ thống phân ngành là hết sức cần thiết tại mỗi quốc gia và các tổ chứcđặc biệt là các tổ chức liên quan tới lĩnh vực kinh tế mang tính chất thống kê vàphân tích thông tin

Thứ hai, kiến nghị với Ủy ban chứng khoán Nhà nước

- Từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế thị trường; nâng cao năng lực tổ chức hoạtđộng; tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ

- Xây dựng một hệ thống dữ liệu đồng bộ và chuẩn hóa của các doanh nghiệp kinhdoanh chứng khoán, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán

- Hệ thống thông tin tại các sở giao dịch cần được hiện đại hóa ngay từ đầu Xâydựng trạng thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể nâng cấp, mở rộngcông suất xử lý của hệ thống

- Xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thông tin từ phía Ủy ban chứng khoánnhà nước

- Khuyến khích hoạt động của các hãng cung cấp thông tin chuyên nghiệp, nhất làkhi thị trường chứng khoán phát triển

- Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán,các nhà đầu tư và các doanh nghiệp niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán

Trang 21

Thứ ba, kiến nghị với các doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp cần tuân thủ theo các chế độ công bố thông tin định kỳ, bất

thường đúng thời gian quy định và nâng cao chất lượng của các báo cáo công bốthông tin

- Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược cụ thể và dài hạn cho việc công bốthông tin

Trang 22

******** ********

TRẦN THỊ MINH HIỀN

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VINA

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ - TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2011

Trang 23

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hơn 10 năm hình thành và phát triển đã đạtđược những thành tựu hết sức to lớn, là một kênh huy động vốn dài hạn quan trọngcho sự phát triển của nền kinh tế Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trườngchứng khoán, các công ty chứng khoán đã thu được những thành tựu đáng kể trêncác lĩnh vực kinh doanh chứng khoán như: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tưchứng khoán Một hoạt động tương đối quan trọng của các công ty chứng khoán đó

là hoạt động phân tích cơ bản chứng khoán Hoạt động phân tích cơ bản chứngkhoán đã mang lại hiệu quả cho các nhà đầu tư nói riêng và cho thị trường chứngkhoán nói chung Hoạt động phân tích cơ bản giúp nhà đầu tư có thể đánh giá đượcgiá trị của các chứng khoán, trên cơ sở đó có thể đưa ra những quyết định đầu tưmang lại hiệu quả cao, giúp cho thị trường chứng khoán phát triển một cách bềnvững

Tuy nhiên, hoạt động phân tích cơ bản là một hoạt động đòi hỏi kiến thức và trình

độ chuyên môn của đội ngũ nhân lực là rất cao, nên việc đầu tư nguồn lực con ngườicho hoạt động này là vô cùng cần thiết và quan trọng Chi phí đầu tư cho đội ngũnhân lực và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động phân tích cơ bản là tương đối lớnnhưng lợi ích hữu hình mà hoạt động này mang lại lại rất khó lượng hóa, do vậy màđôi khi các nhà quản trị công ty chứng khoán chưa quan tâm chú trọng phát triển Công ty cổ phần chứng khoán Vina là một trong những công ty chứng khoán liêndoanh nước ngoài ở Việt Nam Trong bối cảnh thị trường chứng khoán có nhiềuthăng trầm, trải qua gần 5 năm hoạt động và phát triển công ty đã đạt được nhữngkết quả đáng kể, tuy nhiên cũng gặp không ít những khó khăn Hoạt động phân tíchchứng khoán cơ bản của công ty là bộ phận hoạt động có hiệu quả tuy nhiên hoạtđộng nghiệp vụ này vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn và hạn chế nhất định

Với thực tế đó, đề tài: “Phát triển hoạt động Phân tích tại Công ty cổ phần chứng

khoán Vina ” đã được lựa chọn nghiên cứu.

Trang 24

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động công ty chứng khoán, hoạt động

phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cơ bản của công ty cổ phần chứng khoánVina

- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp để phát triển hoạt động phân tích cơ bản chocông ty cổ phần chứng khoán Vina

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

• Đối tượng nghiên cứu: hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

• Phạm vi nghiên cứu: hoạt động phân tích cơ bản tại công ty cổ phần chứng khoánVina từ năm 2007 đến năm 2010

4.Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật

lịch sử; đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tíchtổng hợp; phương pháp thống kê kinh tế; phương pháp điều tra chọn mẫu; phươngpháp so sánh và một số phương pháp khác: phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý

5.Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán.

Chương 2: Thực trạng hoạt động phân tích cơ bản tại công ty cổ phần chứng khoán Vina

Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản công ty cổ phần chứng khoán Vina.

Trang 25

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1.Tổng quan về công ty chứng khoán

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công ty chứng khoán

Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, một yếu tố khôngthể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán Đểthúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động một cách trật tự, công bằng và hiệu quảcao cần phải có sự ra đời và hoạt động của các công ty chứng khoán Công ty chứngkhoán là một chủ thể kinh doanh, công ty chứng khoán cũng có những đặc điểmtương đồng với tổ chức và hoạt động của các công ty nói chung

Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian tài chính có những đặc điểm nhưsau:

- Công ty chứng khoán là tổ chức tài chính trung gian thực hiện các giao dịch trên thị trường chứng khoán: công ty chứng khoán thực hiện vai trò trung gian giữa

người mua và người bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Thôngqua tổ chức trung gian là công ty chứng khoán, người mua và người bán trên thịtrường chứng khoán có thể thực hiện được các giao dịch nhanh chóng, hiệu quả vàhạn chế được những rủi ro

- Công ty chứng khoán là tổ chức trung gian về thông tin: công ty chứng khoán với

những lợi thế về nhân lực, trang bị về cơ sở vật chất và vai trò trung gian cho cácgiao dịch của mình nên thu thập và xử lý được những thông tin về thị trường chứngkhoán Đặc điểm là trung gian về thông tin của công ty chứng khoán thể hiện khicông ty chứng khoán cung cấp các thông tin chứng khoán đã được công ty thu thập

và xử lý cho các chủ thể khác tham gia thị trường

- Công ty chứng khoán là tổ chức trung gian giữa những người có tiền (nhà đầu tư) với những người muốn huy động vốn (những người phát hành chứng khoán) Các

ngân hàng, các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư đều có vai trò làm chiếc cầunối và đồng thời là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền

Trang 26

kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đangthiếu vốn (cần huy động vốn).

- Công ty chứng khoán là tổ chức trung gian rủi ro: thị trường chứng khoán chứa

đựng những rủi ro mà những khi tham gia thị trường, các thành viên có thể gặp phải.Rủi ro trên thị trường chứng khoán hình thành từ các giao dịch mua bán chứngkhoán mà trong đó sẽ có những nhà đầu tư hưởng lợi và có những nhà đầu tư chịuthiệt hại Là một chủ thể trung gian trên thị trường chứng khoán, các công ty chứngkhoán là tổ chức trung gian rủi ro giữa những thành viên thị trường

- Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện: Trên thế giới hiện nay,

hầu hết các nước đều xếp chứng khoán là một ngành kinh doanh có điều kiện cụ thể:+ Đáp ứng yêu cầu về vốn: các nước có quy định về mức vốn pháp định cụ thể chotừng loại nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán

+ Đáp ứng yêu cầu về nhân lực: nguồn nhân lực tham gia trên thị trường chứngkhoán phải đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp Để

có thể hành nghề kinh doanh chứng khoán, các nhân viên của các công ty chứngkhoán phải đạt được những chứng chỉ hành nghề theo quy định

+ Đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật: các nước trên thế giới đều có nhữngquy định cụ thể khi hoạt động các công ty chứng khoán phải đáp ứng những yêu cầu

về cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh chứng khoán như quy định về diện tích sàngiao dịch, quy định về trang thiết bị phục vụ giao dịch

- Công ty chứng khoán cung cấp những sản phẩm và dịch vụ khác biệt: công ty

chứng khoán cung cấp các dịch vụ: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứngkhoán Trong những năm gần đây, chủng loại chứng khoán đã phát triển với tốc độrất nhanh do các yếu tố như: dung lượng thị trường và biến động thị trường ngàycàng lớn; nhận thức của khách hàng đối với thị trường tài chính rõ ràng hơn và sự

nỗ lực trong tiếp thị của các công ty chứng khoán Có rất nhiều loại chứng khoánnhư: cổ phiếu (thường và ưu đãi); trái phiếu chính phủ (trung ương và địa phương);chứng quyền; trái quyền; các hợp đồng tương lai; hợp đồng lựa chọn và các sảnphẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinhtế

Trang 27

- Công ty chứng khoán có đặc điểm xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động: hoạt

động môi giới chứng khoán và tự doanh chứng khoán là hai hoạt động có xung độtlợi ích với nhau Với hoạt động tự doanh, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhàđầu tư Với hoạt động môi giới, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà cung cấpdịch vụ Do đó, pháp luật về chứng khoán của các nước trên thế giới đều có quyđịnh nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những xung đột lợi ích trong quá trình hoạtđộng của công ty chứng khoán Ví dụ như: quy định tách bạch trong quản lý tàikhoản tự doanh của công ty chứng khoán và tài khoản môi giới chứng khoán màcông ty chứng khoán quản lý cho khách hàng của mình, quy định thứ tự ưu tiên lệnhcủa khách hàng của công ty chứng khoán trước lệnh tự doanh của công ty chứngkhoán

Hoạt động của các công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với cácdoanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì công ty chứng khoán là mộtloại tổ chức tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của

nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước Mô hình tổ chức kinh doanh của công

ty chứng khoán ở mỗi nước đều có những đặc điểm riêng tùy theo đặc điểm của hệthống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làm công tác quản lý nhànước Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai mô hình cơ bản hiện nay:

- Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ

Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinhdoanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này chia thành hailoại:

+ Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán, kinh

doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ

+ Loại đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh

doanh bảo hiểm phải thành lập công ty độc lập hoạt động tách rời

Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh,nhờ đó giảm bớt rủi ro cho các hoạt động kinh doanh chung và có khả năng chịuđựng các biến động của thị trường chứng khoán Mặt khác, ngân hàng sẽ tận dụngđược thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán

Trang 28

Tuy vậy, mô hình cũng bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường

cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn làbảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Đồng thời, các ngân hàng cũng rất dễ gâylũng đoạn thị trường và các biến động trên thị trường chứng khoán, nếu có, sẽ ảnhhưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạchgiữa hai loại hình kinh doanh này

- Mô hình chuyên doanh chứng khoán

Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập,chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đượctham gia kinh doanh chứng khoán

Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được những rủi ro cho hệ thống ngân hàng vàcũng tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển

1.1.2.Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán

1.1.2.1.Hoạt động môi giới chứng khoán

Với tư cách là một thực thể hoạt động trên thị trường chứng khoán thị trường chứng

khoán, công ty chứng khoán có thể thực hiện một hoặc nhiều trong số các nghiệp

vụ: môi giới, tự doanh, tư vấn, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành Trong

đó hoạt động môi giới là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của công ty chứngkhoán, thực hiện nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán

Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua,

bán chứng khoán cho khách hàng

Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một công

ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giaodịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC (over the counter) mà chínhcác khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài khoản giao dịchchứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa kháchhàng và công ty

Trang 29

1.1.2.2.Hoạt động tự doanh chứng khoán

Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho

chính mình Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện

trên các thị trường giao dịch tập trung (các trung tâm giao dịch chứng khoán, sởgiao dịch chứng khoán) hoặc trên thị trường OTC Trên thị trường giao dịch tậptrung, lệnh của công ty chứng khoán được đưa vào hệ thống và thực hiện tương tựnhư lệnh giao dịch của khách hàng Trên thị trường OTC, các hoạt động này có thểđược thực hiện trực tiếp giữa công ty với các đối tác hoặc thông qua một hệ thốngmạng thông tin Mục đích của hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán nhằmthu lợi nhuận cho chính mình Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạchcủa thị trường, pháp luật các nước yêu cầu các công ty chứng khoán khi thực hiệnnghiệp vụ tự doanh phải đáp ứng một số yêu cầu như về vốn và con người Nhữngyêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh:

1.1.2.3.Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán

Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổchức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận muamột phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua sốchứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổchức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng

Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện cácthủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán vàgiúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Trên thế giới,các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành Tổ

Trang 30

chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một

tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng

1.1.2.4.Hoạt động tư vấn doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng khoán

Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư

kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng

khoán Nội dung của hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là đưa ra những lời

khuyên, phân tích tình huống hay thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụcho khách hàng Đối với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, do đặc điểm riêngtrong ngành là giá cả thường xuyên biến động nên việc tư vấn về giá trị chứngkhoán là rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích Đặc biệt

là với hoạt động này, các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về giátrị và xu hướng giá cả của các loại chứng khoán - việc này có thể do khả năng của

họ hoặc do họ cố tình gây hiểu lầm để kiếm lợi Do vậy, đây là một hoạt độngnghiệp vụ cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏi phải có những giới hạn nhất định

trong khi thực hiện công việc Dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp được xác định

là nền tảng hoạt động của công ty chứng khoán nhằm cung cấp các dịch vụ tài chínhdoanh nghiệp cho các tổ chức trong và ngoài nước Các dịch vụ tư vấn tài chính baogồm:

- Tư vấn chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp

- Tư vấn đăng ký công ty đại chúng với Ủy ban chứng khoán Nhà nước

- Tư vấn bán đấu giá cổ phần

- Tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A)

- Tư vấn tổ chức đại hội cổ đông

1.1.2.5.Các hoạt động phụ trợ

- Hoạt động lưu ký chứng khoán

Trang 31

Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhận ký gửi, bảo quản an toàn, chuyển giao vàghi nhận sở hữu chứng khoán của khách hàng trên hệ thống tài khoản lưu ký chứngkhoán do các công ty chứng khoán đảm nhận Công ty chứng khoán lưu giữ, bảoquản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán.Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứngkhoán trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tàikhoản lưu ký chứng khoán tại các công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hànhdưới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửi chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thứcchứng chỉ vật chất) Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng,công ty chứng khoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi,phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.

Các công ty chứng khoán là các thành viên lưu ký chứng khoán của các trung tâmlưu ký chứng khoán Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng lưu ký chứng khoán,các công ty chứng khoán phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán chi tiết cho từngkhách hàng và quản lý tách biệt tài sản cho từng khách hàng Chứng khoán lưu kýcủa khách hàng tại các công ty chứng khoán là tài sản thuộc sở hữu của khách hàng

và được quản lý tách biệt với tài sản (chứng khoán) của chính công ty chứng khoán.Công ty chứng khoán không được sử dụng chứng khoán trong tài khoản lưu kýchứng khoán của khách hàng vì lợi ích của bên thứ ba hoặc vì lợi ích của chính công

ty mình

- Hoạt động quản lý sổ cổ đông

Dịch vụ quản lý sổ cổ đông là dịch vụ mà công ty chứng khoán được sự ủy quyềncủa tổ chức phát hành, thay mặt tổ chức phát hành thực hiện các công việc liên quanđến cổ đông theo sự thống nhất giữa hai bên và sự ủy quyền của tổ chức phát hành

Ví dụ: Thực hiện quản lý danh sách cổ đông cho tổ chức phát hành; thay mặt tổchức phát hành kiểm soát và thực hiện tất cả các thủ tục chuyển nhượng cổ phiếutheo đúng điều lệ tổ chức hoạt động của tổ chức phát hành và các quy định hiệnhành của pháp luật; tổ chức, thực hiện các quyền liên quan cổ phiếu như chi trả cổtức, gửi thư mời tham dự đại hội cổ đông cho cổ đông khi có phát sinh theo yêu cầucủa tổ chức phát hành….Các công ty chứng khoán tiến hành quản lý sổ cổ đông cho

Trang 32

tổ chức phát hành là các doanh nghiệp cổ phần, đã phát hành chứng khoán nhưngchưa tiến hành lưu ký tập trung tại trung tâm lưu ký và chưa niêm yết tại các Sởgiao dịch chứng khoán Khi thực hiện các dịch vụ của hoạt động quản lý sổ cổ đôngthay cho tổ chức phát hành, các công ty chứng khoán sẽ thu được những khoản phíhoa hồng theo hợp đồng thỏa thuận được ký kết giữa công ty chứng khoán và tổchức phát hành

- Hoạt động tín dụng

Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứngkhoán cho các khách hàng để hưởng hoa hồng, công ty chứng khoán còn tiến hànhtriển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bánkhống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ mua kýquỹ Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho kháchhàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó để làm vậtthế chấp cho khoản vay đó Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ docông ty chứng khoán ứng trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thỏa thuận, khách hàngphải hoàn trả đủ số gốc vay cùng với lãi cho công ty chứng khoán Trường hợpkhách hàng không trả được nợ, thì công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua đểthu hồi nợ

- Hoạt động quản lý quỹ

Ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật về thị trường chứng khoán còn chophép công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư Theo đó,công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sảncủa quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán Công ty chứng khoán được thu phí dịch

vụ quản lý quỹ đầu tư

- Hoạt động phân tích chứng khoán

Phân tích chứng khoán là một tập hợp các phương pháp và công cụ cho phép xử lýcác thông tin nhằm trợ giúp cho việc ra quyết định đầu tư chứng khoán Hoạt độngphân tích chứng khoán cuối cùng phải giúp nhà đầu tư xác định giá trị của chứngkhoán và thời điểm để ra quyết định đầu tư

Trang 33

Phân tích chứng khoán là bước khởi đầu cho hoạt động đầu tư chứng khoán Đầu tưchứng khoán là việc các nhà đầu tư bỏ tiền để mua chứng khoán với mong muốn thuđược phần giá trị lớn hơn trong tương lai Việc bỏ tiền này đi kèm với những rủi ronhất định và đổi lại, nhà đầu tư có thể nhận được phần lợi tức tương xứng Để thuđược lợi nhuận, mỗi nhà đầu tư thường tự xây dựng cho mình những chiến lược đầu

tư Chiến lược này phải thể hiện được mục tiêu của đầu tư, những loại tài sản đượclựa chọn và thời điểm ra quyết định đầu tư Chiến lược đúng đắn sẽ mang lại chonhà đầu tư nhiều lợi nhuận và ngược lại, họ có thể bị thua lỗ, thậm chí có thể bị mấttoàn bộ vốn nếu có chiến lược sai lầm Từ những quan điểm và kinh nghiệm thựctiễn của các nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu đã xây dựng nhiều luận điểm về lýthuyết phân tích chứng khoán

Mục tiêu của phân tích chứng khoán là giúp cho nhà đầu tư chứng khoán lựa chọnđược các chứng khoán có hiệu quả nhất, mang lại lợi nhuận tối đa và rủi ro tối thiểu

Vì thế kết quả phân tích chứng khoán phải làm rõ được căn cứ khoa học của việc lựachọn quyết định đầu tư Nó phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: khi nào thì nên đầu

tư, đầu tư vào loại chứng khoán nào và với giá cả ra sao, khi nào nên rút khỏi thịtrường Để đạt được kết quả đó, việc phân tích chứng khoán cần được tiến hànhtheo một quy trình cụ thể và sử dụng các phương pháp phân tích khoa học Có hailoại phân tích chứng khoán: phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật

*Phân tích kỹ thuật

Là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao dịchcủa cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cáchứng xử trước mắt đối với giá cả, tức là chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào,bán ra hay giữ nguyên cổ phiếu trên thị trường

Vì vậy, nhà phân tích kỹ thuật chủ yếu dựa vào nghiên cứu biến động giá thị trườngcủa cổ phiếu, và tập trung nhấn mạnh vào hành vi biến động về giá và về khối lượnggiao dịch cũng như các xu hướng của hành vi giá và khối lượng đó

Phân tích kỹ thuật cho rằng giá cả đã phản ánh mọi thông tin, giá cả vận động theo

xu hướng và lịch sử có tính lặp lại Các số liệu được dùng là giá và khối lượng trongquá khứ Nhà phân tích sử dụng các đồ thị biểu diễn giá chứng khoán trong ngày

Trang 34

hoặc trong tuần kết hợp khối lượng giao dịch của nó để xem xét liệu chứng khoánđang hoạt động bình thường hay bất thường, nó đang được các tổ chức tài chínhgiao dịch hay không, và đâu là thời điểm để mua hay bán chứng khoán… Điểmmạnh của phương pháp này là không phụ thuộc nhiều vào báo cáo tài chính, chophép nhanh chóng phát hiện ra xu hướng dịch chuyển giá sang một mức cân bằngmới và xác định được thời điểm đầu tư lý tưởng Tuy nhiên, phân tích kỹ thuật cũng

có điểm yếu là nó dựa trên giả thuyết hành vi con người lặp lại, mang tính chủ quancao (tuỳ theo nhìn nhận phán đoán của từng người khi quan sát biểu đồ, đồ thị giá cả

và các chỉ số kỹ thuật…), hơi chậm trễ so với sự phát triển thực tế của xu hướng và

nó mang tính dự báo xác suất chứ không chắc chắn

1.2.Hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

1.2.1.Khái niệm và vai trò hoạt động phân tích cơ bản

1.2.1.1.Khái niệm hoạt động phân tích cơ bản

* Phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản là phân tích tình hình tài chính của các công ty, dựa vào các báocáo tài chính của công ty như: bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinhdoanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh báo cáo tài chính Từ đó, thiếtlập các hệ số tài chính để thấy được những mặt mạnh và yếu trong hoạt động tàichính của công ty, qua đó cũng thấy được xu hướng và tiềm năng phát triển củacông ty

Phân tích cơ bản là việc phân tích bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinhdoanh của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển củacông ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán nhằm tìm

ra các doanh nghiệp nên đầu tư Mục đích của phân tích cơ bản là tìm hiểu tất cả cácyếu tố tác động tới giá: phân tích nền kinh tế, phân tích ngành, công ty… trên cơ sở

đó tìm ra giá trị nội tại để so sánh với giá trị hiện hành Khi tính giá cổ phiếu, cácnhà phân tích thường sử dụng kết hợp các phương pháp như chiết khấu luồng tiền,

tỷ số giá trên thu nhập (P/E), giá trị sổ sách… Khi họ nắm giữ cổ phiếu này tức là

họ đang kỳ vọng nó sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn mức trung bình của thị trường.Điểm mạnh của phương pháp này rất tốt cho mục tiêu đầu tư dài hạn Nó giúp nhà

Trang 35

đầu tư lựa chọn được cổ phiếu theo cách lựa chọn công ty tốt, hiểu được các yếu tốchính tác động tới giá trị của công ty, ngành Nhưng điểm yếu của nó là mất nhiềuthời gian, phải đưa ra các giả định chủ quan (ví dụ như tốc độ tăng trưởng), cácthông tin tài chính có thể không đầy đủ, không chính xác, kỹ thuật định giá được ápdụng không đồng nhất Chúng ta chỉ nên mua những loại cổ phiếu mà lợi nhuận củacông ty có phát triển, doanh số của công ty tăng, tỷ lệ lợi nhuận biên cao

1.2.1.2.Vai trò của hoạt động phân tích cơ bản đối với công ty chứng

khoán

Hoạt động phân tích cơ bản có rất nhiều vai trò đối với công ty chứng khoán:

- Thứ nhất: hoạt động phân tích cơ bản là một hoạt động mang lại doanh thu chocông ty chứng khoán

Trên thực tế hiện nay, nhu cầu đầu tư chứng khoán đã hết sức phát triển và trở nênchuyên nghiệp Vì đầu tư chứng khoán luôn chứa đựng nhiều rủi ro, nên hoạt độngkiểm soát rủi ro trong đầu tư chứng khoán luôn được coi trọng Đã có rất nhiềunhững nhu cầu thuê phân tích hoặc thuê tư vấn của một bên thứ ba của các kháchhàng trước khi ra quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán Khi công ty chứngkhoán tiến hành thu thập, xử lý các dữ liệu phân tích theo yêu cầu của khách hàngdưới dạng các hợp đồng tư vấn đầu tư, công ty chứng khoán sẽ cung cấp kết quảphân tích trên cơ sở thu được những khoản phí hoặc hoa hồng

- Thứ hai: hoạt động phân tích cơ bản là một hoạt động hỗ trợ việc tạo ra doanh thucho các nghiệp vụ khác trong công ty chứng khoán

+Hỗ trợ cho hoạt động tự doanh của công ty: công ty chứng khoán có chức năngkinh doanh chứng khoán thể hiện qua nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Trên cơ sởnhững báo cáo phân tích chất lượng và chuyên sâu do hoạt động phân tích cơ bảncung cấp, bộ phận tự doanh sẽ ra các quyết định đầu tư chứng khoán mang lại hiệuquả cao đầu tư cao

+Hỗ trợ cho hoạt động môi giới của công ty: bộ phận phân tích cung cấp những báocáo phân tích chất lượng và miễn phí cho các nhà đầu tư là những khách hàngthường xuyên giao dịch tại công ty, qua đó thúc đẩy doanh thu từ hoạt động môigiới của công ty được tăng cao

Trang 36

- Thứ ba: hoạt động phân tích cơ bản góp phần tạo nên chất lượng và thương hiệucủa công ty chứng khoán Hoạt động phân tích cơ bản có vai trò là một trong sốnhững hoạt động then chốt của công ty chứng khoán chứng minh cho tính chuyênnghiệp về hoạt động và chất lượng nhân lực công ty chứng khoán nhằm tạo nên uytín và chất lượng hoạt động của một công ty chứng khoán

1.2.2.Nội dung của hoạt động phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản chứng khoán có thể thực hiện theo 2 phương pháp:

- Phương pháp phân tích từ trên xuống: Theo phương pháp phân tích này, người tathường bắt đầu từ việc phân tích các yếu tố vĩ mô trong nước và quốc tế (phân tích

vĩ mô) xem xét những tác động, ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp hoặc thị trường chứng khoán, sau đó là phân tích tình hình hoạtđộng của ngành kinh doanh liên quan (phân tích ngành) và cuối cùng là phân tíchhoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của từng công ty riêng biệt Đối với cácnhà đầu tư hoặc kinh doanh chứng khoán, mục tiêu cuối cùng của hoạt động phântích chứng khoán là đi tới lựa chọn quyết định mua hoặc bán một loại chứng khoán

cụ thể được giao dịch trên thị trường, vì thế phương pháp phân tích từ trên xuống làphù hợp và được sử dụng khá phổ biến trong phân tích chứng khoán

- Phương pháp phân tích từ dưới lên: Phương pháp này bắt đầu từ việc phân tích,đánh giá hoạt động kinh doanh của một công ty hoặc giá cả của một loại chứngkhoán cá biệt, từ đó mở rộng phạm vi phân tích, đánh giá kết quả hoạt động, môitrường kinh doanh hoặc giá cả chứng khoán trong phạm vi ngành hoặc toàn bộ nềnkinh tế Kết quả phân tích theo trình tự từ dưới lên cho phép rút ra những đánh giákhái quát về kết quả hoạt động hoặc môi trường kinh doanh chung của các doanhnghiệp, ngành hoặc nền kinh tế Do đó phương pháp này thường thích hợp và hữuích đối với các tổ chức, cá nhân có vai trò tổ chức quản lý hoặc phân tích, đánh giágiám sát hoạt động của thị trường chứng khoán hơn là đối với các nhà đầu tư chứngkhoán

Khi phân tích cơ bản, các nhà phân tích tiến hành phân tích những nội dung sau:

Trang 37

1.2.2.1.Phân tích vĩ mô

Các điều kiện kinh tế vĩ mô sẽ quyết định rủi ro chung của thị trường mà trong lýthuyết đầu tư gọi là rủi ro hệ thống Rủi ro này tác động đến toàn bộ thị trường, đếntất cả mọi chứng khoán mà bản thân từng doanh nghiệp, hay từng ngành không thểtránh được Đối với từng nhà đầu tư, hay từng tổ chức phát hành thì đây được coinhư là yếu tố khách quan Do các điều kiện kinh tế vĩ mô quyết định rủi ro hệ thốngnên chúng sẽ quyết định xu thế đại thể của thu nhập trong đầu tư chứng khoán Sựbiến động bất thường trong thị trường chứng khoán liên quan đến những thay đổitrong toàn thể nền kinh tế Thị trường chứng khoán phản ứng với nhiều chuỗi chỉtiêu dự báo khác như là: lợi nhuận biên tế, lãi suất và tốc độ tăng trưởng của cungtiền Bởi vì những chỉ tiêu này thường có ý nghĩa dự báo cho nền kinh tế nên khinhà đầu tư điều chỉnh giá chứng khoán để phán ánh kỳ vọng của họ cho những chỉ

số dự báo này họ cũng tác động đến giá chứng khoán trên thị trường

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, môi trường xã hội và chính trị luôn có những tácđộng nhất định đến hoạt động của thị trường chứng khoán nước đó, thậm chí có thểgây ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường chứng khoán nước khác hoặc tác độngđến thị trường chứng khoán trên toàn cầu Những sự kiện như chiến tranh, biếnđộng chính trị hay hệ thống pháp luật trong hay ngoài nước có thể tạo ra những thayđổi về môi trường kinh doanh, làm tăng thêm sự bất ổn định về thu nhập mong đợi

và làm cho người đầu tư quan tâm hơn đến khoản bù đắp rủi ro

Các yếu tố cần được phân tích trong phân tích vĩ mô bao gồm:

+ Chính sách tài chính – ngân sách của chính phủ có ảnh hưởng đến toàn bộ nềnkinh tế của một nước Các điều kiện về kinh tế do các chính sách này tác động sẽảnh hưởng đến tất cả các ngành và các công ty trong nền kinh tế Tăng hay giảm chitiêu của chính phủ cho quốc phòng, bảo hiểm thất nghiệp hoặc các chương trình đàotạo lại cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung

+ Chính sách tiền tệ cũng tạo ra những thay đổi kinh tế tương tự Một chính sáchtiền tệ thắt chặt với tốc độ cung tiền giảm sẽ làm giảm việc cung cấp vốn lưu động

và hạn chế việc mở rộng sản xuất, kinh doanh đối với tất cả các doanh nghiệp Khiphân tích một nền kinh tế nhất định phải xem xét đến yếu tố lãi suất Mặt khác, yếu

Trang 38

tố lạm phát cũng đóng vai trò quan trọng không kém vì nó dẫn đến sự khác nhaugiữa yếu tố lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế, thay đổi hành vi tiêu dùng và tiếtkiệm của doanh nghiệp và dân cư Không những thế, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ lãi suấtkhác nhau còn tác động đến khâu thanh toán giữa các nước và tỷ giá hối đoái.

+ Chính sách tỷ giá hối đoái: chính sách tỷ giá hối đoái có vai trò rất quan trọngtrong nền kinh tế vĩ mô Tỷ giá hối đoái là biểu hiện của giá cả đồng tiền nước nàythông qua một đồng tiền nước khác Khi nhà đầu tư nhận định rằng đồng nội tệ cóthể bị mất giá trong tương lai thì nhà đầu tư đó sẽ quyết định chuyển hướng từ đầu

tư chứng khoán sang đầu tư vào tài sản ngoại tệ để tránh thiệt hại do sự giám giá củachứng khoán Nếu được phép đầu tư ra thị trường nước ngoài thì có thể nhà đầu tưnày sẽ chuyển vốn ra đầu tư ở nước ngoài Như vậy sự biến đổi của tỷ giá hối đoáicũng tác động đến những quyết định của nhà đầu tư trên thị trường

+ Chính sách việc làm: tỷ lệ thất nghiệp đo lường mức độ nền kinh tế đang hoạtđộng với khả năng cao nhất hay chưa Nền kinh tế tăng trưởng sẽ cần nhiều việc làmhơn Việc mở rộng sản xuất làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, ảnh hưởng tích cực tới thịtrường chứng khoán Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thu hẹp các hoạt động sảnxuất kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệpsuy giảm, lợi nhuận theo đó cũng giảm đi và giá cổ phiếu cũng xuống thấp

+ Chu kỳ của nền kinh tế: sự phát triển của nền kinh tế thường biến động theonhững chu kỳ kinh tế nhất định Một chu kỳ kinh tế thường bao gồm các giai đoạntăng trưởng, ổn định, suy thoái và hồi phục Ở giai đoạn tăng trưởng, nền kinh tế có

sự phát triển mạnh mẽ, điều này khuyến khích nhiều nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốnđầu tư, thị trường chứng khoán vì thế càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ Ở giaiđoạn suy thoái, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng đình trệ hoặc giảm dần Khi nềnkinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng mà biểu hiện là giá cả leo thang, sức mua củađồng tiền giảm sút, các nhà đầu tư có xu hướng rút ra khỏi thị trường chứng khoánthì tác động tới thị trường chứng khoán càng trở nên tồi tệ, thậm chí có thể gây nên

sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán

Trang 39

1.2.2.2.Phân tích ngành kinh doanh

Mục đích của phân tích ngành kinh doanh là nhằm giúp cho các nhà đầu tư thấy rõnhững lợi thế hoặc rủi ro có thể gặp khi quyết định đầu tư vào chứng khoán của mộtdoanh nghiệp hoạt động trong một ngành kinh doanh cụ thể Những nội dung cầnthực hiện trong phân tích ngành kinh doanh bao gồm:

- Phân tích đặc điểm kinh tế- kỹ thuật và chu kỳ kinh doanh của ngành

Mỗi ngành kinh doanh thường có các đặc điểm riêng về mặt kinh tế và kỹ thuật, cónhững yêu cầu khác nhau về công nghệ sản xuất, chu kỳ kinh doanh Có ngành đòihỏi phải có vốn đầu tư lớn, chu kỳ kinh doanh dài, song cũng có ngành kinh doanhlại chỉ thích hợp với quy mô vừa và nhỏ, chu kỳ kinh doanh ngắn Mỗi ngành kinhdoanh cũng có những lợi thế và bất lợi thế trong cạnh tranh khác nhau Những đặcđiểm này thường chi phối, ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định trong huy độngvốn, sử dụng vốn và lựa chọn các dự án đầu tư của doanh nghiệp Vì việc phân tíchngành đòi hỏi trước hết phải làm rõ các đặc điểm kinh doanh của ngành, các cơ hội

và thách thức trong cạnh tranh của ngành kinh doanh, làm cơ sở cho việc hoạch địnhchiến lược phát triển của doanh nghiệp và ngành Mỗi ngành cũng có khả năng thíchứng khác nhau với những thay đổi trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế Cùngtrong điều kiện nền kinh tế đang ở giai đoạn phát triển song có ngành kinh doanhphát đạt nhưng lại có ngành kinh doanh gặp khó khăn Chu kỳ kinh doanh và triểnvọng kinh doanh của ngành có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của cácdoanh nghiệp trong ngành Mỗi ngành kinh doanh khác nhau có mức độ rủi ro vàkhả năng sinh lời khác nhau Do đó cần có sự phân tích đánh giá ngành kinh doanh

để chọn ngành có mức doanh lợi cao, mức độ rủi ro thấp để đầu tư

-Hệ số rủi ro (hệ số Beta- β) của ngành kinh doanh: là hệ số đo lường mức độ biếnđộng lợi nhuận cổ phiếu của ngành kinh doanh so với biến động của lợi nhuận danhmục cổ phiếu thị trường, do đó nó cũng phản ánh mức độ rủi ro của ngành kinhdoanh

Nếu β>1: biến động lợi nhuận cổ phiếu ngành kinh doanh lớn hơn biến động của lợinhuận danh mục cổ phiếu thị trường

Trang 40

Nếu β<1: biến động lợi nhuận cổ phiếu ngành kinh doanh nhỏ hơn biến động của lợinhuận danh mục cổ phiếu thị trường

Nếu β=1: biến động lợi nhuận cổ phiếu ngành kinh doanh bằng biến động của lợinhuận danh mục cổ phiếu thị trường

- Mức doanh lợi đòi hỏi của ngành kinh doanh

Mức doanh lợi đòi hỏi của ngành kinh doanh phản ánh mức doanh lợi tối thiểu mànhà đầu tư cần phải đạt được nếu đầu tư vào cổ phiếu của ngành Mức doanh lợi đòihỏi của ngành không chỉ phụ thuộc vào mức độ rủi ro của ngành mà còn phụ thuộcvào mức độ chênh lệch giữa mức doanh lợi bình quân của thị trường với mức doanhlợi phi rủi ro Thông thường Beta càng cao thì mức doanh lợi đòi hỏi càng phải cao

và ngược lại Dựa theo mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) có thể xác định mứcdoanh lợi đòi hỏi của ngành kinh doanh theo công thức:

E(R)= Rf + β( Rm- Rf)

Trong đó:

E (R) : Mức doanh lợi đòi hỏi của ngành kinh doanh

Rf: Mức doanh lợi phi rủi ro

Rm: Mức doanh lợi bình quân của thị trường

β: Hệ số rủi ro ngành kinh doanh

- Hệ số P/E của ngành

Hệ số P/E phản ánh thị trường trả giá như thế nào cho một đồng thu nhập sau thuếcủa cổ phiếu các công ty của ngành Nếu hệ số P/E cao chứng tỏ các công ty thuộcngành kinh doanh có hiệu quả nên thị trường đánh giá cao và ngược lại Việc phântích hệ số P/E thường được xem xét trên hai góc độ Thứ nhất: xem xét mối quan hệgiữa hệ số P/E của ngành và hệ số P/E tổng thể của thị trường để thấy được tínhhiệu quả trong hoạt động của công ty thuộc ngành so với các ngành khác trên thịtrường như thế nào Thứ hai: xem xét các nhân tố ngành tác động đến hệ số P/Engành như: hệ số chi trả cổ tức, mức doanh lợi đòi hỏi, tỷ lệ tăng trưởng lợi tức hàngnăm để thấy các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của hệ số P/E của ngành

- Thu nhập bình quân trên một cổ phiếu của ngành kinh doanh (EPS/cổ phiếungành)

Ngày đăng: 26/05/2015, 16:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Quy trình hoạt động phân tích cơ bản - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 1 Quy trình hoạt động phân tích cơ bản (Trang 52)
Sơ đồ 1:  Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần chứng khoán Vina (Nguồn: Báo cáo thường niên công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần chứng khoán Vina (Nguồn: Báo cáo thường niên công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) (Trang 67)
Bảng 2: Tình hình tài chính công ty năm 2009 và năm 2010  (Nguồn: Báo cáo thường niên công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 2 Tình hình tài chính công ty năm 2009 và năm 2010 (Nguồn: Báo cáo thường niên công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) (Trang 68)
Bảng 3:  Doanh thu và lợi nhuận công ty năm 2009 và năm 2010  (Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 3 Doanh thu và lợi nhuận công ty năm 2009 và năm 2010 (Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) (Trang 69)
Bảng 4: Các chỉ tiêu an toàn tài chính công ty năm 2009 và năm 2010  (Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 4 Các chỉ tiêu an toàn tài chính công ty năm 2009 và năm 2010 (Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) (Trang 69)
Bảng 7: Báo cáo doanh thu từ hoạt động kinh doanh của công ty năm 2009 và 2010  (Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty Cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 7 Báo cáo doanh thu từ hoạt động kinh doanh của công ty năm 2009 và 2010 (Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty Cổ phần chứng khoán Vina năm 2010) (Trang 82)
Bảng 8: Mức khuyến nghị đầu tư của công ty - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 8 Mức khuyến nghị đầu tư của công ty (Trang 83)
Bảng 10: Quy trình hoạt động phân tích cơ bản tại công ty sau khi hoàn thiện - Phát triển hoạt động phân tích tại công ty cổ phần chứng khoán VINA
Bảng 10 Quy trình hoạt động phân tích cơ bản tại công ty sau khi hoàn thiện (Trang 95)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w