Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
Trang 1Việt Nam đồng Doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh
Trang 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Về hình thức: Tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân
phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp
Về bản chất: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ tài chính trong phân phối
tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế Ngoài
ra tài chính doanh nghiệp còn phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp được thể hiện ra là các quan hệ giá trị giữa các doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu gồm:
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước: Mối quan hệ này
thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước theo luật định
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường tài chính: Từ sự đa dạng
hóa hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp cổ phần hay tư nhân), giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, người cho vay với người bán hàng, người mua thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữa các doanh nghiệp bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hóa, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu, giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Trang 3 Quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, có thể nói tài chính doanh nghiệp luôn giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và là một trong những công cụ quản lý kinh tế đắc lực của mỗi doanh nghiệp nó được thể hiện qua 3 chức năng cơ bản: chức năng phân phối, chức năng huy động vốn, chức năng giám sát:
Chức năng huy động: Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả
năng tổ chức, khai thác các nguồn tài chính, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn
Chức năng phân phối: Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ
đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo nhu cầu, lợi ích khác nhau của đời sống xã hội
Trên thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm:
- Phân phối có hoàn lại có thời hạn Ví dụ: Tín dụng
- Phân phối không hoàn lại Ví dụ: Ngân sách nhà nước
- Phân phối hoàn lại có điều kiện Ví dụ: Bảo hiểm
Chức năng giám sát: Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài
chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Thông qua chức năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế
độ tài chính của Nhà nước
1.1.3 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.Việc phân tích các báo cáo tài chính là quá trình kiểm tra xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và có trong quá khứ được phản ánh trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai
Trang 4của một doanh nghiệp trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính
có liên quan đến các lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó
1.1.4 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản lý tài chính Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và sẽ
có nhiều đối tượng quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, các cơ quan nhà nước và cả những người lao động Mỗi đối tượng lại có những mối quan tâm khác nhau đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản trị doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và điều hành doanh nghiệp, biết tất cả các thông tin bên trong cũng như bên ngoài của doanh nghiệp Việc phân tích tình hình tài chính sẽ đem lại cái nhìn rõ ràng các vấn đề của doanh nghiệp
Do đó, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm:
Tạo ra những chu kỳ đều đặn để dánh giá hoat động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thức hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp…
Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, tài trợ phân phối lợi nhuận …
Cung cấp thông tin cơ sở cho các dự đoán tài chính,
Căn cứ để kiểm tra kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trong của dự đoán tài chính, mà
dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tài chính
mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp
Đối với các chủ đầu tƣ
Điều mà các chủ đầu tư quan tâm đầu tiên, đó là sự an toàn của lượng vốn đầu tư,
kế đó là mức độ sinh lãi, thời gian hoàn vốn Vì vậy học cần những thông tin về tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Do đó họ thường phân tích báo cáo tài chính của đơn vị qua các thời kỳ, để quyết định đầu tư vào đơn vị đó hay không? Đầu tư dưới hình thức nào? Và đầu tư vào lĩnh vực nào?
Trang 54
Đối với chủ nợ
Đối với chủ nợ (Ngân hàng, các nhà cho vay,nhà cung cấp) mối quan tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Do đó họ cần chú ý đến tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như quan tâm đến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ được hay không khi quyết định cho vay, bán chịu sản phẩm cho đơn vị
Đối với cơ quan nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và pháp luật quy đinh không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và khách hàng,…
Đối với người lao động
Bên cạnh nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động còn được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng chính là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp
là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm
1.2 Tài liệu cung cấp cho hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: từ thông tin bên trong doanh nghiệp đến thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, kết luận chính xác nhất
1.2.1 Thông tin kế toán
Để tiến hành phân tích tài chính, người ta sử dụng nhiều tài liệu khác nhau, trong
đó chủ yếu là các báo cáo tài chính Những bộ phận cốt lõi của bảng báo cáo tài chính
là bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 61.2.1.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán mô tả sức mạnh tài chính (tình hình tài sản và nguồn vốn) của doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó Thời điểm báo cáo thường được chọn là thời điểm cuối quý hoặc cuối năm Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả (nguồn vốn) Bảng cân đối kế toán luôn đảm bảo nguyên tắc cân bằng theo phương trình kế toán sau:
Tài sản = nguồn vốn
Trong đó:
Phần tài sản: bao gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, phản ánh giá trị của
toàn bộ tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo, thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Các chỉ tiêu của phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản của doanh nghiệp, qua đó cho phép đánh giá tổng quát về quy mô tài sản, tính chất hoạt động và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: bao gồm nợ phải trả và nguồn VCSH, phản ánh nguồn vốn mà
doanh nghiệp quản lý và đang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo Về mặt kinh tế, khi xem xét phần nguồn vốn các nhà quản lý có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng Về mặt pháp lý thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về tống số vốn được hình thành từ những nguồn khác nhau Thông qua đó có thể đánh giá một cách khái quát về khả năng và mức độ chủ động về tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giống như một bức tranh phản ánh về sự
vận động, bởi vì nó báo cáo về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong một năm và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hoặc gây ra lỗ vốn Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tình hình thu nhập, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó Thời kỳ báo cáo thường được chọn là năm, quý hay tháng Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nguyên tắc để lập báo cáo này là phải phán ánh được từng loại doanh thu và các chi phí đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó Phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
bỏ ra là lợi nhuận
Trang 76
Ngoài ra, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho ta thấy tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp và tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay còn gọi là Báo cáo dòng tiền mặt, là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp Nó thể hiện dòng tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức, doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm tài chính) Báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của tổ chức
1.2.1.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là bộ phận hợp thành của hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằm giúp cho người đọc
và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn
về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh
doanh
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập căn cứ vào những số liệu và những tài liệu sau:
Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán;
Căn cứ vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
Căn cứ vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
Ngoài ra còn có những thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực
kế toán cụ thể
1.2.2 Các thông tin khác
Cùng với các thông tin đã phân tích ở trên, thì các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng rất lớn đối sự phát triển của doanh nghiệp Có thể kể đến một số các thông tin sau:
1.2.2.1 Môi trường bên trong
Môi trường bên trong bao gồm các nhân tố phản ánh những điều kiện hiện có, sự
nỗ lực, chủ quan của doanh nghiệp, những chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ Chúng được tập trung trong
Trang 8đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp ảnh hưởng tới duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ
Nhân tố đầu vào: Bao gồm các nhân tố như: lao động, vốn, công nghệ thiết bị và nguyên nhiên vật liệu Những nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm đầu ra, tới khả năng duy trì, mở rộng thị trường tiêu thụ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhân tố đầu ra: Bao gồm các nhân tố như mặt hàng, chủng loại, hình ảnh sản phẩm, giá Những nhân tố này đóng vai trò quyết định đến khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của doanh nghiệp
1.2.2.2 Môi trường bên ngoài
Thị trường: là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp Trong đó thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của doanh nghiệp, thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất
mở rộng và tăng thị phần
Nền kinh tế: nhân tố này có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, cơ hội lựa chọn bạn hàng…
Khoa học công nghệ: Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng theo Bởi lẽ khi khoa học công nghệ phát triển mạnh thì nó sẽ đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt, nếu như doanh nghiệp không thích ứng được với môi trường này chắc chắn sẽ không tồn tại được, vì vậy, các doanh nghiệp nên chú trọng việc đầu tư vào công nghệ
Nhà cung cấp: Muốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các yếu tố
đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ mà doanh nghiệp cần phải mua từ các doanh nghiệp khác Việc thanh toán các khoản này sẽ tác động trực tiếp đến tài chính của doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh: Một doanh nghiệp khi bắt tay vào kinh doanh sẽ phải quan
tâm và nghiên cứu kỹ tới đối thủ cạnh tranh của mình Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đặt ra mục tiêu phát triển và cạnh tranh lành mạnh, hướng tới tính chất ganh đua mang lại những giá trị lớn nhất cho doanh nghiệp Đôi khi đối thủ cạnh tranh cũng chính là đối tác làm ăn của doanh nghiệp khi cần thiết
Trang 98
1.3 Các phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
1.3.1 Phương pháp tỷ số
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Vì:
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục, hoặc theo từng giai đoạn
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn
- Việc áp dụng tinh học, công nghệ, cho phép tích lũy dữ liệu và thức đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
1.3.2 Phương pháp so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện theo chiều hướng tốt hay xấu, như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được
so với doanh nghiệp cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động về số tuyệt đối và tương đối của một khoản mục nào đó qua các năm kế toán liên tiếp
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Xác định rõ “gốc so sánh” và “ kỳ phân tích”
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh ( hoặc trị số) phải đảm bảo tính chất có thể
so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán
Trang 101.3.3 Phương pháp Dupont
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở
Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn Từ việc phân tích ROI là một công cụ tài chính để tính hiệu quả đầu tư, cho đến phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), thành tích số của các chuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau
ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho biết khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp ROA phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố là lợi nhuận ròng và tổng tài sản Hay ROA còn bị phụ thuộc bởi tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và vòng quay tài sản Để ROA càng lớn thì ta tăng ROS bằng cách thực hiện cắt giảm chi phí, hoặc tăng vòng quay tài sản bằng cách tăng hiệu quả sử dụng từng tài sản
ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết khả năng tạo lãi của một đồng vốn bỏ ra đầu tư vào công ty là bao nhiêu Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố là lợi nhuận ròng và vốn chủ sở hữu Hay còn có công thức:
ROE = ROS * Vòng quay tài sản * 1/ ( 1- Tỷ số nợ ) = ROA * 1/ ( 1 – Tỷ số nợ )
ROE bị tác động bởi sự tăng giảm của ROA và tỷ số nợ Muốn tăng ROE thì ta tăng chỉ số ROA, đồng thời tăng tỷ số nợ, khi tỷ số nợ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tăng tỷ số này cũng tốt nhưng tăng bao nhiêu còn tùy vào kế hoạch tài chính của từng doanh nghiệp
Tỷ lệ ROA và ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả giá trị tài sản và đồng vốn của mình bỏ ra
1.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp luôn biến động tăng hoặc giảm thể hiện trên bảng cân đối kế toán Khi phân tích cơ cấu và những biến động của tài sản và nguồn vốn, chúng ta có thể đánh giá được một cách tổng quát về tình hình đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 1110
Phân tích tình hình biến động tài sản
Phân tích tình hình biến động tài sản là việc xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn,
sự biến động của tổng tài sản cũng như của từng loại tài sản trong tổng tài sản, so sánh
tỷ trọng của từng loại giữa, cuối kỳ với đầu năm, so sánh cả về số tuyệt đối và tương đối của tổng tài sản cũng như đối với từng loại tài sản Qua đó thấy được cơ cấu vốn
đó tác động như thế nào đến quá trình kinh doanh, thấy được sự biến động về quy mô cũng như năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích kết cấu tài sản ta sẽ phải lập bảng phân tích tình hình phân bố vốn Trên bảng phân tích này ta lấy từng khoản tài sản chi cho tổng số tài sản sẽ biết được tỉ trọng của từng khoản tài sản chiếm trong tổng số là cao hay thấp
Khi phân tích cần lưu ý đến tính chất và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, kết hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh đạt được trong kỳ Có như vậy mới đưa ra được quyết định hợp lý về phân bố vốn cho từng giai đoạn, từng tài sản của doanh nghiệp
Khi phân tích kết cấu tài sản cũng cần chú ý đến tỷ suất đầu tư Tỷ suất đầu tư nói lên kết cấu tài sản, là tỷ lệ giữa trị giá tài sản cố định và đầu tư dài hạn so với tổng tài sản Tỷ suất đầu tư cũng chính là chỉ tiêu thể hiện sự khác nhau của bảng cân đối kế toán giữa các doanh nghiệp khác nhau về đặc điểm, ngành nghề kinh doanh Tỷ suất này càng cao cho thấy năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài
Phân tích tình hình biến động nguồn vốn
Tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua cơ cấu và sự biến động
về nguồn vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu nguồn vốn: là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn; thông qua cơ cấu nguồn vốn thì chúng ta sẽ đánh giá được huớng tài trợ của doanh nghiệp, mức độ rủi ro từ chính sách tài chính đó, ta cũng thấy được về khả năng tự chủ hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp
Sự biến động của nguồn vốn là sự biến động của các chỉ tiêu phần nguồn vốn, ta
sẽ thấy được tình hình huy động các nguồn vốn cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nó cho thấy được tính chủ động trong chính sách tài chính hay do sự bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra Bằng việc so sánh sự biến động cả về số tuyệt đối và tương đối của các chi tiêu phần nguồn vốn, tính tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng nguồn vốn, tỷ trọng của từng chỉ tiêu thuộc nợ phải trả trong tổng nợ phải trả, tương tự cho vốn chủ sở hữu; sau đó so sánh chúng qua nhiều năm khác nhau để thấy được cơ cấu và sự biến động nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 121.4.2 Phân tích tình hình tạo vốn và sử dụng vốn
Vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp Có vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng SXKD, mua sắm các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là họ cần phải quản lý và nắm bắt được tình hình tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng phát triển vững mạnh Tạo lập vốn bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tập thể, doanh nghiệp… các thành phần kinh tế Các hoạt động nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế và từ đó hình thành nên nguồn tích lũy hay tiết kiệm Tạo lập vốn có vai trò quan trọng đến nền tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất Đối với Doanh nghiệp có hai cách để tạo lập vốn:
- Tăng nguồn vốn: tăng nguồn vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu hoặc có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như vay từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng…
- Giảm tài sản: bằng cách bán tài sản cố định để có thêm nguồn vốn cho việc SXKD
1.4.3 Phân tích cân đối tài sản – nguồn vốn
1.4.3.1 Phân tích cân bằng tài chính trong ngắn hạn
Ta có công thức tính nhu cầu vốn lưu động ròng:
Nhu cầu VLĐ ròng = Hàng tồn kho + Khoản phải thu NH - Nợ phải trả NH
Nhu cầu VLĐ ròng < 0: cho thấy nợ ngắn hạn không những đáp ứng được nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp mà còn dư thừa để tài trợ cho tài sản khác Điều này mang nhiều lợi ích đến với doanh nghiệp
Nhu cầu VLĐ ròng > 0: cho thấy nợ ngắn hạn không đủ đáp ứng được nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp Nên có những lúc thiếu vốn để xoay vòng doanh nghiệp phải dùng tạm nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho phần thiếu hụt, điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.3.2 Phân tích cân bằng tài chính trong dài hạn
Mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Mối quan hệ cân đối này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, sử dụng có hợp lý, hiệu quả hay không Mối quan hệ cân đối này được thể hiện như sau:
Vốn lưu động ròng = Tài sản NH – Nguồn vốn NH = Nguồn vốn DH – Tài sản DH
Trang 1312
quan hệ cân đối giữa TSNH và Nợ NH, sử dụng đúng mục đích Nợ NH Đồng thời, nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu chuyển TSNH và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn
Ngược lại, nếu TSNH < Nợ NH, chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn Vì xuất hiện dấu hiệu doanh nghiệp đã
sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn
Nếu TSDH > Nợ DH và phần thiếu hụt được bù đắp từ VCSH thì đó là điều hợp
lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ DH là cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt được bù đắp từ nợ NH là điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa Tài sản NH và Nợ NH
Nếu phần TSDH < Nợ DH điều này chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn Hiện tượng này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn, vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn Điều này có thể dẫn đến lợi nhuận kinh
doanh giảm và những rối loạn tài
Ta thấy, Nếu VLĐ ròng > nhu cầu VLĐ ròng, thì đây là dấu hiệu tài chính lành mạnh và đảm bảo cân đối giữa tài sản với nguồn vốn trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Nếu VLĐ ròng < nhu cầu VLĐ ròng thì đây là dấu hiệu tài chính bất bình thường
và mất cân đối giữa TS với NV
1.4.4 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được sau một quá trình SXKD nhất định Sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên phải đánh giá kết quả từ đó để rút ra những sai lầm, thiếu sót, tìm
ra những nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả, vạch rõ tiềm năng chưa được sử dụng và
đề ra các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời để nâng cao kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm:
- Đưa ra các chỉ tiêu dự báo về xu hướng phát triển, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu này rất quan trọng trong việc đưa ra các chiến lược mang tính lâu dài trong tương lai của nhà quản lý
- Giúp nhà quản lý đề ra được hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp
vì hoạt động sản xuất kinh doanh luôn biến đổi không ngừng sao cho phù hợp với môi trường kinh doanh
Trang 14Chi phí
Chi phí kinh doanh nói chung là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp Các chi phí này phát sinh hàng ngày, hàng giờ đa dạng và rất phức tạp, tùy thuộc vào việc thực hiện các hành vi thương mại khác nhau Nhưng trong quá trình phân tích tình hình tài chính, chi phí thường được phân ra thành 3 loại:
lý chi phí tốt hơn
Doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp
Doanh thu được xác định bằng công thức:
Doan thu thuần = Tổng doanh thu – Các khoản giảm trừ
Doanh thu được nhiều hay ít, đều phụ thuộc vào hiệu các khoản thu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và các khoản giảm trừ
Tổng doanh thu được tính bằng công thức: giá(P) nhân với sản lượng(Q)
Khi giá và sản lượng biến đổi làm ảnh hưởng tới tổng doanh thu của doanh nghiệp Nguyên nhân chính tác động tới giá là do nền kinh tế thị trường, các yếu tố đầu vào như nguyên nhiên vật liệu tăng hoặc giảm, sẽ làm cho giá thành sản phẩm bị thay đổi Nhu cầu của người tiêu dùng nói chung và người chăn nuôi nói riêng cũng tác động không nhỏ tới doanh thu của doanh nghiệp
Lợi nhuận
Lợi nhuận hiểu nôm na là lấy Tổng doanh thu trừ tổng chi phí
Lợi nhuận doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, vì nó có tác động đến tất cả mọi hoạt động, và có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Lợi nhuận tăng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tốt Lợi nhuận giảm phản ánh việc kinh doanh chưa tốt, doanh nghiệp
Trang 1514
pháp khắc phục tình trạng giảm và cần phục hồi tình hình tài chính doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc phấn đấu thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính doanh nghiệp được ổn định vững chắc Một doanh nghiệp khi phân tích tình hình kinh doanh thường đặt ra mục tiêu kinh doanh cụ thể sẽ thu về được bao nhiêu phần lợi nhuận, kế hoạch để ra mục tiêu phấn đấu và hướng tới kết quả kinh doanh và lợi nhuận tốt nhất:
- Nếu Lợi nhuận thực tế > Lợi nhuận kế hoạch đề ra: công ty phát triển tốt và đạt được kết quả cao trong công tác quản lý, kinh doanh
- Lợi nhuận thực tế < Lợi nhuận kế hoạch: công ty kinh doanh chưa tốt, cần quan tâm đến công tác quản lý và cố gắng hơn
- Lợi nhuận thực tế tương đương với Lợi nhuận kế hoạch: Ban quản lý hiểu rõ về quy trình hoạt động của công ty và đã tính toán một cách chính xác về thành quả hoạt động của doanh nghiệp
1.4.5 Phân tích lưu chuyển tiền tệ
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ (còn gọi là phân tích ngân lưu) là công việc quan trọng, ngày càng chiếm nhiều công sức và thời gian của các nhà quản trị, các giám đốc tài chính Mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là cung cấp các thông tin thích hợp về các dòng tiền chi ra (outflows) và dòng tiền thu vào (inflows) trong các hoạt động của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đóng một vai trò quan trọng đối với cả những người sử dụng thông tin kế toán bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp
+
Lưu chuyển tiền thuần của hoạt động đầu tư
+
Lưu chuyển tiền thuần từ
HĐ tài chính
Dòng tiền thuần của từng hoạt động kinh doanh >0 sẽ duy trì hoạt động của doanh nghiệp được liên tục, từ đó kéo theo các hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Mặt khác, dòng tiền từ HĐKD được xem như một khoản chủ yếu để đo lường tính linh hoạt của tài sản
Dòng tiền thuần của từng hoạt động kinh doanh <0 cho thấy tình hình hoạt động của doanh nghiệp không liên tục Doanh nghiệp không quan tâm nhiều đến các hoạt động bên ngoài
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính trong một kỳ nào đó không nhất nhiết phải >0 Nhiều khi dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính <0 lại thể hiện doanh nghiệp đang phát triển và trả được nợ nhiều hơn đi vay
Trang 161.4.6 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính
1.4.6.1 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ số này cho biết mối quan hệ giữa tổng
TS mà DN đang quản lý Sử dụng với tổng số nợ phải trả Phản ánh một đồng vay nợ
có mấy đồng tài sản đảm bảo
Hệ số này được tính như sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng số tài sản Tổng số nợ phải trả Nếu trị số của chỉ tiêu này <1 có nghĩa là tổng tài sản < tổng nợ phải trả, như vậy toàn bộ số tài sản hiện có của DN không đủ để thanh toán các khoản nợ, chứng tỏ DN mất khả năng thanh toán, gặp khó khăn trong tài chính và có nguy cơ phá sản
Ngược lại, nếu trị số của chỉ tiêu này ≥ 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán Nhưng nếu quá cao thì cần phải xem xét lại vì khi đó việc sử dụng đòn bẩy tài chính của công ty sẽ kém hiệu quả Thông thường hệ số này =2, được đa
số các chủ nợ chấp nhận
Khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
TSNH
Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn hay còn gọi hệ số khả năng thanh toán hiện thời (Current ratio) là mối quan hệ giữa TSNH với khoản nợ ngắn hạn
Nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ =1: DN có đủ khả năng thanh toán các khoản
nợ NH và tình hình tài chính khả quan
Nếu trị số chỉ tiêu này <1 : Khả năng thanh toán nợ NH của DN càng thấp
Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh =
TSNH - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Là thước đo về việc huy động các TS có khả năng chuyển đổi ngay thành tiền để thanh toán các khoản nợ NH mà các chủ nợ yêu cầu, hay đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ NH của DN bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính NH
Trang 1716
Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn Tiền và các khoản tương đương tiền là các tài sản mang tính thanh khoản cao nhất của doanh nghiệp Hệ số khả năng thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt và các khoản tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi…)
và khoản nợ đến hạn phải trả Hệ số này quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ cơ hội sinh lời của đồng vốn Nhưng khi hệ số khả năng thanh toán quá nhỏ cho thấy doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn Do đó, các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng việc dự trữ các khoản tiền và tương đương tiền sao cho hợp lý và hiệu quả
1.4.6.2 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Mục tiêu cuối cùng của HĐKD là lợi nhuận Để có được lợi nhuận cao thì quá trình kinh doanh phải được tiến hành một cách có hiệu quả cả trong tổ chức và quản lý sản xuất Việc đánh giá được khả năng sinh lời và tính ổn định, bền vững về tài chính của DN cũng như những nhân tố, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng sinh lời.Việc phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về kết quả kinh doanh hiện thời với quá khứ Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích thường
sử dụng các chỉ tiêu:
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Chỉ số tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) cho biết năng lực sinh lời của doanh thu, một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này dương chứng tỏ doanh nghiệp đanh hoạt động kinh doanh có lãi và ngược lại Khi phân tích chỉ số này, người ta thường hay so sánh với chỉ số bình quân ngành để có thể đánh giá chính xác nhất về tình hình sinh lời của doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho biết khả năng sinh lời của tổng tài sản sử dụng trong doanh nghiệp hay việc sử dụng tài sản sẽ đem lại bao nhiêu lợi
Trang 18nhuận ròng cho chủ sở hữu Thông thường tỷ suất càng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài sản có hiệu quả Tuy nhiên cũng tùy ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tỷ suất sinh lời ROA cao hay thấp Vì vậy để có cái nhìn khách quan và chính xác cần so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh hay tỷ lệ bình quân ngành
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên
Lợi nhuận sau thuế VCSH Chỉ số tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) sẽ cho ra biết một đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ ra đầu tư sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Thông thường các chủ đầu tư thường coi trọng đến chỉ số này, chỉ số này càng cao chứng tỏ khả năng hấp dẫn đầu tư của doanh nghiệp càng lớn
1.4.6.3 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
Phân tích khả năng quản lý tài sản là đánh giá hiệu suất, cường độ sử dụng và sức sản xuất của tài sản trong năm
Vòng quay HTK thấp chứng tỏ công tác quản lý vật tư, tổ chức sản xuất, tổ chức bán hàng chưa tốt
Thời gian quay vòng hàng tồn kho bình quân
Thời gian quay vòng hàng tồn kho bình quân =
360
Số vòng quay hàng tồn kho Thời gian quay vòng hàng tồn kho là bình quân của khoản mục hàng tồn kho giữa đầu kỳ và cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán
Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu =
Doanh thu thuần Phải thu khách hàng
Số vòng quay khoản phải thu phán ảnh tốc độ chuyển đổi các tài khoản phải thu thành tiền Vòng quay của các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các
Trang 19Thời gian thu tiền trung bình:
Thời gian thu tiền trung bình = 360
Số vòng quay khoản phải thu Thời gian thu tiền trung bình là số ngày bình quân cần có để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt, thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc thu nợ từ khách hàng
Vòng quay các khoản phải trả
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp
có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước Ngược lại sẽ chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước
Vòng quay các
khoản phải trả =
Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng, quản lí chung Phải trả người bán + lương, thưởng, thuế phải trả
Thời gian trả nợ trung bình: Chỉ số này cho biết số ngày trung bình mà
doanh nghiệp trả nợ cho nhà cung cấp Thời gian trả nợ càng dài thì doanh nghiệp càng có nhiều thời gian chiếm dụng vốn để đầu tư vào các lĩnh vực khác và ngược lại
Thời gian trả nợ trung bình =
360 Vòng quay các khoản phải trả
Thời gian luân chuyển tiền
Thời gian luân chuyển tiền cho biết khoảng thời gian ròng kể từ khi chi thực tế đến khi thu được tiền
Thời gian luân
Trang 20Hiệu suất sử dụng tài sản
Hiệu suất sử dụng
Doanh thu thuần Giá trị tổng tài sản Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cho biết mỗi đồng giá trị tài sản cố định sử dụng có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Nếu độ lớn của chỉ tiêu này cao thể hiện hiệu suất sử dụng tài sản cao của doanh nghiệp Hay nói cách khác vốn của doanh nghiệp được quay vòng nhanh
1.4.6.4 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý công nợ
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (D/A)
Tỷ số nợ trên tổng
Tổng nợ Tổng tài sản
Tỷ số nợ phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản, phản ánh nợ chiếm bao nhiêu phần trong tổng nguồn vốn Do đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng mà những nhà đầu tư thường quan tâm, xem xét và dựa vào
đó để đánh giá độ rủi ro trong việc đầu tư vào doanh nghiệp Tuy nhiên với mức tỷ lệ thấp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không tận dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính, đánh mất cơ hội tiết kiếm được từ thuế do sử dụng nợ
Tỷ số nợ trên VCSH (D/E)
Tỷ số nợ trên VCSH =
Tổng nợ VCHS
Tỷ số này cho biết mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ và VCSH hay cơ cấu vốn trong doanh nghiệp như thế nào
Nếu tỷ lệ này >1, tức là doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay tài trợ cho tài sản, điều này cho thấy doanh nghiệp đang quá phụ thuộc vào các khoản đi vay, không tự đảm bảo nguồn tài trợ cho bản thân, rủi ro vì thế sẽ tăng cao Song doanh nghiệp lại tiết kiệm được một khoản từ thuế
Nếu tỷ số này <1 cho thấy doanh nghiệp sử dụng VCSH nhiều hơn khoản nợ vay Điều này sẽ khiến doanh nghiệp mất đi khoản chi phí cơ hội sử dụng vốn cho các hoạt động khác của công ty Chính vì vậy mà công ty nên có chính sách sử dụng nguồn vốn hợp lý, cân bằng cả hai yếu tố
Trang 2120
Khả năng thanh toán lãi vay
Là hệ số tài chính đánh giá đánh giá khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp còn (gọi là khả năng thanh toán lãi vay), cho ta biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán
EBIT Lãi vay
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động có rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Các nhân tố chủ yếu là:
Nhân tố đầu tiêu phải kể đến đó là vốn, đây là yếu tố quan trọng để giúp xây dựng và tạo nền tảng cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có những bước tiến vững mạnh sau này Doanh nghiệp càng có nguồn vốn đầu tư lớn sẽ càng phát triển tốt và có
độ tin cậy cao
Thứ hai là nhân tố con người: con người ở đây chính là nhà quản lý doanh nghiệp, là nhân viên quản lý, nhân viên trực tiếp tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp Một công ty sẽ càng mạnh hơn nữa nếu có một đội ngủ quản lý và công nhân viên nhiệt huyết, hết mình vì công việc và vì lợi ích của công ty, không vì một lý do cá nhân nào đó mà làm ảnh hưởng đến một tập thể doanh nghiệp Bên cạnh đó, Nhân tố con người – các nhà quản lý phải có một năng lực giám sát và xử lý tình huống nhanh nhạy, để có thể đưa ra các quyết định nhanh chóng, kịp thời, có những biện pháp, lời khuyên hoặc trực tiếp giải quyết các tình huống xấu
Môi trường bên ngoài: Sự biến động của nền kinh tế thị trường, thị hiếu và nhu cầu của khách hàng, Các yếu tố về thiên nhiên…
Trang 22CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ
PHẦN PHÚ THÁI
2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần Phú Thái
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Phú Thái chính thức được Phòng Đăng ký Kinh doanh của Sở
kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vào ngày 02/03/2010
Tên gọi: Công ty Cổ Phần Phú Thái
Tên viết tắt: Phu Thai JSC
Trụ sở chính tại: Km 11, Quốc lộ 39, Lương Bằng, Kim Động, Hưng Yên
Đến năm 2010, Công ty Cổ phần Phú Thái được thành lập Hiện nay, công ty bán hàng tại thị trường miền bắc, miền trung, với 2 thương hiệu Crown và Speed max Sản phẩm của Công ty đa dạng, giá cả hợp lý được nhiều sự tín nhiệm của các đại lý phân phối và người chăn nuôi
Công ty đang ngày càng mở rộng dây truyền sản xuất cùng với nâng cao đội ngũ chuyên gia kỹ thuật giàu kinh nghiệm, công nghệ Châu Âu tiên tiến, hiện đại mang đến cho người chăn nuôi những sản phẩm tốt nhất
Trang 2322
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Phú Thái
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Phú Thái
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
Hội đồng quản trị
Hoạt động kinh doanh và các công việc của Công ty chịu sự quản lý, chỉ đạo thực hiện của Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị quyết định kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hằng năm, xác định các mục tiêu hoạt động trên cơ sở các mục tiêu chiến lược được Đại hội đồng cổ đông thông qua, đồng thời giải quyết các khiếu nại của Công ty đối với cán bộ quản lý cũng như quyết định lựa chọn đại diện của Công ty để giải quyết các vấn đề liên quan tới các thủ tục pháp lý Bên cạnh
đó, Hội đồng quản trị là những người bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc điều hành và việc đề xuất việc tái cơ cấu lại hoặc giải thể Công ty
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là bộ phận độc lập, chuyên kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của toàn bộ máy công ty Đưa ra các nhận xét, đánh giá của mình để giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong cấu trúc bộ máy Công ty cũng như chất lượng cán bộ công nhân viên trong hoạt động sản xuất của Công ty
Ban Giám đốc
Giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của Công ty, chịu
sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Ban Giám đốc có chức năng và nhiệm vụ: Quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Phòng Tổ chức hành chính
Phòng Kế toán tài chính
Phân phối và bán hàng Ban kiểm soát
Trang 24của Công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư, đưa ra phương án bố trí cơ cấu tổ chức quy chế quản lý nội bộ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, quyết định lương và phụ cấp ( nếu có) đối với người lao động trong công ty và các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, điều lệ Công ty
Phòng kế toán tài chính
Phòng kế toán tài chính có chức năng là tham mưu cho Giám đốc quản lý các lĩnh vực: Tài chính, kế toán tài vụ, công tác kiểm toán nội bộ, quản lý tài sản, kiểm soát các chi phí hoạt động công ty, thanh quyết toán hợp đồng kinh tế, quản lý vốn, tài sản của công ty, tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán trong toàn công ty… Sau đó lập kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Công ty tham mưu cho Giám đốc Đồng thời chủ trì thực hiện nhiệm vụ thu và chi, kiểm tra việc chi tiêu các khoản tiền vốn, sử dụng vật tư, theo dõi đối chiếu công nợ, tham mưu giúp Giám đốc phân bổ chỉ tiêu kế hoạch tài chính cho các đơn vị trực thuộc và triển khai công tác nghiệp vụ kế toán tài
vụ trong toàn Công ty
Phòng tổ chức hành chính
Phòng tổ chức hành chính tham mưu cho Giám đốc quản lý các lĩnh vực sau: Công tác tổ chức, công tác cán bộ, công tác lao động, tiền lương, Công tác thanh tra, pháp chế, công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động, công tác quản trị hành chính, đời sống, y tế, văn thư, lưu trữ, công tác lễ tân, tổng hợp thông tin và các văn phòng khác và thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao như: Lập kế hoạch xây dựng bộ máy, tổ chức trong công ty Nghiên cứu tham mưu về cơ cấu mô hình sản xuất, Lập kế hoạch tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ Tham mưu cho Giám đốc trong công tác quản lý, sắp xếp bố trí cán bộ theo phân cấp Chủ trì lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác đào tạo về kỹ thuật, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng quản lý cho cán bộ công nhân viên và các đơn vị thành viên Quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên theo phân cấp Tham mưu Giám đốc hoặc trình cấp trên quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo phân cấp Quản lý và lưu trữ thông tin về hồ sơ lý lịch của người lao động như: hợp đồng lao động, sổ bảo hiểm, lý lịch công tác và các thông tin cần thiết khác
Phân phối và bán hàng
Phòng phân phối và bán hàng có chức năng thực hiện triển khai bán hàng để đạt
doanh thu theo mục tiêu ban giám đốc đưa ra Quản trị hàng hóa, nhập xuất hàng hóa, điều phối hàng hóa cho các cửa hàng, đặt hàng sản xuất Tham mưu đề xuất cho Ban giám đốc để xử lý các công tác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty Tham gia tuyển dụng, đào tạo, hướng dẫn nhân sự thuộc bộ phận mình phụ trách
Trang 2524
Kiểm tra, giám sát công việc của nhân viên thuộc bộ phận bán hàng, quyết định khen thưởng, kỷ luật rõ ràng đối với nhân viên thuộc bộ phận Đồng thời thực hiện các nhiệm vụ đặt chỉ tiêu doanh thu hàng tháng, phân bố chỉ tiêu cho các kênh bán hàng
Theo dõi thực tế bán hàng so với chi tiêu thực tế Theo dõi hàng hóa xuất nhập, điều phối hàng trong tuần, tháng Lập sổ sách theo dõi số lượng tồn hàng ngày So sánh, đối
chiếu doanh thu thực tế với doanh thu theo chỉ tiêu Tìm ra nguyên nhân tăng, giảm
doanh thu so với kế hoạch đưa ra hướng khắc phục kịp thời
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Phú Thái
Công ty có rất nhiều hoạt động trong việc sản xuất kinh doanh như:
- Hoạt động Sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nguyên liệu, phụ gia dùng trong thức ăn gia súc và nuôi trồng thủy sản
- Nghiền và trộn các hỗn hợp hoàn chỉnh dùng trong sản xuất tại trại
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi
Hoạt động chính, mang lại doanh thu chủ yếu cho công ty vẫn là hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi
2.2 Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần Phú Thái
2.2.1 Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn công ty cổ phần Phú Thái
2.2.1.1 Phân tích cơ cấu và tình hình biến động tài sản
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản của Công ty cổ phần Phú Thái năm 2011 – 2013
(Nguồn: từ báo cáo tài chính công ty)
Trang 26Qua biểu đồ cơ cấu, ta có thể thấy từ năm 2011 đến năm 2013, tổng tài sản của công ty tăng dần qua các năm Năm 2011, tổng tài sản của công ty là 31.698.262.094 VNĐ song tới năm 2012, con số này đã tăng lên tới 41.583.336.223 VNĐ (tương ứng tăng 76,23% so với năm 2011) Năm 2013, tổng tài sản của công ty tiếp tục tăng 89.15% so với năm 2012, đạt 5.060.877.816 VNĐ Điều này cho thấy công ty đang
mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, tăng sự đầu tư vào tài sản
Ngoài ra, ta thấy rằng, tỷ trọng của TSNH trên tổng tài sản của doanh nghiệp trong mỗi năm là khá lớn, luôn trên 50% tổng tài sản Cao nhất là năm 2013, tài sản ngắn hạn chiếm tới 64,3% tổng tài sản, tương ứng với 29.967.251.327 VNĐ Trong năm 2012, tỷ trọng tài sản ngắn hạn giảm mạnh xuống còn 52,7%, tương ứng 21.918.296.562 VNĐ
Và năm 2011, tỷ trọng này giữ ở mức 57,2% trên tổng tài sản Có thể thấy, tài sản dài hạn cũng chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng tài sản thông qua số liệu báo cáo tài chính của công ty Cổ phần Phú Thái Tỷ trọng tài sản dài hạn năm 2011 đạt 42,8% trên tổng tài sản có xu hướng tăng lên 47,3% trong năm 2012 và giảm còn 35,7 tới năm
2013 Có cơ cấu tài sản như trên là do đặc điểm ngành nghề kinh doanh của công ty và
do tác động của nền kinh tế thị trường Đối với công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi thì chi phí chi cho sản xuất kinh doanh thường là tài sản ngắn hạn như nguyên vật liệu để phục vụ cho việc sản xuất thức ăn chăn nuôi, nguyên vật liệu được chuẩn bị cho sản xuất liên tục nên doanh nghiệp sẽ phải dự trù khoản tài sản ngắn hạn để có chuẩn bị đầy đủ nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh Đến năm
2012, ta có thể thấy, tỷ trọng tài sản dài hạn của công ty tăng nhẹ, điều này chứng tỏ công ty cũng có những hoạt động đầu tư vào thiết bị, máy móc phục vụ tới hoạt động kinh doanh, nhưng đến năm 2013 lượng tài sản dài hạn giảm mạnh từ 47,3% xuống còn 35,7% có thể nói, sau 2 năm hoạt động công ty đã xem xét và cắt bớt những máy móc không cần thiết phục vụ cho sản xuất kinh doanh để việc sản xuất diễn ra thuận lợi hơn
Trang 27Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
I Tiền và các khoản tương đương tiền 559.549.268 858.063.430 1.104.542.009 (246.478.579) (22,3) (298.514.162) (34,79) III Các khoản phải thu NH 1.839.296.410 8.400.843.503 8.152.793.371 248.050.132 3,04 (6.561.547.093) (78,11)
1 Phải thu của khách hàng 1.839.296.410 7.144.772.530 6.920.803.421 223.969.109 3,24 (5.305.476.120) (74,26)
2 Trả trước cho người bán 0 830.945.561 1.231.989.950 (401.044.389) (32,55) (830.945.561) (100)
Trang 28Dựa vào số liệu bảng 2.1 về chi tiết của tài sản ngắn hạn tại công ty Phú Thái năm 2011 - 2013 ta có thể thấy:
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền và các khoản tương đương tiền giảm dần theo từng năm Năm 2011 tiền và các khoản tương đương tiền là 1.104.542.009 VNĐ, giảm mạnh 246.478.579 VNĐ (tương ứng giảm 22,3% so với năm 2012) Tới năm 2013, khoản tiền và tương đương tiền của công ty tiếp tục giảm tới 298.514.162 VNĐ (tương ứng giảm 34,79% so với năm 2012) Lượng tiền giảm là do công ty đầu tư nhiều vào khoản nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đến kì trả nợ dài hạn, đây cũng là lý do vì sao thấy
nợ dài hạn của doanh nghiệp giảm đến mức đáng kể
Phải thu khách hàng
Khoản phải thu khách hàng của công ty Phú Thái gồm những khoản mục khoản phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, các khoản phải thu khác Ta thấy khoản phải thu khách hàng năm 2012 là 7.144.772.530 VNĐ, tăng nhẹ so với năm 2011, với mức tăng 3,24% (tương ứng 223.969.109 VNĐ) Tới năm 2013, con số này giảm mạnh xuống còn 1.839.296.410 VNĐ, tương ứng với mức giảm 74,26% so với năm 2012
Có thể thấy, trong ba năm vừa qua, công ty đã quản lý rất tốt khoản phải thu khách hàng của mình, điều này chứng tỏ việc các khoản phải thu khách hàng của công
ty giảm đột biến, điều này giúp cải thiện và nâng cao tình hình hoạt động kinh doanh của công ty được đẩy mạnh lên rất nhiều Công ty không phải lo tới các khoản nợ khó đòi của đối tác Công ty cố gắng giữ vững phong độ và việc kiểm soát các khoản phải thu khách hàng như hiện tại, đây là một tín hiệu đáng mừng cho việc sản xuất kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Hàng tồn kho
Hàng tồn kho từ năm 2011 đến năm 2013 có xu hướng tăng So với năm 2011, hàng tồn kho năm 2012 tăng, cụ thể là tăng 2.840.402.631 VNĐ (tương ứng với mức tăng 37,06%) Tới năm 2013, hàng tồn kho của công ty tặng mạnh, từ 10.504.513.784 của năm 2012 lên đến 25.821.630.669 VNĐ (tương ứng với mức tăng 145,82%) Hàng tồn kho tăng một phần là do công ty dự trữ một lượng nguyên vật liệu, hàng hóa nhằm giảm bớt những ảnh hưởng từ biến động giá cả của nguyên vật liệu trên thị trường và phòng những vấn đề thiếu nguyên vật liệu sản xuất Tuy nhiên, việc dự trữ một lượng
Trang 2928
lớn hàng hóa lớn sẽ làm tăng chi phí lưu kho của công ty, làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Công ty cần nhanh chóng giảm bớt lượng hàng hóa nguyên vật liệu tồn kho và đẩy mạnh việc tìm kiếm khách hàng, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo bảng 2.2 Chi tiết tài sản dài hạn của Công ty Phú Thái có những biến động
tăng giảm không đồng đều Năm 2012 tăng 6.105.549.295 VNĐ so với năm 2011, tương ứng mức độ tăng 45,03%, nhưng lại giảm so với năm 2013 mức 2.988.082.949 VNĐ, tương ứng với 15,2%
Tài sản cố định:
Cùng với những biến động tăng giảm của tổng tài sản dài hạn, có thể thấy trong 3 năm, tài sản cố định của công ty cũng tăng giảm theo biến động chỉ tiêu tài sản dài hạn Năm 2012 tăng 6.105.549.295 VNĐ so với năm 2011, tương ứng mức độ tăng 45,03% Sang tới năm 2013, khoản mục này giảm 3.372.538.143 VNĐ (tương ứng 17,15%) Có sự biến động giảm như vậy là do công ty chưa chú trọng đầu tư vào TSCĐ, nguyên giá của tài sản cố định bị đánh tụt giá và hết giá trị hao mòn Với tỷ lệ tăng lớn như vậy, chứng tỏ trong năm công ty đã không chú trọng đầu tư thêm TSCĐ, cùng với đó, doanh nghiệp tuy đã cố gắng tận dụng tối đa hiệu quả của các thiết bị, máy móc SXKD nhưng chưa quan tâm tới việc bảo trì, bảo dưỡng máy móc, giúp chúng hoạt động đúng công suất và phát huy tối đa hiệu quả hoạt động
Tài sản dài hạn khác
Tài sản dài hạn khác của công ty bắt đầu có từ năm 2013 và đạt trị giá 384.455.194 VNĐ
Trang 30Bảng 2.2 Tài sản dài hạn của Công ty cổ phần Phú Thái năm 2011 – 2013
Đơn vị tính: VNĐ
Chênh lệch 2012/2011 Chênh lệch 2013/2012
Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
I Tài sản cố định 16.292.501.518 19.665.039.661 13.559.490.366 6.105.549.295 45,03 (3.372.538.143) (17,15)
1 Nguyên giá 20.077.365.283 21.617.563.912 13.559.490.366 8.058.073.546 59,43 (1.540.198.629) (7,13)
2 Giá trị hao mòn luỹ kế (3.784.863.765) (1.952.524.251) 0 (1.952.524.251) 0 (5.737.388.016) 293,85
B - TÀI SẢN DÀI HẠN 16.676.956.712 19.665.039.661 13.559.490.366 6.105.549.295 45,03 (2.988.082.949) (15,2)
(Nguồn:trích từ báo cáo tài chính công ty)