ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ====***==== KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM SỬA CHỮA NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT ĐÁ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
====***====
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM SỬA CHỮA NHỮNG SAI
LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT ĐÁNH CẦU CAO SÂU
THUẬN TAY MÔN CẦU LÔNG CHO HOC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 12
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học12 1.2 Vai trò của GDTC trong trường học 15
1.3 Công tác GDTC trong các trường học hiện nay 17
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 18
1.5 Đặc điểm môn cầu lông……… …… ….16
1.4.1.Về mặt tâm lý: 19
1.4.2.Về mặt sinh lý: 19
1.6 Quá trình phát triển môn cầu lông trên thế giới 27
1.7 Quá trình phát triển môn cầu lông Việt Nam 30
CHƯƠNG 2 33
MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP 33
VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 33
2.1 Mục đích nghiên cứu 33
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu khoa học 33
2.3.2 Phương pháp quan sát Sư phạm 34
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm 34
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 34
2.3.5 Phương pháp toán học thống kê 35
2.4 Tổ chức nghiên cứu 36
2.4.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.4.2 Địa điểm nghiên cứu 37
2.4.3 Thời gian nghiên cứu 37
2.4.4 Dụng cụ nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3 38
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
Trang 33.1 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn cầu lông và những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi 38
3.1.1 Thực trạng về công tác giảng dạy bộ môn cầu lông 38
3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và tập luyện môn cầu lông trong trường THPT Nguyễn Trãi TP Đà Nẵng 40
3.1.3 Nhu cầu tập luyện và hoạt động phong trào bộ môn cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng 41
3.1.4 Thực trạng học sinh trường THPT học tập và thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay bộ môn cầu lông 42
3.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện kỹ thuật cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng 42
3.1.5.1 Nhận thức của học sinh 42
3.1.5.2 Cơ sở vật chất 43
3.1.5.3 Số lượng và trình độ của giáo viên chuyên môn cầu lông 43
3.1.6 Những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông ……….43
3.1.7 Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong khi thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông 47
3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi 48
3.2.1 Lựa chọn, ứng dụng các bài tập……….42
3.2.1.1 Cơ sở lựa chọn bài tập 48
3.2.1.2 Lựa chọn bài tập 49
3.2.1.3 Ứng dụng bài tập đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông: 51
3.2.2 Test kiểm tra đánh giá thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông ………52
3.2.2.1 Cơ sở lý luận để đưa ra test kiểm tra kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông 52
3.2.2.2 Đánh giá độ tin cậy của test: 54
3.2.3 Đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn 56
3.2.3.1 Tổ chức thực nghiệm 56
Trang 43.2.3.2 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng (nhóm A) và nhóm
thực nghiệm (nhóm B) 59
3.2.3.3 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng (nhóm A) và nhóm thực nghiệm (nhóm B)……… 55
3.2.3.4 Đánh giá sự tăng trưởng của 2 nhóm thực nghiệm, đối chứng 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 3.3: Thực trạng cơ sở vật chất trong trường THPT Nguyễn Trãi
Bảng 3.4: Nhu cầu tập luyện và hoạt động phong trào bộ môn cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
Bảng 3.5: Thực trạng học sinh trường THPT Nguyễn Trãi học tập và thực hiện
kỹ thuật đánh cầu cao sâu
Bảng 3.6: Kết quả quan sát sư phạm lần 1(Tính theo tỷ lệ %, n=150)
Bảng 3.7: Kết quả quan sát sư phạm lần 2 (Tính theo tỷ lệ %, n=150)
Bảng 3.8: So sánh kết quả của 2 lần quan sát sư phạm
Bảng 3.9: Kết quả phương pháp phỏng vấn (Tính theo tỷ lệ %, n=20)
Bảng 3.10 Kết quả phỏng vấn để lựa chọn bài tập
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra độ tin cậy của Test (n=20)
Bảng 3.12 Nội dung chương trình giảng dạy môn cầu lông
Bảng 3.13 Lịch trình giảng dạy trong 6 tuần môn cầu lông của học sinh nhóm thực nghiệm (nhóm B)
Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng (nhóm A)
Trang 6Bảng 3.18 So sánh nhịp độ tăng trưởng của 2 nhóm đối chứng (nhóm A) và nhóm thực nghiệm (nhóm B)
Biểu đồ 3: So sánh kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông ở các lần
kiểm tra của nhóm đối chứng (nhóm A)
Biểu đồ 4: So sánh kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông ở các lần kiểm tra của nhóm thực nghiệm (nhóm B)
Biểu đồ 5: So sánh nhịp độ tăng trưởng (W%) của nhóm đối chứng (nhóm A) và
nhóm thực nghiệm (nhóm B) sau thực nghiệm
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo cho sự phát triển thể dục thể thao nhằm tăng cường sức khoẻ cho nhân dân; xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa Con người được phát triển cao
về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức Con người là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Như vậy, con người là chủ thể có ý thức để xây dựng xã hội mới, đồng thời là sản phẩm của xã hội mới Chính vì vậy nhiệm vụ xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa (con người phát triển toàn diện) là nhiệm vụ chiến lược của đất nước ta hiện nay
Quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước, ngành thể dục thể thao đã triển khai các hoạt động đổi mới trong đó chú trọng đến công tác phát triển thể dục thể thao phong trào cùng với thể dục thể thao thành tích cao Điều này được thể hiện qua các Thông tri liên tịch giữa Bộ Giáo dục đào tạo với tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản HồChí Minh và các bộ ngành khác Đặc biệt trong việc định hướng xây dựng hàng loạt các trung tâm đào tạo vận động viên cho các môn thể thao ở các tỉnh thành, ngành …Chính vì vai trò to lớn của ngành thể dục thể thao trong xã hội mà Đảng và Nhà nước đã xác định mục tiêu của thể dục thể thao là phương tiện tích cực trong xã hội, đểxây dựng một cuộc sống lành mạnh, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Ngoài ra, Đảng và Nhà nước ta còn nhận thấy rằng thể dục thể thao là phương thiện hữu hiệu để tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, đường lối củaĐảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nhiệm vụ chính trị, giữ vữnglòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Đảng đã vạch ra phương hướng của sự
nghiệp thể dục thể thao nước ta là: “Xây dựng phát triển nền Thể dục thể thao có tinh
thần dân tộc, khoa học và nhân dân; giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu hiện đại trên thế giới, phát triển rộng rãi phong trào thể dục thể thao lấy vấn đề cá nhân – gia đình – xã hội làm phương tiện phát
Trang 8triển; công tác xã hội hoá thể thao lấy phong trào thể dục thể thao quần chúng làm nền tảng, làm cơ sở để từng bước xây dựng lực lượng thể thao chuyên nghiệp đỉnh cao”.
Để phát triển, bồi dưỡng, lựa chọn và cung cấp tài năng thể dục thể thao cho đất nước, tạo ra thế hệ kế tục không ngừng cho sự nghiệp thể dục thể thao xã hội chủnghĩa, cần phát triển rộng rãi hơn nữa phong trào thể dục thể thao quần chúng, đặc biệt trong tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh Trên cơ sở phát hiện những tài năng thể thao, đào tạo bồi dưỡng thành lớp vận động viên có tài năng cho đất nước
Tóm lại, để thực hiện mục tiêu xây dựng một đất nước phồn vinh giàu mạnh, một
“Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan
tâm đến mọi ngành, mọi người tạo mọi điều kiện cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có cơ hội phát triển bền vững Trước sự quan tâm như vậy, ngành thể dục thểthao trên cả nước nói chung và ngành thể dục thể thao Tp Đà Nẵng nói riêng đã nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình, không ngừng phấn đấu xây dựng một nền thể thao quần chúng phát triển rộng rãi, đồng thời tăng cường phát triển thành tích cao trong điều kiện hiện tại của Tp Đà Nẵng; Đến nay, nhiều môn thể thao dân tộc và hiện đại đã được phổ biến rộng rãi trong quần chúng lao động của thành phố Đà Nẵng như bóng
đá, bóng bàn, cờ vua, đá cầu … và trong đó không thể không nhắc đến môn Cầu lông.Cầu lông ra đời từ giữa thế kỷ 18 tại British India (vùng thuộc địa cũ của Anh bao gồm Ấn Độ và Myanma), do một sĩ quan quân đội Anh đóng ở Ấn Độ sáng tạo Kể từ
đó đến nay môn thể thao này là môn thể thao phát triển mạnh trên thế giới, nó được du nhập vào Việt Nam qua hai con đường thực dân hoá và Việt kiều về nước Mãi đến năm 1960 mới xuất hiện một vài Câu lạc bộ ở các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, năm
1961 Hà Nội tổ chức thi đấu giao hữu lần đầu tiên tại vườn Bách Thảo Hà Nội, nhưng
số người tham gia còn ít, trình độ chuyên môn còn thấp, những năm sau đó đất nước bịchiến tranh, phong trào bị lắng xuống
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, phong trào tập luyện Cầu lông mới thực sự phát triển cả bề rộng và chiều sâu, nhưng phong trào chỉ phát triển chủ yếu ở
Trang 9một số thành phố, thị xã như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang… Để lãnh đạo phong trào đúng hướng và cung cấp đội ngũ cán bộ, giáo viên, huấn luyện viên, trọng tài…nhằm phát triển lực lượng vận động viên và phong trào Cầu lông trong cả nước, Tổng cục thể dục thể thao đã thành lập bộ môn Cầu lông đào tạo chính quy tại trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh.
Năm 1980, giải vô địch Cầu lông Toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội đánh dấu một bước ngoặt của môn Cầu lông Việt Nam trên đà phát triển theo hướng phong trào sâu rộng và nâng cao thành tích thể thao
Năm 1990, Liên đoàn Cầu lông Việt Nam được thành lập; năm 1993, Liên đoànCầu lông Việt Nam chính thức là thành viên của Liên đoàn Cầu lông Châu Á; năm
1994, trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn Cầu lông thế giới
Hoạt động thể dục thể thao có ý nghĩa rất to lớn trong việc phát triển con người toàn diện, nó không ngừng đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng nâng cao sức khoẻ của toàn dân mà còn là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của đại bộ phận nhân dân để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của mọi người trong xã hội ngày càng phát triển Do vậy, chúng ta phải không ngừng phát triển phong trào thểdục thể thao rộng rãi trong nhân dân, làm cho thể dục thể thao trở thành nhu cầu tập luyện hàng ngày của mọi người dân, trở thành nhu cầu văn hoá tinh thần trong đời sống xã hội văn minh tiến bộ của chúng ta hiện nay Thể dục thể thao không những là phương tiện rèn luyện sức khoẻ cá nhân mà còn là phương diện giao lưu hợp tác hữu nghị với nước ngoài, phục vụ công tác đối nội, đối ngoại trong chủ trương mở cửa của nước ta với các nước trên thế giới
Hiện nay ở nước ta, trong số các môn thể thao trở thành nhu cầu tập luyện hàng ngày của người dân có lẽ chính là môn Cầu lông
Cầu lông là một môn thể thao được nhiều người ưa thích tham gia tập luyện và thi đấu với dụng cụ sân bãi tập luyện đơn giản, dễ tập; Cầu lông phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, già trẻ, trai, gái, mọi tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội Tập luyện môn Cầu lông có nhiều tác dụng, đó là:
Trang 10- Đối với thế hệ trẻ thanh thiếu niên nhi đồng thì tập luyện, thi đấu cầu lông có tác dụng phát triển toàn diện, các tố chất thể lực như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo, và các năng lực chuyên môn khác, qua đó giáo dục nhân cách và phát triển con người toàn diện và tạo không khí vui tươi lành mạnh.
- Đối với những người cao tuổi tập luyện và thi đấu cầu lông có tác dụng củng cốtăng cường sức khoẻ, chống sự thoái hoá của một số bộ phận cơ thể qua đó có thểphòng chống được một số bệnh thường xuất hiện ở lứa tuổi này như suy nhược cơ thể, cao huyết áp,…
- Đối với những người làm việc trí óc, công chức Nhà nước, sau thời gian lao động căng thẳng mệt mỏi, tập luyện và thi đấu Cầu lông có tác dụng làm thay đổi trạng thái mệt mỏi sang hưng phấn tạo cảm giác thoải mái dễ chịu bớt đi căn thẳng đưa cơ thể dần trở về trạng thái bình thường
- Đối với những người lao động chân tay tập luyện Cầu lông có tác dụng làm tăng cường sức khoẻ, phát triển sức mạnh cơ bắp hoạt động linh hoạt nhanh nhẹn, xử
lý mọi tình huống trong cuộc sống một cách có hiệu quả nhất, chuẩn bị bước vào lao động với hiệu quả cao mang lại giá trị vật chất cho mình và xã hội
Đặc điểm nổi bật của môn Cầu lông là tạo lối sống sôi động và tốc độ, kết hợp với điểm rơi biến hoá, sự điêu luyện kỹ thuật phối hợp ở mọi vị trí Cơ sở của một trận đấu là nhịp độ nhanh, năng lực tốc độ, phản ứng kịp thời, khả năng phối hợp vận động với ý chí tập trung cao và sự ổn định về tâm lý Thành tích thi đấu gắn liền với quá trình diễn biến tâm lý của vận động viên Quyết đoán, dũng cảm, mưu trí, vững vàng là những phẩm chất tâm lý chủ yếu của vận động viên cầu lông
Đối với thể thao Việt Nam môn cầu lông cũng có những bước phát triển và tiến bộ
rõ rệt Chỉ sau một thời gian đã có vị trí quan trọng trong hệ thống các môn thể thao đỉnh cao, là môn thu hút được đông đảo người tham gia tập luyện với mọi lứa tuổi, vì thế từ lâu chúng ta rất coi trọng môn thể thao này
Trang 11Có nhiều người cho rằng: môn cầu lông là môn thể thao dễ tập, chỉ cần có sự say
mê và có một vài buổi tập là có thể đánh được Song trên thực tế muốn đạt được hiểu quả cao của từng kỹ thuật đòi hỏi người tập không những có lòng kiên trì mà còn có sựsay mê sáng tạo để đạt được một trình độ nhất định
Một trong những kỹ thuật cơ bản quan trọng nhất trong môn cầu lông là đánh cầu cao sâu thuận tay Đánh cầu cao sâu thuận tay được coi là phương tiện cơ bản là tiền
đề cho sự phát triển đỉnh cao trong cầu lông hiện nay
Giảng dạy, huấn luyện môn Cầu lông là một quá trình giáo dục chuyên môn chủyếu bằng các bài nhằm hoàn thiện các phẩm chất năng lực, các mặt của trình độ giảng dạy và huấn luyện nhằm đảm bảo cho người tập đạt hiệu quả cao nhất trong tập luyện Các bài tập được sử dụng trong giảng dạy và huấn luyện phải đảm bảo tính khoa học,được nghiên cứu trong lý luận và được kiểm chứng trong thực tiễn Ngoài ra trong quá trình tập luyện, giáo viên - huấn luyện viên và người tập phải nỗ lực sáng tạo, bởi kiểm tra đạt kết quả cao hiển nhiên là dấu ấn của việc giảng dạy và huấn luyện có hiệu quả
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề các kỹ thuật của môn cầu lông và việc vận dụng chúng, đó là các công trình có ý nghĩa thực tiễn lớn trong công tác giảng dạy
- huấn luyện cho người tập ở môn thể thao này ở Việt Nam
Để nâng cao hiệu quả của kỹ thuật đánh cầu cao sau thuận tay cho học sinh khối
11 thì có nhiều hướng, một trong các hướng thường được sử dụng đó là đưa ra các bài tập cho quá trình tập luyện để nhằm hoàn thiện kỹ thuật, nâng cao hiệu quả cho học sinh khối 11 nói riêng và người tập nói chung Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số bài tập nhằm sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao, sâu, thuận tay môn Cầu lông cho học sinh khối 11 của trường THPT Nguyễn Trãi, thành phố Đà Nẵng”.
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất trong trường học là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân Giáo dục thể chất trường học, đang góp phần cùng với thể thao thành tích cao đảm bảo cho nền thể thao nước ta phát triển cân đối và đồng bộ nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển TDTT Việt Nam từ nay đến năm
2020, đưa nền TDTT nước ta hòa nhập và tranh đua với các nước trong khu vực và trên thế giới
Ngay từ khi thành lập chính quyền, năm 1945 Đảng và nhà nước ta đã hết sức coi trọng công tác giáo dục con người phát triển toàn diện nói chung và nâng cao năng lực nói riêng, coi con người là tài sản của đất nước, các văn bản pháp lý của Đảng và nhà nước ta đều nhấn mạnh TDTT là công tác cách mạng, là công cụ tác động tích cực đến đời sống xã hội, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục con người phát triển toàn diện về mọi mặt
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác GDTC trong trường học nhằm đào tạo những lớp người mới phát triển cao vềtrí tuệ, cường tráng về thể chất, nâng cao về tinh thần và đạo đức…Đó là mục tiêu của Đảng và nhà nước, là ước nguyện của Bác Hồ đối với thế hệ trẻ của Việt Nam - những con người sẵn sang kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Những quan điểm của Đảng và nhà nước ta về Giáo dục và Đào tạo nói chung và GDTC nói riêng đều xuất phát từ những cơ sở tư tưởng, lý luận của học thuyết Mác –
Lê Nin về con người và sự phát triển con người toàn diện, về giáo dục thế hệ trẻ trong
xã hội xã hội chủ nghĩa, những nguyên lý giáo dục thể chất Mác xít, cũng như tư tưởng quan điểm của Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và GDTC cho thế hệ trẻ nói
Trang 13riêng Những tư tưởng, cơ sở lý luận, đó đều được Đảng quán triệt trong đường lối phát triển TDTT trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng CNXH ngày nay Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể, Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo kịp thời đề ra những chủ trương thúc đẩy phong trào TDTT của nước nhà Hàng loạt các chỉ thị về công tác TDTT được Đảng
và Nhà nước ban hành như:
Chỉ thị số 106/CT/TW ngày 02/01/1958 của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như: Vai trò tác dụng của công tác của công tác GDTC về thể thao quốc phòng và phát triển phong trào TDTT quần chúng nhất là ở trường học
Chỉ thị số 131/CT/TW ngày 13/01/1960 về công tác TDTT và chỉ thị số158/CT/TW về tăng cường xác định vị trí và tầm quan trọng của TDTT trong những năm tới của Ban Bí Thư TW Đảng đã xác định được vị trí và tầm quan trọng của TDTT, coi TDTT là yêu cầu của quần chúng, là một mặt của sự nghiệp xây dựng CNXH và chủ trương trên được cụ thể hóa tới sự phát triển phong trào TDTT của học sinh
Đại hội Đảng lao động lần thứ III tháng 9/1960 đã định hướng công tác giáo dục
và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường và chủ trương này được hội nghị TW Đảng lần thứ VIII tháng 4/1963 phát triển lên một bước mới Đến nghị quyết VIII BCHTW Đảng ( khóa VIII) đã khẳng định bắt đầu đưa việc giảng dạy thể dục và một
số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của trường phổ thông
Chỉ thị 112/CT/TW ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ Trưởng về công tác TDTT trong những năm trước có ghi: “ Đối với học sinh trước hết là nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy học và môn thể dục theo chương trình đã quy định, có biện pháp hướng dẫn các hình thức tập luyện ngoài giờ…”
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản lần thứ VII tháng 6/1991 khẳng định về công tác TDTT cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC trong trường học Chương III điều
Trang 1435,36,41 hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ghi: “ GDTC là môn học bắt buộc trong các trường học”.
Chỉ thị 36/CT/TW của Ban bí thư TW Đảng ngày 24/03/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã ghi rõ: “ Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết nhất về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học…”
Đại học lần thứ VII năm 1996 đặt vị trí chủ chốt của con người với tầm chiến lược sâu sắc hơn của thời kỳ mới về sự cường tráng thể chất và nhu cầu của bản thân con người, là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, tất cả các cấp, nghành, các đoàn thể
Vì vậy, trong báo cáo về chất lượng và hiệu quả trong trường học đã nêu GDTC nhằm phát huy nguồn lực của con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Cụ thể của chương trình này, Ban bí thư TW Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có chỉ thị số 34/CT/TW về công tác GDTC trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh:
“Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học là làm cho việc tập luyện TDTT trởthành nếp sống hằng ngày của học sinh, sinh viên…” Công tác TDTT được đề cập một cách cấp thiết trong các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua như: Luật bảo
vệ sức khỏe nhân dân, luật chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho các em nhỏ phát triển thểchất trở thành trách nhiệm của Đảng, nhà nước và nhân dân
Điều 15 của pháp lệnh TDTT ngày 25/09/2002 quy định “Bộ GD&ĐT phối hợp với Ủy ban TDTT thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng, chỉ đạo, thực hiện chương trình GDTC theo quy định tiêu chuẩn RLTT và đánh giá kết quả RLTT của người học, quy định hệ thống thi đấu TDTT trường học:
Việc chăm lo sức khỏe, phát triển thể chất cho thế hệ trẻ được Đảng và Nhà nước
ta hết sức quan tâm và coi đó là nhiệm vụ hàng đầu trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Đây cũng là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất trong giáo dục con
Trang 15người phát triển toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
1.2 Vai trò của GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà
nước ta GDTC còn được hiểu là : “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế
hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” Giáo dục thể chất trong trường học có vai trò vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền thể thao nước nhà TDTT trường học được xác định là một bộ phận quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thể dục thể thao trường học còn là môi trường giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao Nó còn có tác dụng quan trọng đối với việc đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng phát triển và có ý nghĩa chiến lược đối với việc phát triển TDTT nước nhà, có tác dụng lâu dài, cơ bản
và toàn diện
Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục
tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động
Giáo dục thể chất là một lĩnh vựcTDTT xã hội với nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống” Đồng thời chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức, kỹnăng và rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”
Trang 16Nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp được tiến hành trong cả quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường bằng các hình thức:
* Giờ học thể dục thể thao chính khoá:
Là hình thức cơ bản nhất của giáo dục thể chất được tiến hành trong kế hoạch học tập của nhà trường Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học sinh sinh viên là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các
tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh sinh viên Đồng thời, giúp các em
có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinh sinh viên, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh”
Bản thân giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và chuyên môn
* Giờ học ngoại khoá - tự tập:
Là nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi của 1 bộ phận học sinh sinh viên với mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn diện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của học sinh sinh viên Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tựhọc của học sinh sinh viên, hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ chức hàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập
Trang 17của học sinh sinh viên, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thểthao yêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt.
Tác dụng của giáo dục thể chất và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích áp dụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hoá chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh sinh viên trong suốt thời kỳ học tập trong nhà trường, cũng như đảm bảo chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn phù hợp với những điều kiện của nghề nghiệp trong tương lai
1.3 Công tác GDTC trong các trường học hiện nay.
Trong những năm qua, thực hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công tác GDTC và Thể thao trong nhà trường đã đạt được nhiều kết quảđáng khích lệ trên cả 2 lĩnh vực: thực hiện chương trình môn học thể dục bắt buộc và
tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa tự nguyện cho học sinh
Theo số liệu của Bộ, hiện nay trong cả nước có trên 87% số trường phổ thông dạy đủ tiết thể dục chính khóa một tuần theo chương trình đổi mới ( do Bộ ban hành từnăm học 2005 – 2006 ) theo hướng dạy cho học sinh kiến thức, kỹ năng vận động đểphát triển thể chất và góp phần hình thành nhân cách, trong đó ưu tiên số 1 là sự vận động thể lực tích cực của học sinh trong mỗi giờ học Nội dung chương trình có phần bắt buộc và phần tự chọn, gồm các bài tập về đội hình, đội ngũ, điền kinh, thể dục, bơi lội, cầu lông, bóng đá, đá cầu, trò chơi vận động, bóng rổ, bóng chuyền Việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên từ 6 đến 20 tuổi được quy định cụ thể và chính thức áp dụng trong cả nước từ năm học 2008 – 2009 ( gồm 6 bài tập, 3 mức xếp loại thể lực, áp dụng cho HSSV từ 6 đến 20 tuổi) Đội ngũ giáo viên thể dục trong nhà trường phổ thông được tăng cường hơn 23.000 người ( chiếm 80% tổng số cán bộchuyên nghành TDTT của cả nước ), hầu hết có trình độ Đại học, nhiều người là thạc
sỹ, tiến sỹ
Trang 18Hình thức tổ chức và nội dung tập luyện TDTT của học sinh, sinh viên ngày càng
đa dạng và dần đi vào nền nếp Trong đó, hình thức câu lạc bộ TDTT trường học có tổchức, có người hướng dẫn ngày càng được phát triển Nhiều nội dung tập luyện được đưa vào các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được lồng ghép với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Phong trào “ Toàn dân rèn luyện thân thể thao gương Bác Hồ vĩ đại” được phát động trong các trường học đã thu hút hầu hết cán bộ, giáo viên và học sinh chọn một số môn thể thao hoặc một hình thức rèn luyện thường xuyên để nâng cao sức khỏe Chương trình “Phổ cập bơi lặn cứu đuối phòng chống tai nạn thương thích cho trẻ em” cùng với việc thí điểm tổ chức các hoạt động thể thao cho học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhiều địa phương tích cực hưởng ứng, tạo khí thế mới trong mỗi nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ
Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/ lần cùng với hàng chục giải thể thao học sinh phổ thông qua cấp quốc gia được tổ chức hàng năm
đã thực sự trở thành sân chơi bổ ích cho hàng triệu học sinh các bậc, cấp học rèn luyện thân thể nâng cao sức khỏe và thể hiện tài năng Đã có nhiều VĐV đỉnh cao trưởng thành từ các sân chơi này
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT.
Trong quá trình sống và phát triển cơ thể con người có những biến đổi đa dạng
về hình thái lẫn cấu trúc, chức năng sinh lý, sự tác động của yếu tố di truyền và môi trường sống Vì thế tập luyện TDTT mang lại rất nhiều lợi ích và ảnh hưởng tốt đến sức khỏe con người nếu được tiến hành trên cơ sở quán triệt tất cả những đặc điểm trong quá trình phát triển của cơ thể người Trong đó lứa tuổi 17 là lứa tuổi cơ thể phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ sẽ chậm dần Ở lứa tuổi THCS cơ thể các em phát triển theo chiều cao nhiều hơn nhưng ở lứa tuổi THPT lại phát triển chiều ngang nhiều hơn
Trang 191.4.1 Về mặt tâm lý:
Ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là người lớn, đã đòi hỏi mọi người xung quanh tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn nên các em tiếp thu cái mới rất nhanh, nhưng cũng rất nhanh nhàm chán khi bị môi trường bên ngoài tác động tạo nên sự đánh giá cao về bản thân, trái lại chỉ thất bại một
là là tạm thời tự ti, rụt rè và dễ bỏ cuộc Ở lứa tuổi này các em bắt đầu muốn tự lập và
có quan hệ đặc biệt đến sự phát triển ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là lứa tuổi lãng mạn, có nhiều mơ ước độc đáo và mong cho tương lai tốt đẹp hơn
Sự hưng phấn của các em trong lứa tuổi này xuất hiện thêm nhiều mệt mỏi và đã được xác định rõ ràng hơn, mang tính chất bền vững sâc sắc và phong phú hơn Hưng phấn của các em rất năng động, các em sẵn sàng đi vào các lĩnh vực tri thức mà các em
ưa thích và coi thường những môn học mà các em không thích Vì vậy khi tiến hành công tác GDTC cho lứa tuổi này chúng ta cần uốn nắn, nhắc nhở, chỉ bảo, động viên, giúp đỡ các em hoàn thành tốt bài tập trong điều kiện các em tiếp thu chậm, từ đó các
em không tỏ ra chán nản, có định hướng đúng đắn và hiệu quả của bài tập được nâng cao giúp các em tự tin trong học tập
1.4.2 Về mặt sinh lý:
* Hệ thần kinh:
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện khả năng tư duy, khả năng phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểm thuận lợi cho các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên đối với một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em chóng mệt mỏi Cần thay đổi hình thức tập luyện một cách phong phú hơn
Trang 20Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh mẽ của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữ hưng phấn và ức chế không cần bằng ảnh hưởng đến hoạt động thể chất.
* Hệ hô hấp:
Vòng ngực lứa tuổi học sinh THPT nam trung bình từ 67,30 – 72,22 cm, nữ từ69,5 – 74,84 cm Diện tích tiếp xúc không khí của phổi khoảng 100 – 120 m2 gần bằng lứa tuổi trưởng thành Thể tích phổi tăng lên nhanh chóng Lúc 15 tuổi thể tích phổi khoảng từ 2 – 2,5 lít, từ 16 – 18 tuổi khoảng từ 3 – 4 lít, khả năng hoạt động của phổi tăng lên rõ rệt Ở lứa tuổi từ 12 – 14 tuổi thành phần khí thở ra gồm 17,6% oxy; 3,3% khí cacbonic Từ 16 – 18 tuổi thành phần khí thở ra có nhiều thay đổi gồm 17,6% oxy, 4% cacbonic Tức là khả năng hấp thụ oxy và thải khí cacbonic cao hơn Tần số thở của lứa tuổi học sinh THPT cơ bản giống người lớn khoảng 10 – 20 lần/ phút
Tuy nhiên nhịp thở vẫn còn yếu, cho nên sức co giãn của lồng ngực ít, học sinh chủ yếu thở bằng bụng Trong tập luyện TDTT cần chú ý thở bằng ngực, thở sâu chậm
để tăng cường cơ năng cơ quan hô hấp Luyện tập các động tác phát triển cơ ngực, cơ lườn, cơ lưng và tập các môn như: Bơi lội, chạy cự ly trung bình, chạy việt dã có tác dụng đến cơ quan hô hấp
có cường độ và khối lượng vận động tương đối lớn hơn lứa tuổi THCS
Trang 21Ngoài ra, tuyến sinh dục, tuyến giáp và tuyến yên hoạt động mạnh, các chất nột tiết ra nhiều sẽ làm rối loạn sự chi phối của hệ thần kinh đối với nội tạng, dẫn đến hiện tượng cao huyết áp tạm thời của tuổi dậy thì Vì vậy trong khi bố trí các bài tập có khối lượng cường độ vận động lớn hoặc các bài tập phát triển sức bền cần phải hết sức thận trọng nếu không sẽ có hại cho sức khỏe.
* Hệ xương:
Xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển khi ở lứa tuổi THPT, sụn ở hai đầu xương vẫn còn dài nhưng sụn chuyển thành xương ít Mỗi năm, nữ cao thêm từ 0,5 – 1cm
và nam từ 1 – 3cm, nếu không rèn luyện thân thể, luyện tập TDTT thì nữ sau 20 tuổi
và nam sau 25 tuổi hầu như không cao lên nữa Việc tập luyện TDTT sẽ làm cho xương phát triển thêm về chiều dài và nhất là phát triển mạnh theo chiều ngang Các xương nhỏ từ xương cổ tay, bàn tay đã kết thành xương nên các em có thể tập một sốđộng tác trèo chống, mang vật nặng mà không làm tổn hại hoặc đưa đến sự chênh lệch của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được củng cố, vẫn dễ bịcong vẹo nên việc tiếp tục tập luyện tư thế chính xác trong đi, chạy, ngồi, nhảy, cho các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ Riêng các em nữ sinh do xương xốp hơn nam, lỗ tủy rộng hơn, chiều dài kém hơn, bắp thịt cũng nhỏ và yếu hơn nên không khỏe bằng nam và thường chỉ khoảng 20 tuổi là không lớn được nữa Xương chậu nữ
to và yếu hơn nam, bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như dạ con, buồng trứng, Vì thế không thể vận dụng khối lượng và cường độ nặng hơn nam mà phải có sự lựa chọn nhất định cho thích hợp với các em
* Hệ cơ:
Trong quá trình phát triển cơ thể, các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương Nói chung cấp 2 và đầu cấp 3 (nữ từ 13 – 15 tuổi, nam từ 14 – 16 tuổi) là thời kỳ các cơ bắp phát triển nhanh nhất Đặc điểm cơ bắp ở lứa tuổi THPT là cơ co vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn như cơ đùi, cơ cánh tay phát triển tương đối nhanh còn các cơ nhỏ như các cơ bàn tay, ngón tay, các cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, nhất là cơ duỗi của nữ lại càng tương đối
Trang 22yếu Đặc biệt vào khoảng 16 tuổi, các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh, do
đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ thể
Do những đặc điểm trên, ở lứa tuổi học sinh THPT cần tập trung những bài tập phát triển sức mạnh để góp phần đẩy mạnh sự phát triển các cơ Nhưng các bài tập không chỉ có treo hoặc chống đơn thuần mà phải là những động tác hỗn hợp vừa treo vừa chống và các động tác khác nữa Như vậy vừa phát triển toàn diện cơ co, cơ duỗi vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập luyện liên tục trong thời gian dài Các bài tập phải có mức độ, Hợp với sức chịu đựng của cơ thể, bảo đảm cho tất cả các cơ
từ cơ to đến cơ nhỏ ít hoạt động như cơ bàn tay, bắp tay, các cơ xoay trong, xoay ngoài đều được phát triển Đối với nữ cần có yêu cầu riêng biệt, tính chất hoạt động của nữ cần toàn diện, mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo Những động tác ấy rất phù hợp với tâm lý của nữ là thích cái đẹp, mềm mại, nhịp nhàng
1.5 Đặc điểm môn cầu lông
Cầu lông hay Vũ cầu là môn thể thao dùng vợt thi đấu với 2 vận động viên (đấu
đơn) hoặc 2 cặp vận động viên (đấu đôi) trên hai nửa của sân cầu hình chữ nhật được chia ra bằng tấm lưới ở giữa Người chơi ghi điểm bằng cách đưa quả cầu qua lưới bằng vợt và chạm đất ở trong phần sân bên kia của đối thủ Mỗi bên chỉ có một lần chạm cầu duy nhất để đưa cầu sang sân bên kia Lượt cầu kết thúc khi quả cầu chạm đất, hoặc có lỗi do trọng tài chính hoặc trọng tài biên bắt; trường hợp không có trọng tài thì do tự người chơi bắt, vào bất cứ thời điểm nào trong lượt cầu đang đánh
Quả cầu được làm bằng lông (hoặc nhựa, không dùng trong thi đấu) khi bay có những tính chất khí động học đặc trưng làm cho nó có cách bay lẫn đường bay khác hẳn với những quả bóng dùng trong các môn thể thao dùng vợt khác; cụ thể, lông cầu tạo ra lực cản vô cùng lớn, khiến quả cầu lông giảm tốc nhanh hơn rất nhiều so với quả bóng Quả cầu lông có vận tốc cực đại cao hơn rất nhiều khi so sánh với các môn thể thao dùng vợt khác Vì nó khá nhẹ nên dễ dàng bị ảnh hưởng bởi gió, do đó các vận động viên chỉ thi đấu trong nhà Cầu lông vẫn có thể chơi được ở ngoài trời nhưng chỉ với mục đích vận động là chính; thường là ở ngoài vườn, công viên hoặc bãi biển
Trang 23Từ năm 1992, cầu lông chính thức trở thành một trong các môn thể thao Olympic với 5 hạng mục thi đấu: đơn nam và đơn nữ, đôi nam và đôi nữ, đôi nam nữ (một nam đánh cặp với một nữ) Ở cấp độ chuyên nghiệp, đặc biệt là đánh đơn, cầu lông đòi hỏi một thể lực cực tốt: vận động viên cần có sự dẻo dai, nhanh nhẹn, sức khỏe tốt, tốc độ và sự chuẩn xác Đây còn là môn thể thao có liên quan nhiều đến kỹ thuật, yêu cầu sự kết hợp tốt và sự phát triển các di chuyển phức tạp của cây vợt.
Khởi nguồn của cầu lông có vết tích từ giữa thế kỷ 18 tại British India (vùng thuộc địa cũ của Anh bao gồm Ấn Độ và Myanma), do một sĩ quan quân đội Anh đóng
ở Ấn Độ sáng tạo Các bức ảnh đầu tiên cho thấy người Anh thêm vào cái lưới vào trò chơi cầu lôngtruyền thống của người Anh Môn thể thao này có liên quan đến ball badminton, trò chơi dùng vợt và quả bóng bằng len màu vàng có nguồn gốc từ Tamil Nadu, và tương tự như trò Hanetsuki có nguồn gốc từ Nhật Bản Trở nên rất phổ biến tại đơn vị đồn trú của quân Anh ở thị trấn Poona (nay là Pune), trò chơi còn biết đến
với tên Poona Năm 1867 thì người ta bắt đầu ghi lại thành văn các luật chơi Ban đầu,
quả bóng len đề cập tới ở ball badminton được tầng lớp thượng lưu yêu thích hơn khi trời gió hoặc ẩm ướt, nhưng đa số lại thích dùng quả cầu lông Trò chơi được một sĩ quan về hưu đem về Anh nơi mà nó được phát triển và xây dựng luật chơi
Dù có một điều rõ ràng là ngôi nhà Badminton House, ở vùng Gloucestershire, thuộc quyền sở hữu của Duke of Beaufort, đã nguồn gốc cho tên gọi của môn thể thao này, nhưng vẫn chưa có bằng chứng nào chỉ ra được khi nào và tại sao cái tên đó được chấp nhận và sử dụng rộng rãi Vào đầu năm 1860, Isaac Spratt, một nhà buôn bán đồ
chơi ở Luân Đôn, xuất bản trong một cuốn sách nhỏ, Badminton Battledore – a new
game (cầu lông - trò chơi mới), nhưng không may là không còn bản lưu nào sót
lại Một bài viết năm 1863 trong tạp chí The Cornhill Magazine miêu tả cầu lông như
là "battledore and shuttlecock played with sides, across a string suspended some five feet from the ground" (trò chơi cầu lông chơi trên sân chia đội, một sợi dây vắt ngang sân với độ cao 5 feet) Cách chơi này có nhiều sự nghi ngờ vì nguồn gốc du nhập từ
Ấn Độ, dù trò chơi đã rất phổ biến ở đó vào thập niên 1870 và bộ luật đầu tiên được xây dựng ở Poonah năm 1873 Một nguồn tin khác ghi lại rằng vào năm 1877
Trang 24tại Karachi Ấn Độ (lúc này vẫn là thuộc địa của Anh), có một số nỗ lực trong việc lập
ra bộ luật hoàn chỉnh
Đến đầu năm 1875, những cựu binh trờ về từ Ấn Độ lập ra một câu lạc bộ
ở Folkestone Đến năm 1887, môn thể thao này được chơi ở Anh theo các luật thi đấu phổ biến ở British India Câu lạc bộ cầu lông xứ Bath đã tiêu chuẩn hóa bộ luật và làm cho trò chơi phù hợp với tư tưởng của người Anh J.H.E Hart đã xem xét lại các thay đổi cơ bản vào năm 1887 và vào năm 1890 (lần này là cùng với Bagnel Wild) Năm
1893, Hiệp hội cầu lông Anh xuất bản bộ luật đầu tiên dựa theo những chỉnh sửa đó, tương tự với bộ luật hiện đại, và chính thức tổ chức một giải đấu trong nhà ở "Dunbar"
số 6 Waverley Grove, Portsmouth, Anh vào ngày 13 tháng 9 năm đó
Hiệp hội cầu lông quốc tế, ban đầu lấy tên là International Badminton Federation (IBF) hiện nay đổi thành Badminton World Federation (BWF), được thành lập năm
1934 vớiCanada, Đan Mạch, Anh, Pháp, Hà Lan, Ireland, New Zealand, Scotland, và
xứ Wales là các thành viên sáng lập India tham gia với tư cách là một chi nhánh vào năm 1936 Hiện nay BWF chi phối tất cả các hoạt động cầu lông trên thế giới và tổ chức các giải đấu quốc tế
Một trong những điều quyến rũ của cầu lông là trong hạng mục đôi nam nữ, hai phái có thể thi đấu với khả năng tương đối ngang ngửa nhau Giải đôi nam nữ lần đầu tiên được đưa vào Olympic Sydney 2000
Và hơn một thế kỷ sau khi giúp giới thiệu cầu lông ra thế giới, nước Anh mới giành được huy chương đồng giải đôi nam nữ với Simon Archer và Jo Goode
Dù có khởi nguồn từ Anh, các nam vận động viên cầu lông đẳng cấp quốc tế ở châu Âu chủ yếu đến từ Đan Mạch Mặt khác, các quốc gia châu Á lại chiếm ưu thế vượt trội Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc, và Malaysia cùng với Đan Mạch là các quốc gia đi đầu ở môn thể thao này trong vài thập niên vừa qua, với Trung Quốc hiện đang là nước dẫn đầu trong vài năm gần đây
Trang 25Đối với các môn thể thao nói chung và môn cầu lông nói riêng thì phần kỹ thuật động tác là một phần rất quan trọng khi bắt đầu tập luyện hay học tập môn cầu lông
Kỹ thuật cầu lông là một yếu tố quan trọng từ lúc tập luyện và học tập trong từng bước
cơ bản đến nâng cao, nói đến kỹ thuật cầu lông thì có rất nhiều kỹ thuật: kỹ thuật giao cầu thấp tay, kỹ thuật giao cầu cao tay, kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay, kỹ thuật đánh cầu cao sâu trái tay, kỹ thuật đập cầu, kỹ thuật bỏ nhỏ…Do đó người tập sẽ được học và tập luyện để phát triển thành kỹ năng kỹ xảo đối với môn cầu lông
Kỹ thuật cơ bản trong cầu lông rất đa dạng và phong phú Nó bao gồm các bước
di chuyển của chân và động tác đánh cầu của tay Sự phối hợp hài hòa các kỹ thuật của chân và tay sẽ góp phần tích cực tạo nên hiệu quả của mỗi lần đánh cầu Để tập luyện
và thi đấu cầu lông tốt, người tập phải hoàn thiện tất cả các bài tập kỹ thuật đề làm tiền đề cho việc sử dụng các chiến thuật thi đấu một cách hợp lí và hiệu quả
Hiện nay thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau ở trong và ngoài nước, chúng tôi đã thu thập được các khái niệm về bài tập bổ trợ như sau: Các nhà khoa học trong
và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), Nguyễn Văn Trạch, Lê Văn Lẫm (Việt Nam)…Cho rằng: “ bài tập bổ trợ là một trong những phương tiện dùng để giảng dạy, huấn luyện TDTT Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho VĐV, bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập mang tính tăng cường các tố chất thể lực Còn bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt cho môn thể thao” Cũng
có cùng quan điểm với học giả nước ngoài, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng: “ bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phối hợp các yếu tố các động tác thi đấu và các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn dắt động tác có chủ đích và có hiệu quả đến sự nắm vững kỹ năng kỹ xảo và sự phát triển các tố chất thể lực của VĐV ngay ở chính những môn thể thao đó”
Các khái niệm của tác giả trên tuy có khác nhau về cách trình bày cũng như ngôn ngữ sử dụng nhưng đều có sự nhất trí cao về nội hàm Như vậy bài tập bổ trợ chuyên
môn có thể được hiểu là bài tập mang tính chuẩn bị ,tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và
Trang 26tính thể lực chuyên biệt nhằm giúp VĐV nắm vững và hoàn thiện, nâng cao kỹ thuật cho từng môn cụ thể.
Sân thi đấu hình chữ nhật và được ngăn đôi bằng tấm lưới Các sân đấu thường có vạch kẻ cho cả 2 nội dung thi đấu đơn và đôi, dù cho bộ luật tiêu chuẩn cho phép chỉ kẻ vạch cho một nội dung duy nhất Sân cho nội dung đánh đôi rộng hơn sân cho nội dung đánh đơn, nhưng cả hai đều có cùng chiều dài Khác biệt duy nhất, thường gây nhầm lẫn cho người mới chơi, chính là phạm vi phát cầu của nội dung đánh đôi có chiều dài ngắn hơn
Chiều rộng tối đa của sân là 6,1 m (20 ft), và trong nội dung đánh đơn thì giảm xuống còn 5,18 m (17 ft) Tổng chiều dài sân là 13,4 m (44 ft) Phần sân phát cầu được giới hạn trong vạch chia giữa sân, biên phát cầu trên nằm cách lưới 1,98 m (6 ft
6 inch), và vạch biên tính điểm cùng biên phát cầu sau Trong nội dung đánh đôi, phần biên phát cầu sau là vạch dài cách biên phát cầu sau của nội dung đánh đơn 0,76 m (2 ft 6 inch)
Mép trên lưới có độ cao là 1,55 m (5 ft 1 inch) ở biên và 1.524 m (5 ft) ở giữa Cột chăng lưới nằm ở ngoài vạch biên tính điểm đôi, kể cả khi sân dùng cho nội dung đánh đơn
Chiều cao tối thiểu cho trần của sân thi đấu không được đề cập trong luật thi đấu
Dù vậy, sân thi đấu bị xem là không phù hợp khi cầu có thể đụng trần lúc phát cầu cao
Trang 27Hình 1: Sân thi đấu cầu lông
1.6 Quá trình phát triển môn cầu lông trên thế giới.
Do sự phát triển nhanh chóng của môn cầu lông nên đến năm 1874 ở nước Anh, người ta đã biên soạn ra những luật thi đấu đầu tiên của môn cầu lông, đến năm 1877, những luật thi đấu đầu tiên mới được hoàn thiện và ra mắt người chơi, năm 1893 Hội cầu lông nước Anh được thành lập Đây là tổ chức xã hội đầu tiên của môn thể thao này trên thế giới được thành lập để quản lý và tổ chức phong trào Năm 1899, hội này
đã tiến hành tổ chức Giải cầu lông toàn nước Anh lần thứ nhất và sau đó cứ mỗi năm giải được tổ chức một lần và duy trì cho tới nay
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, môn cầu lông đã được phổ biến rộng rãi ra ngoài nước Anh Bắt đầu từ những nước từ những trong khối liên hiệp Anh rồi sang Pháp và một số nước châu Âu khác Đầu thế kỷ XX, cầu lông được lan truyền đến các nước châu Á và châu Mỹ, châu Đại Dương và cuối cùng là châu Phi Trước tình hình
Trang 28đó ngày 5/7/1934 Liên đoàn cầu lông thế giới được thành lập viết tắt tiếng Anh là
(IBF) International Badmin – ton Federation, trụ sở tại Luân Đôn Năm 1939, IBF đã
thông qua luật thi đấu cầu lông quốc tế mà tất cả các nước hôị viên đều phải tuân theo
Từ những năm 20 đến những năm 40 của thế kỷ XX môn cầu lông được phát triển mạnh ở các nước châu Âu và châu Mĩ như Anh, Đan Mạch, Mỹ, Canađa,vv…Song vào những năm cuối của thập kỷ 40 trở lại đây ưu thế lại nghiêng về các nước châu Á Trong các giải thi đấu lớn dần dần VĐV các nước châu Á đã giành được thứ hạng cao Bắt nguồn từ Malaixia đến Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan và gần đây là Hàn Quốc.Năm 1988 tại Olympic Seoul (Hàn quốc), cầu lông được đưa vào chương trình biểu diễn của đại hội Đến năm 1992 tại Bacxêlona, cầu lông được đưa vào môn thi đấu chính thức của Đại hội thể thao Olympic, Đại hội lớn nhất hành tinh của chúng ta
* Một số giải thi đấu cầu lông của thế giới:
Cho đến nay Liên đoàn cầu lông thế giới vẫn thường xuyên tổ chức theo định kỳmột số giải thi đấu quốc tế lớn như sau
- Cup Thomas.
Cúp Thomas tức là Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam của
thế giới Cup Thomas do Chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn Cầu
lông – Công tước Thomas hiến tặng năm 1939 Cúp cao 71cm,
làm bằng bạc, giá trị lúc đương thời khoảng 3000 bảng Anh Do
cuộc trở ngại của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, đến mãi
năm 1948 mới tiến hành cuộc thi đấu lần thứ nhất
Hình 2: Cúp Thomas
Cúp này trước đây được qui định 3 năm tổ chức 1 lần, hiện nay đổi lại 2 năm tổ chức
1 lần và tổ chức vào giữa 2 năm Nội dung gồm đánh đơn 3 trận và đánh đôi 2 trận
Trang 29- Cup Uber.
Cup Uber là do một nữ VĐV cầu lông ưu tú của nước Anh
tên là Uber tặng, cúp này bắt đầu tổ chức thi đấu từ năm 1956
Phương pháp thi đấu cơ bản giống thi đấu Cup Thomas
Hình 3: Cúp Uber
- Giải cầu lông vô địch thế giới.
Là một giải đánh đơn của môn cầu lông Thế giới Tổng cộng có 5 giải: Đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ hỗn hợp Giải được bắt đầu từ năm 1977 và cứ 3 năm tổ chức 1 lần
Từ năm 1983 trở đi được đổi thành 2 năm tổ chức 1 lần và được tiến hành vào các năm lẻ
Đây là một giải mới: VĐV được mời là những người có thành tích xuất sắc trong năm, đồng thời do Liên đoàn cầu lông thế giới mời đích danh
- Cup Xudiman.
Cúp Xudiman là cuộc thi đấu cầu lông đồng đội hỗn hợp
của thế giới được bắt đầu từ năm 1980 Cứ hai năm tiến hành 1
lần vào các năm lẻ Thi đấu gồm 5 nội dung: Đơn nam, đơn nữ,
đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ hỗn hợp
Hình 4: Cúp Xudiman
Trang 301.7 Quá trình phát triển môn cầu lông Việt Nam.
Theo nhận định của các nhà chuyên môn, cầu lông được du nhập vào Việt Nam theo hai con đường Thực dân hoá và Việt kiều về nước, sự xuất hiện của cầu lông ởViệt Nam được xác định là muộn hơn các môn thể thao khác Mãi tới năm 1960 mới xuất hiện vài câu lạc bộ ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn Đến năm 1961 Hà Nội đã tổ chức thi đấu giao hữu giữa các thành viên lần đầu tiên tại vườn Bách Thảo
Hà Nội, song số người tham gia còn ít, trình độ chuyên môn còn thấp Những năm sau
đó do đất nước bị chiến tranh phong trào không được nhân rộng mà còn bị tạm thời bịlắng xuống
Đến năm 1975 sau khi đất nước thống nhất, phong trào tập luyện cầu lông mới thật sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Từ năm 1977 đến năm 1980 phong trào chủ yếu phát triển ở các thành phố, thị xã như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, An Giang, Bắc Ninh, Lai Châu
Để lãnh đạo phong trào phát triển đúng hướng, UB TDTT nay đã thành lập Bộmôn cầu lông, vào năm 1977 Trường đại học TDTT cũng chính thức được thành lập
bộ môn này (1977) và đưa môn học cầu lông vào chương trình đào tạo chính qui tại trường để cung cấp cán bộ GV, HLV, trọng tài cho toàn quốc
Năm 1980 Giải vô địch cầu lông toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội đánh dấu một bước ngoặt của cầu lông Việt Nam theo đà phát triển theo hướng phong trào sâu rộng và nâng cao thành tích thể thao Từ đó cứ một năm một lần được tổ chức luân phiên tại các địa phương trên toàn quốc Ngoài giải vô địch toàn quốc UB TDTTcòn tổ chức nhiều giải đấu cho nhiều đối tượng trên quy mô toàn quốc: Giải vô địch trẻ và thiếu niên toàn quốc, giải người cao tuổi, giải Học sinh các trường phổthông, giải Sinh viên toàn quốc, được đưa vào chương trình thi đấu chính thức trong Đại hội TDTT toàn quốc, Hội khoẻ Phù Đổng
Trang 31Ngày 14 tháng 8 năm 1990 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam được thành lập để phối hợp với bộ môn cầu lông của UB TDTT lãnh đạo môn thể thao này theo hướng chiến lược phát triển phong trào và thành tích thể thao đỉnh cao, phấn đấu trong những năm tới vị trí xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.
* Tên viết tắc của liên đoàn Cầu lông Việt Nam (VBF)
Năm 1993 Liên đoàn cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
Liên đoàn cầu lông châu Á (ABC)
Năm 1994 Liên đoàn cầu lông Việt Nam trở thành viên chính thức của Liên đoàn
Cầu lông thế giới (IBF) Các sự kiện nói trên là điều kiện động lực thúc đẩy môn cầu
lông Việt Nam phát triển theo xu hướng hội nhập khu vực và thế giới
Trong những năm gần đây được sự lãnh đạo của UB TDTT Liên đoàn Cầu lông Việt Nam đã cử các cây vợt xuất sắc nhất đại diện cho Việt Nam tham dự Sea Games
17 ( Malaixia), Sea Games18 (Thái Lan), Sea Games 19 (Inđônêsia)… Tuy tại các kỳSea Games chúng ta chưa giành được một huy chương nào, song các VĐV trẻ nước ta trong một vài năm gần đây có sự tiến bộ rõ rệt
Ngoài các giải đấu trên gần đây Việt Nam thường tổ chức các giải đấu trong nước và khu vực Giải cầu lông giao hữu Việt Nam - Nhật Bản Giải cầu lông Challenge Hà Nội - Ciputra 2011 Giải cầu lông Singapore mở rộng Giải cầu lông
Logo Liên Đoàn
cầu lông
Trang 32
đồng đội toàn quốc 2011 - Cúp ProAce lần thứ 10 Giải đồng đội cầu lông quốc tế khu vực châu Á
Trước tình hình và nhiệm vụ mới của ngành TDTT, các nhà chuyên môn đã vạch ra kết hoạch chiến lược phát triển lâu dài môn Cầu lông và trước hết là chuẩn bịcho kế hoạch năm 2003, là tổ chức Sea Games 22 tại Việt Nam Để có thành tích cao trong khu vực và thế giới, cầu lông Việt Nam cần có sự đổi mới mạnh mẽ về kế hoạch quy trình đào tạo, đổi mới việc bồi dưỡng đội ngũ HLV theo hướng chuyên môn hoá,
từng bước chuyển dần việc đào tạo VĐV theo hướng chuyên nghiệp hoá
Trang 33CHƯƠNG 2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP
VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng môn cầu lông của trường THPT Nguyễn Trãi, đề tài đề xuất một số bài tập nhằm sữa chữa sai lầm trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay nhằm nâng cao chất lượng học tập và hoạt động phong trào môn cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn cầu lông và những
sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa
những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, tôi sẽ chọn lựa sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu khoa học
Đây là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu, nhằm tiếp thu các nguồn thông tin khoa học có trong các tài liệu đã được công bố Bằng phương pháp này, chúng tôi đã thu thập, phân tích, được nhiều tài liệu, các văn kiện nghị quyết của Đảng và nhà nước có liên quan đến vấn đề giáo dục thể
Trang 34chất, phát triển phong trào TDTT, tài liệu có liên quan đến môn cầu lông trong các trường học Xác định được hiện trạng chương trình GDTC ở cấp phổ thông trung học, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển phong trào TDTT trong nhà trường… để từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu thích hợp Qua đánh giá ưu điểm, tồn tại những vấn đềchưa phù hợp của chương trình giáo dục thể chất hiện hành Từ đó, định ra được hiệu quả của GDTC đối với việc nâng cao sức khoẻ, hoàn thiện thể chất và phát huy tài năng thể thao trong học sinh.
2.3.2 Phương pháp quan sát Sư phạm
Quan sát sư phạm là phương pháp nghiên cứu mà trong đó các nhà nghiên cứu tiếp cận với đối tượng nghiên cứu Trong đề tài này chúng tôi sử dụng chủ yếu để quan sát hình thức, nội dung, phương pháp tổ chức các hoạt động giảng dạy, tập luyện
Quan sát các buổi học nhằm đánh giá lượng vận động trong buổi học thể dục trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm
Phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp những vấn đề có liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài, phỏng vấn các thầy, cô dạy bộ môn thể dục trường THPT Nguyễn Trãi, các thầy, cô thuộc trung tâm Giáo dục thể chất Đại học Đà Nẵng, phóng vấn các em học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
Phỏng vấn gián tiếp: Mục đích nhằm thu thập thông tin cần thiết cho nghiên cứu, nội dung phỏng vấn gồm các câu hỏi liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu.Phỏng vấn trực tiếp: Là phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi, trao đổi trực tiếp giữa người nghiên cứu với đối tượng được phỏng vấn, nhằm tìm hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn vấn đề cần nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm nghiệm, đánh giá tính hiệu quả của bài tập ứng dụng, tiến hành kiểm tra
Trang 35- Nhóm đối chứng (A): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh tập theo các bài tập thường được sử dụng trong giảng dạy
- Nhóm thực nghiệm (B): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh và cho tập luyện theo bài tập đã lựa chọn
2.3.5 Phương pháp toán học thống kê
- Sử dụng phương pháp toán học thống để xử lý số liệu thu được;
xi
Trong đó: n: tổng số đối tượng quan sát
xi: giá trị từng đối tượng quan sát
Cách đánh giá: - CV <10%: các số liệu tập trung quanh số trung bình
- CV >10%: các số liệu phân bổ phân tán quanh số trung bình
Trang 36* Độ tăng tiến (W %): W % =
).(
5,0
).(
100
2 1
1 2
X X
X X
B
A X X
B: giá trị trung bình và phương sai của nhóm B
n : Tổng số cá thể được quan sát tương ứng
Tstudent sẽ được so sánh với Tbang(1,96)
+ Tstudent< Tbang(1,96) thì hai số so sánh khác biệt không có giá trị thống kê
với xác xuất P 5% ;
+ T student> Tbang (1,96) thì hai số so sánh khác biệt là có giá trị thống kê với
xác xuất P 5%
2.4 Tổ chức nghiên cứu
2.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các em học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Trãi,Tp Đà Nẵng
- Số lượng nghiên cứu gồm 60 học sinh lớp 11/6 và 11/10:
Trang 37+ Nhóm đối chứng: 30 học sinh
+ Nhóm thực nghiệm: 30 học sinh
2.4.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng.
- Trung tâm Giáo dục thể chất - Đại học Đà Nẵng
- Trường THPT Nguyễn Trãi, TP Đà Nẵng
2.4.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014; được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014:
+ Tham khảo tài liệu (Văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, tạp chí khoa học Thể dục Thể thao, sách chuyên môn, đề tài của các tác giảtrước,…)
+ Tham khảo ý kiến của các thầy cô để lựa chọn đề tài cho phù hợp
+ Lập đề cương nghiên cứu
+ Thông qua đề cương nghiên cứu
+ Chuẩn bị biểu mẫu, phiếu hỏi và các phương tiện phục vụ việc nghiên cứu
- Giai đoạn 2: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014:
+ Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 3 năm 2014: giải quyết nhiệm vụ 1
+ Từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014: giải quyết nhiệm vụ 2
- Giai đoạn 3: Từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014:
+ Tổng hợp phân tích các số liệu nghiên cứu và viết đề tài hoàn chỉnh
+ Hoàn chỉnh và báo cáo đề tài nghiên cứu
2.4.4 Dụng cụ nghiên cứu
- Máy ghi âm; ghi hình; chụp ảnh;
- Sân bãi, vợt cầu lông và trái cầu lông;
- Các dụng cụ hỗ trợ khác
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn cầu lông và những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
3.1.1 Thực trạng về công tác giảng dạy bộ môn cầu lông
Để nắm được chương trình môn học GDTC của trường THPT Nguyễn Trãi – TP
Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành điều tra và thu được kết quả:
Bảng 3.1: Nội dung chương trình học môn GDTC của trường THPT Nguyễn
Trãi, TP Đà Nẵng
TT Nội dung
Lớp
Tổng Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12
Trang 39Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn mức độ hứng thú tập luyện các môn thể thao
tự chọn của học sinh khối 11, trường THPT Nguyễn Trái Đà Nẵng
Kết quả phỏng vấn ở bảng 3.2 nêu trên cho ta thấy rằng: Trong các môn thể thao
tự chọn thì môn Cầu lông được các học sinh lựa chọn chiếm tỷ lệ trung bình
Qua những số liệu thu được, cho ta thấy việc giảng dạy môn Cầu lông tại trường THPT Nguyễn Trãi đã được quan tâm, khuyến khích và coi trọng; việc giảng dạy môn cầu lông không những trang bị những kiến thức cơ bản, kỹ năng cho học sinh mà còn xây dựng được phong trào thi đua trong các kỳ đại hội TDTT ở trường và địa phương
Bộ môn càu lông tuy không nằm trong chương trình học GDTC bắt buộc, song hiện nay nó đã trở nên phổ biến rộng rãi và là nhu cầu không thể thiếu trong hoạt độngTDTT của mọi người; nó giúp cho học sinh tăng cường sức khỏe, phát triển toàn diện
Trang 40Trong mỗi năm học chỉ có 20 tiết tự chọn chia đều cho 2 kỳ, mỗi kỳ 10 tiết Từ
đó, ta thấy số lượng tiết học dành cho các môn này là quá ít không đủ thời lượng đểđáp ứng nhu cầu tập luyện cho học sinh, với tiết học trên lớp như vậy thì giáo viên chỉmang tính chất giới thiệu động tác và không có thời gian để hình thành kỹ năng kỹ xảo cho học sinh được Mỗi tuần 02 tiết học thể dục như vậy thì không thể phát triển các môn thể thao nói chung và môn cầu lông nói riêng, mặt khác vừa không đáp ứng được nhu cầu ham thích tập luyện của các em vừa không thể có điều kiện tốt để các em phát triển toàn diện về thể chất Do vậy, cần phải tăng cường thêm số tiết học chính khóa cho môn thể thao tự chọn Để tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt được kiến thức chuyên môn và hình thành được kỹ năng kỹ xảo về môn thể thao Trên cơ sở đó mới phát huy được năng khiếu của học sinh và việc đưa môn thể thao tự chọn vào chương trình GDTC cho học sinh mới thực sự có ý nghĩa trong việc phát triển tài năng
3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và tập luyện môn cầu lông trong trường THPT Nguyễn Trãi TP Đà Nẵng
Bảng 3.3 : Thực trạng cơ sở vật chất trong trường THPT Nguyễn Trãi ,
Chất lượng Hiệu quả sử dụng
Tốt Trung
bình Kém Tốt
Không tốt