1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng

91 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 541,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn GDTC nói chung, môn bóng rổ nói riêng và thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy k

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMKHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ CHUYÊN MÔN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT HAI BƯỚC LÊN RỔ TRONG MÔN BÓNG RỔ CHO HỌC SINH NAM TRƯỜNG THPT PHAN CHÂU TRINH - TP ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Lớp

: Th.S ĐỖ QUỐC HÙNG : ĐINH TIẾN LỰC

: 10 STQ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có được điều kiện thực hiện Khóa luận Tốt nghiệp cũng như hoàn thành chương trình học 4 năm tại trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng em đã nhận được những sự chỉ dạy tận tình với những kinh nghiệm quý báu từ quý thầy cô bộ môn Giáo Dục Thể Chất thuộc Trung tâm GDTC Đai học Đà Nẵng và Khoa Giáo Dục Chính Trị thuộc Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Ban Giám Hiệu cùng quý Thầy (Cô) trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và Trung tâm GDTC Đai học Đà Nẵng đã tạo cho em một môi trường học tập tích cực và vui vẻ

- Thầy ThS Đỗ Quốc Hùng giảng viên Trung tâm GDTC Đại học Đà Nẵng

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

- Gia đình và bạn bè đã luôn động viên và là chỗ dựa vững chắc trong suốt khoảng thời qua cũng như vượt qua những khó khăn trong khoảng thời gian thực hiện khóa luận

Xin chân thành cảm ơn!

Đinh Tiến Lực

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Các quan điểm của Đảng và nhà nước về TDTT và GDTC trong trường học 4

1.2 Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông 8

1.2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông 8

1.2.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông 9

1.3 Kỹ thuật thể thao 11

1.4 Bài tập bổ trợ chuyên môn 13

1.5 Xu hướng phát triển môn bóng rổ ở Việt Nam 15

1.6 Đặc điểm của hoạt động và thi đấu bóng rổ 16

1.7 Phương pháp giảng dạy môn bóng rổ 17

1.7.1 Các nguyên tắc lý luận trong giảng dạy bóng rổ 18

1.7.2 Phương pháp dạy học động tác 19

CHƯƠNG II: MỤC ĐÍCH - NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25

2.1 Mục đích nghiên cứu 25

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 25

2.2.1 Nhiệm vụ 1 25

2.2.2 Nhiệm vụ 2 25

Trang 4

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu 25

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn - toạ đàm 26

2.3.3 Phương pháp quan sát sư phạm 27

2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 27

2.3.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 28

2.3.6 Phương pháp toán học thống kê 28

2.4 Tổ chức nghiên cứu 30

2.4.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30

2.4.3 Phương tiện nghiên cứu 31

2.4.4 Kinh phí nghiên cứu 31

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Giải quyết nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn GDTC nói chung, môn bóng rổ nói riêng và thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng 32

3.1.1 Thực trạng công tác giảng dạy bộ môn GDTC nói chung và môn bóng rổ nói riêng ở trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng 32

3.1.1.1 Chương trình giảng dạy bộ môn GDTC 32

3.1.1.2 Chương trình giảng dạy môn bóng rổ 35

3.1.1.3 Cơ sở vật chất 36

Trang 5

3.1.1.4 Đội ngũ giáo viên 37

3.1.2 Thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng 39

3.2 Giải quyết nhiệm vụ 2: Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả của kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 Trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng 40

3.2.1 Những cơ sở để nghiên cứu lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn 40

3.2.2 Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả của kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 Trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng 41

3.2.3 Tổ chức thực nghiệm và đánh giá hiệu quả các bài tập lựa chọn 57

3.2.3.1 Tổ chức thực nghiệm 57

3.2.3.1.1 Xây dựng kế hoạch thực nghiệm 57

3.2.3.1.2 Lựa chọn các Test đánh giá hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh – TP Đà Nẵng 63

3.2.3.2 Xây dựng tiến trình thực nghiệm 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 78

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

lớp 10 trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng năm học

2013 – 2014

32

10 trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng năm học 2013

– 2014

36

Châu Trinh – Đà Nẵng

38

cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ

thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ

64

Bảng 14 Kết quả nhịp tăng trưởng của nhóm đối chứng sau 2 tháng

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam đang hội nhập và

dục đào tạo càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, đòi hỏi phải tạo ra nguồn nhân lực Việt Nam có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thểchủ động trong môi trường sống và làm việc

Thể dục thể thao là một trong những bộ phận cốt yếu của nền văn hóa xã hội, đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là phương tiện góp phần giáo dục con người phát triển một cách toàn diện.Trên thếgiới nhiều quốc gia đã sử dụng thể dục thể thao như là một công cụ nhằm nâng cao

uy tín quốc gia tạo các mối quan hệ mới, tăng thu nhập quốc dân, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc trên toàn thế giới

Ở nước ta cách mạng tháng 8/1945 thành công, đất nước chuyển sang một thời

kỳ mới thì thể dục thể thao là một trong những lĩnh vực được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, với lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch: “ Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt đi một phần, mỗi người dân khoẻ mạnh tức là góp phần làm cho

cả nước khoẻ mạnh ” Đứng trước sự quan tâm đó thì ngành thể dục thể thao đã, đang và không ngừng phát triển toàn diện trong đó có một số ngành thể thao mũi nhọn: võ, vật, bắn súng, đá cầu, bóng đá… bên cạnh đó thì bóng rổ là môn thể thao phong phú, hấp dẫn và có sức lôi cuốn mạnh mẽ nhất là đối với thanh thiếu niên ởlứa tuổi học sinh, sinh viên

Là môn thể thao ra đời ở Mỹ (1891) do Dr James Naismith một giáo viên môn giáo dục thể chất ở học viện Springfield sáng lập, sau đó phát triển rộng rãi ra toàn thế giới Ở Việt Nam tuy bóng rổ mới gia nhập nhưng cũng có những bước phát triển nhất định Cũng như các môn thể thao khác, bóng rổ chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và phát triển con người toàn diện, tập luyện thi đấu bóng

Trang 10

rổ sẽ mau chóng nâng cao các tố chất sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, phát triển thông minh, tinh thần sáng tạo và đoàn kết.

Hiện nay bóng rổ ở nước ta đã có những bước tiến mới về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực cũng như tâm lý thi đấu Tuy nhiên có một đặc điểm chung là các VĐV Việt Nam có tầm vóc thấp bé cũng như trình độ kỹ thuật còn thấp nên hiệu quả thi đấu ở các giải chưa cao Vì vậy mà việc tìm ra những bài tập, những đấu pháp hợp lý cho quá trình tập luyện và thi đấu bóng rổ phù hợp với tầm vóc, trình

độ của các VĐV Việt Nam là điều rất quan trọng Trên thực tế tập luyện và thi đấu bóng rổ đã cho thấy rằng kỹ thuật tấn công ngày càng phát triển và hoàn thiện bao nhiêu thì kỹ thuật, chiến thuật trong phòng thủ cũng phát triển không kém, từ đó việc tấn công ghi điểm của các đấu thủ gặp rất nhiều khó khăn Để giành được thắng lợi trong các trận đấu đòi hỏi các VĐV phải có thể lực dồi dào thực hiện kỹthuật hoàn hảo, áp dụng triệt để các kỹ, chiến thuật cho hợp lý trong từng trận đấu

Trong tập luyện và thi đấu bóng rổ thì ném rổ là nội dung cơ bản của đội tấn công, còn ném bóng vào rổ là mục đích chủ yếu của nó Để đạt được thành tích cao trong thi đấu, mỗi cầu thủ bóng rổ không những phải nắm vững kỹ thuật chuyền bóng, bắt bóng, dẫn bóng mà còn biết tấn công ném rổ chính xác, thực hiện ném rổ từ các vị trí ban đầu khác nhau, từ bất kỳ khoảng cách nào trong lúc đối phương kèm chặt Một trong những kỹ thuật quan trọng nhất khi ném rổ là kỹthuật hai bước lên rổ Đây là kỹ thuật rất phổ biến và rất quan trọng trong thi đấu

và thường ném ở cự gần, trong các đợt đột phá với sự theo kèm của đối phương Trong bóng rổ hiện đại nó được sử dụng nhiều nhất khi tấn công dưới bảng rổ, trong quá trình thi đấu thì những đợt tấn công chính xác với kỹ thuật này sẽ chiếm

tỷ lệ 25% tổng số điểm mà đội đó ghi được

Để nâng cao hiệu quả trong thi đấu thì cần phải nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ

Trang 11

Là sinh viên ngành GDTC & GDQP với chuyên sâu là bóng rổ chúng tôinhận thấy việc ứng dụng các bài tập bổ trợ cho kỹ thuật hai bước lên rổ là rất quan trọng và cần thiết Thông qua quá trình học tập và quan sát học sinh của trường, chúng tôi nhận thấy chưa có nhiều bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm mang lại hiệu quả và sự ổn định cho kỹ thuật Vì vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

“ Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng ”

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các quan điểm của Đảng và nhà nước về TDTT và GDTC trong trường học.

Cấu trúc của nền TDTT Việt Nam được chia thành 2 mảng rõ rệt: TDTT cho mọi người và thể thao thành tích cao Trong đó, TDTT cho mọi người bao gồm: TDTT xã hội không phân biệt lứa tuổi, giới tính, chức vụ nghề nghiệp, địa bàn sinh sống, làm việc và giáo dục thể chất bắt buộc (dành cho học sinh, sinh viên và

sỹ quan, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang) Thể dục, thể thao trong nhà trường vừa là một môn học vừa là một mặt của giáo dục toàn diện, là một bộ phận của TDTT cho mọi người

Nó bao gồm giáo dục thể chất bắt buộc (2 tiết một tuần với học sinh phổ thông; từ 90 -150 tiết/năm học đối với học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) và các hoạt động thể thao ngoại khoá (tự nguyện) ngoài giờ học (trong nhà trường hoặc ngoài nhà trường) Giáo dục thể chất bắt buộc được gọi là giờ thể dục chính khoá hoặc giờ thể dục nội khoá

Nhiệm vụ và mục tiêu của TDTT trường học là nâng cao sức khoẻ, đảm bảo

sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh; phát triển các tố chất thể lực và kỹ năng vận động cơ bản của con người; hình thành thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và rèn luyện đạo đức ý chí cho người học Phát triển TDTT trường học

có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Những vấn đề nói trên được quy định tại chương II - Luật Thể dục, Thể thao (Quốc hội khoá 11 thông qua năm 2006) và quy định tại điều 7 Nghị định 122/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thể dục, Thể thao Những quy định này đã thể chế hoá quan điểm

Trang 13

của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và TDTT trường học nói riêng.

Tháng 10/1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh đã nêu rõ: “ Khuyến khích, giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống ngày càng thêm mạnh Trẻ em được Chính phủ đặc biệt săn sóc về Thể dục, Trí dục và Đức dục ”

Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 38 thiết lập tại Bộ quốc gia Giáo dục một Nhà Thanh niên và Thể dục, trong đó có một Phòng thanhniên và một Phòng Thể dục, có nhiệm vụ “ Khuyên và dạy đồng bào tập thể dục

” Bác Hồ còn viết bài “ Sức khoẻ và thể dục ” đăng trên báo Cứu quốc (tiền thân của báo Nhân dân) và báo Việt Nam Khoẻ (tiền thân của báo Thể thao Việt Nam) trong đó, Người khẳng định giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần phải có sức khỏe mới làm thành công Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khoẻ mạnh, tức là cả nước mạnh khỏe ”

Tháng 1 năm 1955, trong Lễ Khai giảng trường đại học Nhân dân Việt Nam, Bác Hồ đã căn dặn: “ Thanh niên phải chuyên tâm đi học và công tác nhưng cũng cần có vui chơi Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thanh niên Trong vui chơi cũng có giáo dục Cần có những thứ vui chơi văn hoá, thể thao có tinh thần tập thể và quần chúng ” (Hồ Chí Minh - Bàn về công tác giáo dục - NXB Sự Thật 1972)

Các sự kiện và những văn bản nói trên đã chứng minh rằng: Ngay từ trước Cách mạng tháng 8 và sau khi chúng ta vừa giành được chính quyền và đang phải chống lại 3 loại giặc (đói - dốt - ngoại xâm) thì Trung ương Đảng và Bác Hồ đã nêu quan điểm, tư tưởng chỉ đạo công tác TDTT (thể dục theo nghĩa rộng) đối với thế hệ trẻ (học sinh) Vì đó là đối tượng chính của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng Về mặt tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên và cao nhất về

Trang 14

TDTT được đặt trong Bộ quốc gia Giáo dục (trước đó là trong Bộ thanh niên) Điều này càng thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng về công tác Giáo dục thể chất và TDTT trường học.

Từ đó đến nay, trong mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc hoặc trong từng nhiệm

kỳ, Trung ương Đảng đều ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tin về TDTT nói chung và TDTT trường học nói riêng

Trong Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định mục tiêu đến năm 2000 TDTT trường học phải đạt: “ Thực hiện Giáo dục thể chất trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên… ” Muốn vậy thì “ Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban cán sự Đảng Tổng cục TDTT phải phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác Giáo dục thể chất, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học… ”

Trong chỉ thị 17/CT - TƯ ngày 23/10/2002 về phát triển TDTT đến năm

2010, Ban bí thư TƯ Đảng xác định “ Đẩy mạnh hoạt động TDTT nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam Phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp; Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ VĐV thành tích cao… Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học, tiến tới đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC; Xem đây là một tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia Tăng đầu tư của Nhà nước cho việc phát triển TDTT ở trường học, ở nông thôn và miền núi… ”

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 xác định 1 trong 3 mũi đột phá chiến lược để phát triển kinh tế xã hội đất nước đến năm 2020 là: “ Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung

Trang 15

vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ việc phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ Cần tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ Làm tốt công tác giáo dục thể chất trong trường học Phát triển mạnh phong trào TDTT đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn thể thao thành tích cao mà nước ta có ưu thế; Kiên quyết chống tiêu cực trong thi đấu thể thao ”

Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành NQ số 08/NQ - TW về công tác TDTT, trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC và thể thao trong nhà trường đến năm 2020: “ Phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể Cần quan tâm đầu tư đúng mức TDTT trường học, với vị trí là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT; là một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên Xây dựng và thực hiện Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khoá; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên, góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khoẻ và

kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có; mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TDTT trường học ”

Trang 16

1.2 Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông.

1.2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông.

Ở lứa tuổi 16 - 18 các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọi người tôn trọng mình, có trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có hoài bão còn nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm sống

Lứa tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan tự ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi lãng mạn, mơ ước độc đáo và mong cho cuộc sống tươi đẹp hơn Các em có nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình cảm mới và mối tình đầu thường để lại dấu vết trong suốt cuộc đời

* Hứng thú: Đã phát triển rõ rệt và hoàn thiện mang tính chất bền vững

sâu sắc phong phú Hứng thú của các em rất năng động, sẵn sàng đi vào lĩnh vực mình ưa thích do thái độ tự giác tích cực trong cuộc sống hình thành từ động cơ đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi học xong THPT Tuy nhiên hứng thú của các em còn do nhiều động cơ khác: Giữ lời hứa với bạn, do hiếu thắng, đôi khi do tự ái Vì vậy các em cần được định hướng, xây dựng động cơ đúng đắn để các

em có hứng thú trong học tập nói chung và trong GDTC nói riêng

* Tình cảm: Tình cảm của các em đang đi đến hoàn thiện, biểu hiện ở

những nét yêu quý tôn trọng mọi người, cư xử đúng mực, biết kính trên nhường dưới Tình cảm biểu lộ rõ nét hơn, các em gắn bó yêu quý mái trường, thầy cô, đặc biệt hơn là với các giáo viên, huấn luyện viên của các em (yêu, ghét rõ ràng), việc HLV gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những thành công, điều đó thuận lợi trong giảng dạy, huấn luyện, nó thúc đẩy các em tích cực tự giác trong tập luyện và ham mê TDTT

* Trí nhớ: Lứa tuổi này các em hầu như không còn tồn tại ghi nhớ máy

móc vì các em đã tồn tại ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt chẽ

Trang 17

hơn Do đặc điểm trí nhớ của học sinh 16 - 18 tuổi khá tốt nên giáo viên có thể sửdụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu sắc các chi tiết

kỹ thuật động tác, vai trò, ý nghĩa cũng như phương pháp sử dụng các biện pháp, phương pháp trong quá trình GDTC để các em có thể độc lập trong thời gian dỗi

- Các phẩm chất ý chí được kiên định

- Sự phát triển về nhân cách

Phát triển và tồn tại độc lập như một thành viên trong xã hội và lấy tiêu chuẩn của những người đã trưởng thành làm mục tiêu phấn đấu của bản thân

Bắt đầu thể hiện sự phản đối công khai với sự quản lý của cha mẹ

1.2.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông.

* Hệ thần kinh: Hệ thần kinh tiếp tục được phát triển để đi đến hoàn

thiện Khả năng tư duy khả năng phân tích, tổng hợp và trìu tượng hoá được phát triển tạo thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên, đối với một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em nhanh chóng mệt mỏi Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách phong phú đặc biệt tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi để gây sự hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính, nhất là các bài tập sức bền

Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên, làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Đặc biệt ở các em nữtính nhịp điệu giảm sút nhanh chóng, khả năng chịu đựng lượng vận động yếu Vì vậy giáo viên cần sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể học sinh để có biện pháp giải quyết kịp thời

Trang 18

* Hệ vận động: Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển Nữ cao thêm

0,5 - 1cm, nam cao thêm 1 - 3 cm/mỗi năm Tập luyện TDTT một cách thường xuyên liên tục làm cho bộ xương khoẻ mạnh hơn Lứa tuổi 16 - 18, các xương nhỏnhư xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một

số động tác kỹ thuật khó khăn hơn, hoặc mang các vật nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo Cho nên việc tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như: đi, chạy, nhảy… cho các

em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ Riêng đối với các em nữ, xương xốp hơn các em nam, ống tuỷ rỗng hơn, chiều dài xương ngắn hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn, nên xương của nữ không khoẻ bằng nam Đặc biệt là xương chậu của nữnhỏ và yếu Vì thế trong quá trình GDTC không thể sử dụng có khối lượng vận động và cường độ vận động như nam mà phải có sự phù hợp với đặc điểm giới tính

* Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn

còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ (cơ bàn tay, ngón tay) phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lại càng yếu Đặc biệt vào tuổi

16 các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh, nên ảnh hưởng đến việc phát triển sức mạnh của cơ thể Các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ đều được phát triển Nhưng tuy nhiên với nữ cần có yêu cầu riêng biệt, tính chất động tác của nữ cần toàn diện mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo

* Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn của các em đang phát triển và đi đến

hoàn thiện Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nữ 75 - 86 lần/phút Hệ thống điều hoà vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động khá rõ rệt , nhưng sau vận động, mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Cho nên lứa tuổi này có thể tập những

Trang 19

bài tập chạy và dai sức và những bài tập có khối lượng vận động và cường độ vận động lớn cần thận trọng và thường xuyên theo dõi trạng thái sức khoẻ của các em.

* Hệ hô hấp: Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực của nữ

trưởng thành Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng: lúc 15 tuổi từ 2 - 2,5 lít, đến

16 - 18 tuổi khoảng 3 - 4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn 10 - 20 lần/phút

Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức có giãn của lồng ngực ít chủ yếu là co giãn cơ hoành Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thởbằng ngực Các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tác dụng tốt đến phát triển hệ hô hấp

1.3 Kỹ thuật thể thao.

Trong bất kỳ môn thể thao vận động nào muốn đạt được hiệu quả và thành tích tốt nhất thì người tập phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý và phù hợp với đặc điểm cá nhân của từng người

Kỹ thuật thể thao phải dựa trên sự huấn luyện thể lực tốt nhất của người tập Để nắm được kỹ thuật hiện đại người tập phải có sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ mềm dẻo và sự khéo léo được phát triển ở mức cao

Kỹ thuật bài tập là cách thức sắp xếp, tổ chức và thực hiện hệ thống các động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động, hoặc nói ngắn gọn, đó là cách thức đểgiải quyết nhiệm vụ vận động một cách hợp lý và hiệu quả

Kỹ thuật thể thao luôn được đổi mới và hoàn thiện Sự tìm tòi, khám phá khoa học về các quy luật vận động của cơ thể sự tiến bộ về trình độ thể lực của người tập, sự hoàn thiện về phương pháp giảng dạy, huấn luyện, sự đổi mới các thiết bị dụng cụ, sân bãi thể thao là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự ra đời các

kỹ thuật thể thao mới trong hầu hết các môn thể thao

Trang 20

Kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cấu trúc thành tích hầu hết các môn thể thao.

Đối với các môn thể thao sức bền, kỹ thuật đảm bảo cho việc thực hiện các bài tập thi đấu thu được một hiệu quả cao và tiết kiệm năng lượng

Đối với các môn thể thao mang tính chất sức mạnh tối đa và sức mạnh nhanh, kỹ thuật là cơ sở để người tập có thể phát huy sức mạnh một cách nhanh nhất và hiệu quả lớn nhất

Đối với các môn thể thao kỹ thuật phức tạp thì kỹ thuật là yếu tố quyết định trực tiếp tới thành tích thi đấu

Từ những ý nghĩa trên, huấn luyện kỹ thuật có thể được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của huấn luyện thể thao

Có nhiều phương pháp huấn luyện kỹ thuật khác nhau do mỗi môn thể thao

có một đặc thù riêng về cấu trúc kỹ thuật động tác Để đạt được thành tích tốt nhất trong bóng rổ phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý và hiệu quả nhất Kỹthuật phải phù hợp với đặc điểm cá nhân cũng như cấu tạo giải phẫu của từng người

Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật là phải biết vận dụng những động tác nhằm đơn giản hóa kỹ thuật, thực hiện bằng cách phân chia nhỏ và sử dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật Người tập phải hiểu rõ từng động tác, định hình được cách thực hiện động tác, phải tích cực suy luận để hiểu rõ vì sao kỹ thuật mình áp dụng là thực sự hợp lý Cần nâng cao tính tích cực của người tập

Trong khi trình độ thành tích thể thao đang ở mức cao, nếu không nghiên cứu sâu để ngày càng hoàn thiện kỹ thuật thì không thể đạt được thành tích cao, nhất là những môn có kỹ thuật phức tạp, việc hoàn thiện kỹ thuật phải được tiến

Trang 21

hành trong suốt quá trình huấn luyện Không được bỏ qua việc giảng dạy các thành phần riêng lẻ khắc phục các sai lầm trong kỹ thuật Vốn dự trữ kỹ năng vận động được tạo nên thông qua áp dụng các bài tập huấn luyện chung và huấn luyện chuyên môn khác nhau Điều quan trọng là phải tính đến mối quan hệ hữu cơ giữa các việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật.

Kỹ thuật hoàn thiện đó là tập hợp các cách thức thực hiện động tác thể thao

có hiệu quả nhằm mục đích đạt được thành tích tốt nhất trong quá trình giảng dạy Mức độ nắm vững kỹ thuật được thay đổi từ kỹ thuật sơ đẳng của người mới tập đến kỹ thuật hoàn thiện được hình thành trên cơ sở các quy luật sinh cơ và sinh hóa sẽ cho phép người tập thực hiện và hoàn thiện các động tác Từ đó các hoạt động tiết kiệm hơn và có hiệu quả hơn

Trong các môn thể thao phức tạp về kỹ thuật thì việc hình thành kỹ thuật là nhiệm vụ hàng đầu Và do đó, thời gian dành cho kỹ thuật ở các buổi tập sẽ nhiều hơn để nắm vững được các động tác và các yếu tố kỹ thuật

1.4 Bài tập bổ trợ chuyên môn.

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về bài tập bổ trợ chuyên môn của các tác giả khác nhau Bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập nhằm hổ trợ việc nhanh chóng tiếp thu và thực hiện có hiệu quả bài tập chuyên môn, trong đó bài tập chuyên môn

là những bài tập bổ trợ cho việc tiếp thu kỹ thuật động tác Theo quan điểm của PGS Nguyễn Toán thì “ Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng biến dạng cũng như các bài tập dẫn dắt tác động

có chủ đích và có hiệu quả đến sự phát triển các tố chất và các kỹ xảo vận động ởchính ngay môn thể thao đó ” Còn một số tác giả nước ngoài cho rằng : Bài tập bổtrợ là một trong những biện pháp trong giảng dạy, bao gồm các bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tố chất thể lực Quan điểm của các học giảTrung Quốc về bài tập bổ trợ chuyên môn là những bài tập mang tính chuyên biệt

trang 17, xuất bản năm 1993)

Trang 22

Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhưng luôn có sựthống nhất về ý nghĩa Như vậy bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹthuật và từng môn thể thao khác nhau.

* Vai trò tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn.

Theo các nhà khoa học, các chuyên gia, huấn luyện viên thể thao thì các bài tập bổ trợ chuyên môn là biện pháp quan trọng trong giảng dạy và huấn luyện

kỹ thuật

Như chúng ta đã biết một kỹ thuật thường cấu trúc các chuỗi động tác gắn kết có trình tự, có sự liên quan phối hợp động tác với nhau Thúc đẩy hoặc hạn chế nhau để cùng thực hiện yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó, một kỹ thuật thường gắn với nhiều khâu, nhiều cử động, nhiều giai đoạn nên cùng một lúc người học không thể hình thành các khái niệm cũng như tạo ra các đường mòn liên hệ trên vỏđại não các cử động đó Do vậy, người ta phân chia nhỏ kỹ thuật phức tạp thành các giai đoạn khác nhau

Ví dụ như trong kỹ di động ném rổ một tay trên cao người ta phân chia

kỹ thuật thành các hình thức như tiếp bóng hai bước lên rổ, dẫn bóng hai bước ném rổ Trên cơ sở đó để người học nắm bắt được từng phần sau đó liên kết thành

kỹ thuật hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật để giúp người học hình thành được

kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập khác nhau

- Mang tính chuẩn bị đưa người tập vào trạng thái tâm sinh lý thích hợp

với việc tiếp thu kỹ thuật

- Mang tính dẫn dắt, nhằm tạo cho người tập năm được các yếu lĩnh từ

dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến hoàn thiện kỹ thuật

- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với các

khoảng không gian, thời gian khác nhau nhằm tao ra sự lợi dụng các kỹ năng đã có hình thành các kỹ năng mới

Và có thể đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi các kỹ năng đang học Bên cạnh đó còn cần tập các bài tập bổ trợ thể lực chuyên môn cho người tập

Trang 23

Ví dụ: Muốn lên rổ tốt phải có sức bật và sức nhanh của chân cũng như khả năng qua người và các tư thế thân người, các góc độ của các khớp chuẩn xác mới có thểthực hiện kỹ thuật hoàn thiện Vì vậy song song với các bài tập bổ trợ chuyên môn cũng cần chú trọng đưa vào quá trình giảng dạy, huấn luyện các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn cần thiết Có thể nói các bài tập bổ trợchuyên môn vừa là biện pháp để nắm kỹ thuật vừa là khâu quan trọng để hoàn thiện và nâng cao các kỹ thuật nhất là kỹ thuật phức tạp và khó như kỹ thuật hai bước lên rổ, vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹnăng kỹ xảo vận động.

1.5 Xu hướng phát triển môn bóng rổ ở Việt Nam.

Bóng rổ được du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX Thời kỳ đầu, Bóng

rổ chỉ được phát triển ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng và Hải Phòng Sau khi đất nước được giải phóng, phong trào tập luyện Bóng rổ ngày càng phát triển mạnh mẽ và có sức thu hút đông đảo tầng lớp xã hội tập luyện nhất

là học sinh, sinh viên

Mặc dù, còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, nhưng hàng năm Uỷ ban TDTT phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đều tổ chức giải Bóng rổ học sinh, sinh viên toàn quốc, các giải vô địch quốc gia và các giải trẻ thanh thiếu niên trên phạm vi toàn quốc Bóng rổ là môn thể thao tập thể mang tính đối kháng, đòi hỏi

kỹ, chiến thuật nhuần nhuyễn Đây cũng là môn thể thao có sức hấp dẫn và lôi cuốn mạnh mẽ, nhất là đối với lứa tuổi học sinh, sinh viên

Hiện nay, trên cả nước môn Bóng rổ đã phát triển rất mạnh, các địa phương, trung tâm có phong trào Bóng rổ đứng đầu là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quân Đội, Yên Bái, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Sóc Trăng Minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của Bóng rổ Việt Nam, năm 1992 Liên đoàn Bóng rổ Việt Nam đã chính thức ra nhập Liên đoàn Bóng rổ thế giới đưa Bóng rổ Việt Nam bước sang một thời kỳ mới

Trang 24

Bóng rổ là môn thể thao phát triển rộng khắp trên thế giới và có mặt tại các

kỳ Thế vận hội Olympic, Châu lục và khu vực Bóng rổ là môn thể thao đòi hỏi người chơi phải có thể lực, chiều cao, sức bật tốt đồng thời phải có sự phối hợp thống nhất giữa các thành viên trong đội Trong thi đấu Bóng rổ, ngoài việc tăng khả năng tranh đua về mọi mặt, còn giúp người chơi hoàn thiện mình trong lối chơi và năng động trong cuộc sống

1.6 Đặc điểm của hoạt động và thi đấu bóng rổ.

Bóng rổ là môn thể thao thi đấu đối kháng trực tiếp giữa 2 đội, trận thi đấu bóng rổ diễn ra trong khoảng không gian khá hẹp và với thời gian thi đấu dài, căng thẳng với lượng vận động cao

Thi đấu bóng rổ rất hấp dẫn bởi các tình huống diễn biến nhanh và đa dạng Hoạt động và thi đấu bóng rổ là một hoạt động không chu kỳ Trong thi đấu thường xuyên có các tình huống khác nhau xảy ra và diễn biến liên tục Do vậy đòi hỏi các vận động viên phải có thể lực tốt và toàn diện Biết vận dụng mọi ưu thế

về kỹ thuật lên rổ khác nhau có nh vậy mới hoàn thành được nhiệm vụ ở bất cứ vị trí nào trên sân khi bắt được bóng

Trong thi đấu bóng rổ kỹ - chiến thuật luôn thay đổi, biến hoá đa dạng nhưng vẫn mang liên hoàn nhịp điệu cao Chính vì vậy mà thi đấu bóng rổ diễn ra sôi nổi, sinh động và có tính hấp dẫn cao

Do có sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của môn bóng rổ nên đòi hỏi các vận động viên phải có sự chuẩn bị thật tốt về các mặt thể lực, kỹ chiến thuật, tâm

lý, trong đó vấn đề về thể lực được đặt lên hàng đầu

Trong những năm gần đây nhiều nước có nền bóng rổ phát triển cao, họ luôn tìm kiếm những phương pháp tiên tiến nhất nhằm nâng cao thể lực cho vận động viên của mình, từ đó tạo cơ sở nâng cao hiệu quả vận dụng các kỹ thuật -chiến thuật thi đấu để đạt thành tích thể thao cao

Trang 25

Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các môn khoa học như: sinh lý, sinh hoá, sinh cơ, lý luận… người ta đã tìm được những biện pháp, phương pháp trong việc huấn luyện đối với các môn thể thao riêng biệt.

Hiện nay công tác huấn luyện thể lực cho vận động viên bóng rổ phải được đặt lên hàng đầu Người ta đặc biệt quan tâm đến việc huấn luyện phát triển các tố chất chuyên môn như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền…

Thi đấu bóng rổ đỉnh cao, các hoạt động diễn ra nhanh, mạnh nên đòi hỏi vận động viên phải có sức nhanh chuyên môn tốt thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu phối hợp chiến thuật của môn thể thao này

1.7 Phương pháp giảng dạy môn bóng rổ.

Quá trình giảng dạy bóng rổ nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức kỹnăng và kỹ xảo thường xuyên phát triển và hoàn thiện chúng, cũng như nhằm hình thành hệ thống những kiến thức về các vấn đề kỹ thuật, chiến lược và chiến thuật, luật thi đấu, phương pháp huấn luyện… Điều chiếm vị trí đáng kể trong giảng dạy không chỉ là phát triển các tố chất thể lực và đạo đức, mà còn hình thành những kỹnăng và kỹ xảo chuyên môn mà các vận động viên bóng rổ cần phải tiếp thu đến mức hoàn thiện Người tập bóng rổ cần áp dụng hợp lý những kỹ xảo đã tiếp thu được dựa trên cơ sở kiến thức và kỹ năng Đó là bản chất của quá trình giảng dạy

Việc tiếp thu các kỹ xảo vận động đòi hỏi phải nắm thật vững các động tác

để việc thưc hiện chúng được diễn ra một cách tự động hóa, và tất cả hệ thống động tác có sự ổn định trước tác động của các yếu tố cản phá

Kỹ năng là hoạt động có ý thức khi lựa chọn động tác cần thiết Trong khi hình thành những kỹ năng cấp cao, cần phải thực hiện các bài tập trong những điều kiện thường xuyên thay đổi

Nhằm rút ngắn thời gian giảng dạy, người ta có thể chia các động tác thành

Trang 26

các yếu lĩnh động tác riêng lẻ để tự nghiên cứu Song trong khi chia đó không được phá hủy sự thống nhất hữu cơ của động tác Để làm được điều này cần tuân thủ tính liên tục và tính đồng thời trong giảng dạy.

Điều quan trọng trong quá trình giảng dạy các thao tác thi đấu không chỉ là nắm vững các động tác hợp lý theo quan điểm sinh cơ học, mà còn biết áp dụng các động tác đó trong thi đấu Vì vậy cần tiến hành giảng dạy các thao tác kỹ thuật

và các động tác chiến thuật cá nhân song song với nhau Ban đầu học các kỹ thuật riêng lẻ, sau đó kết hợp các thao tác này lại thành những động tác thi đấu mà mỗi động tác này có thể kết hợp hai hay nhiều động tác khác nhau

Những thao tác kỹ thuật tấn công cần được học trước các thao tác phòng thủ Chỉ sau khi đã học các thao tác tấn công tương ứng mới có thể học các thao tác phòng thủ nhằm chống lại các thao tác tấn công tương ứng

1.7.1 Các nguyên tắc lý luận trong giảng dạy bóng rổ.

Nguyên tắc tự giác, tích cực: Tính tích cực và thái độ tự giác đối với quá trình học tập là đặc biệt quan trọng, đòi hỏi người học phải đi sâu vào quá trình tư duy về những nhiệm vụ của quá trình học tập và huấn luyện Việc tư duy về các bài tập và các cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động, cũng như nhận thức các quy luật vận động tạo điều kiện cho người học tự mình thực hiện đúng các động tác và hoàn thiện động tác một cách sáng tạo, giúp cho phát triển tư duy chiếnthuật của học sinh và tạo điều kiện hình thành các kỹ xảo phối hợp chiến thuật

Nguyên tắc trực quan: Là sự tác động trực tiếp của thế giới khách quan vào các giác quan của con người Các phương tiện giảng dạy trực quan được lựa chọn đúng sẽ cho phép thể hiện lại các mặt khác nhau của động tác được hình thành trong thi đấu.Nhờ tính trực quan trong giảng dạy mà các khái niệm trừu tượng trở nên sinh động hơn

Nguyên tắc thích hợp cá biệt hóa: Cần phải tính toán tới những khả năng

Trang 27

cá nhân, tới tích cực hoạt động, năng lực làm việc, mức độ phát triển ý chí Đểthực hiện nguyên tắc này lúc đầu việc học kĩ thuật và chiến thuật được tiến hành theo từng phần.

Nguyên tắc khoa học, hệ thống và liên tục: Cần có sự lựa chọn tài liệu giảng dạy phải được định hướng theo khuynh hướng phát triển của thi đấu, phải cải tiến phương pháp giảng dạy tương ứng với sự phát triển của môn bóng rổ Sốlượng các giờ học cần phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính trình độ huấn luyện

Nguyên tắc vững chắc tăng tiến: Cần phải củng cố nội dung đã học và cần tiếp thu vững chắc nội dung đó để các động tác đã học luôn ổn định trước những yếu tố cản phá Cần phải nâng cao trình độ phát triển các tố chẩt thể lực, bởi vì không có các tố chất thể lực phát triển thì không thể cũng cố được những gì đã có

1.7.2 Phương pháp dạy học động tác.

Quá trình dạy học động tác là một tiên đề của dạy học trong giáo dục thể chất Trước khi dạy một động tác nào đó phải xem người tập đó sẵn sàng đểtiếp thu chưa Có thể phát hiện sự sẵn sàng đó bằng cách các bài tập kiểm tra (thửnghiệm), các thông tin về kinh nghiệm trước đây của người tập, các bài tập chuẩn

bị, dẫn dắt Sự chuẩn bị thường biểu hiện 3 yếu tố: mức độ phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng vận động, và yếu tố tâm lý

Việc giáo dục các tố chất thể lực bằng các bài tập chuẩn bị chung và chuyên môn có vai trò quyết định để đảm bảo sự sẵn sàng dạy học những động tác đỏi hỏi các tố chất có biểu hiện ở mức độ cao

Muốn chuẩn bị dạy học tốt các động tác phức tạp, nói chung phải dựa trên cơ sở biết hoàn thiện khéo léo các nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa, hệthống và phát triển từ từ yêu cầu

Sự phân đoạn, quá trình dạy học những động tác riêng lẻ cần phải dựa

Trang 28

trên các giai đoạn tương ứng của quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động Muốn học thành kỹ xảo tương đối hoàn thiện thì phải trải qua 3 giai đoạn tiêu biểu khác nhau cả về nhiệm vụ sư phạm cũng như phương pháp giảng dạy

Giai đoạn 1: Là dạy học ban đầu về động tác.

Mục đích của giai đoạn này là dạy học các nguyên lý kỹ thuật của động tác, hình thành kỹ năng hoàn thiện nó, mặc dù dưới dạng thô thiển Các nhiệm vụ

để đạt mục đích trên:

Tạo kỹ năng chung và động tác và tân thế tốt để tiếp thu động tác đó

Học từng phần (từng giai đoạn hay yếu lĩnh) của kỹ thuật động tác mà trước đây chưa biết

Ngăn ngừa hoặc loại trừ những cử động không cần thiết và những sai phạm lớn trong kỹ thuật động tác

Hình thành nhịp điệu chung của động tác

Việc dạy học động tác thường được bắt đầu từ hình thành kỹ năng chung về các cách thực hiện hợp lý động tác đó và hình thành tâm thế tốt để tiếp thu cách thức thực hiện Trước hết thường dùng phương pháp sử dụng lời nói cũng như các phương pháp làm mẫu động tác… Trước khi mô tả bằng lời nói cần làm mẫu một lần hoàn chỉnh Làm chính xác và đẹp mắt sẽ gây hứng thú ham muốn học động tác

Việc phân chia động tác trong dạy học ban đầu là hoàn toàn hợp lý vỡviệc hoàn thiện một hệ thống chức năng phức tạp luôn gây cho hệ thần kinh một khó khăn lớn nên phải giảm nhẹ nhiệm vụ vận động về mặt tâm lý, tránh được sựcủng cố những sai lầm trong vận động cơ bản nảy sinh ngay từ những lần đầu hoàn thiện mà không kịp uốn nắn cùng một lúc ở tất cả các khâu của hệ vận động;

Trang 29

giảm bớt được sự tiêu hao sức lực Nhưng, việc chia nhỏ như thế có thể làm lệch lạc các phần bị chia đó, bởi vỡ mối liên quan hợp nhất chúng thành một cấu trúc nhịp điệu và động lực học bị phá hủy Do đó cần phải tiến hành trên cơ sở phân tích với trính độ chuyên môn cao về kỹ thuật Động tác đó sao cho có thể tách chúng ra thành những phần tương đối độc lập mà vẫn đảm bảo tính logic hoàn chỉnh của những nhiệm

Trong dạy học ban đầu bao giờ cũng có những lệch lạc đáng kể trong làm động tác so với hình mẫu quy định Do đó, cần phải để phòng và loại trừ ởmức cú thể những lệch lạc lớn nhất làm lệch lạc nhiều đối với kỹ thuật động tác Những lệch lạc tiêu biểu nhất trong giai đoạn này: Thêm những động tác phụ, không cần thiết; Động tác bị lệch lạc về phương hướng và biên độ; Nỗ lực cơ bắp không đúng mức và nhiều nhóm cơ bắp bị căng thẳng quá mức; Nhịp độ chung của cơ bắp bị sai

Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các sai lầm lớn trong động tác ởgiai đoạn ảnh hưởng ban đầu thường là: Thể lực chưa đầy đủ; Sợ hãi; Hiểu nhiệm

vụ vận động chưa đúng; Tự kiểm tra động tác chưa đủ mức; Sai sót khi thực hiện các động tác trước đó; Mệt mỏi; Chuyển xấu các kỹ xảo vận động; Các điều kiện không thuận lợi đối với việc hoàn thiện động tác

Giai đoạn 2: Giai đoạn dạy học đi sâu

Mục đích ở giai đoạn này là đưa trình độ tiếp thu ban đầu, còn “ thô

Trang 30

thiển ” đối với kỹ thuật động tác lên mức tương đối hoàn thiện Các nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này là: Hiểu các quy luật vận động của động tác cần học sâu hơn; Chính xác hóa kỹ thuật động trác theo các đặc tính không gian, thời gian và động lực của nó, sao cho tương ứng với các đặc điểm cá nhân của người tập; Hoàn thiện nhịp điệu động tác, hoàn thiện động tác tự nhiên liên tục; Tạo tiền đề để hoàn thiện động tác biến dạng; Các phương pháp tập luyện nguyên vẹn, có chọn lọc, đi sâu vào những chi tiết kỹ thuật là cơ sở phương pháp dạy học ở giai đoạn này.

Trong dạy học động tác đòi hỏi biểu hiện cao nhất các tố chất thể lực thì lúc này tốt nhất nên kích thích động viên được hết khả năng vận động tất nhiên không làm sai lệch kỹ thuật hoàn thiện động tác Nói chung việc nắm vững kỹthuật động tác ở giai đoạn này đòi hỏi phải chú ý đến các đặc điểm riêng của người tập

Các phương pháp sử dụng lời nói dùng trong dạy học đi sâu, trước hết nhằm cung cấp những kiến thức chi tiết về các cơ chế kỹ thuật động tác để các nguyên nhân nảy sinh và tìm chọn con đường hoàn thiện động tác

Vai trò của “ tập luyện vận động bằng tư duy ” càng tăng theo mức độtiếp thu kỹ thuật động tác và định hướng cảm giác vận động Việc tập luyện này phối hợp với các bài tập cơ bản sẽ giúp chuẩn xác hóa động tác để chuẩn xác hóa

kỹ thuật động tác, người ta cũng sử dụng rộng rãi các phương pháp phân tích khi trình diễn sách báo trực quan ảnh, phim và làm mẫu thực hay theo mô hình cơ thể

Các phương pháp định hướng theo cảm giác, dùng người hay vật dẫn dắt, kèm cặp vận động cũng vẫn giữ nguyên ý nghĩa của mình trong giai đoạn này

Mức kịp thời và độ chuẩn xác trong tự kiểm tra đối với động tác khi dạy học cần phải tăng lên, muốn thế phải tính toán đến các điều kiện sau: Thứ nhất, khả năng của giáo viên, huấn luyện viên đánh giá bằng mắt thường mức độ động tác chuẩn xác của người tập bị hạn chế, hơn nữa sự thông tin của giáo viên không

Trang 31

phải lúc nào cũng hoàn toàn khớp với cảm giác của bản thân người tập Thứ 2, sựphản ánh các cảm giác vào trong ý thức thường không ngay lập tức và không được hoàn toàn thường có sự không phù hợp đáng kể giữa thực tế của động tác với sựphản ánh chủ quan động tác đó ở người tập.

Giai đoạn 3: Giai đoạn củng cố và tiếp tục hoàn thiện.

Mục đích dạy học ở giai đoạn này là đảm bảo tiếp thu và vận dụng động tác hoàn thiện trong thực tế Muốn vậy cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau: Củng

cố kỹ xảo kỹ thuật động tác; Mở rộng biến dạng của kỹ thuật động tác để có thểthực hiện nó hợp lý trong các điều kiện khác nhau, kể cả lúc phải biểu hiện các tốchất thể lực ở mức cao nhất; Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểm và các năng lực cá nhân; Nếu cần cấu tạo lại kỹ thuật động tác rồi tiếp tục hoàn thiện nó trên cơ sở phát triển các tố chất thể lực

Ở giai đoạn thứ 3 này cần phải củng cố định hình động lực vừa hình thành, đồng thời tăng tính linh hoạt của nó Cái đó quyết định khả năng thích nghi của hoạt động đối với sự thay đổi khác nhau của môi trường bên ngoài

Đầu giai đoạn này, cần chú ý đặc biệt đến việc củng cố kỹ năng đó hình thành Quá trình củng cố kỹ xảo diễn ra thống nhất nguyên vẹn Cần phải sử dụng các phương pháp trên sao cho chuẩn xác hóa đúng hướng đối với cơ sở thông tin ngược trong điều khiển động tác và trong bản thân các thông số của động tác

Tính biến dạng của động tác thể hiện trong tập luyện lặp lại nhiều lần ởcác điều kiện khác nhau Động tác phải được thực hiện với sự thay đổi các chi tiết vềđặc tính động học, động lực học và nhịp điệu của động tác trong các tình huống

Khi phức tạp hóa các điều kiện bên ngoài (điểm tựa, không gian bị hạn chế, thời tiết không thuận lợi …)

Khi trạng thái thể lực và tâm lý của người tập thay đổi

Trang 32

Khi sự nỗ lực thể chất tăng lên

Trong giai đoạn củng cố và hoàn thiện động tác đó có các quá trình hoàn thiện kỹ thuật kết hợp hữu cơ với giáo dục các tố chất thể lực nhằm đảm bảo tính hiệu quả tối đa của động tác

Trang 33

CHƯƠNG II MỤC ĐÍCH - NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP

VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu.

Tìm hiểu thực trạng các bài tập bổ trợ trong quá trình giảng dạy, học tập và lựachọn xây dựng bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả của kỹ thuật hai bước lên rổtrong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh - TP

Đà Nẵng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

2.2.1 Nhiệm vụ 1:

Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn GDTC nói chung, môn bóng

rổ nói riêng và thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng

2.2.2 Nhiệm vụ 2:

Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả của kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối

10 Trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng

2.3 Phương pháp nghiên cứu.

2.3.1 Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu.

Chúng tôi thu thập và phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề mình nghiên cứu từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu được thuận lợi

Trang 34

- Giáo trình lý luận và phương pháp giáo dục thể chất.

- Giáo trình tâm lý học thể dục thể thao

- Giáo trình vệ sinh và y học thể dục thể thao

- Giáo trình giải phẩu học người

- Giáo trình đo lường thể dục thể thao

- Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao

- Giáo trình bóng rổ

- Giáo trình huấn luyện kỹ thuật bóng rổ

- Giáo trình huấn luyện đội bóng rổ

- Phỏng vấn trực tiếp: Thông qua phiếu phỏng vấn

- Phỏng vấn gián tiếp: Để làm rõ những vấn đề thắc mắc mà phiếu phỏng vấn chưa giải quyết được

Đối tượng phỏng vấn là giảng viên chuyên ngành bóng rổ thuộc trung tâm GDTC Đại học Đà Nẵng, các huấn luyện viên thuộc trung tâm huấn luyện đội tuyển

Trang 35

trẻ bóng rổ thành phố Đà Nẵng và giáo viên trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng.

2.3.3 Phương pháp quan sát sư phạm.

Là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục và giáo dưỡng mà không ảnh hưởng tới quá trình đó

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã quan sát quá trình giảng dạy chuyên sâu bóng rổ cũng như các giờ giảng dạy phổ tu bóng rổ của Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng và quá trình giảng dạy môn bóng rổ của các thầy giáo trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng Từ đó làm sơ sở để chúng tôi lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả của kỹ thuật hai bước lên rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh một cách phù hợp

2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Là phương pháp tiến hành nghiên cứu mà người ta đưa vào quá trình giảng dạy và huấn luyện những nhân tố mới được nghiên cứu và phải sáng tỏ tính ưu việt của nó so với những nhân tố khác

Cụ thể áp dụng những bài tập đang nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của

kỹ thuật hai bước lên rổ cho đối tượng học sinh đang học bóng rổ tại Trường THPT Phan Châu Trinh

Chúng tôi lựa chọn các test và tiến hành thực nghiệm sư phạm theo hình thức

so sánh trình tự Đối tượng là 40 học sinh nam thuộc khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng

Để so sánh trước và sau thực nghiệm chúng tôi sử dụng các test sau:

- Thực hiện hai bước lên rổ (Bên trái rổ và bên phải rổ)

Trang 36

- Dẫn bóng thực hiện hai bước lên rổ (Bên trái rổ và bên phải rổ)

2.3.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm.

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tiến hành kiểm tra đánh giá thành tích của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng ở hai giai đoạn trước và sau nghiệm

Từ đó rút ra kết luận chính xác về hiệu quả của các phương pháp đã lựa chọn đểnâng cao hiệu quả của kỹ thuật

2.3.6 Phương pháp toán học thống kê.

Để thu thập, xử lý số liệu và tổng hợp dữ liệu liên quan trong quá trình nghiên cứu đề tài, để từ đó rút ra kết luận có cơ sở khoa học và chính xác

- Công thức xác định giá trị trung bình

n i i x

Trang 37

- Công thức xác định hệ số tương quan.

(

))(

(

y y x

x

y y x x

i i

i i

- Công thức so sánh sự khác biệt giữa hai lần thực hiện

t =

B

B A A

B A

n n

x x

) V V ( 100

1 2

1 2

Trang 38

2.4 Tổ chức nghiên cứu.

2.4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả khi tập luyện kỹ thuật hai bước lên rổtrong môn bóng rổ cho học sinh nam lớp bóng rổ khối 10 Trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng

- Có 20 học sinh thực nghiệm

- Có 20 học sinh đối chứng

2.4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

Trang 39

2.4.3 Phương tiện nghiên cứu.

Bóng rổ, rổ, sân nhà thi đấu trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng, còi, phấn

2.4.4 Kinh phí nghiên cứu.

Trang 40

CHƯƠNG III PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Giải quyết nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn GDTC nói chung, môn bóng rổ nói riêng và thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam khối 10 trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng.

3.1.1 Thực trạng giảng dạy bộ môn GDTC nói chung, môn bóng rổ ở trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng.

3.1.1.1 Chương trình giảng dạy bộ môn GDTC.

Bộ môn giáo dục thể chất của trường thực hiện nghiêm túc chủ trương giáo dục thể chất mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Giáo trình giảng dạy do bộ môn biên soạn theo chương trình và tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo và ngành TDTT ban hành đã đáp ứng được yêu cầu của chương trình quy định và quá trình học tập của học sinh

Bảng 1: Phân phối chương trình giảng dạy môn GDTC học kỳ II khối lớp 10

trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng năm học 2013 - 2014.

Tiết 37 Lí thuyết Học Luyện tập TDTT và sử dụng các yếu tốthiên nhiên để rèn luyện sức khoẻ (nội

Giới thiệu kĩ thuật nhảy cao nằm nghiêng

Di chuyển tâng “ búng ” cầu

Ngày đăng: 26/05/2015, 14:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân phối chương trình giảng dạy môn GDTC học kỳ II khối lớp 10 - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 1 Phân phối chương trình giảng dạy môn GDTC học kỳ II khối lớp 10 (Trang 40)
Bảng 2: Chương trình giảng dạy môn bóng rổ cho học sinh khối lớp 10 trường - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 2 Chương trình giảng dạy môn bóng rổ cho học sinh khối lớp 10 trường (Trang 44)
Bảng 3: Cơ sở vật chất trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng. - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 3 Cơ sở vật chất trường THPT Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng (Trang 45)
Bảng 4: Danh sách giáo viên bộ môn GDTC trường THPT Phan Châu Trinh - - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 4 Danh sách giáo viên bộ môn GDTC trường THPT Phan Châu Trinh - (Trang 46)
Bảng 5: Kết quả phỏng vấn các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 5 Kết quả phỏng vấn các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu (Trang 52)
Bảng 6: Phân bố yêu cầu về lượng vận động đối với các bài tập đã lựa chọn. - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 6 Phân bố yêu cầu về lượng vận động đối với các bài tập đã lựa chọn (Trang 55)
Bảng rổ. - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng r ổ (Trang 57)
Bảng 8: Phân nhóm thực hiện. - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 8 Phân nhóm thực hiện (Trang 69)
Bảng 9: Kết quả phỏng vấn các tets kiểm tra đánh giá hiệu quả kỹ thuật hai - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 9 Kết quả phỏng vấn các tets kiểm tra đánh giá hiệu quả kỹ thuật hai (Trang 72)
Bảng 10: Thành tích thực hiện test kiểm tra trước thực nghiệm. - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 10 Thành tích thực hiện test kiểm tra trước thực nghiệm (Trang 74)
Bảng 11: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm. (n A = n B = 20) - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 11 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm. (n A = n B = 20) (Trang 76)
Bảng 12: Thành tích thực hiện test kiểm tra sau 2 tháng thực nghiệm. - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 12 Thành tích thực hiện test kiểm tra sau 2 tháng thực nghiệm (Trang 78)
Bảng 13: Kết quả kiểm tra sau 2 tháng thực nghiệm. (n A = n B = 20) - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 13 Kết quả kiểm tra sau 2 tháng thực nghiệm. (n A = n B = 20) (Trang 79)
Bảng 14: Kết quả nhịp tăng trưởng của nhóm đối chứng sau 2 tháng tập - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 14 Kết quả nhịp tăng trưởng của nhóm đối chứng sau 2 tháng tập (Trang 81)
Bảng 15: Kết quả nhịp tăng trưởng của nhóm thực nghiệm sau 2 tháng tập - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật hai bước lên rổ trong môn bóng rổ cho học sinh nam trường THPT phan châu trinh TP đà nẵng
Bảng 15 Kết quả nhịp tăng trưởng của nhóm thực nghiệm sau 2 tháng tập (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w