1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở việt nam

24 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin về nền kinh tế nhiều thànhphần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chuyển đổi nền kinh tế,phải phát huy sức mạnh của tất cả các thàn

Trang 1

Lời mở đầu

Cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc là một chủ trơng lớn

của Đảng và nhà nớc ta, nhằm tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quảkinh tế nhà nớc để có thể làm tốt vai trò chủ đạo của thành phần kinh tếnày trong nền kinh tế quốc dân

Xuất phát từ lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin về nền kinh tế nhiều thànhphần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chuyển đổi nền kinh tế,phải phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó thànhphần kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt là doanh nghiệpnhà nớc với t cách nh một công cụ vật chất quan trọng để nhà nớc chiphối điều tiết sự phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN đãvạch ra Kết hợp với thực tế hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệpnhà nớc nói riêng và thành phần kinh tế nhà nớc nói chung ở nớc ta hiệnnay Phải thấy đợc rằng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một giảipháp quan trọng để đổi mới đa dạng quan hệ sở hữu trong doanh nghiệpnhà nớc, đổi mới phơng thức quản lí, tạo động lực thúc đẩy các doanhnghiệp phát triển, tạo cơ hội đa kinh tế đất nớc hoà nhập với nền kinh tếkhu vực và thế giới

Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX nhấn mạnh trong thời gian tới phải

“Thực hiện tốt chủ trơng cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với nhữngdoanh ngiệp nhà nớc không cần nắm 100% vốn”

Xuất phát từ tính cấp thiết của chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà

n-ớc , và thực trang cổ phần hoá hiện nay, tôi quyết định chọn đề tài :

“Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc trong quá trình chuyển đổi

nền kinh tế ở Việt Nam”

Trong quá trình thực hiện đề án không tránh khỏi những thiếu sót,tôi rất mong nhận đợc sự góp ý phê bình của các thầy cô

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hớng dẫn của thầy giáoPGS.TS Phạm Quang Phan

Hà Nội ngày tháng năm 2003

Sinh viên LÊ VĂN

I.Lý luận của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin về sở hữu và cỏc thành phần kinh tế:

1.Bản chất của vấn đề sở hữu:

Mỗi một nền kinh tế đều gắn liền với những quan hệ sở hữu đặctrưng.Nền kinh tế Xó Hội Chủ Nghĩa là nền kinh tế gắn liền với

Trang 2

.Trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam hiện nay

để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chúng ta đã thực hiện chuyểnđổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinhhàng hoá thị trường nhiều thành phần Như đã biết cơ sở tồn tại

và phát triển kinh tế hàng hoá ,thị trường là sự tách biệt về kinh tế

do chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.Vì vậy đểphát triển kinh tế nước ta hiện nay thì trước hết phải đa dạng cáchình thức sở hữu trong nền kinh tế đồng thời phải giữ đúng địnhhướng Xã Hội Chủ Nghĩa.Muốn thực hiện điều đó Đảng và NhàNước đã chủ trương tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhànước

Để hiểu rõ quá trình này trước tiên ta phải hiểu được bản chất củavấn đề sở hữư ở nước ta hiện nay

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-LêNin sở hữu là hình thức xã hộilịch sử nhất định của sự chiếm hữu được thể hiện thong qua chế

độ sở hữu bao gồm một hệ thống các quan hệ sở hữu.Quan hệ sởhữu là quan hệ giữa người với người ,giữa các giai cấp với nhau

về chiếm hữu tư liệu tư liệu sản xuất cả về mặt hiện vật cũng nhưmặt giá trị.Cùng với sự phát triển của xã hội loài người và kinh tế các loại hình sở hữu lần lượt ra đời hết sức đa dạng đáp ứngnhững yêu cầu kinh tế của con người trong từng giai đoạn ,từngchế độ xã hội

Trình độ ở nước ta còn thấp,không đồng đều vì vậy ứng với nó cócác hình thức sở hữu sau:

Sở hữu nhà nước:là hình thức sở hữu mà nhà nước là đại diệncho nhân dân sở hữu những tài nguyên,tài sản, những tư liệu sảnxuất chủ yếu và những của cải của đất nước Ở đây phải hiểuđược sự tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng ,chủ sở hữuvới chủ kinh doanh ,làm cơ sở và tạo điều kiện để nhà nước thựchiện vai trò kinh tế của mình ,còn doanh nghiệp nhà nước có đượctính tự chủ của đơn vị sản xuất hàng hoá thực sự

Sở hữu tập thể:là sở hữu của những chủ thể kinh tế tự nguyệntham gia.Thể hiện ở sở hữu tập thể các hợp tác xã trong nôngnghiệp ,công nghiệp,xây dựng ,vận tải…ở các nhóm ,tổ, đội và cáccông ty cổ phần

Sở hữu hỗn hợp:là hình thức phù hợp,linh hoạt và hiệu quả trongthời kỳ quá độ.Mỗi chủ thể có thể tham gia một hoặc nhiều đơn vị

tổ chức kinh tế

Sở hữu tư nhân của người sản xuất nhỏ:là sở hữu về tư liệu sảnxuất của bản thân người lao động.Chủ thể của sở hữu này là nôngdân ,cá thể ,thợ thủ công,tiểu thương.Họ vừa là chủ sở hữu đồngthời là người lao động

Trang 3

Sở hữu tư nhân tư bản:là hình thức sở hữu của các nhà tư bảnvào các ngành,lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.

Đây là các hình thức thức sở hữu tồn tại khách quan trong nềnkinh tế thị trường ở nước ta trong thời kỳ quá độ.Nó là cơ sở cho

sự tồn tại của một nền kinh tế nhiều thành phần

Văn kiện đại hội Đảng IX đã khẳng định:

“…Từ các hình thức sở hữu cơ bản:sở hữu toàn dân,sở hữu tậpthể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế vớinhững hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen,hỗn hợp…”.Tìm tòi hình thức thực hiện chế độ sở hữu là để thu hút , tậphợpvà sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong xã hội ,tạo độnglực cho sự phát triển Đối với sở hữu nhà nước ,các hình thứcthực hiện đa dạng,phù hợp chính là để phát huy được vai trò chủđạo của nó trong nền kinh tế

Thứ hai sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia tất yếu có sự phát

triển không đều về lực lượng sản xuất giữa các ngành ,cácvùng,các doanh nghiệp,nó quyết định quan hệ sản xuất trước hết

là hình thức,quy mô và quan hệ sở hữu phải phù hợp với nó,nghĩa

là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống nhau Đó là cơ sởhình thành các thành phần kinh tế khác nhau

Thứ ba để thực hiện chính sách mở cửa ,cải cách kinh tế thì phải

thực hiện liên doanh liên kết với nước ngoài hình thành nên cácthành phần kinh tế mới

Từ đại hội ĐảngIX xác định nước ta hiện nay có năm thành phầnkinh tế sau:

Thành phần kinh tế nhà nước :phát huy vai trò chủ đạo trong nền

kinh tế ,là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhànước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 4

Thành phần kinh tế tập thể : phát triển với nhiều hình thức đa dạng,trong đó hợp tác xã là nòng cốt.

Thành phần kinh tế cá thể,tiểu chủ:Nhà nước tạo điều kiện và

giúp đỡ để phát triển;khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác

tự nguyện ,làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớnhơn

Thành phần kinh tế tư bản tư nhân:phát triển rộng rãi trong

những ngành nghề sản xuất mà pháp luật không cấm

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước :tồn tại dưới hình thức liên

doanh ,liên kết giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản tư nhântrong nước và ngoài nước

Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:ngày càng được

nhà ước khuyến khích thông qua các chính sách kêu gọi đầu tưthông thoáng hơn

Với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiệnnay nhà nước mong muốn có thể phát huy sức mạnh nội lực củatoàn bộ nền kinh tế đồng thời tranh thủ các nguồn lực kinh tế từnước ngoài

Trong nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường địnhhướng Xã Hội Chủ Nghĩa thì vai trò của thành pần kinh tế nhànước càng trở nên quan trọng, đây là thành phần được xác định làgiữ vai trò then chốt trong phát triển kinh tế đất nước đồng thờithông qua việc mở rộng quan hệ cả về sở hữu và quan hệ sảnxuất với các thành phần kinh tế khác để thúc đẩy cũng như địnhhướng cho các thành phần kinh tế cùng phát triển

3.Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước:

Thành phần kinh tế nhà nước được xác định là thành phần giữ vaitrò chủ đạo.Hiệu quả tong hoạt đọng của thành phần này quuyếtđịnh đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế,bởi vậy trongquá trình quản lý hoạt độmg của thành phần kinh tế này nhà nướcluôn quan tâm tìm mọi biện pháp để hoạt động của nó ngày cànghiệu hơn

Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước được thể hiện ởcác nội dung sau:

Thứ nhất:kinh tế nhà nước trở thành lực lượng vật chất và công

cụ sắc bén để nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết

và quản lý vĩ mô nền kinh tế Đây là một trong những vai trò cực kỳquan trọng của kinh tế nhà nước.Bởi lẽ trong nền kinh tế thị trườngmặc dù sự can thiệp của nhà nước là cần thiết và đúng đắn nhưngnếu không có một lực lượng kinh tế mạnh làm hậu thuẫn thì trongnhiều trường hợp sự can thiệp đó có thể bị cơ chế thị trường vôhiệu hoá.Mặt khác trong cơ chế thị trường Nhà nước thường xuấthiện như là một chủ thể kinh tế có lợi ích kinh tế độc lập với chủ

Trang 5

thể kinh tế khác để đảm bảo hiệu lực điều tiết Nhà nước cần mộttiềm lực kinh tế đủ để hoặc bù xứng đáng cho sự thua thiệt về lợiích của các chủ thể kinh tế hướng họ theo mục tiêu nhà nước địnhra,hoạc đủ sức cạnh tranh thắng thế các thành phần kinh tếkhác.Tiềm lực kinh tế ấy do khu vực kinh tế nhà nước cung cấpphần rất cơ bản.

Thứ hai :hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước là nhằm mởđường,hướng dẫn,hỗ trợ,thúc đẩy sự phát triển của các thànhphần kinh tế khác.Tức là nó tạo diều kiện tiền đề thuận lợi để khaithông và tận dụng mọi nguồn lực ở tất cả các thành phần khácnhau vì sự tăng trưởng chung của kinh tế,bảo đảm nền kinh tếphát triển đúng mục tiêu đã chọn

Thứ ba:kinh tế nhà nước là lực lượng xung kích chủ yếu thựchiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước.Nhiệm vụ nặng nề doquá trình công nghiệp hoá đặt ra trong giai đoạn hiện nay kinh tếnhà nước đặc biệt là đầu tư mới của nhà nước vâvx là lực lượngchủ chốt đi đầu trong quá trình chuyển nước ta thành nước côngnghiệp hiện đại văn minh tiến bộ.Ngoài việc phải nỗ lực hết mìnhtrong quá trình đầu tư ,tích luỹ thực hiện công nghiệp hoá hiện đạihoá đất nước thì kinh tế nhà nước phải thu hút lôi kéo định hướngtất cả các thành phần kinh tế khác cùng tham gia quá trình này Thứ tư:kinh tế nhà nước nắm giữ các vị trí than chốt trong nềnkinh tế nhằm đảm bảo các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cũng nhưtạo đà tăng trưởng lâu dài,bền vững và hiệu quả cho nền kinh tế

Đó chính là các lĩnh vực như công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuấtquan trọng ,các ngành công nghiệp mũi nhọn,kết cấu hạ tầng vậtchất cho nền kinh tế như giao thông,bưu chính, năng lượng…cácngành có ảnh hưởng to lớn đến kinh tế đối ngoại như các liêndoanh lớn ,xuất nhập khẩu quy mô lớn ,hoặc các lĩnh vực liênquan đến quốc phòng an ninh và trật tự xã hội.Yuy vậy nhà nướckhông độc quyền cứng nhắc trong các lĩnh vực ấy mà cần có hợptác liên doanh hợp lý với các thành phần kinh tế khác,nhất là tronglĩnh vực cơ sở hạ tầng,xuất nhập khẩu và công nghiệp.Hơn nữa

sự cần thiết để nhà nước kiểm soát từng lĩnh vực cụ thể cũngđược xem xét trong từng thời kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực côngnghiệp mũi nhọn

Kinh tế nhà nước phải tạo ra lượng hàng hoá và dịch vụ khả dĩ chiphối được giá cả thị trường , đãn dắt giá cả thị trường bằng chínhchất lượng và giá cả của sản phẩm và dịch vụ do mình cungcấp.Mặt khác trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế,cuộc cách mạngcông nghệ thông tin các nền kinh tế dễ dàng xâm nhập lẫnnhau,nếu kinh tấ nhà nước không thực sự đủ sức mạnh có thể đẫn

Trang 6

II.Kinh tế nhà nước và các vấn đề đặt ra:

Kinh tế Nhà nước thuộc sở nhà nước ,sản xuất kinh doanh theonguyên tắc hoạch toán kinh tế, thực hiện phân phối theo lao động

và hiệu quả sản xuất kinh doanh.Theo chủ trương của Đảng takinh tế Nhà nước cần tập trung vào những ngành,lĩnh vực trọngyếu như kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội,hệ thống tài chính,ngânhang,những cơ xở sản xuất kinh doanh,thương mại,dịch vụ quantrọng,những cơ sở kinh tế phục vụ an ninh quốc phòng và vấn đề

xã hội, để đảm bảo những cân đối lớn,chủ yếu của nền kinh tế vàthực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường

Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế Nhà nước để đảm bảo nhữngmục tiêu kinh tế-xã hội.Trước hết cần hoàn thiện chế độ,chínhsách ,pháp luật đảm bảo doanh nghiệp Nhà nước thật sự là mộtđơn vị sản xuất hàng hoá có tư cách pháp nhân.Phân định dứtkhoát quyền sở hữu nhà nước với quyền đại diện chủ sở chủ sởhữu nhà nước;quyền sở hữu nhà nước với quyền sử dụng quảnlý…;tách bạch rõ ràng chức năng quản lý kinh tế với quản lý tàisản của nhà nước và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp

Như vậy vấn đề then chốt trong đổi mới và phát triển kinh tế nhànước ở nước ta hiện nay đó là phải giải quyết được hoạt động củadoanh nghiệp nhà nước

1.Bản chất và vai trò của doanh nghiệp Nhà nước:

Hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã có hơn 40 nămxây dựng và phát triển.Trong thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở nước ta ,các doanh nghiệp nhà nước(mà trước đây là các

xí nghiệp quốc doanh)là lực lượng chủ đảôtng nền kinh tế quốcdân.Các doanh nghiệp này được hình thành từ ba nguồn sau:Thứ nhất:xây dựng từ nguồn vốn của ngân sách nhà nước,nguồnviên trợ hay đi vay(của Liên Xô cũ,Trung Quốc và các nước XHCNkhác)

Thứ hai:quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà tư sản mại bản,tưsản đân tộc đã bỏ ra nước ngoài hoặc các xí nghiệp nhà nước củachế độ cũ

Thứ ba:khuyến khích mua lại hoặc đưa các xí nghiệp tư nhânthành các xí nghiệp công tư hợp doanh và sau đó là thành các xínghiệp quốc doanh

Trong thời kỳ tồn tại nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạchhoá tập trung,cũng giống như các nước theo nền kinh tế xã hộichủ nghĩa khác Việt Nam đã vận dụng học thuyết Mác-Lênin đểthực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất ,coi chế độ cônghữu là nền tảng kinh tế để xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo,bấtcông xã hội do nền kinh tế thị trường và chế độ công hữu gây ra,

để xây dựng một chế độ công hữu do hnân dân lao đoọng làm

Trang 7

chủ.Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta nhấn mạnhvào nhiẹm vụ và vai trò kinh tế nhà nước,coi đó là hiện thân củachế độ công hữu có sức mạnh toà năng trong việc tổ chức mọihoạt động kinh tế của xã hội đồng thời phủ nhận kinh tế thịtrường ,các thành phần kinh tế khác.Sau một thời gian dài,nềnkinh tế kế hoạch hoá với những chính sách đã làm thui chột khảnăng làm chủ nền kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước,cácdoanh nghiệp nhà nước lâm vào tình cảnh làm ăn thua lỗ trầmtrọng khiến cho nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.Biể hiệnyếu kém của các doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ này:

Năng suất ,chất lượng hiệu quả thấp.Toàn bộ khu vực doanhnghiệp nhà nước không vượt qua được ngưỡng tái sản xuất giảndơn

Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thực thanh thựcchi,giao đủ nộp đủ.Nhà nước bao cấp và quyết định giá đầu vào,đầu ra nên doanh nghiệp không phải tính toán hiệu quả kinhdoanh,hoạt động thua lỗ,các doanh nghiệp trở nên thụ động tronghoạt động kinh doanh của mình và phụ thuộc hoàn toàn vào nhànước

Sự phân phối thu nhập trong doanh nghiệp theo cách bình quân đãlàm suy yếu động lực kích thích lao động ,làm việc có năng suất,chất lượng hiệu quả

Bộ máy doanh nghiệp cồng kềnh,nhiều cấp trung gian vưói chứcnưng chồng chéo.Các cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chếthị trường có sự quản lý của nhà nước,hệ thống kinh tế quốcdoanh với nòng cốt là các doanh nghiệp quốc doanh vẫn được xácđịnh là giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế,cần phải được củng cố

và phát triển nhất là trong ngành và lĩnh vực then chốt quan trọng

có tác dụng mở đường và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tếkhác phát triển

Là thành phần chính tạo lập nên kinh tế nhà nước thì các doanhnghiệp nhà nước có chức năng ,vai trò thực hiện các chức năng

mà kinh tế nhà nước phải thực hiện.ai trò này thể hiện trên ba khíacạnh:kinh tế,chính trị và xã hội.Nội dung của vai trò này được thểhiện như sau:

Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để nhà nước giữvững sự ổn định xã hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế pháttriển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Mở đường,hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển thúc đẩy sựtăng trưởng nhsnh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế

Trang 8

Đảm nhận các lĩnh vực hoạt đọng có tính chiến lược đối với sựphát triển kinh tế-xã hội:cung ứng các hang hoá,dịch vụ thiếtyếu,nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng(giao thông, thuỷ lợi,điện,nước,thông tin liên lạc…),xã hội(giáo dục,y tế…) và an ninhquốc phòng.

Góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của cơ chếthị trường Những lĩnh vực mới,các lĩnh vực kết cấu hạ tầng,côngtrình công cộng…rủi ro cao, đòi hỏi vốn lớn ,thu hồi chậm ,lợinhuận thấp là những ngành cần thiết và tạo điều kiện cho pháttriển sản xuất ,nhưng các thành phần kinh tế khác không muốnđầu tư ,hoặc chưa có khả năng , điều kiện làm thị doanh nghiệpnhà nước cần phẩi đi đầu mở đường ,tạo điều kiện cho các thànhphần kinh tế khác phát triển

Là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế,thúc đẩynhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm thực hiệncông nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

Là lực lượng đối trọng trong cạnh tranh trên thị trường trong vàngoài nước,chống sự lệ thuộc vào nướcngoài về kinh tế trong điềukiện mở cửa và hội nhập với khu vực và thế giới

Thực hiện một số chính sách xã hội,như tạo việc làm cho cácnhóm xã hội dễ bị tổn thương: ở các khu vực khó khăn,kém pháttriển như biên giới ,hải đảo ,miền núi…

Như vậy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từyêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường nước ta

Tóm lại,khu vực kinh tế nhà nước và hệ thống doanh gnhiệp nhànước là những phạm trù kinh tế cùng bản chất tuy khác nhau vềcấp độ ,do đó vai trò và nhiệm vụ của chúng có nội dung cơ bảngiống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau.Việc xác dịnh vaitrò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước và vai trò của hệ thốngdoanh nghiệp nhà nước theo nội dung nêu trên sẽ giúp chúng tađịnh hướng đúng việc sắp xếp lại các tổ chức kinh tế nhà nướchiện có , đề ra cơ chế ,chính sách phù hợp ,biện pháp quản lý hữuhiệu đối với khu vực kinh tế nhà nước nói chung và các doanhngiệp nhà nước nói riêng, đồng thời thiết lập các định chế yểm trợphát triển chung

2.Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay

và một số hướng giải quyết:

Sau hơn mười lăm năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt dượcnhững thành tựu đáng kể ,về cơ bản nền kinh tế đã thoát ra khỏitình trạng khủng hoảng ,sức tăng trưởng đạt khá với tốc độ trungbình là 7% , đặc biệt là sức phát triển của hai ngành dịch vụ vàcông nghiệp.Từ đó làm thay đổi về cơ bản bộ mặt của đất nước,đời sống của người dân.Trong quá trình thay đổi đó các doanh

Trang 9

nghiệp nhà nước , được coi là nòng cốt của đổi mới kinh tế đã cónhiều thành công trong việc đưa nền kinh tế từ hoạt động trong cơchế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế nhiều thành phần hoạtđộng theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đượcxác định là thành phần kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn nhất trongquá trình chuyển đổi,các doanh nghiệp nhà nước từ chỗ được baocấp hoàn toàn giờ phải tự thân vận động ,hoạch toán hoạt độngkinh doanh của mình.Chính trong quá trình chuyển đổi đã minhchứng cho nội lực đáng kể của thành phần kinh tế nhà nước ,từchỗ hoạt động không hiệu quả đến nay đã có nhiều doanh nghiệplàm ăn có lãi thoát khỏi tình trạng thua lỗ káo dài ,nhiều doanhnghiệp có hướng phát triển tốt không những hoạt đọng trong thịtrường trong nước mà con tích cực tìm kiếm cơ hội làm ăn ở thịtrường nước ngoài.Về cơ bản các doanh nghiệp nhà nước hoạtđộng trong các ngành lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đã dầngiữ được vị thế của minh ,tránh được sự lệ thuộc vào nước ngoài.Tuy nhiên hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước vẫn có nhiềuvấn đề đáng bàn ,những đổi mới trong thời gian tới là hết sức cầnthiết dối với các doanh nghiệp nhà nước đặc biệt khi nền kinh tếnước ta bước vào hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.Nước ta trong thời gian dài thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoátập trung quan liêu bao cấp nên tồn tại một số lượng lớn doanhnghiệp nhà nước mà hầu hết hoạt động không có hiệu quả trởthành gánh nặng thực sự cho ngân sách nhà nước.Theo số liệucủa tổng cục thống kê tính đến 1-9-1990 cả nước có 12.084 doanhnghiệp trong tất cả các ngành ,các lĩnh vực của nền kinh tế quốcdân.

Nhận thức được sức cản của các doanh nghiệp nhà nước hoạtđộng không có hiệu quả,Chính phủ đã ra các quyết định 315/HĐBTngày 1-9-1990 thực hiện tổ chức sắp xếp lại, đòng thời để thànhlập lại các doanh nghiệp nhà nước theo quyết định 388/HĐBTngày 20-11-1991.Sau hang loạt cải cách cho đến nay doanhnghiệp nhà nước vẫn còn khoảng 5800 doanh nghiệp(theo số liẹucủa vụ đăng kí kinh doanh -bộ kế hoạch đầu tư).Trong đó cókhoảng 30% là doanh nghiệp nhà nước do các bộ ngành trungương quản lý và khoảng 70% doanh nghiệp do uỷ ban nhân dântỉnh thành phố trực thuộc trung ương quản lý

Đến năm 1995 ,số lượng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm

tỷ lệ so với cá doanh nghiệp ngoài quốc doanh:trong lĩnh vực côngnghiệp là 78,8%;xây dựng cơ bản 49%;ngân hàng ,bảo hiểm99,6%;giao thông vận tải bưu điện 54%,thương nghiệp vật tư46,5%

Trang 10

Sau 15 năm năm đổi mới và đièu hành ,số lượng các doanhnghiệp nhà nước ở nước ta giảm dần nhưng vẫn còn quá nhiều.Các doanh nghiệp nhà nước hiện nay vẫn còn tồn tại ở hầu hếtcác ngành ,lĩnh vực , điều đó là không thực sự cần thiết.Hơn nữavới số lượng doanh nghiệp nhà nước như hịân nay làm vượt quákhả năng nguồn lực về vốn và các cán bộ quản lý.

Doanh nghiệp nhà nước có một vị trí hết sức quan trọng trong nềnkinh tế của mỗi quốc gia nói chung và đối Việt Nam nói riêng.Trongnhững năm đầu bắt tay vào xây dựng đất nước doanh nghiệp nhànước được hình thành đã thúc đẩy được quá trình phát triển đi lêncủa đất nước vì nó tập trung vốn rất lớn,nhà nước có thể thôngqua các doanh nghiệp nhà nước để thực hiện các chính sách mụctiêu của mình.Doanh nghiệp nhà nước có vai trò dẫn đưòng chocác thành phần kinh tế khác

Vì cậy trong mọi thời đại doanh nghiệp nhà nước vẫn luôn là mộtthành phần kinh tế quan trọng không thể thiếu được trong mỗiquốc gia,Nhưng trong đà phát triển của nước ta hiện nay doanhnghiệp nhà nước vẫn tỏ ra hoạt động chưa hiệu quả trong khichúng được hưởng nhiều đặc quyền hơn các doanh nghiệp tưnhân.Các doanh nghệp nhà nước hoạt động không hiệu quảkhông hoàn toàn là do các nhà quản lý mà còn có nhiều lý dokhác:

Một là các doanh nghiệp nhà nước thường bị đòi hỏi quá nhiều

mục tiêu,trong đó có những mục tiêu mâu thuẫn nhau.Chẳng hạncác doanh nghiệp nhà nước phải thu được nhiều lợi nhuận trongkhi lại phải đảm bảo việc làm cho một số lượng công nhân viênđiều này kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước

Hai là các doanh nghiệp nhà nước thường phải chịu áp lực quản lý

hoặc điều tiết của chính phủ như giá bán hay nguồn cung cấpngyên vật liệu Họ không chủ động lựa chọn các mặt hàng kinhdoanh và phương án đầu tư Đòng thời để có một quyết định kinhdoanh được thông qua cần có sự đồng ý của nhiều cơ quan quảnlý

Ba là các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước không có được một

cơ chế khuyến khích làm việc Điều này làm mất đi đọng lực củangười lao động họ không hăng hái với sản xuất dẫn đến năng suấtthấp

Thứ tư là hiện nay phần lớn các doanh nghiệp nhà nước ta có quy

mô nhỏ và hoạt động kém hiệu quả

Theo số liệu thống kê của bộ tài chính tổng số vốn nhà nước tạicác doanh nghiệp nhà nước là 70.184 tỷ đồng ;bình quân mộtdoanh nghiệp có 11,6 tỷ dồng tương đương với một doanh nghiệploại nhỏ của các nước cùng khu vực Đông nam Á.Vốn thực tế hoạt

Trang 11

động của doanh nghiệp chỉ bằng 80% vốn hiện có do kinh doanhthua lỗ,công nợ khó đòi,tài sản mất mát kém phẩm chất chưađược xử lý.

Đồng thời do quy mô vốn nhỏ nên không có khả năng đầu tư sửdụng các loại máy móc hiện đại ,hang hoá sản xuất ra có sứccạnh tranh yếu.Theo đánh giá của bộ khoa học và công nghệ môitrường :máy móc thiết bị trong các doanh nghiệp nhà nước lạc hậu

so với thế giớitừ 10-12 năm.Nhiều hiết bị trong các doanh nghiệpsau 14-15 năm mới được thay đổi công nghệ thạm chí mmột sốngành vẫn sử dụng máy móc từ những năm 1938-1940.Trong khi

đó thời gian đổi mới thiết bị ở các nước khác trung bình là 5năm.Máy móc cũ kĩ,lạc hậu năng suất thấp,hiệu quả kinh tế đạtdược chưa cao

Từ những năm 1989 đến nay,nền kinh tế đã thực sự bước sanghoạt động theo cơ chế thị trường.Các chính sách kinh tế,tài chínhđối với doanh nghiệp nhà nước đã được thay đổi theo hướng tự

do hoá giá cả,chi phí ngân sách cho bù lỗ ,bù giá,bổ xiung vốn lưuđộng cho khu vực này đã giảm đáng kể.Nhưng tư tưởng bao cấptrong đầu tư vẫn còn nặng nề.Hàng năm 85% vốn tín dụng với lãisuất ưu đãi được dành cho doanh nghiệp nhà nước vay.HHầu hếtcác doanh nghiệp nhà nước đầu tư.Theo báo cáo của tổng cụcthống kê nhìn chung các doanh nghiệp nhà nước mới chỉ bảo tồnđược vốn lưu động,còn vốn cố định mới bảo toàn ở mức 50% sovới chỉ số lạm phát.Hai ngành chiếm giữ nguồn vốn lớn nhất làcông nghiệp và thương nghiệp(72,52%)lại là ngành có tỷ lệ thấtthoát vốn lớn nhất(16,41% và 14,95%).Vấn đề nợ nần vòng vo mấtkhả năng thanh tôáncnf diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạngquản lý của nhà nước về tài chính còn lỏng lẻo,từ đó nạn thamnhũng lãng phí diễn ra mức báo động

Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra kết luận về thực trạng củadoanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay:

Số lượng các doanh nghiệp nhà nước quá nhiều và bố trí khônghợp lý

Quy mô của doanh nghiệp nhà nước còn nhỏ bé

Kỹ thuật và công nghệ ở các doanh nghiệp nhà nước còn lạc hậu

Việc quản lý đối với hệ thống doanh nghiệp nhà nước còn yếukém

Hiệu quả sản xuất kinh doanh nhà nước còn thập

Từ những phân tích trên đòi hỏi cần đổi mới các hoạt động của hệthống doanh nghiệp nhà nước là nột bước phát triển tất yếu tronggiai đoạn hiện nay Để đổi mới và tiếp tục phát triển kinh tế nhà

Trang 12

nước phải phõn loại và sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhànước theo hướng:

Một là xỏc định cỏc doanh nghiệp cụng ớch cần thiết cụng ớch

cần thiết,hoạt động khụng vỡ mục đớch lợi nhuận là chớnh(như cỏcdoanh nghiệp phục vụ an ninh,quốc phũng,giao thụng cụngcộng,trường học,bệnh viện )cần cú chớnh sỏch ,cơ chế phự hợp

để quản lý và sử dụng cú hiệu quả cỏc nguồn lực được đầu tư ,đảm bảo mục tiờu chớnh trị-xó hội trong quỏ trỡnh tăng trưởng vàphỏt triển nõng cao đời sống nhõn dõn

Thứ hai,những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả cú khả năng

cạnh tranh cần được củng cố đầu tư hướng trở thành cỏc doanhnghiệp đi đầu trong cụng nghệ ,kỹ thuật ,chất lượng sản phẩm,từ

đú phỏt huy sức mạnh ảnh hưởng cú lợi đến nền kinh tế

đối với doanh nghiệp nhỏ và quỏ nhỏ,những doanh nghiệp khụng

cú vai trũ quan trọng,làm ăn thua lỗ ,yếu kộm cần xử lý thớch hợpnhư chuyển hỡnh thức cở hữu ,cổ phàn hoỏ,cho thuờ,khoỏn ,giảithể hoặc phỏ sản theo luật địnhTiến hành cổ phần hoỏ tớch cực vàchắc chắn

Xỏc định rừ trỏch nhiệm ,quyền hạn và sự điều tiết của nhà nướcđối với cỏc doanh nghiệp mang tớnh độc quyền hay những doanhnghiệp cú chức năng ổn định thị trường,giỏ cả

Ba là mạnh dạn nghiờn cứu và ứng dụng cỏc hỡnh thức tổ

chức quản lý trong cỏc doanh nghiệp nhà nước.Tăng cường hoạtđộng của cỏc doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực phõn phối lưuthụng,từng bước xõy dựng văn minh thương nghiệp, đảm bảoquyền lợi người tiờu dựng

Bốn là phải nõng cao sức cạnh tranh của cỏc doanh nghiệp

nhà nước thụng qua chớnh sỏch tuyển dụng đói ngộ một cỏch hợplý.tăng cường ỏp dung cụng nghệ mới trong hoạt động kinh doanh.Như vậy cú thể thấy trong thờ gian tới nhà nước rất chỳ trọng đếnvấn đề đổi mới hoạt động của cỏc doanh nghiệp nhà nước,và mộtbiện phỏp rất được coi trọng đú là thực hiện cổ phần hoỏ cỏcdoanh nghiệp nhà nước

III Cổ phần hoá Doanh Nghiệp Nhà N ớc

Cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc là một trong nhữnggiải pháp cơ bản của việc tổ chức sắp sếp , đổi mới cơ chế quản lý cácdoanh nghiệp nhà nớc nhằm tăng cờng động lực thúc đẩy phát triển sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp có hiệu quả hơn

nhà n ớc.

Chỉ vài năm sau khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung baocấp sang cơ chế thị trờng định hớng XHCN , Đảng và nhà nớc ta đã bớc

Ngày đăng: 26/05/2015, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w