1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QTBH :nhành dược việt nam báo cáo thực tập

49 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 4,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động bán hàng trong ngành 3.Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Thu thập dữ liệu qua các thông tin sơ cấp, thứ cấp từ các trang web, người tiêu dùng hoặc các cuộc phỏng vấn sâu để làm cơ sở phân tích chính xác tình hình thị trường tùy theo mức độ cần thiết của cửa hàng. Nghiên cứu tại hiện trường: người nghiên cứu ra ngoài hiện trường để tiếp cận đối tượng. nghiên cứu như người tiêu dùng, nhân viên bán hàng trực

Trang 1

A Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Ngành dược luôn là một đề tài nóng hổi, được quan tâm nhiều nhất bởi lợi ích của nó mang lại cho con người là vô cùng to lớn Nói đến dược thì ai cũng đều nghĩ ngay đến các loại thuốc: thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thuốc bổ nâng cao sức khoẻ Thị trường thuốc ngày nay đa dạng với các loại thuốc ngoại, thuốc nội, thuốc giả đan xen lẫn nhau tạo nên một thị trường vô cùng phức tạp gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động bán hàng trong ngành dược Vì thế đề tài nhóm tôi đưa ra nhằm mong muốn đi sâu phân tích rõ các vần đề có liên quan đến các hoạt động bán hàng trong ngành dược và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng bán hàng trong ngành.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nắm rõ tổng quan ngành dược Việt Nam, doanh nghiệp dược nhanh chóngdành thị phần trong thị trường, thu hút khách hàng

- Phân tích được tầm quan trọng của hoạt động bán hàng trong thị trường ngành dược tại Việt Nam

- Thực hành các lý thuyết về quản trị bán hàng, nhận diện khó khăn đồng thờiđưa ra giải pháp khắc phục, rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động bán hàng trong ngành

3.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Thu thập dữ liệu qua các thông tin sơ cấp,thứ cấp từ các trang web, người tiêu dùng hoặc các cuộc phỏng vấn sâu đểlàm cơ sở phân tích chính xác tình hình thị trường tùy theo mức độ cần thiếtcủa cửa hàng

- Nghiên cứu tại hiện trường: người nghiên cứu ra ngoài hiện trường để tiếpcận đối tượng nghiên cứu như người tiêu dùng, nhân viên bán hàng trực

Trang 2

tiếp… để thu thập thông tin sơ cấp qua sự quan sát, hỗ trợ của các thiết bịmáy chụp ảnh, quay phim và phỏng vấn

4 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình hoạt động bán hàng trong ngành dược Việt Nam năm 2014

5 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: từ năm 2009- 2014

Không gian: thị trường Việt Nam

Đề tài này được trình bày trong ba chương:

 Chương 1: Tổng quan ngành dược

 Chương 2: Thực trạng hoạt động bán hàng trong ngành dược

 Chương 3: Nhận xét, đề xuất giải pháp

B Phần nội dung

Chương 1: Tổng quan về ngành dược

I Ngành dược thế giới

Ngành dược phẩm thời hiện đại đã phát triển được gần 100 năm từ những năm 20 của thế

kỷ trước Nếu tính theo quy mô phát triển công nghiệp, lĩnh vực này đã có lịch sử gần 50 năm.

Trang 3

- Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đa số các tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới hiện nay được thành lập Thụy Sĩ, Đức và Ý là những nước đầu tiên phát triển mạnh ngành công nghiệp dược phẩm, theo sau đó là các quốc gia khác như Anh, Mỹ, Bỉ và Hà Lan.

- Vào những năm 1960, rất nhiều loại thuốc được phát triển từ thập niên 50 được đưa vào sản xuất đại trà và tung ra thị trường Trong đó, nổi tiếng nhất là các thuốc như

“The Pill” (thuốc tránh thai), Cortisone (thuốc trị huyết áp) và nhiều loại thuốc tim mạch, chống trầm cảm khác.

- Từ thập niên 70, thuốc điều trị ung thư bắt đầu được sử dụng phổ biến Nền công nghiệp dược phẩm thế giới bắt đầu phát triển mạnh Các quy định pháp lý về việc cho phép các thuốc phát minh “bom tấn” được quyền bán với giá cao nhằm bù đắp các chi phí đầu tư nghiên cứu trước đó bắt đầu có hiệu lực tại nhiều quốc gia

- Vào giữa thập niên 80, hợp nhất sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ với các doanh nghiệp lớn hơn trở thành xu thế và rất nhiều thương vụ M&A đã được thực hiện Sau giai đọan này, nền công nghiệp sản xuất dược phẩm được thu gom về dưới sự kiểm soát của một số tập đoàn dược phẩm không lồ thống trị thị trường tiêu thụ trên toàn thế giới.

- Bắt đầu từ những năm 90, môi trường kinh doanh của ngành dược phẩm có sự thay đổi đáng kể với tiêu điểm là hoạt động mua bán sáp nhập trên quy mô toàn cầu và chiến lược đầu tư mạnh mẽ cho hoạt động nghiên cứu phát triển các hoạt chất mới và thử nghiệm lâm sàng.

- Năm 1997, hoạt động quảng cáo trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua kênh radio và TV gia tăng nhanh chóng Cũng trong giai đoạn này, mạng lưới Internet giúp người tiêu dùng có thể mua thuốc trực tiếp từ các hãng dược, các hãng dược có thể mua nguyên liệu trực tiếp từ nhà sản xuất… và làm thay đổi về căn bản môi trường kinh doanh.

- Hiện nay, nhu cầu sử dụng các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng và các thuốc thay

thế (dùng để điều trị cùng 1 loại bệnh) đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà sản xuất đến sau và làm gia tăng mức độ cạnh tranh trong ngành Đồng thời, trong thời gian gần

Trang 4

đây, nhiều tranh cãi đã xuất hiện xoay quanh các tác dụng phụ của thuốc và các chiến lược marketing không minh bạch của các hãng dược phẩm.

II Ngành dược Việt Nam

Bộ Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ các xưởng sản xuất dược đã được tái lập lạitại miền Trung, miền Đông và miền Tây Nam Bộ và tiếp tục hoạt động cho đến hếtchiến tranh (1975)

Các giai đoạn phát triển

- Giai đoạn 1975 – 1990: ngành dược Việt Nam trong thời bao cấp

Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước,sản xuất không đáng kể Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người thời kỳ nàyđạt vào khoảng 0,5- 1USD/năm Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêuchuẩn chất lượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng

- Giai đoạn 1991 – 2005: ngành dược bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện sựchuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường

Các xí nghiệp, công ty nhà nước trong ngành được thay đổi cơ cấu tập trung, cổphần hóa đầu tư sản xuất, đầu tư vào chiều sâu, nâng cấp để thực hiện các quy định

về thực hành tốt sản xuất GMP Số lượng thuốc được sản xuất ngày càng nhiều, từ

Trang 5

175 hoạt chất (năm1997) lên đến 384 hoạt chất (năm 2002) Cơ quan quản lý cấpcao của ngành dược là Cục Quản Lý Dược thành lập Luật Dược cũng được banhành, làm cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn bộ hoạt động trong lĩnh vực dược

để ngành Dược Việt Nam được hoạt động trong một môi trường pháp lý hoànchỉnh và đồng bộ

- Giai đoạn 2006- 2007: ngành dược tiếp tục phát triển với tốc độ cao, khoảng18% - 20%/ năm Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khókhăn cho ngành dược

Năm 2006-2007, kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, ngành dược đạt tốc độtăng trưởng cao khoảng 18% - 20%/năm Đây cũng là giai đoạn mà các công tydược phẩm đã đạt được chứng nhận GMP-ASEAN đẩy mạnh đầu tư GMP-WHO

- Giai đoạn 2008 – 2009: ngành dược Việt Nam có những chuẩn bị và chủđộng hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm đảm bảo cung cấp

đủ thuốc có chất lượng và an toàn

Kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc “đổi mới”, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạchhoá - tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếngày càng rộng, ngành dược Việt Nam dần bước vào thời kỳ cạnh tranh theo cácnguyên tắc cạnh tranh cơ bản Sau hơn 20 năm phát triển trong môi trường cạnhtranh, có thể khẳng định thị trường dược Việt Nam đã cơ bản vận hành theo cơ chếthị trường với các đặc thù riêng của một ngành kinh doanh đặc biệt Điều này cũng

có nghĩa là các nguyên tắc và quy luật cạnh tranh đã từng bước phát huy tác dụng

và ngày càng đóng vai trò chi phối trên thị trường

- Giai đoạn 2010 – 2014: ngành dược ngày càng phát triển, mức độ tiêu thụthuốc trong nước ngày càng tăng Nhu cầu sử dụng các sản phẩm dinhdưỡng và các thuốc thay thế đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà sản

Trang 6

xuất đến sau và làm tăng gia mức độ cạnh tranh trong ngành Tuy nhiêntrong thời gian gần đây, nhiều tranh cãi đã xuất hiện xoay quanh các tácdụng phục của thuốc và các chiến lược marketing không minh bạch của cáchãng dược phẩm.

Theo ý kiến các chuyên gia y tế, xu hướng phát triển chung của ngành dược phẩm

là không ngừng tìm kiếm các loại thuốc điều trị các căn bệnh mới và các căn bệnh

ác tính hiện hữu, các nguyên liệu sản xuất dược phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên

và chiết xuất từ thực vật Đây như một trào lưu nhằm tạo ra các loại thuốc mới thânthiện với sức khỏe con người và ít tác dụng phụ hơn

2 Tình hình ngành dược hiện nay

Theo IMS Health, Việt Nam thuộc 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển Phân loại này dựa trên tiêu chí chủ yếu là tổng giá trị thuốc tiêu thụ hàng năm, ngoài ra còn có các tiêu chí khác như mức độ năng động, tiềm năng phát triển thị trường và khả năng thay đổi để thích nghi với các biến đổi chính sách về quản lý ngành dược tại các quốc gia này.

Thị trường giàu tiềm năng: Thị trường dược phẩm Việt Nam có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á, khoảng 16% hàng năm Năm 2013 tổng giá trị tiêu thụ thuốc là 3,3 tỷ USD, dự báo sẽ tăng lên khoảng 10 tỷ USD vào năm 2020 (BĐ1).

Cơ cấu thị trường thuốc chủ yếu là thuốc generic chiếm 51,2% trong năm 2012 và biệt dược là 22,3% Kênh phân phối chính là hệ thống các bệnh viện dưới hình thức thuốc được kê đơn (ETC) chiếm trên 70%, còn lại được bán lẻ ở hệ thống các quầy thuốc (OTC) (BĐ2) Tiêu thụ các loại thuốc tại Việt Nam hiện nay cũng đang trong xu hướng chung của các nước đang phát triển, đó là điều trị các bệnh liên quan đến chuyển hóa và dinh dưỡng chiếm tỷ trọng nhiều nhất (20%) (BĐ3).

Mức chi tiêu cho sử dụng thuốc của người dân Việt Nam còn thấp, năm 2012 là 36 USD/người/năm (so với Thái Lan: 64 USD, Malaysia: 54 USD, Singapore:138 USD),

Trang 7

cùng với mối quan tâm đến sức khỏe ngày càng nhiều của 90 triệu dân sẽ là những yếu tố thúc đẩy phát triển ngành dược Việt Nam.

BĐ1: Tăng trưởng tổng giá trị tiêu thụ thuốc và chi tiêu bình quân đầu người cho dược phẩm

Trang 8

Nguồn: Hang T Nguyen, Ngành dược phẩm Việt Nam, 2014; Cục Quản lý Dược

3 Đặc điểm ngành dược Việt Nam

Ngành Công nghiệp dược phẩm tại Việt Nam chủ yếu phục vụ thị trường nội địa Dược phẩm được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua rất nhiều kênh, từ các bệnh viện cho đến các phòng khám, trạm y tế hay các quầy bán lẻ thuốc trong khu vực.

Trong đó doanh thu thuốc từ các bệnh viện chiếm khoảng 70% Nguồn doanh thu này đến từ việc sử dụng thuốc điều trị trực tiếp tại bệnh viện và qua các đơn thuốc mà các bác

sĩ, dược sĩ kê khai Việc người dân có thói quen đi khám bác sĩ tăng lên tạo điều kiện cho

sự tăng trưởng doanh thu ngành.

Tính riêng trên các loại sản phẩm thuốc nội địa, con số này chưa đến 50% và hiện nay

tỉ lệ sử dụng thuốc nội tại các bệnh viện trên cả nước là không giống nhau Các bệnh viện tuyến trung ương chỉ sử dụng 12% thuốc nội địa, các bệnh viện tỉnh sử dụng 34% còn các trạm y tế huyện sử dụng đến hơn 60% thuốc nội.

Còn tại các quầy thuốc bán lẻ tại Việt Nam, số lượng thuốc bán ra khá cao chiếm 60% Tuy nhiên phần lớn các loại thuốc bán ở các quầy bán lẻ đều là thuốc thông thường hay thuốc bổ nên giá cả thấp hơn so với các loại thuốc đặc trị được bán tại các bệnh viện.

50-Vì vậy thu nhập ngành tại các quầy thuốc chỉ chiếm 26,5% thị phần.

Ngành xuất khẩu dược phẩm tại Việt Nam vẫn còn chưa đủ mạnh, cán cân thương mại của ngành dược vẫn luôn âm trong nhiều năm vừa qua Tuy nhiên Đảng và Nhà nước

Trang 9

vẫn đang tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

4 Vị thế ngành dược trong nền kinh tế Việt Nam

Với sự nhận thức về chăm sóc sức khỏe và nhu cầu về y tế ngày càng tang của người dân Việt Nam, doanh thu ngành thuốc không ngừng tăng Tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình giai đoạn 2009-2013 đạt 18.8%/năm.

Sự tăng trưởng này ngược chiều so với các ngành kinh tế khác trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008-2013 vừa qua, do mặt hàng dược phẩm là mặt hàng thiết yếu và không thể thay thế.

BMI đã dự báo lượng tiêu thụ thuốc sẽ tăng lên 117,802.35 tỷ VND vào năm 2017, tương ứng với tốc độ tăng trưởng trung bình là 15.5% Hơn nữa, tỉ lệ đóng góp của ngành cho GDP của cả nước cũng tăng qua các năm và được dự đoán tiếp tục giữ xu hướng này trong vòng 5 năm tới.

BĐ7: Cơ cấu các ngành công nghiệp Việt Nam

BĐ 8: đóng góp vào GDP của ngành dược

Trang 10

Theo đánh giá của tổ chức y tế thế giới (WHO), công nghiệp dược Việt Nam ở mức đang phát triển Việt Nam đã có công nghiệp dược nội địa, nhưng đa số phải nhập khẩu nguyên vật liệu, do đó nhìn nhận một cách khách quan có thể nói rằng công nghiệp dược Việt Nam vẫn ở mức phát triển trung bình - thấp Giống như các nước lân cận, ngành công nghiệp dược của Việt Nam phải chịu chuẩn nghèo Bảo hiểm y tế không đủ và không đều cho người dân nên bệnh nhân phải trả nhiều hơn cho số thuốc mà họ cần Điều này đã cản trở việc tăng trưởng mạnh của thị trường Chính vì vậy cho đến năm 2009, chi tiêu cho y

tế của Việt Nam chỉ chiếm 1.6% GDP.

BĐ 9: Tốc độ tăng GDP và tăng doanh thu ngành dược

GDP Ngành dược Ngành dược Việt Nam mới phát triển ở mức trung bình – thấp Chi tiêu cho y tế mới chiếm 1,6% GDP (2009) Báo cáo Ngành Dược - 2010

Trong những năm qua, số dược phẩm ngày càng tăng, chứng tỏ ngành đã gia tăng đầu tư mạnh Đa số doanh nghiệp dược đã tích lũy được nguồn vốn khá lớn từ việc gia tăng sản lượng tiêu thụ và một phần đến từ phát hành cổ phiếu huy động vốn, nhờ vậy mà các doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng để tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực sản xuất.III Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành

1 Các yếu tố vĩ mô

1.1 Chính trị - pháp luật

Ngành dược là một trong những ngành chịu tác động mạnh bởi sự quản lý của nhànước Các cơ quan tham gia quản lý thị trường dược phẩm Việt Nam bao gồm:

Trang 11

- Cục quản lý giá Bộ Tài chính

Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để điều chỉnh và quản lý thị trườngdược, chẳng hạn:

- Luật dược số 34/2005/QH11: đây là bộ luật nền tảng của ngành dược việtnam quy định việc kinh doanh thuốc, đăng ký, lưu hành thuốc; sử dụngthuốc, thông tin, quảng cáo thuốc; thử thuốc trên lâm sàng; quản lý thuốcgây nghiện thuốc hướng tâm thần; tiền chất dùng làm thuốc và thuốc phóngxạ; tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm nghiệm thuốc

- Quyết định 10/2007/QĐ-BTM ban hành năm 2007: quyết định này ban hànhdanh mục hàng hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khôngđược quyền trực tiếp phân phối tại việt nam, trong đó có nhóm dược phẩm

- Quyết định số 12/2007/QĐ – BYT ban hành nguyên tắc “ Thực hành tốtphân phối thuốc – GDP” Mục đích để bảo đảm cung cấp thuốc có chấtlượng đến tay người sử dụng thông qua các yêu cầu cần thiết cho việc sửdụng thông qua các yêu cầu cần thiết, bảo quản, phân phối thuốc để bảo đảmviệc cung cấp thuốc đến tay người tiêu dùng một cách kịp thời, đầy đủ vàđảm bảo chất lượng

- Điều 50 mục 3 chương V của luật số 43/2013/QH13 này quy định: “ Đối vớithuốc trong nước được Bộ y tế công bố đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá

Trang 12

thuốc và khả năng cung cấp thì trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quyđịnh nhà thầu không được chào thuốc nhập khẩu”, nhằm giảm thiểu ảnhhưởng tiêu cực từ nhiều loại thuốc giá rẻ của Trung Quốc và Ấn Độ trongđấu thầu.

- Thông tư số 05/2014/TT – BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 14/02/2014: quyđịnh việc sử dụng dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền trong cơ sở khám chữabệnh Thông tư này quy định: Dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền chỉ đượcđưa vào trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi đạt yêu cầu về chấtlượng Thông tư này được kỳ vọng sẽ góp phần kiểm soát tốt hơn chất lượngcác thuốc y học cổ truyền đang được sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnhtrong nước và có tác dụng tích cực đến các doanh nghiệp lớn có uy tín trongmảng Đông dược như : Traphaco, OPC, Bvphama…

- Luật thuế TNDN sửa đổi, có hiệu lực từ 1/1/2014, cũng nâng mức giới hạnchi phí quảng cáo của doanh nghiệp từ 10% lên 15%, từ đó tạo điều kiệngiúp các doanh nghiệp dược phẩm trong nước có thể cạnh tranh công bằngvới các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài và duy trì ổn định tỷ trọngkệnh điều trị trong cơ cấu doanh thu, đặc điểm là các doanh nghiệp thuộcphân khúc thuốc chất lượng cao như Stada Pymerpharco…

- Nghị định 181/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật quảng cáo, quy định về quảngcáo thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, trang thiết bị y tế, sữa

và sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ em, dịch vụ khám chữa bệnh… Trong đó,chỉ có các loại thuốc thuộc danh mục 225 hoạt động thuốc không kê đơn do

Bộ Y tế ban hành và có sổ đăng ký đang còn hiệu lực được quảng cáo trênsách, báo, tạp chí, tờ rơi…Hoàn toàn nghiêm cấm quảng cáo thuốc kê đơn,vắc xin, snh phẩm y tế dùng để phòng bệnh…

Trang 13

Các doanh nghiệp đáp ứng được những tiêu chuẩn này mới có thể tồn tại kinhdoanh và phát triển Những quy định này sẽ giúp tạo điều kiện cho các công tydược nhỏ lẻ Việt Nam sáp nhập hoặc mua lại, thúc đẩy các doanh nghiệp trongnước nâng cao, tập trung phát triển theo chiều sâu để có thể cạnh tranh với cáccông ty đa quốc gia.

1.2 Kinh tế

Kinh tế Việt Nam những năm qua tăng trưởng đều và ổn định khoảng 7.4% hàngnăm trong giai đoạn 2007 - 2012, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tếphát triển Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng mạnh đếnnền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến xuất nhập khẩu,tài chính ngân hàng, bất động sản Lạm phát tăng cao, làm cho người dân thậntrọng hơn trong việc đầu tư và tiêu dùng Điều này khiến cho các ngành côngnghiệp gặp nhiều khó khăn hơn So với các ngành khác thì dược là một trongnhững ngành ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nhất, vì đây là một trongnhững mặt hàng thiết yếu đối với người dân

Năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoàitạo nhiều cơ hội thu hút các nhà đầu tư, nhập khẩu các trang thiết bị máy móc hiệnđại… Các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng xâm nhập vào thị trường Việt Namtheo các hình thức như đầu tư trực tiếp xây dựng nhà máy, liên doanh liên kết,hoặc phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng qua trung gian trong nước với cácmức thuế nhập khẩu thấp làm tăng sự cạnh tranh giữa giữa các doanh nghiệp trongnước và nước ngoài Bên cạnh đó, Bộ Công Thương Việt Nam cam kết cắt giảmthuế suất đối với 47 dòng thuế chủ yếu là kháng sinh, vitamin, xuống mức trungbình là 2.5% vào năm 2012, trong khi trước đó trung bình là 10-15% Đưa ra

Trang 14

nhiều thách thức to lớn đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh thuốc của cácdoanh nghiệp nội địa

1.3 Văn hóa – xã hội

Phần lớn người dân Việt Nam tập trung ở nông thôn, thường có mức sống thấp, cónhu cầu cao các loại thuốc có giá thành rẻ, đây là điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp dược Việt Nam mở rộng thị trường Hơn nữa, người tiêu dùng Việt ngàycàng có mức sống nâng cao, tình trạng sức khỏe ngày càng được quan tâm, vì vậy

họ có nhu cầu thuốc cao để đảm bảo sức khỏe Đây cũng là một trong những điềukiện thuận lợi để phát triển ngành dược Việt Nam Theo VPBS, ngành dược ViệtNam đang hội tụ nhiều tiềm năng Sự nhận thức về sức khoẻ của tầng lớp trung lưu

và khả năng tiếp cận thuốc ngày càng được cải thiện là những yếu tố giúp ngànhdược Việt Nam giữ vững tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian tới

1.4 Công nghệ

Phát triển ngành dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn, ưu tiên pháttriển công nghiệp dược Dự án ứng dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất thuốc,nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thay thế thuốc nhập khẩu, thuốcphòng chống các bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốcđông y được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật

Việc đầu tư khoa học và công nghệ cho ngành dược đã giúp Việt Nam chủ động sản xuất thuốc, giảm giá thành thuốc so với nhập ngoại Qua đó, ngành y, người bệnh có cơ hội tiếp cận các thuốc mới với giá thành hợp lý.

Cụ thể, một số sản phẩm đã được tạo ra như vắc-xin Rota sống có giá thành bằng 1/3 giá nhập ngoại (250.000đ/750.000đ), sản phẩm thuốc tiêm đông khô CarbopLatin quy mô công nghiệp có giá cạnh tranh với thuốc nhập ngoại, giá 1 lọ thuốc rẻ hơn nhập ngoại 100.000đ Với 84.000 lọ/năm, sẽ tiết kiệm được 8,4 tỷ đồng/năm.

Trang 15

Thành công trong việc sản xuất một số thuốc điều trị bệnh như:

- Bào chế felodipin và glipizid tác dụng kéo dài theo cơ chế bơm thẩm thấu hỗ trợ điều trị bệnh Tăng huyết áp;

- Hoàn thiện quy trình sản xuất thuốc tiếp đông khô Carboplatin để điều trị ung thư;

- Ứng dụng KH&CN trong quản lý chất lượng toàn diện, nâng cao chất lượng thuốc;

- Bào chế thuốc tiêm liposome doxorubicin điều trị ung thư và liposome amphotericin B điều trị nấm;

- Nghiên cứu bào chế thuốc tiêm Palitaxel hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, nâng cao sức

Thông qua việc thực hiện các chương trình phát triển khoa học- công nghệ, nghiên cứu

và phát triển, các nhà khoa học đã làm chủ được nhiều công nghệ hiện đại, tiên tiến trong các lĩnh vực ghép đa tạng, công nghệ sinh học, sản xuất vắc-xin và nghiên cứu sản xuất thành công nhiều dạng thuốc mới có chất lượng trên dây chuyền công nghệ hiện đại Qua

đó, ngành dược đã đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học trẻ làm tiền đề cho việc phát triển khoa học trong tương lai.

1.5 Dân số

BMI dự đoán rằng thị trường sẽ phát triển từ 1,4 tỷ USD trong năm 2008 đến 6,1

tỷ USD trong năm 2019 Trong khoảng thời gian này, dân số năng động của ViệtNam sẽ thay đổi đáng kể, tác động tích cực đến thị trường dược Dân số trẻ ViệtNam sẽ trưởng thành, tuổi thọ sẽ được nâng lên và BMI dự đoán rằng dân số ViệtNam sẽ tăng từ 86.8 triệu trong năm 2008 lên hơn 100 triệu trong năm 2019.Những nhân tố này sẽ thúc đẩy nhu cầu và chi tiêu cho dược phẩm theo đầu người

Trang 16

dự đoán là sẽ tăng từ 16,45 USD trong 2008 lên 60,30 USD trong 2019 Điều nàytạo nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng ngành dược ở Việt Nam.

2 Ảnh hưởng của các yếu tố vi mô tới ngành

Chuỗi giá trị của ngành dược Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính:

- Nhóm sản xuất: bao gồm các nhà cung ứng nguyên vật liệu sản xuất dượcphẩm, các công ty dược nội địa, các công ty dược FDI

- Nhóm phân phối: bao gồm các nhà phân phối, phân phối lẻ nội địa và nướcngoài, hệ thống chợ sĩ

- Nhóm bán lẻ: bao gồm bệnh viện, nhà thuốc, các phòng mạch tư nhân…Đây là nhóm trực tếp phân phối thuốc đến tay người tiêu dùng cuối cùngtrong chuỗi giá trị

2.1 Nhà cung ứng nguyên liệu

Trang 17

Thuốc được cung cấp từ hai nguồn: sản xuất trong nước và nhập khẩu Đến năm

2013, Việt Nam vẫn chưa phát triển công nghệ hóa dược, do đó hầu hết nguyênliệu sản xuất dược phẩm tại Việt Nam đều phải nhập khẩu

Bảng 1: Nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất thuốc của Việt Nam

Nguồn: VINANET, NG.Hương,Tổng quan ngành dược phẩm Việt Nam năm 2013.

Theo số liệu thống kê của tổng cục Hải

quan, Bộ Y Tế và Cục quản lý dược, 85.5%

nguyên liệu tân dược sản xuất dược phẩm

tại Việt Nam đang phải nhập khẩu trong

đó, Trung quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có

kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu dược

phẩm vào Việt nam lớn nhất trong nhiều

năm, lần lượt chieemms 51.4% và 18.3%

tổng giá trị nhập khẩu năm 2013 Hiện mới

có một nhà máy sản xuất nguyên liệu kháng sinh tổng hợp của Mekophar, sản

Trang 18

lượng thiết kế khoảng 200 tấn amoxicillin và 100 tấn ampicillin mỗi năm, chỉ đủcho nhu cầu của bản thân DN.

Nguồn nguyên liệu đông dược được thu góp từ trong nước thay vì nhập khẩu nhưtân dược Với hơn 4,000 loài thảo dược, Việt Nam đứng thứ ba thế giới về đa dạngsinh học Hơn nữa, tỉ lệ sử dụng đông dược ngày càng tăng, và theo dự báo của bộ

Y tế, con số này sẽ tăng lên 30% trong vòng 5 năm tới Vì vậy, đông dược là phânngành đầy tiềm năng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhập khẩu của ngành dược phẩmnói chung

Các nguyên liệu sản xuất dược phẩm thường thông qua 2 con đường để tiếp cậnvới công ty dược:

- Con đường trực tiếp: làm việc và thỏa thuận trực tiếp với công ty có vănphòng đại diện ở Việt Nam hoặc đặt hàng trực tiếp từ nước ngoài và nhập khẩu vềViệt Nam

- Con đường gián tiếp: thông qua các công ty trung gian chuyên về cung ứngnguyên liệu dược phẩm

Nguyên liệu dược phẩm dựa vào các tiêu chí chủ yếu như độ tinh khiết, tác dụngdược lý, công nghệ sản xuất, uy tín của nhà sản xuất…được phân thành 2 nhómchính, bao gồm:

- Nguyên liệu chất lượng cao: sản phẩm áp dụng công nghệ sản xuất hiện đạiđảm bảo độ tinh khiết cao, thân thiện với sức khỏe con người và được sản xuất bởicác nhà sản xuất có uy tín, kinh nghiệm

- Nguyên liệu giá rẻ: đa phần được sản xuất bởi các nhà sản xuất Trung Quốc

và Ấn Độ với giá thành rẻ

Trang 19

Với đặc thù ngành dược phẩm, giá nguyên liệu đầu vào thường chiếm từ 50% –80% giá vốn hàng bán của thành phẩm Do đó, chênh lệch trong giá nguyên liệuảnh hưởng lớn đến biên lãi gộp của các doanh nghiệp.

Thị trường nguyên liệu dược phẩm trong nước đang chứng kiến sự cạnh tranh khốcliệt từ các nhà cung ứng nước ngoài, chủ yếu xoay quanh 3 nhóm châu Âu, Ấn Độ,Trung Quốc Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa cũng đangchay đua trong việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu mới nhằm cân đối giữa chấtlượng với giá thành sản xuất phù hợp với định hướng phát triển và phân khúckhách của từng doanh nghiệp trong tương lai, nhóm cho rằng nhà cung ứng cácnguyên liệu chất lượng cao sẽ dần thay thế các nhà cung ứng nguyên liệu chấtlượng thấp để đảm bảo chất lượng và được FDA hay EMA công nhận

2.2 Nhà sản xuất dược phẩm

Các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam có tuổi đời khá trẻ so với thế giới và chỉthực sự phát triển từ sau năm 1990 Cả nước hiện có 178 doanh nghiệp sản xuấtthuốc, trong đó có khoảng 100 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 80 doanhnghiệp sản xuất thuốc đông dược) hầu hết các doanh nghiệp đều tập trun gsanrxuất các dòng thuốc phổ biến trong khi đó các thuốc chuyên khoa, đặc trị cao lạikhông được quan tâm Do đó xảy ra tình trạn sản xuất chồng chéo, tranh giành mộtphân khúc thị trường nhỏ giữa hầu hết cá doanh nghiệp trong nội địa phân khúcthuốc đặc trị, chuyên khoa…giá trị cao hoàn toàn do các doanh nghiệp nước ngoàichiếm lĩnh

Tại Việt Nam, các nhà sản xuất dược được chia thành nhiều nhóm theo các tiêu chíphân loại như sau:

Theo hình thức sỡ hữu:

Trang 20

- Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): SanafiAventis Việt Nam, Euvipharm, United Pharma…

- Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa: Dược Hậu Giang, Domesco,Traphaco…

Hiện tại, chí phí R&D mà các doanh nghiệp Việt Nam công bố thường tập trungvào các dự án mua sắm máy móc thiết bị mới chỉ khoảng dưới 3% doanh thu, đây

là một tỷ lệ thấp so với các nước Châu Á dân số đông (khoảng 5%) và so với thếgiới (12%-16%) Các DN dược trong nước đang có xu hướng nâng cấp nhà máysản xuất đạt các tiêu chuẩn quốc tế như PIC/S-GMP, EU-GMP để sản xuất thuốcgeneric chất lượng cao nhằm tăng khả năng thâm nhập kênh phân phối ETC vàxuất khẩu; đồng thời gia công và sản xuất thuốc nhượng quyền là con đường ngắn

và hiệu quả để theo kịp trình độ của ngành dược thế giới và tăng năng lực cạnhtranh Những tập đoàn dược có tên tuổi lớn như Sanofi-Aventis (Pháp), GSK(Anh), Servier (Pháp), Pfizer (Mỹ)… đã xuất hiện tại Việt Nam và hoàn toànchiếm lĩnh thị trường trong nước cho phân khúc thuốc đặc trị cũng như đang thâm

Trang 21

nhập sâu hơn nữa phân khúc thuốc phổ thông Gia nhập WTO, Việt Nam phải cắt

bỏ việc bảo hộ từ chính phủ, điều này sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh trong ngànhdược từ phía công ty nước ngoài cũng như từ phía các doanh nghiệp trong ngành

Áp lực này đòi hỏi các doanh nghiệp ngành dược phải tăng việc đầu tư vào máymóc, công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất Để tồn tại và sống còn, các doanhnghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học về công nghệ bàochế, công nghệ sinh học sản xuất các thuốc mới, thuốc thành phẩm Theo bộ Y tế,

từ nay đến 2020, và tầm nhìn 2030, sẽ có rất nhiều dự án đầu tư vào ngành dược,bao gồm cả phân ngành thuốc đặc trị, khi các dự án được vay với lãi suất ưu đãi3% trong vòng 12 năm với ngân hàng phát triển Việt Nam

2.3 Các doanh nghiệp gia công – sản xuất nhượng quyền

- Doanh nghiệp gia công

Theo bộ Y tế Việt Nam, gia công là thực hiện một, một số hoặc toàn bộ công đoạncủa quá trình sản xuất thuốc đây là hình thức khá phổ biến tại Việt Nam, thườngxảy ra giữa các doanh nghiệp dược quy mô nhỏ và các doanh nghiệp sản xuất dượcphẩm quy mô lớn doanh thu từ loại hình sản xuất này thường được ghi nhận trênbáo cáo tài chính của các doanh nghiệp dưới dạng doanh thu từ cung cấp dịch vụ,doanh thu khác… và thường chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu doanh thu.Chất lượng sản phẩm trong hoạt động gia công thường có sự biến động rất lớn vàphụ thuộc vào yêu cầu của bên đặt gia công

- Doanh nghiệp sản xuất nhượng quyền:

Đây là một hình thức gia công cao cấp, trong đó đơn vị nhượng quyền sản xuấtthường là các tập đoàn dược phần lớn nước ngoài, mục đích là muốn sản xuất cácloại thuốc của họ ngay tại thị trường Việt Nam với chi phí thấp hơn so với thuốc

Trang 22

nhập khẩu, phù hợp với mặt bằng giá cả tại Việt nam và vẫn đảm bảo được chấtlượng hiệu quả như thuốc nguyên bản.

Doanh nghiệp sản xuất nhượng quyền phải đáp ứng các yêu cầu về nhà máy, trình

độ sản xuất, bảo quản…Tập đoàn nhượng quyền sẽ chuyển giao toàn bộ bí quyếtcông nghệ sản xuất cho doanh nghiệp Giá thành các sản phẩm nhượng quyền sẽthấp hơn khoảng 30% so với dược phẩm gốc biên lợi nhuận của hoạt động sảnxuất dao động trong khoảng 1 – 10% tùy theo mức độ phức tạp trong tương lai,sản xuất nhượng quyền đang là hướng phù hợp với ngành dược Việt nam hiện nay,giúp các doanh nghiệp nội địa có thể học hỏi và áp dụng ngược lại các kinh nghiệmkiến thức đã học hỏi vào sản xuất sản phẩm của mình Mặt khác, hình thức giacông thuốc đang tiềm ẩn rủi ro khá lớn khi doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài cóthể lách quy định về hạn chế chào thầu thuốc ngoại bằng cách thuê gia công hoặcthành lập một đơn vị gia công bước cuối trong nước để hợp thức hóa xuất xứ củathuốc

2.4 Nhà phân phối dược phẩm

Thuốc nhập khẩu : được nhập về cũng bởi các công ty dược lớn trong nước Theothống kê 2011 của Bộ Thương mại, 10 nhà nhập khẩu hàng đầu chiếm 76.5%lượng thuốc nhập toàn ngành Trong đó thị phần chính thuộc về 3 công y là Dượcliệu TW2, công ty Dược thành phố Hồ Chí Minh, công ty XNK 2 chiếm lần lượt29.2%, 10.1%, 8.4% thuốc ngoại hành phẩm được nhập chủ yếu từ các nước cónền công nghiệp dược phát triển như Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ… trong đó Phápchiếm vị trí hàng đầu với chủ yếu là các thuốc biệt dược như thuốc tâm thần, timmạch, giảm đau, thuốc chữa lao phổi…

Công nghiệp dược Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu sử dụng thuốc tân dược của người dân và 50% còn lại phải nhập khẩu, chưa kể nhập khẩu nguyên liệu

Trang 23

đầu vào và các hoạt chất để sản xuất thuốc Tổng giá trị nhập khẩu thuốc năm 2013 trên 1,8 tỷ USD, trong khi năm 2008 con số này chỉ mới 864 triệu USD, tăng hàng năm trong giai đoạn 2008-2013 là 18% (BĐ4).

Năm 2013, thuốc nhập vào Việt Nam chủ yếu từ các thị trường Pháp, Ấn Độ và Hàn Quốc….(BĐ5), còn nguyên liệu để sản xuất thuốc đa số nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn

Độ, lần lượt là 52% và 16% tổng giá trị nhập khẩu (Bảng 1) Về nguyên liệu đông dược, 90% nhập từ Trung Quốc, còn lại là thảo dược trồng ở Việt Nam, phổ biến như atisô, đinh lăng, cam thảo, cao ích mẫu, diệp hạ châu,…

BĐ4: Tình hình nhập khẩu thuốc của Việt Nam

Nguồn: 2014: Italian Trade Agency, Brief sector note on pharmaceutical industry in

Vietnam; ICE processing of General Statistics Office data.

BĐ5: Thị trường nhập khẩu thuốc của Việt Nam, năm 2013

Trang 24

Nguồn: 2014: Italian Trade Agency, Brief sector note on pharmaceutical industry in

Vietnam; ICE processing of General Statistics Office data.

- Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm ở Việt Nam

Các doanh nghiệp (DN) dược phẩm Việt Nam mới phát triển sau năm 1990, có tuổi đời khá trẻ so với thế giới Hiện có 178 DN sản xuất thuốc, trong đó có 98 DN sản xuất tân dược, 80 DN sản xuất đông dược và 30 cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền Hệ thống phân phối thuốc rộng khắp cả nước với trên 2.200 đơn vị và 43.000 cơ sở bán lẻ.

Dù vậy, Việt Nam vẫn chưa có một nền công nghiệp dược hiện đại, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường và chưa có công nghiệp sản xuất nguyên liệu dược Các DN dược Việt Nam đa số sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu nhập, hiện mới có một nhà máy sản xuất nguyên liệu kháng sinh tổng hợp của Mekophar, sản lượng thiết kế khoảng 200 tấn amoxicillin và 100 tấn ampicillin mỗi năm, chỉ đủ cho nhu cầu của bản thân DN.

Trong đó DN dược trong nước có mặt trên sàn chứng khoán, năm 2013, 3 DN dẫn đầu doanh thu thuần là DHG, TRA và DMC Giai đoạn 2009 - 2013, DN có tăng trưởng doanh thu cao là TRA, PPP và DHG với mức lần lượt là 22,5%, 19,3% và 19,2% Tăng trưởng lợi nhuận đáng kể trong giai đoạn này là TRA đạt 35,3% và PMC là 23,9% Tuy nhiên SPM lại có mức tăng trưởng lợi nhuận âm -27,2% khá lớn (Bảng 2).

Ngày đăng: 26/05/2015, 00:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất thuốc của Việt Nam - QTBH :nhành dược việt nam báo cáo thực tập
Bảng 1 Nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất thuốc của Việt Nam (Trang 17)
Bảng 2: Doanh thu một số doanh nghiệp dược - QTBH :nhành dược việt nam báo cáo thực tập
Bảng 2 Doanh thu một số doanh nghiệp dược (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w