Những thay đổi về bản chất của cạnhtranh quốc tế, trong đó có sự nở rộ của các tập đoàn đa quốc gia không chỉ xuấtkhẩu mà còn cạnh tranh quốc tế thông qua các doanh nghiệp con ở nước ng
Trang 1MỤC LỤC
LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI – NEW TRADE THEORY 3
I Tiểu sử : 3
II Hoàn cảnh ra đời: 3
III Tư tưởng chủ đạo: 4
IV Một vài ví dụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: 5
V Đánh giá Lý thuyết: 6
LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA 7
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI LÝ THUYẾT 7
-II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 7
-III NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA 8
-IV MÔ HÌNH KIM CƯƠNG VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA 9
V MICHAEL EUGENE PORTER 17
-VI VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA 18
LÝ THUYẾT KHÔNG GIAN TIỀN TỆ TỐI ƯU 22
I/ Tiểu sử : 22
II/ Nội dung: 23
III/ Sự vận dụng vào thực tế: 23
IV/ Đánh giá: 24
Đồng Tiền Chung Châu Âu Với Thị Trường Tài Chính Quốc Tế 24
CHỦ NGHĨA CHIẾT TRUNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ 29
ĐÁNH GIÁ CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ 30
Trang 2-LÝ THUY T TH ẾT THƯƠNG MẠI MỚI – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) ƯƠNG MẠI MỚI – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) NG M I M I – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) ẠI MỚI – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) ỚI – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN)
I Ti u s : ểu sử : ử :
Paul Robin Krugman ( sinh ngày 28 tháng 2
năm 1953) là một nhà kinh tế Mỹ , giáo sư kinh
tế và vấn đề quốc tế tại Woodrow WilsonSchool of Public và vấn đề quốc tế tại Đại họcPrinceton , Centenary giáo sư tại trườngLondon Kinh tế , và một chuyên mục cho tờ
The New York Times Paul Krugman tốt
nghiệp đại học Yale năm 1974 và hoàn thànhluận án Tiến sĩ về tài chính quốc tế tại Đại họcMIT danh tiếng (Học viện Công nghệ Massachusetts) chỉ ba năm sau đấy, ở tuổi 24 Ông làtác giả của 20 cuốn sách và hơn 200 bài báo chuyên ngành
Paul Krugman nhận giải Nobel Kinh tế do Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển trao tặngtại trường Đại học Princeton, Mỹ, vào ngày 13/10/2008
Theo thông cáo, Paul Krugman được trao giải cho “sự phân tích của ông về các hình mẫuthương mại và vị trí của hoạt động kinh tế” Cụ thể hơn, giải thưởng được trao cho nhữngđóng góp của Paul Krugman trong hai lĩnh vực thương mại quốc tế và địa lý kinh tế
II Hoàn c nh ra đ i: ảnh ra đời: ời:
Trong một thời gian dài từ đầu thế kỷ 19 cho tới những năm 1970, lý thuyết thương mạiquốc tế được xây dựng dựa trên ý tưởng của nhà kinh tế học người Anh David Ricardo vềlợi thế so sánh.Theo Ricardo, các quốc gia sở dĩ trao đổi mua bán hàng hóa vì họ có nhữnglợi thế so sánh khác nhau và thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở sự khác biệt về lợi thế sosánh này
Sang thế kỷ 20, vào những năm 1920 - 1930, lý thuyết của Ricardo được hai nhà kinh tếhọc người Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin mở rộng và mô hình hóa
Trang 3Mô hình Heckscher-Ohlin cho rằng thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở điều kiện khácbiệt giữa các quốc gia về nhân tố sản xuất: Một số nước dư thừa lao động nhưng lại thiếuvốn, trong khi một số nước khác lại nhiều vốn nhưng thiếu lao động Kết quả là những nước
sẽ chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà nước đó có lợi thế tươngđối và nhập khẩu những mặt hàng kém lợi thế Chẳng hạn, Việt Nam có nhiều lao độngnhưng thiếu vốn và công nghệ nên có lợi thế tương đối trong sản xuất các mặt hàng cầnnhiều lao động như quần áo, giày dép, nông sản, trong khi Mỹ có lợi thế tương đối trong sảnxuất các mặt hàng công nghệ cao và cần nhiều vốn như máy tính, Ipod, phim Hollywood…
Và quan hệ thương mại diễn ra trên cơ sở này, Việt Nam xuất khẩu quần áo, giầy dép,nông sản sang Mỹ và nhập khẩu máy tính, Ipod, phim Hollywood… từ Mỹ
Mô hình Heckscher-Ohlin ngự trị tư duy kinh tế quốc tế trong suốt nửa thế kỉ, và giảithích được hầu hết các mối quan hệ thương mại quốc tế Thế nhưng càng ngày, người tacàng thấy có những đặc điểm trong thương mại quốc tế mà mô hình này không thể giảithích
Một trong những đặc điểm đó là quan hệ thương mại nội ngành (intra-industry trade) Ví
dụ, Mỹ xuất khẩu xe hơi sang Nhật và châu Âu nhưng cũng nhập khẩu xe hơi từ Nhật vàchâu Âu Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành này không thểxảy ra vì với một mặt hàng, chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sang nơi không cólợi thế sản xuất mặt hàng đó, như nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, mà thôi Nhưngthực tế lại không diễn ra như vậy
Lý thuyết lợi thế so sánh cũng không giải thích được tại sao một số nền kinh tế như ĐàiLoan và Hàn Quốc lại thành công trong việc chuyển từ xuất khẩu quần áo, giày dép vàonhững năm 1960 sang xuất khẩu máy tính, ôtô đến Mỹ và châu Âu như ngày nay
Việc này gây nhiều bối rối cho các nhà kinh tế học và đã có một số mô hình ra đời nhằmgiải thích cho quan hệ thương mại này
Năm 1976, trong một lần dự tiết giảng của Robert Solow, một nhà kinh tế từng được giảiNobel, Paul Krugman được biết tới khái niệm cạnh tranh độc quyền - là sự cạnh tranh xảy ra
Trang 4khi những nhà sản xuất có được vị thế độc quyền với những nhãn hiệu hay sản phẩm nhấtđịnh.
Ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế chợt nảy ra
trong đầu Paul Krugman Sau này ông kể lại: “Chỉ trong vài giờ sau đấy, tôi biết ngay tôi
đã có chìa khóa để cầm trong tay cả sự nghiệp của mình Tôi còn nhớ rõ tôi thức cả đêm trong phấn khích”
Thế nhưng ý tưởng của ông không dễ dàng được chấp nhận, bài viết của ông bị nhiều tạpchí chuyên ngành có uy tín từ chối và vấp phải sự thờ ơ của đồng nghiệp Mãi tới năm 1979,Krugman mới có thể đăng bài viết của mình trên Tạp chí Kinh tế Quốc tế Bài viết ngắn, chỉ
10 trang nhưng ngay lập tức gây được sự chú ý đặc biệt trong ngành và Paul Krugman trởthành cha đẻ trường phái “Lý thuyết thương mại mới” khi mới 26 tuổi
III T t ư tưởng chủ đạo: ư tưởng chủ đạo:ởng chủ đạo: ng ch đ o: ủ đạo: ạo:
Lý thuyết này giải thích quan hệ thương mại nội ngành dựa trên giả định về lợi thế nhờquy mô, theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất Lý thuyết nàyđược xây dựng nhằm đưa ra cách giải thích khác về cơ cấu và mô thức của nền thương mạithế giới.Nó được xây dựng trên các lập luận sau:
- Quá trình chuyên môn hóa sản xuất và lợi thế kinh tế theo quy mô sẽ mang lại cáckhoản lợi ích cho các bên tham gia
- Các doanh nghiệp đầu tiên gia nhập vào một thị trường nào đó có thể tạo ra những ràocản nhất định đối với các doanh nghiệp gia nhập sau đó
- Chính phủ của các nước có thể có vai trò hỗ trợ có hiệu quả cho các công ty của nướcmình khi tham gia vào thị trường thế giới
Lý thuyết thương mại mới đưa ra khái niệm lợi thế của người đi trước Đây là khái niệmchỉ ra những lợi thế về kinh tế và lợi thế về mặt chiến lược đạt được của các công ty dochúng là người đầu tiên gia nhập gia nhập vào một ngành công nghiệp nhất định Theo lýthuyết này,khi một công ty mới gia nhập vào một ngành sản xuất nào đó thì công ty thườnggặp phải các loại chi phí cố định là rào cản đối với sự gia nhập như chi phí nghiên cứu và
Trang 5phát triển,chi phí xây dựng nhà xưởng,chi phí mua sắm máy móc,thiết bị… Quá trìnhchuyên môn hóa sẽ làm cho công ty tăng được khối lượng sản phẩm sản xuất ra và việc nàylàm cho chi phí cố định có tăng lên đôi chút,nhưng do sản lượng tăng lên rất lớn nên chi phíđối với mỗi đơn vị sản phẩm giảm xuống Đây là điều kiện để công ty giảm giá đối vớikhách hàng mà vẫn đảm bảo lợi nhuận Đối với những công ty mới thâm nhập vào thịtrường,để có thể tồn tại được,chúng buộc phải sản xuất với mức sản lượng tương tự để có thểcạnh tranh về giá Những ưu thế của công ty đến trước có được do chủ động đưa ra các loạirào cản đối với các đối thủ cạnh tranh thâm nhập thị trường muộn hơn được gọi là lợi thế củangười đi trước.
Do là người đầu tiên gia nhập thị trường nên các công ty này thường được chính phủ ủng
hộ dưới nhiều hình thức Hơn nữa,để giành lợi thế đến trước so với các đối thủ khác,cácchính phủ cũng ý thức được sự cố gắng và những nỗ lực có tính chất chủ động củamình,nhằm tạo cho các doanh nghiệp đi tiên phong phải được hưởng những ưu đãi để hìnhthành và phát triển mạnh các lợi thế Theo cách xem xét đó,những cố gắng của doanh nghiệpphải kết hợp với sự hỗ trợ của chính phủ một cách nhịp nhàng
Bên cạnh lợi thế quy mô sản xuất, lý thuyết Krugman còn dựa trên giả định người tiêudùng quan tâm tới tính đa dạng sản phẩm
Do hai đặc tính này - lợi thế quy mô của nhà sản xuất và sự ưa thích đa dạng nhãn hiệucủa người tiêu dùng - mà người sản xuất sẽ dần dần trở thành độc quyền đối với nhãn hiệusản phẩm của mình, kể cả khi phải chịu sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu khác
Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữanhững nước có lợi thế tương đối về công nghệ và nhân tố sản xuất tương tự nhau Ví dụ Mỹ
và châu Âu cùng có lợi thế tương đối về vốn và công nghệ nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe Ford
và nhập xe BMW từ châu Âu Sở dĩ điều này xảy ra vì sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệucủa người tiêu dùng cho phép cả hai hãng Ford và BMW có lợi thế tương đối trong sản xuấtnhững nhãn hiệu của mình
Trang 6IV M t vài ví d th c t minh h a cho lý thuy t th ột vài ví dụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: ụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: ực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: ế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: ọa cho lý thuyết thương mại mới: ế minh họa cho lý thuyết thương mại mới: ư tưởng chủ đạo:ơng mại mới: ng m i m i: ạo: ới:
1 Cụ thể ở Việt Nam,ta sẽ xét trong thị trường viễn thông Trong thị trường viễn thôngViệt Nam,các doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực này là Vinaphone,Mobiphone vàViettel Đây là 3 ông lớn của làng viễn thông Việt Nam Bắt đầu tham gia vào thị trườngviễn thông vào năm 1993,thời điểm này cước sử dụng dịch vụ điện thoại di động còn rất cao-
vì thời điểm này số lượng khách hang còn thấp,người dân VN còn khá dè dặt với hình thứcmới mẻ này Hai anh em Vinaphone và Mobiphone cùng được ra đời từ tập đoàn viễn thôngquốc gia VNPT được hậu thuẫn rất lớn từ chính phủ,cùng với Viettel Telecom-tập đoàn viễnthông quân đội Từ những năm 2000,số lượng người dùng dịch vụ di động tăng lên đángkể,cùng với đó là sự vào cuộc mạnh mẽ của các mạng di động nhỏ như S-phone,HT-mobile,Vietnammobile, EVN telecom, Beeline…các ông lớn bắt đầu sử dụng lợi thế kinh tếcủa mình-đó là công nghệ thiết bị sẵn có,số lượng khách hàng lớn ( sản lượng lớn) để dựngnên các rào cản thâm nhập với các công ty “đến sau” bằng các hình thức giảm giá cước liêntục,khuyến mãi lớn…cùng với các dịch vụ gia tăng khác dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có màvẫn đảm bảo lợi nhuận cao Còn các mạng nhỏ liên tục gặp khó khăn lớn và gần như khôngthể cạnh tranh nổi Các mạng nhỏ đến sau với nguồn khách hàng hạn hẹp,đầu tư ban đầu lớnthì không thể hạ giá thành sản phẩm được
Đây là một ví dụ rất điển hình cho lý thuyết người đi trước của Krugman
Ngoài ra,chúng ta có thể thấy hiện nay có nhiều quốc gia đủ khả năng thành lập các nhàmáy sản xuất máy bay,nhưng thực tế chỉ có một số hãng máy bay có thể sản xuất nhưBoeing,Airbus Đây cũng là do tính kinh tế của quy mô bởi sản xuất máy bay cần đầu tưcông nghệ cao,nghiên cứu cẩn thận và nhà xưởng hiện đại Đây là một rào cản lớn đối vớicác hãng muốn gia nhập thị trường sản xuất máy bay
2 Về lý thuyết người tiêu dùng ưa thích sự đa dạng sản phẩm,trên thực tế chúng ta cũnggặp rất nhiều Ví dụ như Việt Nam là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo( chỉ sau TháiLan),nhưng người dân Việt Nam vẫn lựa chọn các loại gạo như gạo Thái,gạo Nhật…
Một ví dụ khác đó là Đức với ngành công nghiệp sản xuất ôtô mạnh với các hãng nhưWolwagen,BMV,Mercedes nhưng họ vẫn nhập khẩu các loại ôtô từ Mỹ nhưRolroys,Ford,,,hay từ nhật như Toyota,Mazda…
Trang 7Biểu đồ thị phần của các công ty viễn thông Việt Nam tính đến quý I/2009
V Đánh giá Lý thuy t: ế minh họa cho lý thuyết thương mại mới:
Lý thuyết thương mại mới chưa đủ những bằng chứng để kiểm nghiệm và đánh giá nó một cách đầy đủ nên những thành công và hạn chế của nó vẫn chưa được khẳng định một cách rõ rang trên thực tế
LÝ THUY T V KH NĂNG C NH TRANH QU C GIA ẾT THƯƠNG MẠI MỚI – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) Ề KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA Ả NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA ẠI MỚI – NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN) ỐC GIA
( National competitive advantage)
Sự cạnh tranh trở nên ngày càng khốc liệt giữa các quốc gia Các rào cản thươngmại bị dỡ bỏ và các thị trường được mở cửa ra bên ngoài Các quốc gia chuyển từ sựtập trung của họ từ chính trị quốc tế sang nâng cao đời sống người dân
Trang 8Sự cải cách kinh tế vĩ mô là cần thiết nhưng chưa đủ Cũng quan trọng không kém,thậm chí là quan trọng hơn, là nền tảng vi mô của phát triển, bắt nguồn từ chiến lượccủa các doanh nghiệp và trong các thể chế, hạ tầng chính sách Làm gì sau quá trìnhđiều chỉnh và ổn định vĩ mô?
Thu hẹp khoảng cách giữ doanh nghiệp và chính phủ trong việc giải quyết các vấnđề sức cạnh tranh
Lợi thế so sánh, như nó được hiểu, dựa vào các nguồn lực đầu vào như lao động, tàinguyên thiên nhiên và vốn tài chính Tuy nhiên, những nhân tố đầu vào đó ngày naycàng trở nên ít có giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa Sự thịnh vượng phụ thuộc vàoviệc tạo dựng một môi trường kinh doanh cùng với những thiế chế hỗ trợ cho phépmột quốc gia sử dụng hiệu quả và nâng cấp nguồn lực đầu vào của nó
Sự nhầm lẫn giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh quốc gia
Với chính phủ, sự phân biệt giữa tự do và can thiệp đã lỗi tời Chính phủ, đầu tiên
và quan trọng nhất, phải nỗ lực tạo ra một môi trường hỗ trợ nâng cao năng suất Hàm
ý mỗi chính phủ cần có vai trò tối thiểu trong một số lĩnh vực và có vai trò chủ độngtrong những lĩnh vực khác
- Michael Poter đã nghiên cứu nhiều nước khác nhau và trong mỗi nước, ông xem xét
kỹ lưỡng cạnh tranh trong nhiều ngành công nghiệp Nghiên cứu dựa trên chỉ mộtvài quốc gia hay nhóm nhỏ các ngành có rủi ro nhầm lẫn những cái cá biệt đối vớinhững nguyên lý tổng quát Ông đã chọn ra mười nước để nghiên cứu với nhiều đặctrưng và thể chế khác nhau Bao gồm: Đan Mạch, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh Quốc, Hoa Kỳ
- Công trình của ông bao gồm các phần chính:
o Phần 1: Trình bày tổng quan lý thuyết, cung cấp những nguyên lý của chiếnlược cạnh tranh
o Phần 2: phân tích lịch sử phát triển của bốn ngành công nghiệp tiêu biểu đượclựa chọn từ nhiều ngành công nghiệp đã nghiên cứu
o Phần 3: Áp dụng các lý thuyết vào các quốc gia
Trang 9o Phần 4: phát triển một số những hàm ý của lý thuyết đối với chiến lược củacông ty và chính sách của chính phủ.
o Phần 5: minh họa việc sử dụng lý thuyết để xác định những vấn đề sẽ điềuchỉnh sự phát triển trong tương lại của mỗi nền kinh tế quốc gia
1 Sức cạnh tranh là gì?
- Một số người coi sức cạnh tranh quốc gia là một hiện tượng kinh tế vĩ mô liên quantới các biến số như tỉ giá hối đoái, lãi suất và mức thâm hụt ngân sách chính phủ.Nhiều nước vẫn hưởng mức sống tăng lên gnanh chóng bất chấp thâm hụt ngânsách
- Một số nước coi sức cạnh tranh là một hàm số của lao động giá rẻ và dồi dào ViệtNam là một ví dụ điển hình cho quan điểm này Các nước như Đức, Thụy Sĩ vàThụy Điển trở nên giàu có bất chấp mức lương trả cho công nhân cao và thiếunguồn lao động trong muộn thời gian dài
- Còn một số quan điểm cho rằng sức cạnh tranh phụ thuộc vào việc sở hữu nhữngnguyên tài nguyên thiên nhiên dồi dào
- Gần đây, nhiều người cho rằng chính sách của chính phủ có tác động lớn nhất tớisức cạnh tranh
- Sức cạnh tranh quốc gia là những khác biệt trong phương pháp quản lý
- Không một sự giải thích nào về sức cạnh tranh là hoàn toàn thỏa đáng
2 Những vấn đề về cạnh tranh
- Tại sao một số nhóm xã hội, tổ chức kinh tế và quốc gia lại giàu có và thịnh vượng?
- Tại sao một số quốc gia gặp nhiều bất lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiênnhiên lại có thể phát triển thịnh vượng? Tại sao một số quốc gia khác có nhiều điềukiện tự nhiên thuận lợi lại tụt hậu? Tại sao Nhật Bản lại có năng lực cạnh tranhtrong ngành điện tự và thiết bị tự động hóa, Ý trong ngành may mặc và thời trangcòn Mỹ lại có lợi thế mạnh về máy tính và phần mềm, điện ảnh? Làm sao chúng ta
Trang 10có thẻ giải thích được vì sao nước Đức lại trở thành đất nước của những công ty sảnxuất máy in, xe hơi sang trọng và hóa chất hàng đầu thế giới? Vì sao đất nước Thụy
Sĩ nhỏ bé lại là nơi đặt trụ sở của các doanh nghiệp dược phẩm, chocolate và kinhdoanh hàng đầu?
- Lý thuyết vĩ mô truyền thống về cạnh tranh và thương mại trên nguồn tài nguyênthiên nhiên và lao động giá rẻ hay sự can thiệp của chính phủ dường như không thể
lý giải thấu đáo những câu hỏi trên
- Các lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và David Ricardo ngày nay càng
tỏ ra không đầy đủ để giải quyết các vấn đề Những thay đổi về bản chất của cạnhtranh quốc tế, trong đó có sự nở rộ của các tập đoàn đa quốc gia không chỉ xuấtkhẩu mà còn cạnh tranh quốc tế thông qua các doanh nghiệp con ở nước ngoài đãlàm suy yếu cách lý giải truyền thống vì sao và nơi nào một quốc gia sẽ xuất khẩu
Lý thuyết về lợi thế so sánh vấp phải nghịch lý Leontief
- Doanh nghiệp từ các nước đạt được những thành công toàn cầu khác nhau trongnhững ngành cụ thể Môi trường ở một số nước dường như thúc đẩy sự tiến bộ hơn
ở các nước khác
- Lợi thế cạnh tranh quốc gia hay những đặc trưng quốc gia nuôi dưỡng lợi thế cạnhtranh trong những lĩnh vực cụ thể và những hàm ý cho cả doanh nghiệp và chínhphủ
3 Sự thay đổi trong cạnh tranh:
- Sự phát triển của cộng nghệ:
o Ngày càng có nhiều ngành công nghiệp khác biệt với những ngành lý lýthuyết lợi thế ó sánh đã dựa vào Sự thay đổi công nghệ diễn ra khắp nơi vàliên tục
o Công nghệ đã mang tới cho các quốc gia và doanh nghiệp sức mạnh đề vượtqua sự khan hiếm các yếu tố sản xuất thông qua những quy trình và sản phẩmmới
Trang 11o Trong nhiều ngành công nghiệp, việc tiếp cận với các yếu tố sản xuất dồi dàokhông có vài trò quan trọng bằng công nghệ và kỹ năng sử dụng chúng hiệuquả Ví dụ, lao động giá rẻ ở Việt Nam là một lợi thế, chừng nào khoa họccông nghệ còn gặp khó khăn với những ngành sản xuất thủ công Tuy nhiên,tới một thời điểm, công nghệ sản xuất được cải tiến, điều đó làm giảm đi lợithế về lao động giá rẻ của Việt Nam.
- Vốn yếu tố sản xuất tương đương:
o Hầu hết các hoạt động thương mại trên thế giới diễn ra ở những quốc gia tiêntiến với vốn yếu tố sản xuất tương đương
o Nhiều quốc gia cũng đã có những cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc cạnh tranhtrong hầu hết các ngành công nghiệp Những lợi thế về nhân tố sản xuất thuậnlợi ở các quốc gia tiên tiến đã dần bị thu hẹp
- Toàn cầu hóa:
o Các doanh nghiệp cạnh tranh với những chiến lược toàn cầu Họ hình thànhcác liên minh với những doanh nghiệp từ các quốc gia khác để có thể tiếp cậnvới điểm mạnh của những doanh nghiệp đó
o Sự toàn cầu hóa các ngành công nghiệp tách rời daonh nghiệp ra khỏi vốn yếu
tố sản xuất của riêng một quốc gia Các yếu tố sản xuất như nguyên liệu thô,phụ kiện đều tương tự nhau, có sẵn trên toàn cầu
o Chính địa điểm và cách sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất có ý nghĩa quyếtđịnh hơn bản thân các yếu tố trong thành công quốc tế
Các nước đang phát triển thường rơi vào vấn đề này
Trang 12IV MÔ HÌNH KIM CƯƠNG VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA
Câu trả lời cho những vấn đề ở trên nằm trong bốn đặc tính tổng quát của mộtquốc gia, hình thành nên môi trường trong đó các doanh nghiệp trong nước khicạnh tranh, và có thể làm tăng hoặc giảm lợi thế cạnh tranh
- Thứ nhất, điều kiện về nhân tổ sản xuất: vị trí của quốc gia trong các nhân tổ cầnthiết để cạnh tranh trong nghành nghề đó Ví dụ: lao động có tay nghê hay cơ sở hạtầng
- Thứ hai, điều kiện về nhu cầu thị trường: tính chất của như cầu trong nước về sảnphẩm hay dịch vụ của ngành nghề đó
- Thứ ba, các ngành nghề bổ trợ và có liên quan: sự có mặt hay thiếu vắng tại quốcgia đó những ngành nghề cung ứng và ngành nghề có liên quan có khả năng cạnhtranh quốc tế
- Thứ tư, chiến lược, có cấu và tính thi đua của doanh nghiệp: điều kiện tại quốc gia
đó quyết định việc thành lập, tổ chức, quản lý doanh nghiệp như thế nào, và bảnchất của sự cạnh tranh trong nước
Trang 13Mô hình kim cương
Ngoài ra còn có hai nhân tố có thể ảnh hưởng đến hệ thống quốc gia và cũng cầnthiết trong mô hình, đó là cơ hội và nhà nước
- Cơ hội: là những điều kiện phát triển ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp(thường là bên ngoài sự quản lý của nhà nước của quốc gia đang xét), ví dụ nhưnhững phát minh thuần túy, những đột phá về kỹ thuật căn bản, chiến tranh
- Nhà nước Chính quyền các cấp có thể cải tiến hay giảm thiểu lợi thế quốc gia Cóthể thấy vai trò này rõ nhất bằng cách kiểm tra xem các chính sách ảnh hưởng nhưthế nào đến mỗi nhân tố quyết định
1 Nhân tố sản xuất
Mỗi quốc gia đều sở hữu nhân tố sản xuất Đây là nhân tổ cần thiết cho cạnhtranh trong bất kỳ một ngành nghề nào Tuy nhiên mỗi quốc gia có một đặc điểmkhác nhau, có nguồn dự trữ nhân tố sản xuất khác nhau Điều đó tạo nên lợi thếcạnh tranh của mỗi quốc gia
Trong một quốc gia, những nhân tổ quan trọng nhất đói với lợi thế cạnh tranhtrong hầu hết các ngành nghề, đặc biệt là những ngành nghề cần thiết cho việctăng năng suất lao động trong các nền kinh tế tiên tiến, không phải được thừahưởng mà phải được tạo ra, thong qua các quá trình khác nhau giữa các quốc gia
và các ngành nghề
Nhân tổ sản xuất có thể chia làm 5 loại:
- Tài nguyên nhân lực : số lượng, tay nghề, chi phí nhân sự (bao gồm quản lý) tính
cả giờ làm việc chuẩn và qui tắc đạo đức trong khi làm việc Nguồn nhân lực cóthể được chia ra thành nhiều loại, như kỹ thuật viên chế tạo công cụ, kỹ sư điện
có bằng Tiến sỹ, thảo chương viên viết các chương trình ứng dụng, v.v…
Trang 14- Tài nguyên vật ch ấ t : sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, và chi phí vềđất đai, nước, khoáng sản hay sản lượng gỗ tiềm năng, nguồn thuỷ điện, ngưtrường đánh bắt cá và các nhân tố vật chất khác
- Tài nguyên kiến th ức: kiến thức về thị trường, kỹ thuật và khoa học liên quan đếnhàng hóa và dịch vụ Tài nguyên kiến thức đến từ các trường đại học, các việnnghiên cứu thống kê của chính phủ, các tài liệu khoa học và thương mại, các bảngbáo cáo và cơ sở dữ liệu nghiên cứu thị trường, các hiệp hội thương mại và cácnguồn khác
- Nguồn vốn : tiền vốn và chi chi phí vốn có sẵn để tài trợ cho các ngành nghề Vốnkhông phải đồng nhất mà hình thành từ nhiều hình thức khác nhau như nhữngkhoản nợ không bảo đảm (unsecured debts), những khoản nợ bảo đảm (secureddebts), các cổ phiếu và chứng khoán "nguy cơ" (rủi ro cao, lãi cao), và đầu tư vốn(venture capital) Tổng nguồn vốn trong một đất nước, và những hình thức triểnkhai vốn, tuỳ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm của quốc gia và cơ cấu thị trường vốn củaquốc gia đó, cả hai đều thay đổi tuỳ theo mỗi quốc gia Sự toàn cầu hoá thị trườngvốn và lượng vốn lớn luân chuyển giữa các quốc gia đang dần làm các điều kiệncủa các quốc gia ngày càng giống nhau hơn Tuy nhiên, những mặt khác nhaucăn bản vẫn tồn tại và có thể tiếp tục tồn tại mãi mãi
- Cơ sở hạ t ầ ng : chủng loại, chất lượng và chi phí sử dụng cơ sở hạ tầng cũng ảnhhưởng đến sự cạnh tranh, bao gồm hệ thống giao thông, hệ thống liên lạc, phânphát thư và hàng hóa, thanh toán và chuyển các quỹ, tổ chức y tế v.v… Cơ sở hạtầng cũng bao gồm hệ thống nhà ở, các tổ chức văn hoá ảnh hưởng đến chấtlượng của cuộc sống và mức độ quốc gia đó thu hút người dân đến sinh sống vàlàm việc
Vấn đề tạo ra các nhân tố
Chúng ta được thừa hưởng các nhân tố đó hay không? Đó là yếu tố rất quantrọng để tạo ra lợi thế cạnh tranh kéo dài hay ở mức độ cao Nguồn tài nguyên thiênnhiên, địa thể là những nhân tố có sẵn, và tất nhiên chúng ta được thừa hưởng Tuy
Trang 15nhiên, các yếu tố như hệ thống viễn thong của một quốc gia, số các nhà khoa họcnghiên cứu cơ bản, hệ thống giáo, các trường dạy nghề, viện nghiên cứu mới là yếu tốquyết định Chuẩn mực nhân tố của thế giới ngày càng tăng, do vậy cần phải đượcđầu tư một cách lâu dài, liên tục
Các quốc gia thành công trong các lĩnh vực ngành nghề mà họ đặc biệt chútrọng tạo ra và quan trọng nhất là nâng cao những nhân tố cần thiết Vì vậy, cácquốc gia sẽ có thể cạnh tranh trong các lĩnh vực mà họ sở hữu những cơ chế chấtlượng cao cho việc tạo ra các nhân tố đặc trưng
Các nhân tố tiên tiến và nhân tố đặc trưng đóng vai trò rất quan trọng cho lợithế cạnh tranh và chính các doanh nghiệp ở vào vị trí tốt nhất để biết xem lợi thế nàotốt cho việc cạnh tranh Các đầu tư của chính phủ nhằm tạo ra nhân tố thường tậptrung vào nhân tố cơ bản hay nhân tố khái quát Ví dụ như, đầu tư vào việc nghiêncứu căn bản, nếu đặt nặng vấn đề khả năng gieo mầm mống sự đổi mới vào thươngmại, thì sẽ không dẫn đến lợi thế cạnh tranh nếu không được chuyển giao, hay pháttriển xa hơn bởi các ngành nghề
Những nổ lực của chính phủ tạo ra những nhân tố tiên tiến và nhân tố đặc trưng
sẽ gặp thất bại nếu họ không kết hợp hai điều đó vào ngành nghề bởi vì các cơ quanchính phủ, ai cũng đều biết là chậm chạp và không có khả năng nhận ra những lĩnhvực mới hay nhu cầu chuyên sâu của một ngành nghề nào đó Tiền đầu tư trực tiếp
từ các công ty, tổ chức thương mại, và từ cá nhân trong việc tạo ra nhân tố, cũngnhư các đầu tư nhà nước hay cá nhân, là đặc tính của những ngành nghề quốc giathành công trên thế giới
Ví dụ như ở Nhật, tạo ra nhân tố có khuynh hướng thường do cá nhân,trong khi ở Thuỵ Điển, tạo ra nhân tố thường do vai trò của công chúng hơn
Ở Ý, thông thường tạo ra nhân tố thông qua việc chuyển giao kiến thức trongcác thế hệ gia đình Thường thấy trong một quốc gia, đặc tính của cơ chế tổ chứcviệc tạo ra nhân tố, thông thường một phần là chức năng của các giá trị xã hội,chính trị và lịch sử, theo một cách nào đó, thường giới hạn phạm vi các ngànhnghề mà trong đó quốc gia có thể cạnh tranh
Trang 16Lợi thế cạnh tranh có thể đến từ một vài bất lợi về nhân tố
Trong các cuộc cạnh tranh thực sự, sự phong phú hay chi phí thấp của một nhân
tố thường dẫn đến sự triển khai kém hiệu quả Trái lại, nhân tố bất lợi trong cácnhân tố cơ bản, ví dụ như thiếu hụt về tiền lương, thiếu nguyên vật liệu trong nước,hay thời tiết khắc nghiệt, lại thúc đẩy việc đổi mới Sự gia tăng ổn định về tỷ giá hốiđoái giữa các quốc gia cũng có thể có cùng hiệu quả Kết quả là lợi thế cạnh tranhcủa các doanh nghiệp trở nên nâng cao và bền vững hơn Một bất lợi theo khái niệmnghĩa hẹp của cạnh tranh có thể trở thành một lợi thế trong một khái niệm năng độnghơn
2 Nhu cầu thị trường
Trong một ngành nghề, nhân tố quyết định quan trọng thứ hai về lợi thế cạnhtranh quốc gia là những điều kiện về nhu cầu nội địa về sản phẩm hay dịch vụ củangành nghề đó
Có ba đặc điểm chính quan trọng của nhu cầu nội địa: cấu thành nhu cầu nội địa,kích cỡ và cách thức phát triển nhu cầu nội địa, và cơ chế mà sở thích nội địa củamỗi quốc gia chuyển giao ra thị trường nước ngoài Sự quan trọng của hai điều saucòn tuỳ thuộc vào điều trước Chất lượng của nhu cầu nội địa quan trọng hơn sốlượng của nhu cầu nội địa trong việc quyết định lợi thế cạnh tranh
Cấu trúc phân đoạn của nhu cầu:
Đầu tiên là cấu trúc phân đoạn của nhu cầu nội địa hay sự phân phối nhu cầu đối vớinhiều hình thức khác nhau Trong hầu hết các ngành nghề, người ta đều phân loại nhucầu Ví dụ, trong các máy bay thương mại, người ta tạo ra nhiều loại máy bay kíchthước và cấu trúc khác nhau thích hợp với các hãng hàng không có cấu trúc lộ trìnhkhác nhau (differing route structure) và các tình huống khác nhau Vài phân đoạnmang tính chất toàn cầu hơn so với các phân đoạn khác
Trang 17Kích thước và cách thức phát triển của nhu cầu nội địa:
Trong nhiều ngành, kích cỡ của nhu cầu nội địa rất được chú ý Kích cõ như cầu nộiđịa là quan trọng nhất đối với lợi thế cạnh tranh tỏng nước ở những ngành nghề nhấtđịnh, nổi bật là đòi hỏi điều kiện R&D cao, những lợi thế về quy mô quan trọng trongsản xuất, bước nhảy vọt lớn trong kỹ thuật,
3 Lợi thế cạnh tranh trong các ngành cung ứng
Sự hiện diện của các ngành cung ứng cạnh tranh trên thế giới trong một nước tạolợi thế cho các ngành nghề chuyển động xuôi dòng theo nhiều cách khác nhau Đầutiên, thông qua sự tiếp cận hiệu quả, sớm, nhanh chóng và đôi khi ưu đãi các đầu vào
có chi phí tốt nhất Ví dụ, Ý đã liên tiếp dẫn đầu thế giới ngành nữ trang, vàng bạc.Một phần bởi vì các doanh nghiệp khác của Ý sản xuất hai phần ba máy chế tạo nữtrang cho thế giới và cũng đứng đầu thế giới về các thiết bị tái chế các kim loại quý
Sự có mặt của một ngành nghề có liên quan thành công trên thê giới trong mộtnước tạo cơ hội cho dòng chảy thông tin và trao đổi kỹ thuật Quan hệ kinh doanh qualại và văn hóa tương đồng giúp những sự trao đối như vậy diễn ra dễ dàng hơn so vớidoanh nghiệp nước ngoài
Các doanh nghiệp nội địa trong những ngành nghề có liên quan thường chia sẻnhững hoạt động và đôi lúc dần dần trở thành cách đồng minh
Trong một ngành công nghiệp, nhu cầu các sản phẩm và dịch vụ bổ sung cũnggiúp các doanh nghiệp thành công trên thế giới Ví dụ, việc bán thiết bị vi tính của
Mỹ ra nước ngoài đã dẫn đến nhu cầu ở nước ngoài đối với phụ kiện máy tính,phần mềm máy tính cũng như các dịch vụ dữ liệu của Mỹ Các ngành nghề dịch vụkéo theo thông qua việc bán các sản phẩm được sản xuất liên kết nhau từ quốc gianày và ngược lại
Trong tất cả các ngành cung ứng, một nước không cần phải có lợi thế quốc giathì mới có thể đạt được lợi thế cạnh tranh trong một ngành công nghiệp Nếu đầuvào không thúc đẩy đổi mới hoặc trong quá trình sản xuất các sản phẩm và các quátrình có thể được nhập từ nước ngoài Nhiều kỹ thuật, nếu chỉ ứng dụng rất hẹp
Trang 18trong một lĩnh vực, thì cũng được nhập từ nước ngoài Ví dụ, trong rất nhiều ngànhkhác nhau của Thụy Sĩ và Đức, như máy trợ thính và máy chế biến chất dẻo, cácdoanh nghiệp đã thành công trong việc thiết lập các chi nhánh ở Mỹ để xâm nhậpphần nào vào lĩnh vực điện tử và phần mềm Ở đây, kiến thức rộng của họ về côngnghiệp tiêu dùng (user industry) quan trọng hơn nếu thiếu chuyên môn trong các kỹthuật cung ứng Việc bù đắp phần thiếu của một ngành nghề cung ứng Sẽ bù đắpđược thiếu hụt của ngành nghề cung ứng quan trọng nếu quốc gia có công nghiệptiêu dùng phát triển cao và được các khách hàng thích sử dụng sản phẩm côngnghiệp cung ứng.
4 Yếu tố, chiến lược và đối thủ của công ty:
Yếu tố quyết định thứ tư của lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành nghề làbối cảnh mà doanh nghiệp được tạo dựng, tổ chức và quản lý cũng như tính chất củađối thủ cạnh tranh trong nước Mục tiêu, chiến lược, và cách thức tổ chức doanhnghiệp trong các ngành nghề biến đổi đa dạng giữa các quốc gia Lợi thế quốc gia cóđược là nhờ họ biết lựa chọn các yếu tố trên và kết hợp với nguồn lợi thế cạnh tranhtrong một ngành nghề đặc thù nào đó Mô hình cấu trúc của đối thủ địa phương cũng
có một vai trò to lớn trong tiến trình cải cách và triển vọng cuối cùng cho sự thànhcông mang tính quốc tế Cách thức doanh nghiệp được quản lý và cách thức họ chọn
để cạnh tranh bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh quốc gia Các doanh nghiệp trong mộtquốc gia không thể hiện được tính đồng nhất nhưng bối cảnh chung của toàn bộ quốcgia thì lại rất đáng chú ý
Ví dụ ở Ý, rất nhiều các doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế thành công là nhữngdoanh nghiệp vừa và nhỏ của tư nhân và được điều hành như một gia đình nhiều thế
hệ Ở Đức, bộ phận lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp là những cá nhân có kiếnthức nền tảng về kỹ thuật, và các doanh nghiệp tổ chức và quản trị theo kiểu phânchia cấp bậc Nỗ lực để giải thích tại sao một hệ thống quản trị quốc gia lại đạt đếnmột trình độ cao là một quá trình lâu dài Sự chú ý được hướng vào Mỹ trong khinhững thập niên tám mươi nó được hướng vào Nhật.Không có một hệ thống quản trị
Trang 19nào lại thích hợp cho tòan cầu Các quốc gia sẽ có khuynh hướng thành công trongnhững ngành nghề mà việc thực hiên quản trị và cách thức tổ chức (được ưu đãi bởimôi trường quốc gia) phù hợp với nguồn lợi thế cạnh tranh của các ngành nghề.Chẳng hạn như các doanh nghiệp của Ý là những kẻ đi đầu trên thế giới trong mộtloạt các ngành nghề phân nhỏ (như đèn chiếu sáng, đồ gia dụng, giày dép, sợi len, vàmáy đóng gói) trong đó lợi thế kinh tế do quy mô vừa khiêm nhường vừa có thể bịqua mặt bởi ngay cả các doanh nghiệp liên kết lỏng lẻo Các doanh nghiệp Ý hầu hếtcạnh tranh bằng chiến lược tập trung vào nhân công, tránh các sản phẩm được tiêuchuẩn hóa và vận hành ở một địa thế thuận lợi nho nhỏ nào đó với cách thức đặc thùcủa họ hay bằng sự đa dạng về sản phẩm theo ý thích của khách hàng Do thườngđược thống trị bởi một cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp này phát triển nhanh chóngnhững sản phẩm mới và có thể thích ứng với sự thay đổi của thị trường với một khảnăng thích ứng đáng kinh ngạc.
Mục tiêu
Hơn nữa, sự khác biệt rõ nét tồn tại giữa các quốc gia là mục tiêu mà doanhnghiệp tìm kiếm để đạt được cũng như động lực thúc đẩy của công nhân và giám đốcdoanh nghiệp đó Các quốc gia sẽ thành công trong các ngành nghề có mục tiêu vàđộng lực đồng nhất với nguồn lợi thế cạnh tranh Trong rất nhiều ngành nghề, đầu tưlâu dài là một thành phần của lợi thế cạnh tranh có thể đạt được và duy trì Rộng hơn,các quốc gia thành công trong những ngành nghề có được sự nỗ lực và cam kết gắn
bó đặc biệt
Cạnh tranh nội địa.
Người ta thường cho rằng cạnh tranh nội địa là một sự lãng phí bởi vì nó dẫn đếnviệc các doanh nghiệp hải nỗ lực nhiều hơn và ngăn cản họ đạt được lợi thế quy môkinh tế lớn Tuy nhiên khi nhìn vào 10 quốc gia nghiên cứu, chúng ta thấy rằng,những quốc gia ở vị trí hàng đầu trên thế giới cũng có những đối thủ cạnh tranh rấtmạnh trong nội địa, thậm chỉ trong các quốc gia nhỏ như Thụ Điển và Thụy Sỹ Nhật
có thể là một ví dụ minh họa điểm hình cho cạnh tranh nội địa
Trang 20Cạnh tranh nội địa cũng giống như các hình thức cạnh tranh khác sẽ tạo ra
áp lực cho các doanh nghiệp để cải tiến và đổi mới Những đối thủ trong nướcthúc đẩy lẫn nhau giảm giá thành, nâng cao chất lượng và dịch vụ, tạo ra nhiềusản phẩm mới và quy trình sản xuất mới Trong khi các doanh nghiệp không thểduy trì lợi thế trong một thời gian dài thì áp lực từ đối thủ sẽ giúp kích thích đổimới vì họ lo sợ bị tụt hậu nên họ phải tiến lên phía trước
Sự cạnh tranh nội địa gay gắt không chỉ tăng thêm lợi thế trong nước mà còntạo áp lực cho các doanh nghiệp nội địa mở rộng buôn bán với nước ngoài để pháttriển Đặc biệt khi có được lợi thế do quy mô kinh tế rộng lớn, những đối thủ địaphương buộc phải phóng tầm nhìn ra thị trường bên ngoài để theo đuổi hiệu quả lớnhơn và lợi nhuận nhiều hơn
Tính khốc liệt trong cạnh tranh nội địa sẽ giúp phá vỡ thái độ dựa dẫm vàocác nhân tố thuận lợi cơ bản vì các đối thủ nội địa khác cũng có Không có sựcạnh tranh nội địa, một doanh nghiệp với các thuận lợi cơ bản sẽ dựa vào cácthuận lợi này và tệ hơn là sẽ khai thác các thuận lợi này một cách kém hiệu quả.Quá trình cạnh tranh nội địa đồng thời cũng tạo ra thuận lợi cho toàn bộ nềnsản xuất của quốc gia Các đối thủ cạnh tranh nội địa cố gắng tiếp cận chiếnlược theo những cách khác nhau và tạo ra một hệ thống các sản phẩm và dịch
vụ trên nhiều phân khu Điều này kích thích đổi mới, và sự phong phú về hànghoá và cách tiếp cận này sẽ chống lại sự xâm nhập của các doanh nghiệp nướcngoài Thuận lợi của nền công nghiệp quốc gia sẽ được duy trì lâu dài hơn bởiviệc loại được sự xâm nhập của một số đối thủ nước ngoài
5 Vai trò của thời cơ:
Các nhân tố quyết định của lợi thế quốc gia định hình hoàn cảnh cạnh tranh trongmột số ngành nghề Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng trong sự thành bại củadoanh nghiệp cũng có vai trò của thời cơ Thời cơ là những biến cố không liên quan
gì đến bối cảnh quốc gia và thường nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp
Trang 21thậm chí của cả chính phủ nước đó Một số nhân tố điển hình tác động đến lợi thếcạnh tranh trong kinh doanh là:
- Các phát minh, sáng chế đơn thuần
- Sự gián đoạn lớn về khoa học kĩ thuật (ví dụ trong các ngành công nghệ sinh học,
vi điện tử)
- Gián đoạn chi phí đầu vào chẳng hạn như khủng hoảng về dầu hỏa
- Biến động lớn trên thị trường tài chính thế giới hay tỉ giá hối đoái
- Nhu cầu của thị trường thế giới hay khu vực tăng đột biến
- Chính sách đối ngoại của chính phủ các nước
- Chiến tranh
Ví dụ như những tiến bộ trong ngành vi điện tử đã góp phần quan trọng giúp Hoa
Kì và Đức vươn lên vị trí dẫn đầu trong số các nền kinh tế chủ yếu dựa trên phát triểncông nghiệp cơ điện Điều này cũng đã xảy ra với Nhật Bản và một số nước khác.Tương tự, nhu cầu về tàu biển tăng đột biến trên thế giới đã tạo thuận lợi cho ngànhđóng tàu Hàn Quốc cạnh tranh với Nhật Ở Singapore, ngành nghề may mặc pháttriển mạnh sau khi các nước phương Tây đề ra hạn đoạn đối với hàng may mặc xuất
xứ từ Hongkong và Nhật trong khi đó chính sách cấm nhập khẩu hàng Trung Quốcvào Mĩ trong thời kì chiến tranh lạnh đã giúp ngành làm tóc giả Hàn Quốc phát đạt vàgiành ngôi vị quán quân thế giới
6 Vai trò của nhà nước:
Sau khi điểm qua các nhân tố định hình vị thế cạnh tranh của một quốcgia, ta đi đến nhân tố cuối cùng: nhà nước Nhà nước là một yếu tố quan trọngcần xem xét khi nói về tính cạnh tranh quốc tế Nhiều người xem đây là yếu tốsống còn, nếu không nói là quan trọng nhất, tác động tới cạnh tranh quốc tếthời nay Đường lối chính sách của Nhật và Hàn quốc gắn liền với thành công