Chính vìvậy, các cuộc đàm phán đa phương ra đời nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốcgia bằng cách đề ra những quy tắc , hiệp định, lập ra các tổ chức Thương mại quốc tế.. Đàm phán đ
Trang 1MỤC LỤC
A, GIỚI THIỆU: 3
B, NỘI DUNG: 4
I, Khái niệm, cơ sở và lịch sử hình thành đàm phán thương mại đa phương 4
1, Khái niệm: 4
2, Nguồn gốc và cơ sở hình thành: 4
3, Đôi nét về lịch sử đàm phán đa phương 5
4, GATT và vòng đàm phán Uruquay: 7
II, Tổ chức Thương mại Thế Giới WTO và Việt Nam 9
1, Quá trình hình thành tổ chức Thương mại Thế giới WTO: 9
3, Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO 15
III, Quan hệ Thương mại Việt Nam và Hoa kỳ; Hiệp định Việt – Mỹ 19
1, Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trước và sau hiệp định 19
2 Các khía cạnh hiệp định Việt - Mỹ 20
3 Kết quả bước đầu của hiệp định: 21
4, Vai trò của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ 24
C, KẾT LUẬN: 25
Trang 2
ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG
A, GIỚI THIỆU:
Nền kinh tế hiện nay đang dần trở thành một thực thể thống nhất mà trong đó, cácquốc gia đóng vai trò như là các chủ thể Thương mại quốc tế giống như một trò chơi màcác Quốc gia khi tham gia đều phải tuân theo những quy tắc của trò chơi Bất kỳ Quốcgia nào tiến hành hoạt động Thương mại quốc tế đều phải chịu sự điều chỉnh của một hệthống các nguyên tắc pháp luật, các hiệp định và điều ước Vấn đề là các nước luôn luônmuốn tối đa hóa lợi ích của mình nhưng cũng lại muốn tối thiểu hóa nghĩa vụ Chính vìvậy, các cuộc đàm phán đa phương ra đời nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốcgia bằng cách đề ra những quy tắc , hiệp định, lập ra các tổ chức Thương mại quốc tế Sựxuất hiện ngày càng nhiều của các cuộc đàm phán đa phương đã và đang thúc đẩy hoạtđộng Thương mại quốc tế diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Trong phạm vi bài này, chúng tôi sẽ trình bày:
- Khái niệm, cơ sở và lịch sử hình thành đàm phán thương mại đa phương
- GATT và vòng đàm phán Uruguay
- Quá trình hình thành tổ chức Thương mại Thế Giới WTO
- Một số nguyên tắc chung của WTO
- Quy định của WTO đối với Việt Nam khi Việt Nam gia nhập tổ chức này
- Quan hệ Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trước hiệp định thương mại Việt –Mỹ
- Các khía cạnh của hiệp định Việt – Mỹ
Trang 3Đàm phán đa phương thường có quy mô lớn với hàng chục, hàng trăm quốc gia vàthời gian, tiến trình đàm phán có thể kéo dài trong nhiều năm
2, Nguồn gốc và cơ sở hình thành:
Hình thành dựa trên yêu cầu về xây dựng các điều ước quốc tế để điều chính hoạtđộng thương mại, quan hệ quốc tế Trong lịch sử, thương mại quốc tế đã hình thành từ rấtlâu, điển hình và nổi bật nhất chính là Con đường tơ lụa – con đường giao thương quốc tếnối liền hai nền văn minh lớn nhất bấy giờ là La Mã và Trung Hoa Bắt đầu từ TrungQuốc qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afganistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp,xung quanh vùng Địa Trung Hải có chiều dài khoảng 7000 cây số, khoảng 1/3 chu vi tráiđất “Con đường tơ lụa” được coi là một hệ thống những con đường thương mại lớn nhấtthế giới thời cổ đại, nó được coi như cầu nối giữa hai nền văn minh Đông và Tây Thếnhưng, sự giao thương trên “Con đường tơ lụa” hoàn toàn mang tính tự phát, không có sựđiều chỉnh của bất kì hiệp định kinh tế nào Sự tự do trao đổi đến mức những bậc đếvương và những nhà quý tộc của La Mã đổi vàng lấy lụa của Trung Hoa với cân nặngtương đương! Không có sự thống nhất trong việc áp đặt thuế quan giữa các nước, đây làmột trongn những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự suy tàn của “Con đường tơ lụa” Đếnthời nhà Minh, “Con đường tơ lụa” đã bị vương triều này khống chế và bắt mọi ngườiphải nộp thuế rất cao khiến cho những thương gia phải tìm đến những con đường vậnchuyển bằng đường biển, “Con đường tơ lụa” trên bộ dần dần biến mất Vì vậy, thương
Trang 4mại quốc tế ngày nay cần xây dựng các điều ước quốc tế để điều chính quan hoạt độngthương mại, quan hệ quốc tế giữa các nước Sự cần thiết này là do các nguyên nhânkhách quan như:
- Sự phát triển của xu hướng tự do thương mại: Sự bùng nổ trong khoa học kỹthuật, thông tin liên lạc và đặc biệt là vận tải đã dẫn tới sự bùng nổ trong thương mạiquốc tế, điều này càng thúc đẩy sự hình thành các quy định, hiệp ước trong thương mạiquốc tế, các quốc gia sẽ cần phải ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết các vấn đề vềquyền lợi của mình cũng như của các quốc gia khác, xử lý các xung đột trong buôn bánquốc tế…
- Sự phục hồi của chủ nghĩa bảo hộ mới: Bảo hộ mậu dịch là việc áp dụng nângcao một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực hay việc áp đặt thuế suất nhập khẩu cao đối vớimột số mặt hàng nhập khẩu nào đó để bảo vệ ngành sản xuất các mặt hàng tương tự (haydịch vụ) trong một quốc gia nào đó Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yeo đã nói:
“Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch là cái sườn dốc trơn trượt Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽtrượt vào vùng nguy hiểm trước khi kịp nhận ra Vì thế, chống chủ nghĩa bảo hộ cần phải
là nhiệm vụ ưu tiên” Các quốc gia cần cùng nhau đề ra những biện pháp kịp thời đểchống lại sự bành trướng của Chủ nghĩa mậu dịch mới
Ví dụ: Tôm, cá ba sa của Việt Nam bị kiện vì bị cho là bán phá giá một hình thứcbảo hộ mậu dịch của Hoa Kỳ
- Vai trò của Chính phủ với hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng.Thương mại quốc tế tự do nhưng dựa trên cơ sở luật pháp quản lý của nhà nước, sự quản
lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước có vai trò tạo môi trường định hướng và giữ ổn địnhcho sự phát triển thương mại quốc tế Chính phủ các nước muốn thúc đẩy thương mạiquốc tế tự do hóa, đa phương hóa cần đẩy mạnh quá trình đàm phán và hội nhập quốc tế
Trang 53, Đôi nét về lịch sử đàm phán đa phương.
Lịch sử đàm phán thương mại đa phương mới chỉ có khoảng gần một thế kỷ pháttriển nhưng đã có rất nhiều dấu mốc quan trọng là sự ra đời của các hiệp định, các tổ chứcthương mại quốc tế
Một số dấu mốc đáng chú ý :
- 1947 - Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Tariffsand Trade, viết tắt là GATT) ra đời nhằm điều hòa chính sách thuế quan giữa các nước kýkết, là hiệp ước tiền thân cho sự ra đời của WTO Kể từ khi GATT được thành lập vàonăm 1948, các nước tham gia GATT đã cùng nhau tiến hành 8 đợt đàm phán với 3 vòngđàm phán nổi bật là Vòng 6.Kenedy (1964-1967), 7 Vòng Tokyo (1973-1979) và vòng 8.Vòng Uruguay (1986-1994)
GATT còn được chia làm 2 thời kỳ:
GATT 1947: Phiên bản cũ của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại(trước phiên bản GATT 1994)
GATT 1994: Phiên bản mới của GATT và là một phần của Hiệp định về WTO,điều chỉnh các vấn đề về thương mại hàng hoá
- Tháng 11/1989 APEC (The Asia – Pacific Economic Cooperation Forum) – Diễnđàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương ra đời theo sáng kiến của Australia, tạiCanberra, Australia là diễn đàn hợp tác quan trọng nhất trong khu vực, nhằm thúc đẩy tự
do hoá thương mại và đầu tư, phát triển kinh tế Hiện APEC là một diễn đàn rộng lớngồm 21 quốc gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, với 2,5 tỷ dân, tổng sảnphẩm quốc dân (GDP) khoảng 18.000 tỷ USD và chiếm 47% tổng thương mại toàn cầu
- Tháng 1/1992, AFTA (ASEAN Free Trade Area) - hiệp định thương mại tự do(FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN được kí kết theo sáng kiến của TháiLan Mục đích của AFTA là nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN với tư cách là
Trang 6một cơ sở sản xuất trên thế giới, đồng thời tăng cường tính hấp dẫn đối với đầu tư nướcngoài và cắt giảm thuế quan Theo Hiệp định về Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung(CEPT), sáu quốc gia gia nhập ASEAN trước sẽ xóa bỏ khoảng 98% tổng số dòng thuếcủa mình đối với các quốc gia thành viên khác vào năm 2006.
- Ngày 01/01/1995, WTO (World Trade Organization – Tổ chức Thương mại thếgiới ra đời trên cơ sở hiệp ước GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại(GATT) vốn chỉ là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ
ra không thích hợp với sự phát triển thương mại quốc tế bấy giờ Do đó, ngày 15/4/1994,tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thếgiới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lậpđộc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995
- Một số mốc năm thành lập các tổ chức thương mại khác:
+ NAFTA (North America Free Trade Agreement) - Hiệp định Thương mại Tự doBắc Mỹ à hiệp định thương mại tự do giữa ba nước Canada, Mỹ và Mexico, ký kết ngày12/8/1992, hiệu lực từ ngày 1/01/1994 Nội dung của hiệp định này là: Giúp cho kinh
tế của 3 nước Mỹ, Canada và Mexico được dễ dàng
+ 2001, BRIC ( Braxin, Russia, India, China ) – viết tắt của Brazil, Nga, Ấn Độ vàTrung Quốc ra đời
+ EFTA (European Free Trade Association) - Tổ chức thương mại tự do châu Âuđược thành lập ngày 3.5.1960 như một khối mậu dịch khác cho các nước châu Âu, dokhông đủ khả năng hoặc chọn không gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) thời đó(nay là Liên minh châu Âu (EU))
+ G7 ( Group of seven): Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển nhất gồm: Đức,Canada, Mỹ, Pháp, Ý, Nhật Bản, Anh thành lập vào năm 1976, các nước này nhóm họp
Trang 7vài lần mỗi năm để bàn luận và trao đổi về chính sách kinh tế Hiện nay G7 đã trở thànhG7+1 hay G8 với sự gia nhập của Nga.
+ ACP(Africa, Caribbean, Pacific) - "Châu Phi, Ca-ri-bê, và Thái bình dương":Các nước ACP là các nước ký kết Công ước Lomé ra đời tại Lomé, Togo vào năm1975.Tổ chức các quốc gia châu Phi, vùng Caribê và Thái Bình Dương Gồm 71 nước cónhững ưu đãi trong quan hệ thương mại với Liên minh Châu Âu trong khuôn khổ Côngước Lomé
+ Một số các tổ chức khác như G20, EU, ASEAN …
4, GATT và vòng đàm phán Uruquay:
GATT-tổ chức tiền thân của WTO được thành lập vào 1948 Kể từ khi được thànhlập, các nước tham gia GATT đã cùng nhau tiến hành nhiều đợt đàm phán để ký kết thêmnhững thỏa thuận thương mại mới Thời kỳ đầu, các vòng đàm phán xoay quanh vấn đềcắt giảm thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu Tuy nhiên, đến thập niên 80, phạm viđàm phán đã được mở rộng, bao trùm cả những vấn đề liên quan tới hàng rào bảo hộ phithuế quan cản trở thương mại hàng hoá, rồi cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch
2 Vòng Annecy (1949): bao gồm 13 nước tham gia
3 Vòng Torquay (1951): bao gồm 38 nước tham gia
Trang 84 Vòng Geneva (1956): bao gồm 26 nước tham gia Tại vòng này đã đạt đượcnhững kết quả liên quan đến việc giảm thuế, đề ra chiến lược cho chính sách của GATTđối với các nước đang phát triển, nâng cao vị thế của họ với tư cách là những thành viêntham gia GATT.
5 Vòng Dillon (1960-1961): bao gồm 26 nước tham gia Vòng này chủ yếu bàn vềviệc giảm thuế Được đặt tên theo Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ C Douglas Dillon
6 Vòng Kenedy (1964-1967): bao gồm 63 nước Nội dung thảo luận cũng vẫn làviệc giảm thuế, nhưng lần đầu tiên đàm phán giảm thuế theo một phương pháp áp dụngchung cho tất cả các loại hàng hóa chứ không đàm phán giảm thuế cho từng loại hànghóa một như các vòng trước Hiệp định chống bán phá giá được ký kết (nhưng tại Hoa
Kỳ không được Quốc hội nước này phê chuẩn)
7 Vòng Tokyo (1973-1979): Bao gồm 102 nước Thảo luận về việc giảm các hàngrào phi thuế cũng như giảm thuế đối với các sản phẩm chế tạo Tăng cường và mở rộng
hệ thống thương mại đa phương
8 Vòng Uruguay (1986-1994): Đây là vòng đàm phán cuối cùng với sự tham giacủa 125 nước và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các vòng đàmphán của GATT Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và thông qua mộtloạt các hiệp định mới
Ý tưởng về Vòng đàm phán Uruguay được nhen nhóm vào tháng 11-1982 tại mộthội nghị cấp Bộ trưởng của các nước thành viên GATT tại Geneva Tuy nhiên, phải mấtbốn năm vất vả cùng nhiều nỗ lực tìm kiếm và làm sáng tỏ những vấn đề cần bàn cũngnhư quyết tâm tiến tới thỏa thuận thì các vị bộ trưởng mới đi đến quyết định tiến hànhvòng đàm phán mới Quyết định này được đưa ra vào tháng 9-1986 tại Punta del Este(Uruguay)
Các vị bộ trưởng cuối cùng cũng thống nhất một chương trình đàm phán đề cậpđến hầu như toàn bộ các vấn đề về chính sách thương mại còn bỏ ngỏ cho tới thời điểm
Trang 9bấy giờ Các cuộc đàm phán có nhiệm vụ thúc đẩy việc mở rộng thương mại đến nhiềulĩnh vực mới, đặc biệt là thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đồng thời cải tổ các chínhsách thương mại đối với những sản phẩm nhạy cảm như nông sản và hàng dệt may.
Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)thay thế cho GATT; giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch vàcác hạn chế nhập khẩu khác trong vòng 20 năm; ký kết Hiệp định về Bảo hộ Quyền sởhữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS); mở rộng phạm vi áp dụng của luậtthương mại quốc tế sang lĩnh vực dịch vụ thông qua Hiệp định chung về Thương mạiDịch vụ (GATS); dỡ bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài
Vòng đàm phán thành công,người ta ước tính có đến 100 tỷ USD sẽ được tăngthêm vào nền kinh tế thế giới nhờ các chính sách thương mại tự do và các hệ thốngthương mại quốc tế sẽ có những bước chuyển mới quan trọng.Vòng đàm phán là mộtbước tiến quan trọng trong vấn đề: hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa bảo hộ mới,xácđịnh lại nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương và đạt tới một vài tự do trongthương mại dịch vụ và nông nghiệp
Rất nhiều hiệp định được ký kết trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruguay có một phần xác định lịch trình cho những việc phải làm trong tương lai Một số việc được tiến hành lập tức sau đó Đối với một số lĩnh vực, việc phải làm là tiếp tục đàm phán hoặc xúctiến những cuộc đàm phán mới
Sau vòng đàm phán Uruguay, đã có những sửa đổi và mở rộng nội dung đối với văn bản gốc về chương trình kế hoạch Một chương trình kế hoạch bao gồm hơn 30 phần.Sau đây là một số vấn đề đáng chú ý:
1996: Dịch vụ vận tải hàng hải: kết thúc đàm phán về mở cửa thị trường (tiến hànhvào ngày 30-6-1996, hoãn lại tới năm 2000, sau chuyển sang chương trình phát triển Doha)
Trang 10Dịch vụ và môi trường: xác định thời hạn báo cáo kết quả của nhóm công tác (hội nghị bộ trưởng tháng 12 năm 1996)
Dịch vụ công: tiến hành đàm phán
1997: Hạ tầng viễn thông: kết thúc đàm phán (15-2); Dịch vụ tài chính: kết thúc đàm phán (30- 12); Sở hữu trí tuệ: thiết lập hệ thống đóng dấu và đăng ký mã vùng đối với các sản phẩm rượu vang: tiến hành đàm phán, trở thành một bộ phận trong chương trình đàm phán vì sự phát triển Doha
1998: Hàng dệt may: một giai đoạn mới bắt đầu vào ngày 1-1; Dịch vụ: (các biện pháp khắc phục kịp thời): áp dụng kết quả đàm phán liên quan đến các biện pháp khắc phục kịp thời (trước 1-1-1998, hoãn lại đến tháng 3-2004); Luật về xuất xứ sản phẩm: chương trình làm việc đi đến sự thống nhất tương đối giữa luật về xuất xứ sản phẩm của các quốc gia (20-7-1998); Thị trường công: mở những cuộc đàm phán mới để cải thiện hệthống luật và thủ tục (trước năm 1998); Giải quyết tranh chấp: xem xét kỹ về luật và thủ tục giải quyết tranh chấp (trước năm 1998)
1999: Sở hữu trí tuệ: bắt đầu xem xét một số ngoại lệ đối với việc cấp bằng sáng chế và bảo vệ đa dạng thực vật
2002: Nông nghiệp: bắt đầu tiến hành đàm phán, thuộc Chương trình phát triển Doha; Dịch vụ: Bắt đầu một loạt các cuộc đàm phám mới, thuộc chương trình phát triển Doha; Ràng buộc thuế quan: xem xét lại khái niệm ‘nhà cung cấp chính’ tại điều 28 trongHiệp định chung về thuế quan và thương mại về quyền của người tham gia đàm phán đối với việc sửa đổi ràng buộc; Sở hữu trí tuệ: Lần đầu tiên đã có kiểm tra định kỳ (2 năm một lần) việc thực thi hiệp định
2002: Dệt may: bắt đầu giai đoạn đầu tiên (1-1)
Trang 112005: Dệt may: áp dụng hoàn toàn trong khuôn khổ GATT và chấm dứt thời gian hiệu lực của hiệp định
II, Tổ chức Thương mại Thế Giới WTO và Việt Nam
1, Quá trình hình thành tổ chức Thương mại Thế giới WTO:
Tiền thân của Tổ chức thương mại Thế giới là Hiệp định chung về Thuế quan vàmậu dịch (GATT) Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi chothương mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hànghóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sánglập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dựthảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tưcách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiếnhành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang ápdụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự
do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm,nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏathuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc hình thànhlập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ởvòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên thamgia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùngnhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lựcvào 1/1948
Trang 12Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay(1986-1994) do thươngmại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phánkhông chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩnmực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữutrí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản,hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thươngmại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)vốn chỉ là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ rakhông thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệpđịnh thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO -World Trade Organization) nhằm kếtục và phát triển sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thốngLiên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995.
Về cơ cấu tổ chức, hiện nay WTO có 154 nước, lãnh thổ thành viên, chiếm 97%thương mại toàn cầu và khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gianhập WTO được thành lập với 3 mục tiêu và chức năng cơ bản sau:
- Thiết lập một hệ thống luật lệ quốc tế chung (khoảng 30 hiệp định khác nhau điềuchỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụlục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới) điều tiết mọihoạt động thương mại của Chính phủ các nước tham gia ký kết
- Là một diễn đàn thương mại đa biên để các nước đàm phán về tự do hoá và thuận lợihoá thương mại, trong đó bao gồm cả tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầutư
- Là một toà án quốc tế để Chính phủ các nước giải quyết nhanh chóng và có hiệu quảcác tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên
Ngoài 3 mục tiêu và chức năng cơ bản trên, WTO còn tăng cường hợp tác với các tổchức quốc tế khác để giải quyết các vấn đề kinh tế toàn cầu, trợ giúp các nước đang phát
Trang 13triển và đang trong quá trình chuyển đổi tham gia vào hệ thống thương mại đa biên thếgiới Hầu hết các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận Trongmột số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự nhất trí chung, các thành viên có thểtiến hành bỏ phiếu Khác với các tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ mộtphiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau.
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, họp ít nhất 2 năm mộtlần Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại hội đồng - thường họp nhiều lần trong một năm tạitrụ sở chính của WTO ở Geneva Nhiệm vụ chính của Đại hội đồng là giải quyết tranhchấp thương mại giữa các nước thành viên và rà soát các chính sách của WTO
Dưới Đại hội đồng là Hội đồng Thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ
và Hội đồng giám sát về các vấn đề liên quan đến quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS)
2, Một số nguyên tắc chung của WTO
2.1.Thương mại không phân biệt đối xử:
Đối xử tối huệ quốc(MFN):Không phân biệt đối xử về thương mại giữa các nướcthành viên WTO
"Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên nhất".Nộidung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thểphân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xửvới các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất".Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đóthì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại củaWTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất" Và như vậy, kết quả làkhông phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào
Trang 14 Đối xử quốc gia(NT):không phân biệt đối xử giữa hang hóa dịch vụ trong nước vàhàng hóa dịch vụ nhập khẩu:
-"Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nộiđịa
Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sảnxuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sản phẩm nhập khẩunào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắtđầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãihơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước
Có thể hình dung đơn giản về hai nguyên tắc nêu trên như sau: Nếu nguyên tắc
"tối huệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa các nhàxuất khẩu hàng hoá, cung cấp dịch vụ của các nước A, B, C khi xuất khẩu vào mộtnước X nào đó thì nguyên tắc "đãi ngộ quốc gia" nhằm tới mục tiêu tạo sự công bằng,không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A với hàng hoá,dịch vụ của doanh nghiệp nước X trên thị trường nước X, sau khi hàng hoá, dịch vụ củadoanh nghiệp nước A đã thâm nhập (qua hải quan, đã trả thuế và các chi phí khác tại cửakhẩu) vào thị trường nước X
2.2.Bảo Hộ mậu dịch thông qua hàng rào thuế quan
-Chủ nghĩa bảo hộ - những biện pháp của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuấttrong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài - có nguồn gốc sâu xa trong chính trị củacác quốc gia trên thế giới Chủ nghĩa bảo hộ vừa là sản phẩm của những nhóm lợi ích đặcbiệt vừa phản ánh mối lo ngại chung của xã hội trước những thay đổi Tuy vậy, chủ nghĩabảo hộ cũng đi liền với cái giá phải trả rất lớn về kinh tế
Trang 15-Mục tiêu của WTO là tự do hóa mậu dịch mà nội dung cơ bản là cắt bỏ hàng ràothuế quan và phi thuế quan nhằm mở đường cho thương mại phát triển.Tuy nhiên thừanhận sự khác biệt về trình độ phát triển của các nước thành viên,nhất là các nước đangphát triển,WTO cho phép bảo hộ nền sản xuất hàng hóa và thị trường trong nước với điềukiện trên cơ sở biện pháp thuế quan.Sau đó các biên pháp thuế quan sẽ được đàm phán
để giảm dần trên cơ sở có đi có lại
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đấu tranh chống chủ nghĩa bảo hộ bằngnhiều cách Các nước thành viên đã đồng ý tuân theo các quy tắc thương mại của WTOnhằm đấu tranh chống lại chủ nghĩa bảo hộ Đôi khi họ đã cố gắng đàm phán thêm nhiềuhiệp định và các quy tắc để tiến tới xóa bỏ những rào cản bảo hộ gây trở ngại cho hoạtđộng thương mại quốc tế Họ sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để cưỡngchế thực hiện các hiệp định và các quy tắc này Và họ phải chắc chắn rằng các thành viênmới sẽ phải bắt đầu với việc cam kết từ bỏ bảo hộ(Carla A Hills là Chủ tịch và Giám đốcđiều hành của Công ty Tư vấn Quốc tế Hills & Company Bà đã đảm nhiệm cương vị Đạidiện Thương mại Hoa Kỳ từ năm 1989 đến 1993.)
-Ví dụ:cuộc tranh chấp Mĩ-Mexico: Với tư cách là một thành viên của Hiệp định
tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Mỹ phải cho phép các doanh nghiệp vận chuyển xetải của Mexico thâm nhập thi trường nội địa Tuy nhiên, mặc dù đã là thành viên củaNAFTA tới 17 năm, các xe tải của Mexico vẫn chưa hề vượt qua được đường biên giớivới Mỹ do Hiệp hội Teamster trong nước không chấp nhận việc cạnh tranh với các đốitác bên ngoài
Trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp của NAFTA, Mexico có quyền tiếnhành các biện pháp trả đũa Năm ngoái, Mexico đã áp thuế đối với 2.4 tỷ đôla hàng hóaxuất khẩu từ Mỹ Đây có thể xem là một đòn giáng nặng nề đối với hàng xuất khẩu củachính quyền Mỹ Theo báo cáo của Bộ Kinh tế Mexico, xuất khẩu sản phẩm bộ đồ ăn của
Mỹ giảm 38%, xuất khẩu nho tươi giảm 24% và quả hạnh giảm 17% Theo kết quả báocáo nghiên cứu của Phòng thương mại Mỹ công bố tháng 9 năm 2009, hành động trả đũa
Trang 16thông qua hàng rào thuế quan của Mexico đã khiến Mỹ mất đi khoảng 25,600 việc làmtrong nước.
2.3.Đảm bảo sự ổn định trong TMQT
WTO nhấn mạnh các nước thành viên có nghĩa vụ phải tạo sự ổn định choTMQT.Các nước khi gia nhập WTO đều phải cam kết lịch trình giảm thuế và ưu đãinhượng bộ khác,có nghĩa vụ tuân thủ lịch trình đã đề ra.Bất kì sự gia tăng nào với mứcthuế quan đã cam kết đều phải thực hiện sự đền bù.Có như vậy TMTG mới ổn định rõrang trong KD cho các DN
Ví dụ:lịch trình giảm thuế của Việt Nam khi cam kết gia nhập WTO: Ta đồng ýràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng) Mức thuế bình quân toàn biểuđược giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong 5-7năm Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuốngcòn 20,9% thực hiện trong 5-7 năm Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6%thực hiện chủ yếu trong vòng 5-7 năm
2.4.Khuyến khích cạnh tranh công bằng
-WTO khuyến khích cạnh tranh lành mạnh , bình đẳng trên thương trường.Chấtlượng và giá cả sẽ quyết định sức cạnh tranh của hàng hóa,vì vậy WTO có những quyđịnh chống trợ cấp xuất khẩu,chống bán phá giá tổn hại đến thương mại và cạnh tranhcủa các nước
-Trên thực tế, nhằm bảo hộ công nghiệp nội địa, có rất nhiều chính phủ đều ápdụng các hành động nhằm vào bán phá giá Cho đến nay, WTO chưa đưa ra việc giảiquyết vấn đề bán phá giá thông qua đàm phán mà vẫn căn cứ theo điều 6 của GATT chophép các nước hành động chống bán phá giá Nhưng chỉ khi việc bán phá giá làm tổn hại