Giới thiệu kính hiển vi, lực nguyên tử(AFM)
Trang 1CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO
I KÍNH HIỂN VI LỰC NGUYÊN TỬ (AFM)
Kính hiển vi lực nguyên tử (AFM) được phát minh năm 1986 bởi Gerd Binnig, Calvin F Quate và Christopher Herber
1 Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc làm việc của AFM là đo lực tương tác giữa mũi dò (tip) và bề mặt mẫu bằng cách sử dụng một đầu dò đặc biệt được tạo bởi một cantilever đàn hồi với một mũi dò
nhọn (tip) được gắn ở
đầu mút của cantilever
Lực tác dụng lên mũi
dò tại bề mặt làm cho
cantilever bị uốn cong
Bằng cách đo độ lệch
của cantilever có thể
xác định lực tương tác giữa mũi dò và bề mặt
Lực tương tác được đo bởi AFM có thể được giải thích một cách định tính,
ví dụ: lực tương tác van der Walls Năng lượng tương tác van der Walls của hai nguyên tử ở khoảng cách r được gần đúng theo hàm thế Lennard-Jones:
2
) (
12 0 6 0 0
r
r r
r U
r
U LD
Số hạng đầu tiên của tổng diễn tả rằng ở khoảng cách xa lực hút được sinh
ra bởi tương tác dipole-dipole, và số hạng thứ hai giải thích lực đẩy ở khoảng cách ngắn do nguyên lý loại trừ Pauly Tham số r0 là khoảng cách cân bằng giữa các nguyên tử, khi đó năng lượng đạt giá trị cực tiểu
Hình 18 Đầu dò AFM.
Trang 2Thế Lennard-Jones cho phép đánh giá lực tương tác giữa mũi dò và mẫu.
Thực tế, năng lượng tương tác của mũi dò và mẫu có thể thu được bằng cách thêm vào những tương tác cơ bản cho toàn bộ nguyên tử của mũi
dò và mẫu
Khi đó năng lượng tương tác nhận được là:
S
P V
V
S P LD
W ( ' ) ( ' ) ( ) 'ở đó, n s (r) và n p (r' ) là mật độ nguyên tử trong mũi dò và mẫu Do đó lực tác động lên mũi dò từ bề mặt có thể tính được như sau:
).
( PS
PS grad W
F
Nói chung,
lực có cả thành
phần thông
thường gây ra từ
bề mặt mẫu và
thành phần ngang
(nằm trên mặt
phẳng của bề mặt
mẫu) Lực tương
tác thực sự giữa
mũi dò và mẫu có những đặc tính phức tạp hơn, tuy nhiên những tương tác cơ bản thì như nhau: mũi dò AFM bị bề mặt hút ở khoảng cách lớn và bị đẩy ở khoảng cách nhỏ
2 Phương pháp đo độ lệch của cantilever
Hình 20 Sự tương tác giữ những nguyên tử mũi dò
và mẫu
Hình 19: Giản đồ thế năng
Lennard-Jones
Trang 3Việc thu nhận cấu trúc bề mặt được thực hiện bằng cách ghi nhận độ lệch nhỏ của cantilever đàn hồi Phương pháp quang (Hình ) được sử dụng phổ biến
trong AFM để đo độ lệch này (phương pháp này có tên beam - bounce).
Hệ quang
học được thiết
lập sao cho
chùm tia phát
ra từ diode
laser hội tụ
trên cantilever
và tia phản xạ
hội tụ tại tâm
của detector
quang, detector quang
bốn phần được sử
dụng như là môt
detector quang học xác
định vị trí
Hai đại lượng có
thể đo được bởi hệ
quang: độ cong của
cantilever do lực hút
hay lực đẩy (Fz) và độ
xoắn của cantilever do
thành phần lực ngang
(FL) của lực tương tác
mũi dò và bề mặt Giá
trị xác định của dòng quang điện trong mỗi phần của diode quang được thiết lập bằng I01, I02, I03, I04 và I1, I2,I3, I4 là giá trị hiện tại sau khi vị trí của cantilever thay đổi Dòng chênh lệch từ những phần khác nhau của diode
Hình 21: Sơ đồ mô tả hệ quang học để phát hiện ra độ
cong của cantilever.
Hình 22: Mối liên hệ giữa loại biến dạng uốn của cantilever (dưới) và sự thay đổi vị trí của chùm ánh sáng hội tụ tại mỗi phần của diode quang (trên)
Trang 4quang sẽ xác định đặc điểm và độ biến dạng của cantilever: bị uốn cong hay bị xoắn Thật vậy, dòng chênh lệch:
).
( ) ( I1 I2 I3 I4
I z
Tương ứng với độ cong của của cantilever do lực thông thường tác dụng từ
bề mặt, và độ chênh lệch dòng:
).
( ) ( I1 I4 I2 I3
I L
Xác định độ cong của cantilever do thành phần lực ngang
Giá trị I z được
sử dụng làm thông số
được đưa vào bộ hồi
tiếp của AFM Hệ hồi
tiếp (feedbeck system - FS) giữ I z không đổi bằng cách sử dụng bộ quét áp điện điều khiển khoảng cách mũi dò và mẫu để làm cho độ cong Z bằng giá trị Z được thiết lập trước
Khi quét mẫu trong chế độ Z không đổi, mũi dò di chuyển dọc theo bề mặt, vì vậy thế áp vào bộ quét áp điện theo chiều Z của bộ quét được ghi nhận
Hình 23: Sơ đồ khối của hệ hồi tiếp
Hình 24: Hình ảnh sơ lược của đầu dò AFM
Trang 5trong bộ nhớ máy tính như là thông tin về cấu trúc bề mặt Z=f(x,y) Độ phân giải ngang của AFM được xác định bởi bán kính cong của mũi dò và độ nhạy của hệ thống xác định độ lệch của cantilever Hiện tại AFM cho phép thu được ảnh có độ phân giải nguyên tử
Một phương pháp khác để đo độ lệch của cantilever là sử dụng mũi dò của
kính hiển vi đường ngầm quét đặt phía trên cantilever để đo sự thay đổi dòng xuyên ngầm Một kỹ thuật đặc biệt nữa là chế tạo cantilever từ vật liệu áp điện
để độ lệch của cantilever có thể đo được thông qua tín hiệu điện
3.Đầu dò AFM (AFM probes)
Cấu trúc bề mặt được ghi nhận trong AFM được thực hiện bởi một đầu dò (probe) đặc biệt được tạo bởi một cantilever đàn hồi với một mũi dò nhọn được gắn ở đầu mút của cantilever Đầu dò như vậy được chế tạo bởi kỹ thuật quang khắc và ăn mòn axit của silic, lớp silic oxide hoặc silic nitric được lắng đọng trên wafer silic
Một đầu của cantilever được giữ cố định bởi đế Si (bộ phận giữ), mũi dò được gắn vào đầu còn lại Bán kính cong tại đỉnh của mũi dò AFM khoảng
1-50 nanomet, phụ thuộc vào kỹ thuật sản xuất Góc gần đỉnh mũi dò khoảng 10 – 20 độ Lực tương tác F của mũi dò với bề mặt có thể được đánh giá từ định luật Hook:
Z k
F
k là hằng số đàn hồi của cantilever, Z là sự thay đổi vị trí của mũi dò tương ứng với sự thay đội độ cong do tương tác với bề mặt Giá trị của k trong khoảng 10 3 10N / m phụ thuộc vào vật liệu và cấu trúc hình học của cantilever Tần số cộng hưởng của cantilever rất quan trọng trong hoạt động
Hình 25: Những mode dao động chủ yếu của cantilever.
Trang 6của AFM ở chế độ dao động Tần số dao động riêng của cantilever được xác định bởi công thức:
.
EJ l
i n
l: độ dài của cantilever; E là mođun Young; J: moment quán tính của cantilever; : khối lượng riêng của vật liệu; S: tiết diện ngang; và i là hệ số phụ thuộc mode dao động (khoảng tử 1-100) Tần số của những mode dao động chính thường được sử dụng trong phạm vi 10-100 khz Hệ số phẩm chất Q của cantilever phụ thuộc chủ yếu vào cách thức hoạt động Giá trị điển hình của Q trong chân không 10 3 10 4 Trong không khí hệ số phẩm chất giảm xuống còn 300-500, trong chất lỏng chỉ còn 10-100
Về cơ bản có hai kiểu đầu dò được sử dụng trong AFM: đầu dò với cantilever có tiết diện hình chữ nhật và tam giác Hình ảnh sơ lược của cantilever chữ nhật được chỉ ra ở hình 26
Ảnh hiển vi điện tử của cantilever thương mại với tiết diện hình chữ nhật
Hình 26: Mặt cắt của cantilever hình chữ nhật
Trang 7Thình thoảng đầu dò AFM có một vài cantilever với độ dài khác nhau (do
đó độ cứng khác nhau) Trong trường hợp này cantilever hoạt động được lựa chọn bởi sự sắp đặt tương ứng
của hệ quang trong AFM
Đầu dò với cantilever hình
tam giác có độ cứng cao hơn và
do đó tần số cộng hưởng cao
hơn Nó thường được sử dụng
trong kỹ thuật AFM dao động
Hình ảnh sơ lược của cantilever
tam giác được chỉ ra ở hình và
ảnh SEM ở hình 28
Mũi dò AFM được
chế tạo có ba dạng hình
học: hình tháp, hình tứ
diện và hình nón Mũi
dò hình nón có thể
được làm nhọn với tỷ
lệ giữa các cạnh cao (tỷ
lệ giữa chiều dài với
chiều rộng) Bán kính
của mũi dò khoảng 50
Ăngstrong Mũi dò
hình tháp có tỷ lệ giữa
các cạnh thấp hơn,
thông thường bán kính
của mũi dò khoảng vài trăm Ăngstrong, nhưng mũi dò hình tháp có độ bền cao
Hình 27: Ảnh SEM của mũi dò AFM trên
cantilever hình chữ nhật
Hình 28: Hình ảnh sơ lược của cantilever
tam giác
Trang 8Mũi dò AFM được sản xuất từ silíc hoặc là silic nitric Mỗi loại vật liệu có quá trình sản xuất khác nhau Những đặc trưng của mũi dò từ mỗi loại vật liệu
bị chi phối bởi quá trình sản xuất cũng như là tính chất của vật liệu Mũi dò hình nón được chế tạo bằng phương pháp khắc axit của silic được phủ một lớp silic dioxide Tỷ lệ các cạnh cao của mũi dò hình nón làm cho nó phù hợp để ghi nhận ảnh bề mặt có đặc điểm là sâu, hẹp như là các hốc Nhưng nó bị gãy
dễ hơn là cấu trúc hình tháp hoặc là tứ diện Silic có những ưu điểm khi nó được pha tạp, khi đó mũi dò trở thành chất dẫn điện Mũi dò dẫn điện thuận lợi cho việc điều khiển điện áp giữa mũi dò với bề mặt để ngăn ngừa những tác động không mong muốn lên mũi dò
Hình 29: Ảnh SEM của mũi dò trên cantilever tam
giác
Trang 9Mũi dò silic được sản xuất bằng cách lắng đọng lớp silic nitric trên hốc bị
ăn mòn của bề mặt tinh thể silic (Hình) Phương pháp này tạo ra mũi dò có dạng hình tháp hoặc hình tứ diện Tỷ lệ các cạnh của mũi dò silic nitric bị giới hạn bởi
cấu trúc
tinh thể
của của
vật liệu
được ăn
mòn để tạo
thành hố
nhọn
Những
mũi dò
này rộng hơn mũi dò hình nón, nên nó cứng hơn nhưng không phù hợp với bề mặt có đặc điểm sâu, hẹp Silic nitric cứng hơn silic nên mũi dò bằng silic nitric bền hơn mũi dò làm bằng silic Tuy nhiên, màng silic chứa ứng suất dư, điều này làm cho nó bị biến dạng khi độ dày màng tăng Vì nguyên nhân đó những cantilever dày với tần số cộng hưởng cao được làm từ silic Độ dày của cantilever silic nitric thường nhỏ hơn một micromét, trong khi đó cantilever silic có thể dày tới vài micro
4 Các chế độ hoạt động trong AFM
Những phương pháp cơ bản được sử dụng để thu được ảnh có thể chia thành hai nhóm: chế độ tiếp xúc (tĩnh) và chế độ không tiếp xúc (dao động) Ngoài ra, còn có chế độ tapping
a Chế độ tiếp xúc trong AFM (contact mode AFM)
Hình 25 Chế tạo đầu đò silic nitric
Trang 10Trong chế độ tiếp xúc, đỉnh của mũi dò tiếp xúc trực tiếp với bề mặt và lực tác dụng gây ra giữa những nguyên tử của mũi dò và bề mặt tương đương với
lực đàn hồi được tạo bởi việc làm lệch cantilever Cantilever sử dụng trong chế
độ tiếp xúc phải có độ cứng tương đối nhỏ (độ cứng của cantilever phải nhỏ hơn độ cứng của bề mặt mẫu), để cung cấp độ nhạy cao và tránh những ảnh hưởng quá mức của mũi dò lên bề mặt mẫu Nếu độ cứng của đầu dò lớn hơn
bề mặt, bề mặt bị biến dạng
Chế độ tiếp xúc có thể được thực hiện tại lực không đổi hoặc tại khoảng cách không đổi (giữa đầu dò và bề mặt) Trong suốt quá trình quét trong chế độ lực không đổi, bộ hồi tiếp qui định giá trị của độ lệch của cantilever không đổi
(do đó lực tương tác cũng không đổi) (hình 27) Vì vậy trong việc điều khiển
áp điện ở bộ hồi tiếp, điện áp được đặt vào điện cực Z của bộ quét tương ứng với thông tin cấu trúc bề mặt mẫu
Hình 28 Thu nhận ảnh AFM tại khoảng cách không đổi
Hình 27 Thu nhận ảnh AFM tại lực không đổi
Trang 11Việc quét tại khoảng cách không đổi giữa mũi dò và mẫu (Z không đổi) thường được sử dụng cho mẫu có độ gồ ghề nhỏ (vài Ăngtrong) Trong chế độ này (còn gọi là chế độ độ cao không đổi), đầu dò di chuyển tại một độ cao trung bình nào đó trên mẫu và độ cong của cantilever Z tương ứng với lực tác dụng được ghi nhận tại mỗi điểm trên bề mặt Ảnh AFM trong trường hợp này mô tả sự phân bố không gian của lực tương tác
Trong chế độ lực không đổi mặc dù tốc độ quét phụ thuộc vào thời gian đáp ứng của mạch hồi tiếp nhưng lực tác dụng lên mẫu được điều khiển tốt Chế độ lực không đổi nói chung được yêu thích trong hầu hết các ứng dụng Chế độ chiều cao không đổi được được dùng để tạo ảnh nguyên tử của những bề mặt nguyên
tử phẳng khi độ lệch
của cantilever và độ
biến thiên lực tác
dụng nhỏ Chế độ này
cũng cần thiết cho
việc tạo ảnh theo thời
gian thực của sự biến
đổi bề mặt, ở đó tốc
độ quét nhanh là cần
thiết
Nhược điểm của
chế độ tiếp xúc là tương tác cơ học trực tiếp giữa mũi dò và mẫu Điều này dẫn đến việc mũi dò bị nứt và bề mặt bị phá hủy Kỹ thuật tiếp xúc thực tế không phù hợp cho mẫu mềm như là vật liệu hữu cơ và sinh học
b Chế độ không tiếp xúc (non-contact mode AFM)
Chế độ không tiếp xúc là kỹ thuật sử dụng cantilever dao động, tức là catilever AFM được dao động ở gần bề mặt của mẫu Khoảng cách giữa mũi dò
và bề mặt trong chế độ không tiếp xúc khoảng 10 đến 100 Ăngtrong Khoảng cách này được chỉ ra trên đường cong van der Wall ở hình dưới:
Hình 30: Sự phụ thuộc của lực tác dụng
vào khoảng cách mũi dò và mẫu
Trang 12Chế độ không tiếp xúc được ưa thích bởi vì nó cung cấp một phương pháp
để xác định cấu trúc bề mặt mà không có sự tiếp xúc giữa mũi dò và bề mặt Giống như ở chế độ tiếp xúc, chế độ không tiếp xúc có thể được sử dụng để xác định cấu trúc bề mặt của vật liệu cách điện và bán dẫn cũng như là vật liệu dẫn điện Lực tổng cộng giữa mũi dò và mẫu trong vùng không tiếp xúc là rất thấp, vào khoảng 10-12 N Lực yếu như vậy thuận lợi cho việc nghiên cứu mẫu mềm hay dẻo Một tiến bộ xa hơn nữa là những mẫu như là wafer silicon không bị nhiễm bẩn do tiếp xúc với mũi dò
Bởi vì lực giữa mũi dò và mẫu trong vùng không tiếp xúc thì thấp, việc xác định lực tương tác khó hơn nhiều so với trong vùng tiếp xúc Hơn nữa, cantilever được sử dụng trong chế độ không tiếp xúc phải cứng hơn so với trong chế độ tiếp xúc bởi vì cantilever mềm có thể bị kéo về phía bề mặt dẫn đến sự tiếp xúc với bề mặt mẫu Giá trị lực thấp trong vùng không tiếp xúc và
độ cứng lớn của cantilever được sử dụng trong chế độ tiếp xúc là hai yếu tố làm cho tín hiệu thu được trong chế độ không tiếp xúc nhỏ, và vì vậy rất khó để xác định tín hiệu đó
Trong chế độ không tiếp xúc, cantilever được cho dao động gần với tần số cộng hưởng riêng (từ 100 đến 400 kHz) với biên độ khoảng vài chục Ăngstrong Sau đó nó phát hiện sự thay đổi trong tần số cộng hưởng hoặc biên
độ khi mũi dò đến gần bề mặt mẫu Độ nhạy của hệ detector cung cấp độ phân theo chiều thẳng đứng ở khoảng ăngstrong, giống chế độ tiếp xúc
Mối liên hệ giữa tần số cộng hưởng của cantilever và sự biến đổi trong địa hình bề mặt có thể giải thích như sau Tần số cộng hưởng của cantilever biến thiên theo căn bậc hai của hằng số đàn hồi của nó Hơn nữa, hằng số đàn hồi của cantilever biến thiên theo gradient lực tác động lên cantilever Cuối cùng gradient lực bắt nguồn từ đường cong lực – khoảng cách được chỉ ra ở hình 1, thay đổi khi mũi dò tiến tới mẫu Vì vậy, sư thay đổi tần số cộng hưởng của cantilever có thể được sử dụng để đo sự thay đổi trong gradient lực, nó phản ánh sự thay đổi theo khoảng cách mũi dò - bề mặt hoặc địa hình mẫu
Trang 13Hằng số đàn hồi của cantilever liên hệ với khoảng cách dịch chuyển Z
của điểm mút cantilever và lực F tác dụng lên điểm mút này bởi quan hệ:
F k z
Tần số cộng hưởng của cantilever liên hệ với khối lượng và hằng số đàn hồi bởi công thức
m
k
Trạng thái này giữ nguyên nếu lực tác dụng lên cantilever không thay đổi theo vị trí z của cantilever Nói chung, không tồn tại trường hợp này Lực sẽ thay đổi theo khoảng cách giữa mũi dò và mẫu Như vậy ta có thể biểu diễn như sau:
z k z z
F F
0
z z
F k
0
Từ đó ta thấy rằng hằng số đàn hồi hiệu dụng thay đổi khi có gradient trường lực Khi ấy tần số cộng hưởng trở thành
m z
F
Sự thay đổi tần số cộng hưởng tại mỗi vị trí trên bề mặt tạo ra dữ liệu để tạo ra ảnh bề mặt