GIÁO TRÌNH, CẤU TRÚC VÙNG NĂNG LƯỢNG, TRONG VẬT RẮN
Trang 1CẤU TRÚC VÙNG NĂNG LƯỢNG TRONG VẬT RẮN
I Trạng thái của điện tử trong vật rắn:
I.1 Hamiltonian của điện tử trong tinh thể
Có thể xem tinh thể của một vật liệu như một hệ vật lý được cấu thành từ hai
loại hạt Loại hạt thứ nhất gồm Ni hạt ion nguyên tử nằm tại các vị trí của nút
mạng vàloại hạt thứ hai gồm Ne điện tử chuyển động trong trường sinh ra bởi
các ion trên Đối với tinh thể được cấu tạo từ nguyên tử có điện tích Z thì
Ne=ZNi Tính chất của hệ tinh thể phụ thuộc hoàn toàn vào sự tương tác giữa
hai hệ hạt này và tương tác giữa các hạt cùng loại với nhau
Gọi ⃗R1, ⃗ R2, … , ⃗R k , …, ⃗ R N i là tọa độ của các ion và r⃗1, ⃗r2, … , ⃗r s , …, ⃗r N elà tọa độ của
các điện tử Trạng thái của hệ được mô tả bằng phương trình Schrӧdinger trongdinger trong
trạng thái dừng:
ĤΨΨ(⃗r1, ⃗r2, … , ⃗r s , … , ⃗r N e , ⃗R1, ⃗ R2, … , ⃗R k , … , ⃗ R N i)=EΨΨ (⃗r1, ⃗r2,… , ⃗r s , … , ⃗r N e , ⃗ R1, ⃗R2,… , ⃗R k , … , ⃗R N i)
Trong đó:
Ĥ: toán tử Hamilton
E: năng lượng toàn phần của hệ tinh thể
Ψ (⃗r1, ⃗r2, …, ⃗r s , … , ⃗r N e , ⃗ R1, ⃗R2, … , ⃗ R k , … , ⃗R N i): hàm sóng của hệ tinh thể
Dạng đầy đủ của toán tử Hamilton trong vật rắn bao gồm 5 thành phần:
i=1
N i
ħ2
2 M i ∇ i2
−∑
k=1
N e
ħ2
2 m ∇ k2
+ 1
i=1 ;i ≠ j
N e
∑
j=1
N e
e2
r ij+V ii(⃗R1, ⃗R2, …, ⃗ R k , … , ⃗R N i)+V ei(⃗r1, ⃗r2, … , ⃗r s , … , ⃗r N e , ⃗ R1, ⃗R2, … , ⃗ R k ,… , ⃗R N i)
Với thành phần tử đầu tiên là động năng của các ion; phần tử thứ hai là động
năng của các điện tử; phần tử thứ ba là thế năng tương tác giữa những điện tử
với nhau, chúng được xem như tương tác Coulomb của hai điện tích; phần tử
thứ tư là thế năng tương tác giữa các ion; phần tử cuối cùng là thế năng tương
tác giữa ion với điện tử Ở đây, chúng ta giả sử không tính tới trường tác động
bên ngoài
I.1 Phép gần đúng đoạn nhiệt (Born-Oppenheimer):
Phương trình I-1 chứa 3(Z+1)Nbiến số, trong đó N là số ion có trong hệ,
Z là số thứ tự của nguyên tử trong Bảng tuần hoàn hóa học Trong tinh thể bán
dẫn Si, sốnguyên tử trong 1 cm3 là 5.1022 và ZSi=14 Như vậy số biến số trong
PT I-1
PT I-2
Trang 2phương trình I-1(với tinh thể Si) sẽ là 2.25×1024 cm-3 Rõ ràng một hệ phương trình nhưthế không thể giải được dưới dạng tổng quát
Muốn giải được phương trình Schrӧdinger trongdinger của một hệ gồm các hạt tương
tác vớinhau như phương trình I-1, chúng ta phải bằng một cách nào đó chuyển
chúng về phương trình Schrӧdinger trongdinger của một hệ gồm những hạt không tương tác Thật vậy, do khối lượng m của electron nhỏ hơn khoảng 1/1800 lần khối lượng của Micủa ion nên chúng ta thường xem chuyển động của electron nhanh hơn rất nhiều lần so với chuyển động của ion Điều đó có nghĩa rằng chuyển động của hệ electron được xem như liên tục so với mọi vị trí tức thời của hệ ion Như thế, khi xét đến chuyển động của hệ điện tử tại một thời điểm xác định ta có thể xem hệ ion đứng yên Còn khi xét chuyển động của hệ ion ta có thể xem như hệ điện tử tạo ra một trường trung bình nào đó Giả định như vậy được gọi là phép gần đúng đoạn nhiệt (Born-Oppenheimer 1927) Phép gần đúng này cho phép chúng ta viếthàm sóng toàn phần của tinh thể dưới dạng tích của hai hàm theo các tọa độr⃗1, ⃗r2, … , ⃗r s , …, ⃗r N e của điện tử (viết tắt là r) và các tọa độ
⃗R1, ⃗ R2, … , ⃗R k , … , ⃗ R N icủa ion (viết tắt là R):
Ψ (r , R )=ψ (r , R)φ(r , R)
Nhờ phép gần đúng đoạn nhiệt chúng ta đã có một sự tách biệt cục bộ
giữa tọa độ của điện tử và ion Hàm ψ(r,R) là hàm riêng của hệ điện tử với biến
số là tọa độ của điện tử r Tọa độ R của ion trong hàm sóng này chỉ là một tham
số cố định ứng với một cấu hình nào đấy của hệ ion Hàm sóng này là nghiệm của phương trình Schrӧdinger trongdinger :
i=1
N e
ħ2
2m ∇ i2 + 1
2∑
i=1
N e
∑
j=1 ; j≠ i
N e
e2
r ij+V ei(r , R )]ψ (r , R)=EΨ e(R) ψ (r , R)
Trong đó Ee(R) là trị riêng năng lượng toàn phần của hệ điện tử Chú ý rằng nó là hàm của tọa độ R của hệ ion
Hàm φ(R) là hàm riêng của hệ các ion và nó nghiệm đúng phương trình
Schrӧdinger trongdinger:
−∑
i=1
N i
ħ2
2 M i[φ (R ) ∇ i2ψ (r , R)− ∇ i φ ( R) ∇ i ψ (r , R )]=EΨ i ψ (r , R)
Trong phương trình I-5, số hạng cuối cùng trong biểu thức dưới tổng đặc
trưng cho mối liên hệ không đoạn nhiệt giữa hệ điện tử và hệ ion Việc bỏ qua các số hạng này là nguyên nhân để ta gọi phép gần đúng trên là phép gần đúng đoạn nhiệt
PT I-3
PT I-4
Trang 3Trên quan điểm đó, giá trị R trong phương trình I-4 có thể lấy những giá
trị bất kỳ Nếu R=R 0 ứng với vị trí cân bằng của mạng tinh thể thì thế
Vei(r,R=R 0) là một thế tuần hoàn, với chu kỳ trùng với vectơ tịnh tiến của mạng tinh thể
Phương trình I-4 thực chất cũng chưa thể giải được mà cần phải đưa nó
về dạng phương trình một hạt Để làm được điều này, chúng ta sử dụng phép gần đúng một điện tử
I.2 Phép gần đúng một điện tử(Hartree-Fock):
Trong phép gần đúng này, một điện tử thứ i bất kỳ được xem như nằm trong trường trung bình được tạo ra từ những điện tử còn lại Trường trung bình đó thường được gọi là trường tự hợp Rõ ràng nó chỉ phụ thuộc vào tọa độ của điện tử thứ i, Ωi=Ωi(ri)
Từ đây, chúng ta có thể biểu diễn năng lượng tương tác (theo cặp) của tất
cả các điện tử dưới dạng một tổng của các Ωi(ri) , nghĩa là:
1
2∑
i=1
N e
∑
j =1 ; j ≠i
N e
e2
|⃗r i−⃗r j|→∑
i
Ω i(r i)
Sử dụng phương trình I-6 ta viết lại Hamiltonian trong phương trình I-4:
ĤΨ=(−∑
i=1
N e
ħ2
2 m ∇ i2
+∑
i =1
N e
Ω i(r i)+∑
i=1
N e
∑
k=1
N i
U ik)=∑
i=1
N e
ĤΨ i
⇒ ĤΨ i= ħ2
2 m ∇ i2 +Ω i(r i)+U i(r i)
với Uik là thế năng tương tác của ion thứ k lên điện tử thứ I,Ui(ri) là thế năng của điện tử thứ i trong trường của các hạt ion Đặt Vi(ri)=Ωi(ri)+Ui(ri) ta có:
ĤΨ i=−ħ2
2 m ∇ i2+V i(r i)
Với toán tử Hamiltion ở dạng tổng PT I-7, chúng ta có thể biểu diễn nghiệm của PT I-4 dưới dạng tích của các hàm sóng:
ψ(r , R o)=∏
i=1
N e
ψ i(⃗r i)
Như vậy, với hàm sóng có dạng I-9, ta có thể viết phương trình I-4 thành
hệ gồm n phương trình:
PT I-6
PT I-7
PT I-8
PT I-9
Trang 42 m ∆+V ( ⃗r)]ψ (⃗r )=EΨ ψ (⃗r )
với V(r⃗) là một hàm tuần hoàn có chu kỳ là vectơ tịnh tiến của mạng tinh thể⃗R=n1⃗a1+n2⃗a2+n3⃗a3, nghĩa là:
V(⃗r +⃗R)=V (⃗r)
Hình I-1:Thế năng tuần hoàn trong mạng tinh thể
II Định lý Bloch – Hàm Bloch:
Do tính chất đối xứng của hàm Hamiltonian, ta có thể rút ra một sộ tính chất đặc biệt sau đây của ψ và E
Phương trìnhI-11 cho thấy điểm r⃗ và điểm (r +⃗⃗ R) hoàn toàn tương đương
với nhau về phương diện vật lý, do đó nếu đặt vào phương trình I-10( r +⃗⃗ R) thay cho r⃗ thì hàm sóng tại hai điểm chỉ khác nhau bởi một thừa số CR :
ψ(⃗r +⃗R)=C R ψ ( ⃗r) Điều đó có nghĩa là khi dịch chuyển đi vectơ tịnh tiến của mạng, do tính tuần hoàn của V (⃗r ), môđun của hàm sóng |ψ (⃗r)| không đổi, chỉ có pha thay đổi Đồng thời hàm sóng ψ(⃗r+⃗R) và ψ (⃗r)phải thoải mãn điều kiện chuẩn hóa:
∫
−∞
+∞
ψ¿(r +⃗⃗ R).ψ(r +⃗⃗ R)dV =|C R|2∫
−∞
+∞
ψ¿
(⃗r ) ψ (⃗r ) dV =1
∫
−∞
+∞
ψ¿
( ⃗r ) ψ ( ⃗r )dV =1
⇒|C R|2=1
Như vậy, CR hoặc phải bằng 1 hoặc bằng hàm mũ với số mũ ảo Vì hàm sóng biểu thị cho chuyển động của điện tử trong tinh thể, nên ở đây ta lấy CR là
PT I-10
Trang 5hàm mũ Số mũ phải là một đại lượng không có thứ nguyên và vectơ ⃗R có thứ nguyên là độ dài Kết hợp các điều vừa nói ta có:
C R=e i ⃗k ⃗ R
trong đó k⃗ là vectơ sóng có thứ nguyên cm-1
ψ(⃗r +⃗R)=e i ⃗k ⃗ R ψ ( ⃗r )
Phương trình II-2 được gọi là tính chất tịnh tiến của của hàm sóng.
Hình II-2: Hàm Bloch cho trường hợp k≠0 và trường hợp đặc biệt k=π/aa
Nhân hai vế của II-2 với e−i ⃗k (⃗r+⃗R),ta được:
e−i ⃗k (⃗r+⃗R)
.ψ(r +⃗⃗ R)=e−i ⃗k (⃗r+⃗R)
e i ⃗k ⃗ R ψ ( ⃗r )=e−i ⃗k ⃗r ψ (⃗r )
Nếu đặt:
u k⃗( ⃗r)=e−i ⃗k ⃗r
ψ ( ⃗r)
Thì từ phương trình II-3 ta sẽ có:
u k⃗(r +⃗⃗ R)=u k⃗( ⃗r)
Từphương trình II-4 suy ra:
ψ (⃗r )¿e i ⃗k ⃗r u k⃗( ⃗r)
Như vậy, điện tử chuyển động trong tinh thể được mô tả bởi sóng phẳng
có biên độ biến đổi một cách tuần hoàn theo chu kỳ của trường tinh thể Phương
trình II-6được gọi là hàm Bloch (hình II-1).
Với ⃗R là vectơ tịnh tiến của mạng thì thừa số e i ⃗k ⃗ R trong biểu thức II-6 chỉ
phụ thuộc vào k⃗ Trong không gian vectơ k⃗, xét ⃗k '=⃗k +⃗ K sao cho:
PT II-11
PT II-12
PT II-13 PT II-14
PT II-15 PT II-16
PT II-17
Trang 6e i ⃗ k⃗R=e i ⃗k ⃗R
Lúc này, trạng thái đặc trưng bởi vectơk⃗ và ⃗k ' tương đương với nhau về mặt vật lý, nghĩa là E(⃗k ’)=E(k⃗)
Thay ⃗k '=⃗k +⃗ K vào II-7ta được:
e i ⃗ k '⃗R
=e i(⃗k+⃗ K) ⃗R
=e i ⃗k ⃗R e i ⃗ K ⃗ R
=e i ⃗k ⃗ R
Suy ra: e i ⃗ K ⃗ R=1
⇒⃗ K ⃗R=m2 π
Như vậy, ⃗K ≡⃗ G là vectơ mạng đảo
Hàm sóng trở lại với chính nó với phép tịnh tiến T^G trong không gian vectơ k⃗.Năng lượng là hàm phụ thuộc vào k⃗ và tuần hoàn theo k⃗ với chu kỳ là vectơ mạng đảo E(k +⃗⃗ G¿=E(k⃗) Do tính chất này, người ta thường giới hạn việc nguyên cứu sự phụ thuộc của E theo k cho trường hợp một chiều trong khoảng:
−π
a ≤ k ≤
π a
Trong không gian k ba chiều, miền giới hạn đó, được gọi là vùng Brillouin thứ nhất, là ô nguyên tố Wigner-Seitz của mạng đảo
III Cấu trúc vùng năng lượng:
Để có cấu trúc vùng năng lượng của một chất cụ thể nào đó, nghĩa là muốn có hàm E(k) dưới dạng tường minh thì ta phải giải phương trình Schrӧdinger trongdinger với thế U(r) xác định Trên thực tế không thể biết hàm U(r) một cách chính xác Do
PT II-18
PT II-19
Hình II-3: Vùng Brillouin của tinh thể Si và Ge.
Trang 7đó, phải dùng các mô hình gần đúng của nó Tùy theo cách chọn gần đúng thế U(r) mà ta có các phương pháp khác nhau để giải phương trình Schrӧdinger trongdinger
III.1 Giải phương trình Schrӧdinger theo phương pháp nhiễu loạn:dinger theo phương pháp nhiễu loạn:
III.1.a Phép gần đúng điện tử tự do:
Hamiltonian của electron ^H= ^ T +U (⃗r)được biểu diển dưới dạng hai số hạng:
^
H= ^ H0+ ^W
trong đó ^H0≡ ^T =−ħ
2
2m ∆là phần không nhiễu loạn và W ≡U (⃗r )^ là toán tử nhiễu loạn
Phương trình Schrӧdinger trongdinger trong phép gần đúng bậc không:
^
H0ψ0( ⃗r )=−ħ
2
2 m ∆ ψ0(⃗r )=EΨ0(⃗r )ψ0(⃗r )
Nghiệm của phương trình III-2 là hàm sóng de Broglie :
ψ0(⃗r )= A e i ⃗k ⃗r
EΨ0(k⃗)=ħ2k2
2 m
Điện tử tự do được mô tả bởi sóng chạy e i ⃗k ⃗r truyền trong môi trường có tính tuần hoàn của tinh thể Do đó, sẽ có phản xạ Bragg khi thỏa điều kiện: 2dsinθ= ±mmλ
Khi điện tử chuyển động vuông góc với mặt phẳng nguyên tử,θ=900 và d=a, phương trình Bragg thành:
k =± m π
a
Như vậy, các điện tử có k thỏa mãn III-5 thì sóng tương ứng với chúng
sẽ phản xạ trên mặt nguyên tử Sóng tới và sóng phản xạ có thể tổ hợp với nhau tạo nên sóng đứng dọc theo chiều vuông góc với các mặt nguyên tử đang xét
Có hai cách tổ hợp các sóng đó Xét các sóng truyền theo phương của trục x:
ψ
+ ¿ =e i π a
+e−i π a =2 cosπ
a ¿ ψ
− ¿ =e i π a
−e−i π a =2i sinπ a ¿
Dấu (+) hoặc dấu (-) biểu thị tính chẵn hoặc lẽ của hàm sóng
PT III-20
PT III-21
PT III-22 PT III-23
PT III-25 PT III-26 PT III-24
Trang 8Xác suất tìm thấy điện tử ρ tỷ tệ với |ψ|2 Với sóng chạy ρ~ψ*ψ=eikxe-ikx , nghĩa là có thể tìm thấy điện tử mọi nơi trong tinh thể
Hình III-4: Sự phân bố của điện tử khi thỏa mãn điều kiện phản xạ Bragg
Với sóng đứng:
o ρ+¿=¿¿¿: các điện tử tập trung gần các ion dương tại x=0,a ,2a,…
o ρ−¿=¿¿ ¿ :các iện tử có xu hướng tập trung ở giữa các ionđiện tử có xu hướng tập trung ở giữa các ion dương
Hai cách sắp xếp trên phải tương ứng với các năng lượng khác nhau Thế
năng của điện tử dọc theo mạng tinh thể một chiều có dạng như hình III-1.Gần
các lõi nguyên tử, thế năng thấp hơn giá trị trung bình của nó Do đó,thế năng trong trạng thái ψ+ phải nhỏ hơn trong trạng thái ψ-(động năng của chúng bằng nhau do có cùng k)
Hình III-5: Sự tách mức năng lượng ở biên vùng Brillouin tạo nên cấu trúc
Như vậy, giá trị trung bình của thế năng đối với trạng thái ψ+ và ψ- khác nhau là Eg Hàm sóng ψ+ dưới mức khe năng lượng (A) và hàm sóng ψ- trên mức
năng lượng (B ) (hình III-2).
Trang 9Vậy mặt phẳng ở đĩ xảy ra sự phản xạ sĩng cũng là mặt phẳng ở đĩ xảy
ra sự gián đoạn của phổ năng lượng Các mặt này tạo thành biên vùng Brillouin
Từ những kết quả trên suy ra :
Năng lượng của electron trong tinh thể bị gián đoạn khi k = ± m a
Với k = ± ma
hình thành sĩng đứng Do sóng đứng không truyền năng lượng nên vận tốc nhóm
1
0
v
hàm E(k) đạt cực đại tại k = ± m a
Khi k ~ 0 , .Các electron có bước sóng rất dài không cảm thấy sự thay đổi tuần hoàn của trường thế năng của tinh thể: E(k) có dạng như của electron tự do, nghĩa làk~0, E(k)~k2
Trong phạm vi một vùng, năng lượng cũng khơng liên tục mà gián đoạn Với tinh thể cĩ kích thước dài L, k lấy các giá trị gián đoạn cách nhau một lượng 2 π L Để đơn giản, xét mạng tinh thể một chiều dài L=Na nguyên tử, với N
là số nguyên tử, a là hằng số mạng (hình III-3) Một cách gần đúng tính tuần
hồn của tinh thể là vơ hạn bằng cách xem như điện tử vừa ra khỏi bề mặt bên này của tinh thể đã quay trở lại mặt phía bên kia Bằng cách đĩ, hàm sĩng trong
tinh thể thỏa mãn điều kiện biên vịng ψ(x)=ψ(x+Na) (hình III-4) Trong trường
hợp tinh thể 3 chiều:
ψ (⃗r)=ψ(r +N⃗ 1⃗a1), ψ (⃗r)=ψ(r +N⃗ 2⃗a2), ψ (⃗r)=ψ(r +N⃗ 3⃗a3)
Trang 10Hình III-6: Thế năng trong tinh thể có tính tuần hoàn và đạt giá trị lớn vô
Theo định lý Bloch ta có:
ψ(⃗r +N i⃗a i)=e i ⃗k N i⃗a i ψ (⃗r)=ψ ( ⃗r)
⇒e i ⃗k N i⃗a i=1
⇒ ⃗k N i⃗a i=m i 2 π , với mi=1; 2; 3; … Nếu đặt:
⃗
j=1
3 δ j
2 π b⃗j
ta được:
⃗
k ⃗ a i=( ∑
j=1
3 δ j
2 π⃗b j)⃗a i=δ i
⇒ N i ⃗k ⃗ a i=N i δ i=m i 2 π
⇒ δ i=m i 2 π
N i
Thayphương trình III-9 vào phương trình III-8:
⃗
k = m1
N1⃗b1 +m2
N2⃗b2 +m3
N3⃗b3
PT III-27
PT III-29 PT III-28
Trang 11Vì k nằm trong vùng Brillouin nên:
−1
2 ≤
m i
N i ≤
1 2
⇒− N i
2 ≤ m i ≤ N i
2
Điều này cho ta thấy số điểm miêu tả trạng thái khả dĩ (hay số vectơ sóng) trong vùng Brillouin sẽ là N=N1N2N3 (Hình III-5) N không khác hơn là
số nguyên tử có trong tinh thể đang xét
Tuy nhiên, do khoảng cách giữa hai mức liên tiếp là rất nhỏ (~ 10-22 eV) nên có thể năng lượng gần như liên tục trong một vùng
Trang 12Hình III-8: Năng lượng của điện trong tinh thể có cấu trúc vùng, và sự không
liên tục trong một vùng năng lượng III.1.b Phép gần đúng liên kết mạnh:
Phương trình cho bài toán không nhiễu loạn được lấy là phương trình của
điện tử trong nguyên tử:
[−ħ2
2 m ∆+V ( ⃗r)]ψ a(⃗r )=EΨ a ψ a( ⃗r )
Trong đó V(r) là thế năng của điện tử trong nguyên tử
Thế năng của trường tinh thể U(r) được xem là nhiễu loạn trong phép gần
đúng này
Ta xét trường hợp này một cách định tính Giả sử lúc đầu có N nguyên tử
được sắp xếp một cách tuần hoàn nhưng ở khá xa nhau để có thể bỏ qua tương
tác giữa chúng Mỗi nguyên tử có năng lượng của một nguyên tử riêng biệt Hệ
Hình III-9: Năng lượng của từng nguyên tử riêng biệt khi chúng ở cách xa
Trang 13nguyên tử này có các mức năng lượng giống như của một nguyên tử nhưng mỗi mức năng lượng có độ suy biến bậc N
Đưa nguyên tử lại gần nhau để tạo nên tinh thể Sự tương tác của chúng khi lại gần nhau có hai tác dụng: làm dịch chuyển các mức năng lượng và làm
giảm suy biến của các mức năng lượng N mức trước đây trùng vào nhau có thể
tách ra tạo nên vùng năng lượng (hình III-8) Tùy theo độ tách của các mức
năng lượng (do tương tác giữa các nguyên tử mạnh hay yếu) độ rộng của các vùng năng lượng đó có thể khác nhau Cụ thể hơn, các điện tử ở lớp ngoài chịu tác dụng của các nguyên tử lân cận mạnh nhất nên các vùng ứng với năng lượng lớn có độ rộng vùng lớn Các vùng có thể chồng lên nhau một phần Từ đó có thể thấy, giản đồ vùng năng lượng có những đặc điểm sau: có các vùng năng lượng được phép và
Hình III-10: Các mức năng lượng trong nguyên tử giảm suy biến khi đưa lại
gần nhau (hình vẽ cho trường hợp hai nguyên tử).