Biển, đảo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát nước ven biển như nước ta và của cả thế giới. Xu thế biển là tìm cách “tiến ra biển” để khai thác lợi ích kinh hiện chủ quyền và các quyền chủ quyền của mình. Vì thực tế ở nước nào cũng vậy, do nguồn tài nguyê thác triệt để nên ngày càng cạn kiệt khi đó biển, đảo tuy song nó hiện chứa nguồn tài nguyên rất dồi dào. Biển liền. Vì vậy mà các nước có biển, nhất là các nước lớn cách vươn ra biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để chiếm và tự do khai thác biển phục vụ việc phát triển đất nước bất 123doc.org Nhúng Toàn màn hình Thích 0 Like 0 0 Tải xuống 50,000₫ 1 / 29 Lên đầu trang Bình luận về tài liệu giang-day-va-giao… Facebook social plugin Also post on Facebook Posting as Người An Tiến ▾ Comment Add a comment... Chọn để tìm tài liệu bạn cần ... Tìm kiếm Nhiều Cộng đồng Nguyễn V… Event: Trải nghiệm "CHƯƠNG TRÌNH RFD" cùng 123doc6/29/2015 Giảng dạy và giáo dục cho học sinh Trường THPT Ngọc Lặc hiểu biết thêm về quyền và chủ quyền Biển http://123doc.org/document/2775466-giang-day-va-giao-duc-cho-hoc-sinh-truong-thpt-ngoc-lac-hieu-biet-them-ve-quyen-va-chu-quyen-bien-dao-viet-nam-luat-… 2/6 146 2 0 74 0 0 giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố hồ ... 40 0 0 NGHIÊN cứu TÌNH HUỐNG về PHỐI hợp GIẢNG dạy GIỮA GIÁO VIÊN bản NGỮ và ... Từ khóa liên quan nghiên cứu khả năng chú ý và ghi nhớ của … giao duc dao duc cho hoc sinh thong qua gi… một vài biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực h… phương pháp giảng dạy đạo đức cho học sinh giáo dục đạo đức cho học sinh giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học và tự do khai thác biển phục vụ việc phát triển đất nước bất tế về luật biển đã được cam kết và đã xảy ra tranh chấp. Có nhiều nước thực thi đúng luật, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình và công lý trên biển; song cũng có nước ỷ thế nước to uy hiếp hiếp nước yếu mà cụ thể ở dây là Trung Quốc với yêu sách Đường chín khúc” thò xuống hầu h
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Biển, đảo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của cácnước ven biển như nước ta và của cả thế giới Xu thế hiện nay của các nước cóbiển là tìm cách “tiến ra biển” để khai thác lợi ích kinh tế của biển, đảo; thựchiện chủ quyền và các quyền chủ quyền của mình
Vì thực tế ở nước nào cũng vậy, do nguồn tài nguyên trên đất liền bị khaithác triệt để nên ngày càng cạn kiệt khi đó biển, đảo tuy mênh mông, hoang sơsong nó hiện chứa nguồn tài nguyên rất dồi dào Biển rộng hơn và giàu hơn đấtliền Vì vậy mà các nước có biển, nhất là các nước lớn đều đã và đang tìm mọicách vươn ra biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để chiếm biển, nắm chủ quyền
và tự do khai thác biển phục vụ việc phát triển đất nước bất chấp công ước quốc
tế về luật biển đã được cam kết và đã xảy ra tranh chấp
Có nhiều nước thực thi đúng luật, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình và công
lý trên biển; song cũng có nước ỷ thế nước to uy hiếp nước nhỏ, nước mạnh uyhiếp nước yếu mà cụ thể ở dây là Trung Quốc với yêu sách “ Đường lưỡi bò hayĐường chín khúc” thò xuống hầu hết Biển Đông ( chiếm 80% diện tích ), giảiquyết yêu sách bằng vũ lực tạo nên áp lực về chính trị gây hoang mang cho nhândân các quốc gia có biển trong đó có Việt Nam
Mấy chục năm nay trên biển Đông âm ỉ, có khi nổ ra tranh chấp về chủquyền biển, đảo Thách thức to lớn nhất là tranh chấp chủ quyền trên các đảothuộc hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Song có thể nói hiện nay sự hiểu biếtpháp luật về biển, đảo và ý thức thực hiện pháp luật của nhân dân ta còn chưacao, chưa đầy đủ đặc biệt là thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường Vì vậy mà
có người chưa quan tâm đúng mức đến sự nghiệp giữ gìn, phát triển biển, đảo.Một số người lại nóng lòng thể hiện thái độ, cách nhìn nhận không phù hợp Vìvậy việc thông qua môn học Giáo dục Quốc phòng – An ninh mà bản thân tôiđang trực tiếp giảng dạy cùng với các môn học có liên quan khác như Lịch sử,Địa lý, Giáo dục Công dân, bản thân phải tìm hiểu thêm, nắm bắt được những
Trang 2bằng chứng lịch sử liên quan đến biển đảo, Công ước quốc tế về luật biển năm
1982 và đặc biệt là Luật Biển Việt Nam chính thức có hiệu lực từ ngày01/01/2013 gồm 7 chương 55 điều qua các phương tiện thông tin đại chúng bằngcác hoạt động giảng dạy chính khóa, ngoại khóa để giáo dục cho học sinh yêntâm hơn hiểu biết sâu sắc hơn quyền và chủ quyền biển đảo Việt nam, từ đó xâydựng cho các em niềm tin, tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệmcông dân về bảo vệ đất nước, bảo vệ biển đảo trên tinh thần tôn trọng luật phápquốc tế và tuyên truyền đến mọi người dân hiểu về luật biển Việt nam, quyền,quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia Việt nam về biển đảo
Đó là cơ sở, là lý do tôi lựa chọn đề tài “ Giảng dạy và giáo dục cho học sinh Trường THPT Ngọc Lặc hiểu biết thêm về quyền và chủ quyền Biển đảo Việt Nam – Luật Biển Việt Nam ” để giảng dạy cho học sinh Trường THPT
Ngọc Lặc năm học 2012 – 2013 và các năm học tiếp theo
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận của vấn đề:
Thời xa xưa con người chủ yếu chỉ hoạt động trên đất liền Về sau do yêu cầucủa cuộc sống, nhất là nhờ sự phát triển khoa học-kỹ thuật, người ta dần dầnquen sống trên biển; ngày càng thực hiện nhiều sinh hoạt đi lại, đánh bắt hải sản,nghiên cứu, khai thác tài nguyên Cách sinh hoạt của con người từng bước hìnhthành những tập quán chung (gọi là tập quán quốc tế) và những thỏa thuận thànhvăn giữa các nhà nước với nhau Đó gọi chung là luật biển quốc tế
Luật biển quốc tế từng bước phát triển, nhằm mục đích chủ yếu là phân chiachủ quyền trên biển, việc sử dụng, khai thác biển, bảo vệ môi trường biển vàhợp tác giữa các quốc gia trong các lĩnh vực này Nước ven biển luôn muốn mởrộng chủ quyền của mình trên biển và các đảo; còn quốc gia không có biển, từ
xa đến thì muốn được tự do trên biển về các mặt đi lại, sử dụng, nghiên cứu,thăm dò, khai thác Hai khuynh hướng này đối lập nhau
Trang 3* Những bằng chứng chứng minh tính hợp pháp về chủ quyền Biển đảo Việt Nam
"Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng Tư năm Tân Mão (1711) đã điều động
quân lính và những người có trách nhiệm mang các phương tiện đo vẽ đi thuyền
ra “đo bãi cát vàng Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (Đại Nam Thựclục, tập 1, trang 126) Sự kiện nổi bật nhất thời Gia Long trong việc khẳng địnhchủ quyền của quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lễ thượng
cờ và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo đó Sự kiện trọng đại ấy được miêu
tả hết sức vắn tắt trong Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 922 bằng một câu: “Saithủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”.Mười bảy năm sau, năm 1833, giám mục Giăng Lu-i Ta-be (Jean LouisTarberd), người đã nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong (phần đất từ đèo Ngangtrở vào) trong một công trình của mình đã viết khá rõ về sự kiện trọng đại đó:
“Chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chú tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ
đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinhvượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, ngài đãlong trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong (thời này xứ Đàng Trong đượchiểu là nước Việt Nam chúng ta)” (1)
Tiếp tục ý tưởng của vua cha, năm 1833, Minh Mệnh đã nói với Bộ Côngrằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nướcmột màu không phân biệt được nông hay sâu Gần đây thuyền buôn thường bịhại Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới, dựng miếu, lậpbia, lại trồng nhiều cây cối Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết,ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn Đó cũng là việc lợi muôn đời” (sđd, tr.743).Tháng Sáu năm Ất Mùi (1835), Bộ Công cho dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sathuộc Quảng Ngãi Đại Nam Thực lục có ghi: “Hoàng Sa ở hải phận QuảngNgãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phíatây nam có miếu cổ có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóngêm), cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông,
Trang 4tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước Phía bắc, giáp với mộtcồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước(1 trượng bằng 10 thước, 1 thước đo đất bằng 0,47m) ngang với cồn cát, gọi làBàn Than Thạch) Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vìsóng gió không làm được Đến đây mới sai Cai đội thủy quân là Phạm VănNguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, BìnhĐịnh, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 4 trượng) Bên tảmiếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong Mười ngày làm xong rồivề”… Từ khi nước ta bị Pháp đô hộ, chủ quyền ngoại giao đều nằm trong tayPháp Lúc đó, họ thay mặt nước ta để ký kết, ban hành một số văn bản pháp luật
áp dụng cho nước ngoài Thí dụ như một nghị định của chính phủ Pháp banhành năm 1926 nghiêm cấm nước ngoài vào đánh cá trong các lãnh hải của xứĐông Dương thuộc Pháp - phạm vi biển cách bờ ba hải lý (một hải lý bằng1.852 m)
Pháp cũng ký một số hiệp ước song phương với Trung Hoa hoặc ra tuyên bố vềbiển, đảo với các nước (1887, 1921, 1932 ) Những văn bản đó là “công phápquốc tế” ban đầu có liên quan đến biển, đảo của nước ta
Sau 1945 đến 1975, Chính phủ Quốc gia Việt Nam (thời Bảo Đại) và ViệtNam Cộng hòa (từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu) đều có ban hànhvăn bản pháp luật, ra tuyên bố tuyên cáo với các nước về chủ quyền biển và việcquản lý, sử dụng biển, đảo Việt Nam Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã từngtham gia Hội nghị quốc tế về Luật Biển lần thứ nhất vào năm 1958 Hội nghịnày đã thông qua bốn công ước quốc tế liên quan đến biển, đảo, việc đánh bắt cá
và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia Hội nghị quốc tế về LuậtBiển lần thứ ba (từ 1973 đến 1982) Việt Nam đã trở thành thành viên chínhthức của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention
on the Law of the Sea) từ năm 1982
Trang 5Bên cạnh đó, nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm phápluật quan trọng để điều chỉnh quan hệ biển, đảo Như Tuyên bố ngày 12-5-1977
về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ViệtNam; Tuyên bố ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnhhải Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia ngày 17-6-2003; Nghị định số 30/CPngày 29-1-1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùngbiển Việt Nam; Bộ luật Hàng hải ngày 30-6-1990; Luật Dầu khí ngày 6-7-1993v.v
Việt Nam ta là một nước nằm trên bờ biển Đông, ở tuyến hàng hải chủ yếuthông thương giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương Biển Đông của nước ta
và tám nước láng giềng: Malaysia, Indonesia, Philippines, Brunei, Singapore,Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan đang chứa đựngnhiều nguồn tài nguyên đa dạng, đặc biệt là dầu khí Biển, đảo nước ta có tiềmnăng tài nguyên rất đáng kể, phong phú và đa dạng, đặc biệt là tài nguyên sinhvật (cá, tôm, san hô, đồi mồi, chim yến ); tài nguyên thực vật, tài nguyênkhoáng sản (dầu khí, than đá, quặng sắt, titan, cát thủy tinh, phân chim ); tàinguyên giao thông- vận tải biển, tài nguyên du lịch Dầu khí với trữ lượng đãthăm dò, khảo sát khoảng 3-4 tỷ m3 dầu quy đổi Riêng về hải sản có tổng trữlượng khoảng 3-4 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,5-1,8 triệu tấn mộtnăm Một nguồn lợi mà các nước trên thế giới đều khao khát
Ở biển Đông, nước ta có khoảng 3.000 đảo phân phối không đều, chủ yếu tậptrung ở hai khu vực biển Bắc bộ và Nam bộ Những đảo và quần đảo ven biểnnhư: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng Ninh); Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng); HònLớn, Hòn Tre (Khánh Hòa); Lý Sơn (Quảng Ngãi); Phú Quý (Bình Thuận),Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu); Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang) Người dân Việt Nam có quyền tự hào về tổ quốc, thể hiện tình yêu quê hươngđất nước, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc mà từ ngàn xưa ông cha ta
đã gây dựng
Trang 6Đặc biệt có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ngoài khơi biển phíaĐông, chạy dài từ khu vực tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế vào đến các tỉnhNam bộ, bao gồm nhiều đảo nhỏ, bãi cát ngầm, bãi đá, bãi san hô Năm 1974,Trung Quốc đã đưa quân đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa; 1988, TrungQuốc cùng với một số quốc gia có biển khu vực Đông Nam Á tiếp tục chiếmmột số đảo lớn của quần đảo Trường Sa đi trái với luật pháp quốc tế, Công ướcquốc tế về luật Biển năm 1982
Với Việt Nam công tác biển, đảo luôn được đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ đạosát sao của Đảng, Nhà nước; luôn được sự quan tâm, ủng hộ của cán bộ, đảngviên, chiến sĩ và nhân dân cả nước, kể cả đồng bào định cư ở nước ngoài; luôn
có sự phối hợp chặt chẽ của toàn bộ hệ thống chính trị Chính vì vậy, mặc dùtình hình biển Đông diễn biến hết sức phức tạp, nhưng công tác biển, đảo của ta
đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, thể hiện:
- Khẳng định rõ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia
trên biển; giữ vững các vùng biển, đảo do ta quản lý; duy trì được hòa bình và
ổn định ở biển Đông.
- Các hoạt động kinh tế, đặc biệt là dầu khí và nghề cá trên biển Đông
vẫn được triển khai thường xuyên; lợi ích quốc gia được giữ vững.
- Giữ được cục diện quan hệ hữu nghị hợp tác với Trung Quốc và các
nước liên quan.
- Ta đã tuyên truyền để dư luận quốc tế ngày càng hiểu rõ hơn lập
trường đúng đắn, chính nghĩa của ta trên biển Đông; hiểu rõ tính phi lý trong yêu sách sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.
- Cơ bản tạo được sự đồng thuận trong xã hội, đa số cán bộ, đảng viên,
chiến sĩ, tri thức trẻ, học sinh và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước ta trong việc xử lý vấn đề biển Đông.
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1 Tính tích cực:
Trang 7Diễn biến việc tranh chấp và giải quyết chủ quyền trên quần đảo Hoàng
Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei
Theo các tài liệu lịch sử và các tài liệu pháp lý hiện có, có thể khẳng định cácnhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và làm chủ hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa hoà bình, thực sự và liên tục ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, sau đóchính quyền Đông Dương lại tiếp tục củng cố chủ quyền của Việt Nam trên haiquần đảo này thông qua các hoạt động như thành lập chính quyền, cử lính ra đồntrú, lập các trạm thông tin, dự báo khí tượng cũng như xây dựng các đèn biểntrên hai quần đảo Cho đến tận đầu thế kỷ XX không có nước nào yêu sách chủquyền trên hai quần đảo đối với Việt Nam Các bản đồ cổ của Trung Quốc cũngchỉ thể hiện phạm vi lãnh thổ phía Nam đến đảo Hải Nam Trải qua thời gian dàivới nhiều biến chuyển lịch sử, cùng với ý đồ mở mang lãnh thổ, năm 1956, lợidụng lúc Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm phầnphía Đông của quần đảo Hoàng Sa và năm 1974 tiếp tục dùng lực lượng hảiquân và không quân đánh chiếm phần phía Tây của quần đảo
Trên quần đảo Trường Sa, chúng ta đang thực hiện chủ quyền quốc gia vàquản lý hành chính trên 21 đảo, đá và bãi cạn nửa nổi nửa chìm Thông qua sáchtrắng các năm 1979, 1981 và 1989, Việt Nam đã thể hiện quan điểm trước saunhư một, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo này, bên cạnh côngtác đàm phán ngoại giao, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng các biệnpháp hoà bình, chúng ta cũng tiếp tục củng cố vị trí của mình trên quần đảoTrường Sa Để giải quyết vấn đề chủ quyền, Việt Nam đã mở diễn đàn đàmphán các vấn đề trên biển thực chất là giải quyết vấn đề chủ quyền trên quần đảoHoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc, đến nay đã đàm phán được 8 vòng.Cùng với hoạt động đàm phán song phương, chúng ta kiên trì đấu tranh, khẳngđịnh chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo tại tất cả các diễn đàn quốc tế có liênquan và đồng thời tiếp tục hoàn thiện hồ sơ pháp lý lịch sử về chủ quyền của ta
Trang 8trên hai quần đảo Tháng 11/2002 tại Pnonh Penh (Campuchia), các nướcASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC),được đánh giá là một bước tiến quan trọng, là cơ sở để duy trì ổn định khu vựctrong khi các bên tiếp tục tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài giải quyếtcác tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông Một số đảo đá và bãi cạn khác thuộcquần đảo Trường Sa đang bị một số nước và vùng lãnh thổ chiếm đóng tráiphép, các bên tranh chấp cũng đưa ra các lập luận, ban hành các văn bản phápluật để biện minh cho việc chiếm đóng này.
a Trung Quốc: Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với cả hai quần đảo
bằng việc vẽ đường đứt khúc 9 đoạn trên Biển Đông, mà ta thường gọi là
"đường lưỡi bò" trên bản đồ Nam Hải chư đảo do Trung Hoa dân quốc xuất bảnnăm 1947 và được CHND Trung Hoa in lại năm 1950, bao gồm cả hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa trong cái gọi là "biên giới trên biển" của Trung Quốc Mặc
dù bị hầu hết các nước có yêu sách và lợi ích liên quan trong khu vực phản đốinhưng qua việc theo dõi các động thái trên biển và trên các phương tiện tuyêntruyền của Trung Quốc, có thể thấy Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ và từngbước thực hiện yêu sách này Trong thời gian gần đây Trung Quốc đã liên tụcban hành nhiều văn bản pháp luật để cụ thể hoá các yêu sách của mình trên BiểnĐông Hiện nay, Trung Quốc chiếm giữ 7 bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa
b Philipin: Philipin công bố Sắc lệnh 1596 tháng 2/1979 về vùng Kalayaan,
theo đó hầu hết quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Philipin
và được sáp nhập vào tỉnh Palawan Lập luận của Philipin về việc xác định vùngKalayaan là tính kế cận và quyền lợi an ninh quốc phòng của Philipin đối vớiquần đảo này Hiện nay, Philipin đang chiếm đóng 9 đảo, đá thuộc quần đảoTrường Sa
c Malaysia: Ngày 02/12/1979, Malaysia xuất bản bản đồ qui định về phạm
vi lãnh hải và ranh giới thềm lục địa, theo đó một phần phía Nam quần đảoTrường Sa thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Malaysia Hiện nay,Malaysia đang chiếm giữ 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa
Trang 9d Đài Loan: Ngày 21/5/1992, Đài Loan thông qua một đạo luật tuyên bố
chủ quyền và lãnh hải, theo đạo luật này toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc chủquyền của Đài Loan Hiện nay, Đài Loan đang chiếm đóng trên đảo Ba Bình, làđảo có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa Tháng 8/2003, Đài Loan đãcho cắm cờ trên bãi Bàn Than (bãi đá san hô nửa nổi nửa chìm, rộng khoảng400m, dài khoảng 200m thuộc quần đảo Trường Sa, nằm cách đảo Ba Bìnhkhoảng 4 km về phía Đông và cách đảo Sơn Ca khoảng 6,5 km về phía Tây) vàmới đây, ngày 23/3/2004, phía Đài Loan đã xây dựng một nhà cao chân trên bãinày Như vậy, đến nay Đài Loan đang chiếm giữ một đảo và một bãi cạn thuộcquần đảo Trường Sa
e Brunei: Năm 1993, Brunei đưa ra Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa 200
hải lý nhưng chưa đưa ra toạ độ cụ thể Tuy nhiên, phần chồng lấn với Việt Nam
và Malaysia trên quần đảo Trường Sa tương đối nhỏ, không ảnh hưởng đáng kểtới tranh chấp Brunei cũng là nước duy nhất trong các bên yêu sách khôngchiếm giữ vị trí nào trong quần đảo Trường Sa
2 Phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc
về Luật biển năm 1982
a G:ải quyết vùng chồng lấn thềm lục địa với Malaysia
Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn biển và thềm rộngkhoảng 2.800 km2 được hình thành bởi đường ranh giới thềm lục địa do chínhquyền Sài Gòn công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa đượcMalaysia thể hiện trên bản đồ xuất bản năm 1979 Ngày 05/6/1992, tại KualaLumpur (Malaysia), hai nước đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chungvùng chồng lấn, giao cho các công ty dầu khí của hai nước ký các dàn xếpthương mại và tiến hành hợp tác thăm dò, khai thác tiềm năng dầu khí ở khu vựcnày Việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau Hiện nay, hoạt động thăm
dò và khai thác dầu khí ở khu vực này đang tiến triển tốt
b Giải quyết vùng chồng lấn ba nước Việt Nam - Thái lan - Malaysia
Trang 10Vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng khoảng 7.250 km2,trong đó có khoảng 875 km2 là vùng chồng lấn thềm lục địa ba nước Việt Nam -Thái Lan - Malaysia Ba nước đã thỏa thuận thông qua đàm phán, thương lượng
để giải quyết vấn đề này, trước mắt đã thoả thuận được một số nội dung chủ yếuliên quan tới mô hình hợp tác và các vấn đề kỹ thuật
c Giải quyết phân định biên giới biển với Campuchia
Ngày 07/7/1982, Chính phủ hai nước Việt Nam - Campuchia đã ký Hiệpđịnh về vùng nước lịch sử, ngoài nội dung xác định vùng nước lịch sử giữa hainước trong Vịnh Thái Lan, Hiệp định cũng thoả thuận sẽ hoạch định đường biêngiới biển giữa hai nước vào thời điểm thích hợp Hiện nay, hai nước đang tậptrung tiến hành đàm phán phân định biên giới trên đất liền, vấn đề biên giới trênbiển sẽ được tiếp tục đàm phán, giải quyết trong thời gian tới
Quan điểm Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tranh chấp Biển đảo
Nhà nước ta đã có những chủ trương gì trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay ?
- Chủ trương của ta là giải quyết các tranh chấp ở biển Đông bằng biện pháphòa bình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc,Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về cáchứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm
2002 (DOC), Luật Biển Việt Nam Yêu cầu chiến lược của ta là bảo vệ vữngchắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia; đồng thời giữ vững môi trường hòabình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ quan hệ hữu nghị hợp tácvới Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác Chủ trương cụ thể là:
1 Trong xử lý vấn đề biển Đông, cần giữ vững độc lập, tự chủ, gắn bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia với giữ vững môi trường hòa bình để phát triểnđất nước Tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế
2 Tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa; kiên định bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luậtpháp quốc tế; tăng cường thực hiện và bảo vệ hoạt động kinh tế biển, nhất là
Trang 11hoạt động dầu khí và đánh bắt cá trong phạm vi 200 hải lý; bác bỏ yêu sách
“đường lưỡi bò” của Trung Quốc
3 Duy trì nguyên trạng biển Đông; bảo vệ quyền đánh bắt cá và hoạt
động đánh bắt cá chính đáng của ngư dân ta trên biển Đông Ta chủ động, tíchcực cùng các bên liên quan đàm phán tìm giải pháp cơ bản lâu dài mà các bên cóthể chấp nhận được đối với các khu vực tranh chấp
4 Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với giữ
vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, coi trọng quan hệ hữunghị hợp tác Việt - Trung và các nước có liên quan, phấn đấu không để xảy raxung đột quân sự ở biển Đông; tránh để các vấn đề tranh chấp làm đổ vỡ quan
hệ giữa nước ta với Trung Quốc
Phương châm chung là vận dụng tổng hợp các biện pháp chính trị, ngoạigiao, dư luận, pháp lý, quân sự trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trìnguyên tắc, đồng thời xử lý các tình huống, các vấn đề cụ thể một cách bìnhtĩnh, chủ động
Những hoạt động thực thi để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở biển Đông
- Lập trường nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là khẳng định chủ
quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; quyền chủ quyền và quyền tàiphán trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo quy định củaCông ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Ta chủ động, tích cực triểnkhai đồng bộ một loạt công tác nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc bảo vệ chủquyền và lợi ích của ta trên biển Đông, cụ thể:
1 Ban hành Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020: Chiến lược Biển
Việt Nam thể hiện rõ quan điểm hợp tác quốc tế về biển, góp phần xây dựngvùng biển hòa bình, hợp tác, hữu nghị, cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ Hợp tác quốc tế về biển phải nhằm phát huy tiềmnăng, thế mạnh của Việt Nam, khai thác biển có hiệu quả và phát triển bền vững
Trang 12biển; trong đó chú ý đảm bảo an ninh chung và giải quyết những tranh chấp trênbiển.
2 Về pháp lý: Chúng ta đã xây dựng và trình Liên Hợp quốc báo cáo xác
định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Bắc, đồng thời phối hợp với lai-xi-a xây dựng và trình Liên Hợp quốc báo cáo xác định ranh giới ngoài thềmlục địa phía Nam Năm 2003, ban hành Luật Biên giới quốc gia; năm 2012, banhành Luật Biển Việt Nam
3 Về quản lý hành chính: Đã triển khai thành lập huyện đảo Hoàng Sa
thuộc thành phố Đà Nẵng; huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa; trong
đó, có thị trấn Trường Sa và 2 xã Song Tử Tây, Sinh Tồn; hiện có nhiều hộ giađình sống; xây dựng nhà khách, Nhà tưởng niệm Bác Hồ, dựng tượng Quốccông Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, xây dựng chùa…; triểnkhai một số dự án quan trọng như nuôi trồng hải sản, chương trình năng lượngsạch và hệ thống chiếu sáng ở các đảo trên huyện đảo Trường Sa; đã phủ sóngtruyền hình, đài phát thanh, điện thoại di động lên toàn bộ biển Đông Nhiềuđoàn trong cả nước thường xuyên ra thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ vànhân dân đang sinh sống, làm việc trên quần đảo Trường Sa
4 Về kinh tế: Các hoạt động về thăm dò, khai thác dầu khí của ta đã và
đang diễn ra bình thường, ta đang tiếp tục duy trì hợp tác với các tập đoàn dầukhí lớn của Nga, Mỹ, Canada, Úc, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc trên vùng đặc quyềnkinh tế 200 hải lý và thềm lục địa… Các ngành chức năng và các địa phươngcũng đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ đối với ngư dân khai thác trên biển.Ngư dân ta tiếp tục đánh bắt hải sản ở khu vực đảo Hoàng Sa, Trường Sa; sảnlượng khai thác của khối tàu cá xa bờ chiếm 40% tổng sản lượng khai thác hảisản của cả nước
5 Về quốc phòng, an ninh: Thành lập lực lượng Cảnh sát Biển, Vùng II
Hải quân… Hải quân, Không quân thường xuyên được nâng cao năng lực phòngthủ và tăng cường hoạt động tuần tra trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địaViệt Nam Các lực lượng tuần tra, kiểm soát của bộ đội biên phòng, cảnh sát
Trang 13biển thường xuyên triển khai các công việc để quản lý các hoạt động trên biển,xua đuổi, xử lý hành chính các vụ việc tàu cá nước ngoài vi phạm vùng biển củata.
6 Về ngoại giao: Ta kiên trì đấu tranh có lý, có tình ở các cấp khác nhau,
song phương và đa phương, qua cả kênh chính thức và không chính thức; kếthợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh dư luận và vận động quốc tế Ta đã chủđộng vận động qua nhiều kênh, nhiều cấp khác nhau, kể cả cấp cao, làm rõ lậptrường đúng đắn của ta; phê phán yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của TrungQuốc, ủng hộ thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữacác nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC), tiến tới xây dựng Bộ Quytắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định ởbiển Đông… tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạothêm sức mạnh cho ta trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo
* Chúng ta cần thể hiện thái độ, hành động như thế nào để góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ biển, đảo Việt Nam ?
- Tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, mọi người nhận thức rõ giải quyếtvấn đề tranh chấp biển Đông là lâu dài và hết sức khó khăn, gian khổ, cần kiêntrì, bền bỉ, không thể nóng vội; cần phối hợp đồng bộ, tổng hợp, nhiều kênh,nhiều biện pháp, tạo nên sức mạnh tổng hợp Phấn đấu bằng mọi cách xử lý vấn
đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, tạo môi trường ổn định để phát triển đấtnước Chúng ta kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vữngnguyên tắc, đồng thời linh hoạt, khôn khéo, xem xét vấn đề một cách kháchquan, cố gắng cùng tìm giải pháp các bên có thể chấp nhận được
- Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; thực hiệnchiến lược toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tăng cường phối hợpchặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ, ngành Trung ương và các địa phương; tăngcường công tác nghiên cứu dự báo, kịp thời đánh giá và đề xuất các biện pháp
Trang 14xử lý tình hình và những diễn biến phức tạp ở biển Đông, không để bị động, bấtngờ xảy ra.
- Với Trung Quốc, chúng ta tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp táctoàn diện; tăng cường xây dựng, củng cố lòng tin, tạo cơ chế đối thoại, giảiquyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình Trong quan hệ với TrungQuốc, ta kiên định nguyên tắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc,nhưng ứng xử khôn khéo, tránh để rơi vào thế đối đầu trực tiếp về quân sự Thựctiễn cho thấy, nếu quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tốt đẹp thì các tranh chấp dễgiải quyết
- Với thế giới, ta công khai, minh bạch hóa phạm vi chủ quyền, quyềnchủ quyền, lập trường, quan điểm chính nghĩa của ta trong vấn đề biển Đông đểtranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước ASEAN và quốc tế đối vớita; bác bỏ yêu sách sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc
2 Tính tiêu cực
- Hiện nay sự hiểu biết pháp luật về biển, đảo và ý thức thực hiện pháp luật
của cán bộ, nhân dân ta còn yếu, chưa đầy đủ Vì vậy mà có người chưa quantâm đúng mức đến sự nghiệp giữ gìn, phát triển biển, đảo Một số người lạinóng lòng thể hiện thái độ, cách nhìn nhận không phù hợp
- Cũng nhân cơ hội này, nhiều thế lực phản động đã lợi dụng tình hình BiểnĐông để xuyên tạc chế độ và làm nhiều người hiểu sai về các chủ trương, chínhsách bảo vệ chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta
- Một trong những hoạt động dễ bị các thế lực phản động lợi dụng chính lànhững cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát phản đối Trung Quốc xâm phạmchủ quyền biển, đảo của Việt Nam tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh trong thờigian qua
- Trong những ngày Chủ nhật từ đầu tháng 6 năm 2011 đến nay, trên địa bàn
TP Hà Nội, liên tiếp diễn ra các cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát phảnđối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam Những ngày đầu,