Câu hỏi nghiên cứu Đề nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chínhtrong công ty chứng khoán thì trong đề tài nghiên cứu ta cần giải quyết nhữngcâu hỏi sau: - C
Trang 1CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, hàng loạt công ty mới rađời Nhu cầu về vốn là một trong những nhu cầu cấp thiết của các doanhnghiệp do vậy sự đi lên của thị trường chứng khoán là cấp thiết trong nhữngnăm gần đây Thị trường chứng khoán là nơi huy động vốn đầu tư dài hạn cóhiệu quả tương đối cao, Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển do vậy sựphát triển của thị trường chứng khoán là một tất yếu Sự phát triển của thịtrường chứng khoán kéo theo sự thành lập các công ty chứng khoán- chuyênkinh doanh và đầu tư chứng khoán Công ty chứng khoán kinh doanh, muabán một thứ hàng hóa vô hình- giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sảnnhưng lại có giá trị lớn Các công cụ tài chính có giá cả thay đổi liên tục, đượcmua bán thường xuyên cho nên các nghiệp vụ phát sinh rất phong phú, phứctạp Ngoài ra nó còn có những nghiệp vụ rất đặc trưng như bão lãnh phát hànhchứng khoán, cầm cố cổ phiếu, cho vay… Từ những đặc điểm nêu trên, chế
độ kế toán cho Công ty chứng khoán phải được quy định phù hợp với tính đặcthù hoạt động kinh doanh chứng khoán Sự phát triển của các Công ty chứngkhoán kéo theo sự đa đạng của các công cụ tài chính được sử dụng, Việt Namlại chưa có một chuẩn mực cụ thể nào quy định về kế toán các công cụ tàichính Do vậy ta cần phải nâng cao về chất lượng kế toán công cụ tài chínhtrong các Công ty chứng khoán Nhận biết được tính cấp thiết của vấn đề, em
đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Kế toán công cụ tài chính trong
các công ty chứng khoán ở Việt Nam” để củng cố cơ sở lý luận,thực tại
hoạt động của công cụ tài chính trong công ty chứng khoán và đưa ra các giảipháp hoàn thiện để đảm bảo tính trung thực, hợp lý, hợp lệ của các công cụ tàichính trong công ty chứng khoán
Trang 21.2 Tổng quan về đề tài
Quy định về kế toán công cụ tài chính trong chuẩn mực kế toán quốc
tế IAS 32 “ công cụ tài chính: trình bày”, IFRS 7 “công cụ tài chính: thuyếtminh”, IAS 39 “công cụ tài chính: ghi nhận và đo lường” Quy định ban hànhhướng dẫn kế toán trong công ty chứng khoán Việt Nam Và thực tiễn kế toáncông cụ tài chính các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Từ sự nghiên cứu những đề tài đã có như
- Luận văn tốt nghiệp đề tài “ Công cụ tài chính và sự ra đời phát triển cácCông cụ tài chính ở Việt Nam”
- Luận văn thạc sỹ của học viên trường đại học kinh tế thành phố Hồ ChíMinh “Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính đề hoànthiện chế độ kế toán Việt Nam”
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS.TS Đặng Thái Hùng về “Kếtoán công cụ tài chính ở Việt Nam hiện nay”
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến bốn vấn đề lớnsau:
+ Hệ thống các tổ chức tài chính
+ Sự ra đời và phát triển các Công cụ tài chính trên thế giới
+ Thực tiễn hoạt động của các Công cụ tài chính ở Việt Nam
+ Đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện hơn nữa mô hình Công
cụ tài chính để phát huy tối đa chức năng nhiệm vụ của các Công cụ tài chính
Do vậy ta thấy rằng hầu như các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào nghiêncứu chuẩn mực, nghiên cứu những vấn đề chung nhất mà chưa đi sâu vàonghiên cứu tình hình thực hiện trong một loại hình công ty, nhất là công tychứng khoán nơi mà việc sử dụng công cụ tài chính luôn là vấn đề then chốtquyết định đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy đề tài em
Trang 3nghiên cứu đề cập đến công cụ tài chính trong công ty chứng khoán, các hìnhthức biểu hiện của nó và phương pháp hạch toán kế toán liên quan
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Do đề tài đi sâu vào kế toán công cụ tài chính tại các công ty chứngkhoán nên đi sâu vào những mục tiêu sau:
Một là: Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết liên quan đến thị trường tài chính,
công cụ tài chính của các công ty chứng khoán hiện nay ở Việt Nam và trênthế giới Đánh giá tình hình phát triển hiện nay và xu hướng phát triển của cáccông cụ tài chính trong các công ty chứng khoán
Hai là: Tìm hiểu thực trạng kế toán công cụ tài chính trong công ty Chứng
khoán hiện đang được áp dụng tại Việt Nam và theo chuẩn mực kế toán quốc
tế Từ đó đưa ra đánh giá khái quát về thực trạng công tác kế toán công cụ tàichính tại Việt Nam
Ba là: Đề xuất các giải pháp về kế toán công cụ tài chính (cả về chuẩn mực và
thực hành) trong các công ty chứng khoán ở Việt Nam để phục vụ nhu cầuphát triển và quản lý Các vấn đề hoàn thiện kế toán công cụ tài chính để phùhợp với chuẩn mực quốc tế tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và tăng cườngtính minh bạch của các thông tin tài chính, Tạo điều kiện tối đa cho việc giámsát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đápứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chínhtrong công ty chứng khoán thì trong đề tài nghiên cứu ta cần giải quyết nhữngcâu hỏi sau:
- Công cụ tài chính là gì, ý nghĩa đối với hoạt động kinh doanh của các công
ty chứng khoán?Thế nào là công cụ tài chính truyền thống và công cụ tàichính phái sinh
Trang 4- Đặc điểm, vai trò của công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán ởViệt Nam?
- Phân loại và việc định giá công cụ tài chính truyền thống và công cụ tàichính phái sinh?
- Lý luận về kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán ở ViệtNam? (Về chứng từ, tài khoản và hạch toán công cụ tài chính trong các công
- Giải pháp nào cần có để hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các công
ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay?
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực trạng kế công cụ tài chính của các công
ty chứng khoán tại Việt Nam trong những năm vừa qua; việc thực hiện quyđịnh kế toán công cụ tài chính tại các công ty chứng khoán Đi sâu chủ yếuvào hai loại công cụ tài chính là: công cụ tài chính truyền thống và công cụ tàichính phái sinh
- Các chuẩn mực của Việt Nam và quốc tế ban hành quy định về công cụ tàichính: Thông tư 210/2009/BTC ngày 6/11/2009, thông tư 95/2008/TT-BTCngày 24/10/2008, IAS32- công cụ tài chính trình bày, IAS 39, IFRS 7
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phân tích thực tiễn theo quan điểmlịch sử, toàn diện, gắn sự phát triển công cụ tài chính và sự phát triển kế toán
Trang 5công cụ tài chính của Việt Nam, đồng thời không tách rời xu hướng chungcủa thế giới.
Luận văn tiến hành nghiên cứu tình hình kế toán công cụ tài chính trongmột số công ty chứng khoán ở Việt Nam, từ đó tìm ra ưu, nhược điểm, kếthợp với việc vận dụng kế toán công cụ tài chính trong chuẩn mực kế toánquốc tế từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện về chuẩn mực cũng như phươngpháp kế toan về công cụ tài chính Đây là phương pháp chọn mẫu điển hình
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Do kế toán công cụ tài chính là rất phức tạp và tương đối mới nên việcnghiên cứu đề tài nhằm đưa ra thực trạng kế toán công cụ tài chính trong cáccông ty chứng khoán, chỉ ra các đặc điểm điển hình chi phối kế toán công cụtài chính, cũng như các chuẩn mực có liên quan nhằm đưa ra các điểm chưaphù hợp tình hình hiện tại của các công ty chứng khoán ở Việt Nam
Đề tài nhằm đi sâu vào việc hoàn thiện về chuẩn mực và trong việc hạchtoán kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán, giúp các công
ty chứng khoán quản lý một cách đồng bộ và khoa học hơn, giúp các nhàquản lý và các nhà đầu tư đánh giá chính xác được tình hình hoạt động củacác công ty chứng khoán từ đó đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp
1.8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Luận văn được chia ra làm 4 chương với nội dung từng chương như sau:Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứngkhoán
Chương 3: Thực trạng kế toán các công cụ tài chính trong các công ty Chứngkhoán ở Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, các giải pháp đề xuất hoàn thiện kế toán cáccông cụ tài chính trong các công ty Chứng khoán ở Việt Nam và kết luận
Trang 6CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
TRONG CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2.1 Những vấn đề kinh tế - tài chính cơ bản về công cụ tài chính
2.1.1 Khái niệm và phân loại công cụ tài chính
2.1.1.1 Khái niệm công cụ tài chính[1.112]
Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào mang lại một tài sản tài chínhcho doanh nghiệp và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn cổ phần chomột doanh nghiệp khác
Tài sản tài chính là loại tài sản vô hình mà giá trị của nó thể hiện ở trái quyềnhay quyền thụ hưởng một số tiền trong tương lai Bao gồm:
- Quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc tài sản tài chính khác từ đơn vịkhác (Ví dụ một khoản thu nợ và công cụ phái sinh)
dưới các điều kiện có lợi tiềm tàng
Một khoản nợ tài chính là một nghĩa vụ hợp đồng để:
phái sinh)
- Trao đổi công cụ tài chính theo các điều kiện có khả năng bất lợi
Một công cụ vốn là bất kỳ hợp đồng nào cho thấy phần lợi ích còn lạitrong các tài sản của doanh nghiệp sau đi trừ đi tất cả các khoản nợ Nghĩa vụphát hành công cụ vốn cổ phần không phải là nghĩa vụ nợ tài chính do nghĩa
vụ này dẫn đến việc làm tăng vốn cổ phần và không gây tổn thất cho doanhnghiệp
Trang 72.1.1.2 Phân loại công cụ tài chính
Có nhiều cách để phân loại công cụ tài chính như: phân loại theo kỳ hạn vàtính chất, phân loại theo chủ thể phát hành, phân loại theo thứ tự trong bảngcân đối Nhưng trong đó phân loại theo tính chất và kỳ hạn là phổ biến nhất.Việc phân loại như sau:
Công cụ tài chính truyền thống
- Những công cụ trên thị trường tiền tệ: đây là loại công cụ thay thế tiền mặt
ngắn hạn, thời hạn đáo hạn luôn ngắn hoặc ít hoặc không có xảy ra tình trạngrủi ro không được thanh toán và có tính thanh khoản cao
Bao gồm: tín phiếu kho bạc, thương phiếu (kỳ phiếu thương mại) và chứngchỉ tiền gửi
- Những công cụ trên thị trường vốn: đặc điểm của loại này là thời gian đáo
hạn trên một năm, rủi ro không được thanh toán của nó đôi khi cao hơn vàtính thanh khoản thấp và được coi là những khoản đầu tư khá rủi ro Nó baogồm:
+ Các công cụ nợ là trái phiếu bao gồm trái phiếu tiết kiệm, trái phiếu khobạc, trái phiếu đô thị, trái phiếu công ty, trái phiếu có thể chuyển đổi
+ Các công cụ vốn bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông
+ Ngoài ra còn các công cụ chuyển đổi hay các công cụ phát sinh như cáckhoản tín dụng cầm cố, các khoản tín dụng thương mại và chứng chỉ quỹ đầutư
Công cụ tài chính phái sinh
- Những công cụ tài chính phái sinh: là công cụ mà việc giao dịch và giá trị
của nó phụ thuộc vào giao dịch và giá cả của tài sản cơ sở
Tài sản cơ sở là: hàng hóa, chứng khoán, ngoại tệ, chỉ số chứng khoán
Các công cụ phái sinh là: Hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồnggiao sau và hợp đồng quyền chọn
Công cụ tài chính phái sinh là công cụ được phát hành dựa vào công cụ tàichính đã có trước dưới hình thức các hợp đồng phái sinh cụ thể Công cụ phái
Trang 8sinh luôn “ăn theo” và với mục tiêu tránh rủi ro từ công cụ tài chính chínhthức Giá cả của hợp đồng tài chính phái sinh là hiệu số giữa mức rủi ro dựtính trong tương lai với rủi ro thực tế qua thời gian dự tính từ khi hợp đồng cóhiệu lực đến khi hợp đồng đáo hạn hoặc có trường hợp giá cả của hợp đồngđơn giản là chi phí đặt cọc nhưng kỳ vọng sẽ không bị mất trong tương lai Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hànhtrên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau nhưphân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụphái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu,trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuấthiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đóthường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợpđồng tương lai (future contracts) Những công cụ trên còn có thể kết hợp vớinhau, với những khoản vay hoặc những chứng khoán truyền thống để tạo nêncác công cụ lai tạo.
- Các công cụ tài chính phái sinh
+ Hợp đồng kỳ hạn: là công cụ tài chính lâu đời nhất Là loại hợp đồng giữa
hai bên (người mua và người bán) để mua hoặc bán tài sản vào một ngàytrong tương lai Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá thỏa thuận thìngười sở hữu sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu ngược lại thì người sở hữu hợpđồng sẽ chịu một khoản lỗ
Bản thân hợp đồng kỳ hạn mang trong mình 3 loại rủi ro
Thứ 1: nếu giá thực tế vào ngày đáo hạn hợp đồng cao hơn giá mong đợi, rủi
ro vốn có của công ty sẽ làm giảm giá trị công ty nhưng sự sụt giảm này sẽđược đền bù bằng lợi nhuận của hợp đồng kỳ hạn Vì vậy, hợp đồng kỳ hạncung cấp một cách phòng ngừa rủi ro hoàn hảo.Thứ 2, Rủi ro tín dụng hay rủi ro không có khả năng chi trả của hợp đồng Rủi
ro này có hai chiều, người sở hữu hợp đồng hoặc là người nhận được hoặc làngười chi trả, phụ thuộc vào biến động giá cả thực tế của tài sản cơ sở
Trang 9Thứ 3, Giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày nào đáo hạncủa hợp đồng, không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký kếthoặc trong thời hạn của hợp đồng Vậy nên, bản thân những hợp đồng kỳ hạn
có chứa nhiều rủi ro nhất trong các công cụ phái sinh
+ Hợp đồng giao sau: là một hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán,
để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngàyhôm nay Hợp đồng giao sau tiến triển từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểmgiống với hợp đồng kỳ hạn Về bản chất, chúng giống tính thanh khoản củahợp đồng kỳ hạn Tuy vậy, khác với hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sauđược giao dịch trên thị trường có tổ chức, được gọi là sàn giao dịch giao sau.Người mua hợp đồng giao sau là người có nghĩa vụ mua hàng vào một ngàytrong tương lai, có thể mua lại hợp đồng giao sau trên thị trường giao sau.Điều này làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ mua hàng Và tương tự đối vớingười bán hợp đồng giao sau, là người có nghĩa vụ bán hàng vào một ngàytrong tương lai, có thể mua lại hợp đồng trên thị trường giao sau, và điều nàycũng làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ bán hàng Đặc trưng này giúp nhữngngười tham gia mua bán công cụ tài chính phái sinh tránh được những thiệthại kinh tế đáng kể nếu trong thời hạn hợp đồng giá cả của tài sản cơ sở có sựbiến động không có lợi cho mỗi bên
Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau cũng có rủi ro hai chiều, rủi
ro tín dụng, tức người sở hữu hợp đồng hoặc là người được nhận hoặc làngười phải chi trả Nhưng khác biệt rõ nhất với thị trường kỳ hạn là thị trườnggiao sau sử dụng hai công cụ để loại bỏ rủi ro này Thứ 1, Thay vì giao nhận giá trị hợp đồng vào một ngày thông qua mua bánđơn thuần vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị hợp đồng giao sau đượcthực hiện thanh toán vào cuối ngày giao dịch Điều này có nghĩa hợp đồnggiao sau có tính chất thanh toán tiền mặt hay điều chỉnh theo ngày, tức thờihạn giao sau được rút ngắn lại Nhờ thế mà rủi ro trong thanh toán được giảmđi
Trang 10Thứ 2, Hợp đồng giao sau yêu cầu tất cả các thành viên tham gia thị trường,người bán và người mua đều như nhau, phải thực hiện một khoản ký gửi gọi
là ký quỹ Nếu hợp đồng giao sau của bạn tăng giá trị trong ngày giao dịch,mức tăng này sẽ được công vào tài khoản ký quỹ của bạn vào cuối ngày.Ngược lại, nếu hợp đồng của bạn giảm giá trị, thua lỗ sẽ được trừ ra.Và nếu
số dư tài khoản ký quỹ của bạn giảm xuống mức tối thiểu đã thoả thuận trước
đó, bạn sẽ bị yêu cầu nộp một khoản ký gửi bổ sung, tài khoản ký quỹ của bạnphải được bổ sung như cũ hoặc là vị thế của bạn sẽ bị đóng
Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn.Tuy nhiên, hợp đồng giao sau và một danh mục các hợp đồng kỳ hạn chỉgiống nhau khi lãi suất là có thể xác định trước, tức là biết được một cáchchắc chắn Vào lúc đóng cửa mỗi ngày, các hợp đồng giao sau mang tính kỳhạn đang tồn tại sẽ được thanh toán cũng như một hợp đồng mới được ký kết.Tính chất thanh toán hàng ngày kết hợp với yêu cầu ký quỹ cho phép hợpđồng giao sau giảm thiểu đáng kể rủi ro tín dụng vốn có của hợp đồng kỳ hạn
+ Quyền chọn: Là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó
cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tàisản nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn.Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo điềukhoản của hợp đồng nếu người mua muốn thế Một quyền chọn để mua tàisản gọi là quyền chọn mua (call), một quỳên chọn bán một tài sản gọi làquyền chọn bán (put) Mặc dù các quyền chọn được giao dịch trong một thịtrường có tổ chức nhưng phần lớn các giao dịch quyền chọn được quản lýriêng rẽ giữa hai bên Những người này tự tìm đến với nhau, loại thị trườngnày gọi là thị trường OTC, đây chính là loại thị trường quyền chọn xuất hiệnđầu tiên Hầu hết các quyền chọn là mua bán các loại tài sản tài chính chẳnghạn như cổ phiếu, trái phiếu…, bên cạnh đó cũng có những quyền chọn vềthoả thuận tài chính khác như hạn mức tín dụng, đảm bảo khoản vay, và bảo
Trang 11hiểm cũng là một hình thức khác của quyền chọn Ngoài ra, bản thân cổ phiếucũng là quyền chọn trên tài sản công ty Quyền chọn cũng có những nét giốngvới một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền chọn không bắt buộc phải thực hiệngiao dịch còn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc phải thực hiện giaodịch Hai bên trong hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá,nhưng người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán tài sản vớigiá cố định nếu giá tri của nó thay đổi.
+Hoán đổi: Là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền,
một giao dịch mà cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi cácdòng tiền trong một khoảng thời gian xác định Ví dụ, một bên đối tác đangnhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư, nhưng lại thích một loại đầu
tư khác với dòng tiền mà mình đang thị hưởng Bên đối tác này sẽ liên lạc vớimột dealer hoán đổi, thường là một công ty hoạt động trên OTC, và họ sẽthực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch Tuỳ thuộc vào lãi suất hay giá sau
đó thay đổi như thế nào mà một bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị lỗ Lãicủa bên này chính là lỗ của bên kia Có bốn loại hoán đôỉ là hoán đổi tiền tệ,hoán đổi lãi suất, hoán đổi chứng khoán và hoán đổi hàng hoá Và cũng giốngnhư hợp đồng kỳ hạn, các hoán đổi cũng gánh chịu những rủi ro nếu một bên
bị vỡ nợ Hoán đổi được xem như là kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn Nó làcải tiến tài chính mới nhất nhưng về thực chất không phức tạp hơn một danhmục các hợp đồng kỳ hạn và rủi ro tín dụng hiện diện trong hoán đổi cũng cóphần thấp hơn so với rủi ro tín dụng của hợp đồng kỳ hạn có cùng kỳ hạn
2.1.2 Vai trò của công cụ tài chính
Đối với hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của các doanh nghiệp
Công cụ tài chính có vai trò rất quan trọng trong quá trình kinh doanh
và hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp tạo cunghàng hóa cho thị trường, đa dạng hóa công cụ đầu tư nhằm thỏa mãn nhu cầu
Trang 12đầu tư đa dạng của nhà đầu tư Nó hỗ trợ cho việc thực hiện các quyết địnhchủ yếu về tài chính của công ty Hơn thế nữa nó giúp phần thúc đẩy sự pháttriển hệ thống tài chính và phát triển nên kinh tế.
Đối với thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi mua bán các công cụ tài chính nhờ đó màvốn được chuyển giao một cách trực tiếp hay gián tiếp từ các chủ thể dư thừavốn đến các chủ thể nhu cầu vốn
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm cóthể phát sinh từ những chủ thể khác nhau Nhiều người có cơ hội đầu tư sinhlời thì thiếu vốn, nhiều người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu tư
Do đó có một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư Cơ chế đó đượcthực hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính Những người thiếu vốn huyđộng vốn bằng cách phát hành các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu.Những người có vốn dư thừa thay vì đầu tư vào máy móc thiết bị nhà xưởng
để sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ sẽ đầu tư vào các tài sản tài chínhđược phát hành bởi các công ty huy động vốn
2.2 Kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán
2.2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán có ảnh
hưởng đến kế toán công cụ tài chính
Là một chủ thể kinh doanh, công ty chứng khoán cũng có những đặcđiểm tương đồng về tổ chức và hoạt động của các công ty khác nói chung Vìvậy ta cần nhấn mạnh đến hoạt động nghiệp vụ và hoạt động tài chính điềulàm nên sự khác biệt giữa công ty chứng khoán và các công ty khác
Các công ty chứng khoán với hoạt động chuyên môn, kinh nghiệmnghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp, thực hiện được vai trò trung gianmôi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một sốhoạt động khác cho cả người đầu tư và người phát hành Nhờ các công ty
Trang 13chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông, buôn bán tấp nập trênthị trường chứng khoán.
Hoạt động trong công ty chứng khoán bao gồm 2 hoạt động chính là hoạtđộng nghiệp vụ và hoạt động tài chính
2.2.1.1 Hoạt động nghiệp vụ
Bao gồm các hoạt động sau đây:
Một là: Nghiệp vụ Môi giới chứng khoán:
Bản chất nghiệp vụ: môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng
khoán trong đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hànhgiao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thịtrường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh
tế của việc giao dịch đó.Thực hiện nghiệp vụ môi giới này, công ty chứngkhoán thu phí môi giới từ khách hàng
Hai là: Nghiệp vụ Quản lý danh mục đầu tư:
Bản chất nghiệp vụ: Đây là một dạng nghiệp vụ tư vấn của công ty chứng
khoán nhưng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này khách hàng ủy tháccho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiếnlược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận Nó là hoạt độngquản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán, và nắm giữ các chứngkhoán vì quyền lợi khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa Công tychứng khoán và khách hàng Người ủy thác đầu tư thường không can dự vàoviệc đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứngkhoán theo thỏa thuận
Trang 14Ba là: Nghiệp vụ Tự doanh chứng khoán:
Bản chất nghiệp vụ: Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán tự
tiến hành các giao dịch mua bán các chứng khoán cho chính mình.Hoạt động
tự doanh của doanh nghiệp có thể thực hiện trên các thị trường giao dịch tậpchung hoặc thị trường OTC Mục đích của hoạt động tự doanh là thu lợi chochính mình
Thông thường chức năng chính của Công ty chứng khoán là cầu nốigiữa nhà đầu tư với Trung tâm giao dịch chứng khoán, người chơi chứngkhoán sẽ phải đến các Công ty chứng khoán để thực hiện một số thủ tục như
mở tài khoản chứng khoán, lưu ký chứng khoán Khi đã là thành viên củaTrung tâm Lưu ký Chứng khoán, sẽ phải mở tài khoản lưu ký của bản thâncông ty tại Trung tâm này và đồng thời mở tài khoản lưu ký cho khách hàngcủa mình Tất nhiên với dịch vụ này, Công ty chứng khoán sẽ thu được mộtmức phí nhất định Song, với nghiệp vụ tự doanh, Công ty chứng khoán sẽtham gia mua bán chứng khoán như một tổ chức độc lập bằng chính nguồnvốn của công ty, chứ không phải bằng tài khoản của khách hàng Để thực hiệnnghiệp vụ này thành công, ngoài đội ngũ nhân viên phân tích thị trường cónghiệp vụ giỏi và nhanh nhậy với những biến động của thị trường, Công tychứng khoán còn phải có một chế độ phân cấp quản lý và đưa ra những quyếtđịnh đầu tư hợp lý, trong đó việc xây dựng chế độ phân cấp quản lý và raquyết định đầu tư là một trong những vấn đề then chốt, quyết định sự sốngcòn của Công ty chứng khoán
Bốn là: Nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành:
Bản chất nghiệp vụ: Quy định các điều khoản nhằm đảm bảo hồ sơ đăng ký
phát hành và bản cáo bạch chứa đựng các thông tin đầy đủ về tình hình tàichính và kinh doanh của tổ chức phát hành và bảo vệ các tổ chức bảo lãnh
Trang 15trong một số trường hợp cụ thể nếu họ không đáp ứng được các nghĩa vụ bảolãnh.
Năm là: Nghiệp vụ Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán:
Bản chất nghiệp vụ: là hoạt động đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình
huống hay thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách hàng Công ty chứng khoán tiến hành cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vựcđầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính, chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanhnghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát hành và niêm yết chứng khoán…Dịch vụ
tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính bao gồm hoạt động quản lí danh mục đầu tưchứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn doanh nghiệp.Trong đó:+ Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán:
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứngkhoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sởbảo toàn vốn và tăng lợi nhuận
+ Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, bao gồm:
- Nghiên cứu, phân tích tổng hợp tình hình thị trường, hoạt động của tổ chứcniêm yết và thông tin về các ngành hàng liên quan đến tổ chức niêm yết
- Tổ chức phân tích có hệ thống theo các tiêu chí chuẩn mức về tình hình thịtrường chứng khoán và dự báo xu hướng biến động giá chứng khoán
- Tư vấn định giá chứng khoán và lựa chọn thời điểm mua bán
- Giúp khách hàng xây dựng chiến lược đầu tư hợp lý
- Tư vấn giúp khách hàng đưa ra quyết định đầu tư tối ưu
+ Hoạt động tư vấn doanh nghiệp, bao gồm:
- Tư vấn niêm yết chứng khoán
Trang 16- Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp.
- Trung gian bán đấu giá cổ phần lần đầu cho doanh nghiệp Nhà nước cổ phầnhoá
- Tư vấn sau cổ phần hoá
- Tư vấn chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp
+ Nghiệp vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty có thể do bất kỳ công tychứng khoán hay cá nhân tham gia thông qua: khuyến cáo, lập báo cáo, tư vấntrực tiếp, thông qua ấn phẩm về chứng khoán để thu phí
+ Nghiệp vụ quản lý thu nhập chứng khoán (quản lý cổ tức): xuất phát từnghiệp vụ quản lý hộ chứng khoán cho khách hàng
2.2.1.2 Hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính của công ty chứng khoán bao gồm việc xác địnhkinh doanh cái gì để thu nhiều lợi nhuận, sử dụng các loại tài sản cố định gì,lấy nguồn tài chính dài hạn nào để chi phí cho các khoản đầu tư của mình.Hoạt động tài chính có quan hệ mật thiết với hoạt động nghiệp vụ Số lượng
Trang 17nghiệp vụ và quy mô kinh doanh lớn thế nào thì ứng với nó là mảng tài chínhcông ty như vậy.
- Vốn của công ty chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc vào loại tài sản cần tàitrợ Số vốn cần cố để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằngviệc cân đối giữa yêu cầu về vốn pháp định và các nhu cầu vốn kinh doanhcủa công ty
- Cơ cấu vốn: là sự pha trộn của các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc vốn gópcủa các thành viên mà công ty sử dụng để hoạt động của mình
- Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Ngoài việc xác định tỷ lệ nợ như đãnói trên, các công ty chứng khoán thường phải duy trì một mức vốn khả dụng
để đảm bảo khả năng thanh toán cho người đầu tư Vốn thanh khoản đượcđịnh nghĩa là phần vượt trội của tài sản khả dụng so với các nghĩa vụ nợ cùngcấp độ- bao gồm các điều chỉnh về tài chính
2.2.2 Nhiệm vụ và nguyên tắc kế toán công cụ tài chính trong các công ty
chứng khoán
Đối với công cụ tài chính truyền thống:
Từ việc phân loại các công cụ tài chính theo thông tư 95/2008/TT-BTCđưa ra nhiệm vụ và nguyên tắc kế toán công cụ tài chính trong công ty chứngkhoán như sau:
*Về nhiệm vụ: Phản ánh một cách trung thực tình hình sử dụng các công cụtài chính trong công ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay tạo điều kiện thuậnlợi cho việc thực hiện kế toán của các công ty chứng khoán
- Trong quá trình hình thành công cụ tài chính: Kế toán cần tiến hành định giácông cụ tài chính mới phát sinh Việc định giá này phụ thuộc vào tình hìnhthực tế của Công cụ tài chính đó và xác định giá trị cho phù hợp Ta cần theodõi chi tiết về số lượng, thời hạn đầu tư công cụ tài chính, lợi nhuận ước tínhđối với việc đầu tư công cụ tài chính
Trang 18- Trong quá trình lưu giữ công cụ tài chính: Cần tiến hành lưu giữ và theo dõi
sự thay đổi về giá của công cụ tài chính từ đó đưa ra các quyết định tiếp tụcđầu tư hay thanh lý công cụ tài chính đó Trong quá trình lưu giữ công cụ tàichính thì cũng cần lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán hoặc định giálại công cụ tài chính cho phù hợp với tình hình thực tế của loại công cụ tàichính đó
- Khi tiến hành thanh lý công cụ tài chính: Thì ta cần theo dõi về số lượngthanh lý và giá thanh lý từ đó hạch toán phù hợp đưa vào doanh thu hay chiphí cho việc đầu tư chứng khoán
Đối với Công cụ tài chính phái sinh:
Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là một công
cụ phòng chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trườngtài chính, các công cụ tài chính phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìmkiến lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ Chính vì những biến tháinhư nên không phải lúc nào sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòngngừa rủi ro cũng có hiệu quả Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi vàmang theo một số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Sự sụp
đổ của thị trường tài chính cổ phiếu Mỹ năm 1987 chính được đẩy nhanh nhờ
sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảohiểm danh mục đầu tư Những người bảo hiểm này đã đầu tư, mạnh hơn vàothị trường mà nếu như không có kỹ thuật này thì có thể họ đã không làm nhưvậy Khi sự sụt giảm của thị trường kích hoạt bảo hiểm, khối lượng bán độtngột gây ra một gián đoạn và thị trường sụp đổ Hay như Great Britain’s Bearing, một trong những ngân hàng lâu đời nhất thế giới đã phá sản năm
1995 khi đầu cơ các hợp đồng tương lai trong một thương vụ ở Singapore.Tuy vậy, các công cụ tài chính phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và được sửdụng rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn của thế giới Nguyên nhân khôngnằm ngoài việc đó là phương thức duy nhất để các chủ thể trên thị trường
Trang 19phòng chống rủi ro Theo điều tra đối với 500 công ty lớn nhất thế giới tai 26quốc gia khác nhau thì có tới 92 % các công ty trả lời rằng họ thường xuyên
sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa và quản lí rủi ro
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính pháisinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xácđịnh trên một hoặc một số công cụ tài sản khác Chúng ta xem các công cụphái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoảthuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiệnnghĩa vụ gì đó cho bên kia Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cốgắng mua với giả rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất Các loại công
cụ phái sinh khác nhau bao gồm: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng giao sau, quyềnchọn, hoán đổi và chứng khoán lai tạp
- Yêu cầu đối với kế toán công cụ tài chính:
+Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung côngviệc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán
+ Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanhtoán nợ, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản,phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạp pháp luật về tài chisnhm kế toán+ Phân tích thông tin, số liệu kế toán Tham mưu, đề xuất các giải pháp phục
vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán
+ Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật
*Về nguyên tắc kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán:đảm bảo các nguyên tắc phù hợp, thận trọng và nguyên tắc nhất quán
- Nguyên tắc giá gốc: Giá trị tài sản được tính theo giá gốc/ giá trị hợp lý baogồm chi phí mua, vận chuyển và các chi phí trực tiếp khác liên quan đến khiđưa tài sản vào trạng thái sãn sàng sử dụng Đơn vị kế toán không được tự
Trang 20điều chỉnh lại giá trị tài sản đã ghi sổ kế toán trừ trường hợp có quy định khác
2.2.3 Định giá các công cụ tài chính
Mục đích của nhà đầu tư là xác định giá trị kinh tế hay giá trị thực của mộttài sản được xác định tương đương với giá trị hiện tại của những luồng tiềntrong tương lai dự tính thu được từ tài sản đó Do vậy có nhiều cách để địnhgiá công cụ tài chính
Định giá các công cụ tài chính truyền thống
Đó là những luồng tiền tương lai này được chiết khấu trở lại hiện tạibằng việc sử dụng tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư Quan điểm này đúngcho việc định giá tất cả những tài sản và nó là cơ sở cho việc xác định giáchứng khoán Theo cách này, giá trị bị tác động bởi ba nhân tố:
- Độ lớn và thời điểm của những luồng tiền dự tính trong tương lai của tài sản.Với trái phiếu, độ lớn và thời điểm của luồng thu nhập phụ thuộc vào mệnhgiá, lãi suất danh nghĩa, phương thức trả gốc lãi, kỳ hạn
- Mức độ rủi ro của luồng tiền hay độ không chắc chắn của luồng thu nhập
- Tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư đối với việc thực hiện đầu tư Tỷ lệ lợitức này phụ thuộc vào mức độ rủi ro, vào ý muốn chủ quan của nhà đầu tư
Có thể nói, hai nhân tố đầu thuộc về đặc điểm của tài sản, nhân tố thứ ba là
tỷ lệ lợi tức tối thiểu càn thiết để thu hút nhà đầu tư mua hoặc giữ một chứngkhoán Tỷ lệ này phải đủ cao để bù đắp cho nhà đầu tư vì rủi ro chứa đựng
Trang 21trong những luồng tiền tương lai của tài sản vì vậy đây là tỷ lệ lợi tức cânbằng với rủi ro.
- Việc xác định giá trị hiện tại của khoản thanh toán trong tương lai đượcthực hiện theo phương pháp chiết khấu dòng tiền bằng cách quy đổi giá trịdanh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai theo lãi suất thực tế tại thờiđiểm hiện tại
- Khi sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền, doanh nghiệp phải xác địnhcác yếu tố sau:
+ Giá trị danh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai: Là giá trị bằng tiềncủa khoản thanh toán trong tương lai Trường hợp khoản thanh toán trongtương lai là ngoại tệ thì trước khi chiết khấu về giá trị hiện tại, doanh nghiệpphải quy đổi giá trị danh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai bằngngoại tệ về đồng tiền kế toán theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá bìnhquân liên ngân hàng tại thời điểm báo cáo
+ Lãi suất thực tế dùng để chiết khấu dòng tiền (lãi suất chiết khấu)
+ Thời gian chiết khấu dòng tiền: Là khoảng thời gian còn lại kể từ thời điểmghi nhận tài sản hoặc nợ phải trả đến thời điểm đáo hạn hợp đồng
+ Kỳ chiết khấu dòng tiền: Là khoảng thời gian được tính theo kỳ hạn lãi suấtthực tế (tháng, quý, năm) dùng để chiết khấu Số lượng kỳ chiết khấu dòngtiền được xác định bằng cách lấy thời gian chiết khấu dòng tiền chia (:) kỳchiết khấu dòng tiền Ví dụ, nếu lãi suất thanh toán theo kỳ hạn 1 năm/lần,hợp đồng có thời hạn 5 năm thì số lượng kỳ chiết khấu dòng tiền là 5
+ Việc chiết khấu dòng tiền để xác định giá trị hiện tại của khoản thanh toántrong tương lai được thực hiện theo công thức: [7]
Trong đó:
- Ct: Là giá trị hiện tại của khoản thanh toán trong tương lai;
- C: Là giá trị danh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai;
Trang 22- i: Là lãi suất thực tế dùng để chiết khấu dòng tiền;
- t: Là số lượng kỳ chiết khấu
Ví dụ: Ngày 31/12/N, Công ty A mua Trái phiếu Chính phủ trị giá 1.000 triệuVNĐ với những đặc thù sau:
Tại ngày mua, lãi suất thị trường cho công cụ tương đương có cùng đặcthù là 10%/năm
dòng tiền thu được
Định giá các công cụ tài chính phái sinh
- Trường hợp công cụ tài chính phái sinh được phân loại là tài sản
+ Giá trị hợp lý công cụ tài chính phái sinh được xác định dựa trên giá niêmyết trên thị trường
Trang 23+ Trường hợp không có giá niêm yết trên thị trường, doanh nghiệp phải tựxác định giá trị hợp lý bằng các kỹ thuật định giá để xác định giá trị của tàisản phái sinh vào ngày xác định giá trị trong một giao dịch trao đổi ngang giá.
- Các kỹ thuật định giá có thể bao gồm:
+ Sử dụng giá của các giao dịch ngang giá trên thị trường giữa các bên có đầy
đủ hiểu biết và mong muốn thực hiện giao dịch bình đẳng;
+ Tham chiếu giá trị hợp lý của một loại công cụ phái sinh tương tự;
+ Phân tích dòng tiền chiết khấu;
+ Sử dụng mô hình định giá quyền chọn
- Nếu trên thị trường có một phương pháp định giá phổ biến và đã có cácbằng chứng cho thấy rằng phương pháp đưa ra các ước tính sát với giá trị giaodịch thực tế thì doanh nghiệp được phép áp dụng phương pháp đó Phươngpháp định giá được chọn phải tận dụng hết các thông tin thị trường và khôngphụ thuộc nhiều vào các thông tin của một tổ chức cá biệt Phương pháp địnhgiá phải kết hợp tất cả các yếu tố mà các bên tham gia thị trường có thể xemxét khi xác định giá công cụ tài chính phái sinh và phải phù hợp với cácphương pháp kinh tế luận được thừa nhận trong việc định giá tài sản tài chính.Theo định kỳ, doanh nghiệp phải xem xét lại và kiểm tra sự phù hợp củaphương pháp định giá bằng cách sử dụng giá thu thập được từ các giao dịchthực tế trên thị trường đối với loại công cụ tương tự hoặc dựa trên các số liệu
có thể quan sát được trên thị trường
- Trường hợp công cụ tài chính phái sinh được phân loại là nợ phải trả:
Giá trị hợp lý của công cụ tài chính phái sinh được phân loại là nợ phải trảkhông nhỏ hơn giá trị phải trả theo cam kết trong hợp đồng, tính từ ngày đầutiên có thể phải phải trả tiền
Trang 242.2.4 Nội dung kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán
2.2.4.1 Chứng từ và thủ tục pháp lý
Chứng từ kế toán áp dụng cho công ty chứng khoán phải thực hiện theo đúngnội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo quy định của Luật kế toán vànghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của chính phủ và các văn bảnkhác có liên quan đến chứng từ kế toán và các quy định trong chế độ này.Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của đơn vịđều phải lập chứng từ kế toán Chứng từ kế toán chỉ lập một lần cho mộtnghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Nội dung chứng từ kế toán phải đầy đủcác chỉ tiêu, phải rõ ràng, trung thực với nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chínhphát sinh Chữ viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt
Số tiền bằng chữ phải khớp đúng với số tiền bằng số
Trong kế toán công cụ tài chính thì những chứng từ sau được sử dụng:
- Chứng từ sử dụng trong công cụ tài chính truyền thống
+ Phiếu nhập kho (khi mua chứng khoán), phiếu xuất kho (Khi bán chứngkhoán)
+ Bảng kê chứng khoán gửi lưu ký trong ngày
+ Bảng kê chứng khoán lưu ký rút ra trong ngày
+ Phiếu thu, phiếu chi
- Chứng từ sử dụng trong công cụ tài chính phái sinh: Bao gồm nhữngchứng từ sử dụng trong công cụ tài chính truyền thống và một số chứng từsau: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, quyền chọn, hợp đồng giao sau
Trang 25chi tiết hóa hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh, yêucầu quản lý của từng công ty nhưng phải phù hợp với nội dung, kết cấu vàphương pháp hạch toán của các tài khoản tổng hợp tương ứng.
Hệ thống tài khoản của công ty chứng khoán bao gồm các tài khoản cấp 1 vàtài khoản cấp 2, tài khoản trong bảng cân đối kế toán và tài khoản ngoài bảngcân đối kế toán Trường hợp công ty cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặcsửa đổi tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạchtoán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù thì phải được sự chấp thuận bằngvăn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện
Các công ty có thể mở thêm các tải khoản cấp 2, cấp 3 đối với những tàikhoản không có quy định tài khoản cấp 2 và cấp 3 tại danh mục hệ thống tàikhoản kế toán công ty chứng khoán đã quy định trong thông tư số95/2008/TT-BTC ngày 24/10/2010 nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của Công
ty Chứng khoán thì không phải dề nghị Bộ Tài chính chấp thuận
Các tài khoản sử dụng theo quy định trong các công ty Chứng khoán
- Tài khoản 121- Chứng khoán thương mại được mở chi tiết
TK1211 Cổ phiếu
TK1212 Trái phiếu
TK1213 Chứng chỉ quỹ
TK1218 Chứng khoán khác
- TK224- Đầu tư chứng khoán dài hạn
Được mở chi tiết như sau:
TK2241: Chứng khoán sẵn sàng để bán
TK2242: Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn
-TK343: Trái phiếu phát hành
TK3431: Mệnh giá trái phiếu
TK3432: Chiết khấu trái phiếu
TK3433: Phụ trội trái phiếu
-Tài khoản 511 - “Doanh thu”
Trang 26Tài khoản 511 có 8 Tài khoản cấp 2:
Tài khoản 5111 - Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán
Tài khoản 5112 - Doanh thu hoạt động đầu tư chứng khoán, góp vốn
Tài khoản 5113 - Doanh thu bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán
Tài khoản 5114 - Doanh thu hoạt động tư vấn
Tài khoản 5115 - Doanh thu lưu ký chứng khoán
Tài khoản 5116 - Doanh thu hoạt động uỷ thác đấu giá
Tài khoản 5117 - Doanh thu cho thuê sử dụng tài sản
Tài khoản 5118 - Doanh thu khác
2.2.4.3 Phương pháp kế toán các công cụ tài chính trong công ty chứng
khoán
Đối với công cụ tài chính truyền thống:
- Về ghi nhận tài sản
VAS 01 đưa ra những quy định chung về ghi nhận tài sản tài và nợ phải trả
Tài sản tài chính được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi công ty
chứng khoán có khả năng chắc chắn thu được lời ích kinh tế trong tương lai
và giá trị của tài sản đó được xác định một cách đáng tin cậy
Theo thông tư 95/2008/TT-BTC, thì các khoản đầu tư chứng khoán dài hạn
được ghi nhận ban đầu theo giá gốc hoặc theo giá trị hợp lý và cộng với chiphí giao dịch liên quan trực tiếp đến việc mua Sau khi ghi nhận ban đầu công
ty có thể chọn một trong hai nguyên tắc sau:
Theo nguyên tắc giá gốc thì khi lập trình bày báo cáo tài chínhnếu có bằng chứng khách quan cho thấy sự giảm gái trị chứng khoánthì phải lập dự phòng
Theo nguyên tắc giá trị hợp lý thì khi lập trình bày báo cáo tàichính cần phải được xác định các khoản đầu tư chứng khoán dài hạnđược phân loại vào nhóm sẵn sàng để bán theo giá trị hợp lý
Trang 27 Các khoản đầu từ giữ đến ngày đáo hạn sẽ được phản ánh theogiá trị phân bổ sử dụng phương pháp lãi suất thực tế.
- Về ghi nhận doanh thu:
+ Doanh thu kinh doanh chứng khoán được xác định là tiêu thụ là số lượngchứng khoán đã bán, số lượng dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng và đãđược khách hàng thanh toán ngay bằng tiền mặt hoặc cam kết sẽ thanh toán(ghi trên hợp đồng hoặc các chứng từ có liên quan khác) hoặc được khấu trừvào tiền thu bán chứng khoán của khách hàng
+ Đối với các hoạt động kinh doanh chứng khoán tự doanh, môi giới, lưu ký,chuyển khoản chứng khoán cho nhà đầu tư, doanh thu của các loại hoạt độngnày chỉ coi là hoàn thành và ghi nhận doanh thu khi nhận được kết quả thựchiện giao dịch và kết quả thanh toán bù trừ chứng khoán của Trung tâm lưu
ký chứng khoán
Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán được ghi nhận trong báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh khi giao dịch chứng khoán được thực hiện
- Về ghi nhận và đo lường
Hệ thống kế toán áp dụng cho các công ty chứng khoán quy định đo lườngtài sản tài chính theo giá gốc, nguyên giá phân bổ và giá trị thuần Tuy nhiêncác cơ sở đo lường này chưa được quy định cụ thể cho công ty chứng khoán Theo Luật Kế toán thì giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồmchi phí mua, bốc xếp, vận chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên quantrực tiếp khác đến khi đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Đơn vị kếtoán không được tự điều chỉnh lại giá trị tài sản đã ghi sổ kế toán, trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác
Theo VAS 01 thì Giá gốc của tài sản tài chính được tính theo số tiền hoặckhoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài
Trang 28sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không đượcthay đỏi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực quy định cụ thể.
Theo Thông tư 210/2009/TT-BTC, Giá trị hợp lý là giá trị mà một tài sản
có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữacác bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch traođổi ngang giá
Thông tư 210/2009/TT-BTC quy định trình bày riêng thành phần nợ phảitrả và vốn chủ sở hữu của trái phiếu chuyển đổi do ngân hàng phát hành, tuynhiên chưa có hướng dẫn cụ thể về đo lường từng bộ phận hợp thành củacông cụ tài chính phức hợp nên gây khó khăn cho các công ty chứng khoántrong việc hạch toán đúng bản chất của công cụ tài chính phức hợp
Các khoản thu nhập, lãi, chi phí lãi được quy định ghi nhận trên cơ sở dư
nợ gốc còn lại và lãi suất theo hợp đồng Các khoản thu nhập, lãi chưa thu haychi phí lãi chưa trả được trình bày riêng với dư nợ gốc của công cụ tài chính
- Hạch toán đầu tư chứng khoán ngắn hạn (TK121): Dùng để phản ánh giá trịhiện có và tình hình biến động các loại chứng khoán đầu tư ngắn hạn bao gồmđầu tư chứng khoán ngắn hạn và đầu tư chứng khoán khác
- Hạch toán đầu tư chứng khoán dài hạn (TK224):Dùng để phản ánh giá trịhiện có và tình hình biến động các loại chứng khoán đầu tư dài hạn với mụcđích nắm giữ đến ngày đáo hạn và chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán
Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn là các chứng khoán phi pháisinh hưởng các khoản thanh toán cố định và có thể xác định thời gian đáo hạn
cố định mà công ty có ý định và có khả năng giữ đến ngày đáo hạn
Một loại chứng khoán đầu tư sẽ không được xếp vào nhóm nắm giữ đến ngàyđáo hạn nếu trong năm tài chính hiện hành hoặc trong hai năm tài chính gầnnhất được bán và phân loại lại với một số đáng kể các khoản đầu tư giữ đếnngày đáo hạn, trước ngày đáo hạn
Trang 29Khi thu được lãi Định kỳ tính lãi Nhận lãi bao gồm lãi dồn tích
TK511
TK111
Mua chứng khoán bằng tiền mặt, CK
TK111.112Bán chứng khoán lãi
Trang 30Chi phí bán chứng khoán
Biểu 2.2- Quy trình hạch tóan đầu tư chứng khoán ngắn hạn [3]
Trang 31Gửi CK bảo lãnh Gốc Bán lãi
TK5112
Lãi TK135 TK3331
Trang 32Biểu 2.3- Quy trình hạch toán đầu tư chứng khóan dài hạn [3]
Trả gốc ngay Phát hành trái phiếu Trả lãi ngay
TK242
Trang 33Biểu 2.4- Kế toán phát hành trái phiếu theo mệnh giá (trả lãi ngay) [3]
Trang 34Kế toán phát hành trái phiếu có chiết khấu thì chiết khấu trái phiếu đượcphản ánh Có qua tài khoản 3432 và định kỳ phân bổ vào chi phí kinh doanhhoặc vốn hóa để ghi Nợ TK631/241
Trường hợp phát hành trái phiếu có phụ trội thì được phản ánh qua tàikhỏan Có TK3433 và định kỳ phân bổ dần phụ trội trái phiếu vào chi phí kinhdoanh hoặc vốn hóa để ghi Có TK631/241
Đối với công cụ tài chính phái sinh
Việc ghi nhận cụ thể của công cụ chứng khoán phái sinh mới chỉ được
đề cập tới trong dự thảo thông tư hướng dẫn kế toán công cụ tài chính pháisinh Theo đó, công cụ chứng khoán được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thờiđiểm hợp đồng có hiệu lực Đối với công cụ chứng khoán được phân loại làtài sản tài chính, giá trị hợp lý của chứng khoán phái sinh được xác định dựatrên giá niêm yết trên thị trường, nếu không có giá niêm yết trên thị trường thìcông ty phải tự xác định giá trị hợp lý bằng các kỹ thuật định giá để xác địnhgiá trị của tài sản phái sinh vào ngày xác định giá trị trong một giao dịch traođổi ngang giá theo quy định Đối với chứng khoán phái sinh được phân loại là
nợ tài chính thì giá trị của chứng khoán phái sinh không nhỏ hơn giá trị phảitrả theo cam kết trong hợp đồng tính từ ngày đầu tiên có thể phải trả tiền
- Ghi nhận doanh thu
Theo dự thảo thông tư hướng dẫn kế toán công cụ tài chính phái sinh,nếuchứng khoán phái sinh được dùng cho mục đích thương mại thì công ty phảighi nhận ngay các khoản lãi, lỗ phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý của tàisản phái sinh hoặc nợ phải trả phái sinh vào Báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh trong kỳ Khi kế toán công cụ chứng khoán phái sinh, công ty phải xácđịnh và ghi nhận riêng rẽ các khoản phải thu, phải trả liên quan đến công cụtài chính phái sinh và các khoản thanh toán liên quan đến hợp đồng gốc Cáckhoản phải thu, phải trả phát sinh từ việc thanh toán hợp đồng gốc khôngđược tính vào giá trị hợp lý tài sản hoặc nợ phải trả phái sinh Đối với chứng
Trang 35khoán phái sinh dùng cho mục đích phòng ngừa rủi ro dòng tiền, kế toán ghinhận số tiền thu được từ việc bán chứng khoán hoặc số phải trả để mua chứngkhoán theo giá hợp đồng ,đồng thời kết chuyển khoản chênh lệch đánh giá lạihợp đồng vào thu hoặc chi phí hoạt động tài chính Thay đổi trong giá trị nộitại của chứng hoán phái sinh sẽ được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu Khoảngiảm giá về giá trị thời gian sẽ được ghi nhận vào chi phí tài chính.
- Về ghi nhận và đo lường
Công cụ tài chính phái sinh được thực hiện theo phương pháp giá trị hợp lý :+ Giá trị hợp lý của hợp đồng chứng khoán phái sinh được phân loại là tài sảntài chính
Giá trị hợp lý của hợp đồng quyền chọn được phân loại là nợ phải trả: giá trị
hợp lý không nhỏ hơn giá trị phải trả theo cam kết trong hợp đồng, tính từngày đầu tiên có thể phải trả tiền
- Về phương pháp hạch toán công cụ tài chính phái sinh:
Chưa có thông tư, quyết định nào quy định cụ thể về kế toán công cụ tài
chính phái sinh
2.2.4.4 Trình bày báo cáo tài chính về công cụ tài chính
Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hìnhkinh doanh và các luồng tiền của một công ty, đáp ứng yêu nhầu quản lý củachủ công ty, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụngtrong việc đưa ra các quyết định kinh tế Báo cáo tài chính phải cung cấpnhững thông tinh của công ty về: tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu,Doanh thu thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác; Lãi lỗ và phânchia kết quả kinh doanh; thuế và các khoản phải nộp nhà nước; tài sản khác
có liên quan với đơn vị kế toán; các luồng tiền Ngoài các thông tin này, Công
ty còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh báo cáo tàichính” nhằm giải trình các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng
Trang 36hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tếphát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính.
Đối với công cụ tài chính truyền thống
Hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chínhgiữa niên độ
Hệ thống báo cáo tài chính năm bao gồm 4 báo cáo: Bảng cân đối kế toán,báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báocáo tài chính
Công ty chứng khoán bải lập 4 biểu báo cáo tài chính giữa niên độ đạng đầy
đủ như sau: Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng đầy đủ), Báo cáo kết quảkinh doanh giữa niên độ (dạng đầy đủ), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên
độ (dạng đầy đủ) và thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc
Luật kế toán quy định không chỉ công ty chứng khoán mà các loại hình doanhnghiệp và các tổ chức tín dụng đều phải trình bày trên bảng cân đối kế toántheo thứ tự tính thanh khoản giảm dần của tài sản
Theo Thông tư 210/2009/TT-BTC thì các công cụ tài chính phức hợp như tráiphiếu chuyển đổi cần phải trình bày thành nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
Cổ phiếu quỹ được trình bày là một khoản mục riêng biệt giảm trừ vốn chủ sởhữu Đơn vị không ghi nhận lãi, lỗ khi phát sinh việc mua, bán, phát hành hayhủy bỏ cổ phiếu quỹ Số tiền nhận được hoặc phải trả được ghi nhận trực tiếpvào vốn chủ sở hữu
Đối với công cụ chứng khoán phái sinh
-Trên bảng cân đối kế toán: Với bên mua, giá trị của chứng khoán phái sinh sẽ
được phản ánh trên khoản mục tài sản phái sinh ngắn hạn và tài sản phái sinh
dài hạn chi tiết theo mục đích sử dụng
-Trên bản thuyết minh báo cáo tài chính : theo thông tư 210/2009/TT-BTC,các công ty chứng khoán sẽ phải thuyết minh về mức độ trọng yếu của cáccông cụ tài chính nói chung đối với tình hình tài chính và kết quả kinh doanh
Trang 37Theo đó, công ty phải trình bày thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tàichính đánh giá được mức độ trọng yếu của các công cụ tài chính đối với tìnhhình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Khi phân loại lạicác công cụ tài chính, đơn vị phải trình bày giá trị công cụ tài chính sau khichuyển nhượng tài sản tài chính không đủ điều kiện dừng ghi nhận, đơn vịphải thuyết minh bản chất của tài sản, bản chất của việc chuyển giao rủi ro vàquyền sở hữu, Giá trị ghi sổ của tài sản và nợ phải trả có liên quan nếu đơn vịtiếp tục ghi nhận toàn bộ tài sản đó cho mỗi loại tài sản tài chính nói chung
và hợp đồng quyền chọn nói riêng
-Ngoài ra, các công ty chứng khoán còn phải mô tả chi tiết các điều khoản vàđặc điểm của các công cụ chứng khoán phái sinh
2.3 Chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm quốc tế về kế toán các công cụ tài chính
2.3.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính
Lịch sử hình thành của chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32, IAS 39 vàchuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 7 IAS32 và IAS39 đã được banhành thành những chuẩn mực riêng nhưng trong thực tiễn được áp dụng nhưmột đơn vị do hai chuẩn mực này xử lý những vấn đề kế toán giống hệt nhau,IAS39 quy định cho việc tính toán và ghi nhận các công cụ tài chính và ngoài
ra còn gồm có một số nội dung công bố bổ sung cho những nội dung theo yêucầu của IAS 32 Những yêu cầu được nêu trong chương này để cung cấp đầy
đủ các nội dung về công bố và trình bày liên quan tới công cụ tài chính
Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32: “Các công cụ tài chính: Trình bày”hình thành từ tháng 9 năm 1991, IASB đưa bản dự thảo E40 “Các công cụ tàichính” về IAS 32 để thảo luận, bổ sung và điều chỉnh chuẩn mực IAS 32chính thức được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/1/1996
Trang 38IAS32 quy định cho tất cả các công cụ tài chính cả những loại được ghinhận và chưa được ghi nhận Một công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nàomang lại một tài sản tài chính cho doanh nghiệp và một khoản nợ tài chínhhoặc công cụ vốn cổ phần cho một doanh nghiệp khác.
Mục tiêu của chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32 nhằm nâng cao sự hiểubiết của người sử dụng báo cáo tài chính về tầm quan trọng của công cụ tàichính đối với tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động và lưu chuyển tiền mặtcủa doanh nghiệp và thiết lập các nguyên tắc để trình bày các công cụ tàichính
Lãi, cổ tức, lỗ và lợi nhuận liên quan tới một nghĩa vụ tài chính cầnđược báo cáo trong báo cáo thu nhập như một khoản chi phí hoặc thu nhập.Phần phân chia cho những người nắm giữ một công cụ vốn cần được ghi nợtrực tiếp vào vốn cổ phần.Việc phân loại công cụ tài chính quyết định phươngpháp kế toán cho những khoản mục nêu trên:
Nếu cổ tức hưởng từ cổ phần được phân loại là những khoản nợ vì vậy
sẽ được phân loại là chi phí theo cùng cách thức như thanh toán tiền lãi suấtcủa một khoản vay Hơn nữa, số cổ tức này phải được tích lũy theo thời gianLãi và lỗ (được coi là phần chênh lệch hoặc giảm trừ) từ việc hoàn trả hoặc táicấp vốn của những công cụ được phân loại là nợ thì được báo cáo trong báocáo thu nhập, khi lỗ và lãi từ những công cụ được phân loại là vốn cổ phầncủa tổ chức phát hành thì được báo cáo là những thay đổi về vốn cổ phần
Về hạch toán kế toán công cụ tài chính theo IAS32
- Tài sản tài chính là bất kỳ tài sản nào là: tiền mặt, một quyền theo hợpđồng để thu được tiền mặt hoặc một tài sản tài chính, quyền hay hợp đồngđem trao đổi công cụ tài chính theo điều kiện có lợi tiềm tàng hoặc một công
cụ vốn cổ phần của một doanh nghiệp khác
bất kỳ , trao đổi các công cụ tài chính theo điều kiện có khả năng bất lợi
Trang 39- Một công cụ vốn là bất kỳ hợp đồng nào cho thấy phần lợi ích còn lạitrong các tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ Nghĩa
vụ phát hành công cụ vốn cổ phần và không gây tổn thất cho daonh nghiệp
hoặc các thành phần của công cụ như một khoản nợ hoặc vốn theo nội dungcủa thỏa thuận theo hợp đồng, các định nghĩa nêu ở trên
yếu tố nợ và yếu tố vốn chủ sở hữu cần phân loại riêng các thành phần củacông cụ: tổng số- phần nợ = phần vốn
Định giá vốn+ định giá nợ = tổng giá trị Phân bổ số kết chuyển theo tỷ lệ vớigiá trị đã xác lập Khi phân loại như vậy việc phân loại không được thay đổingay cả khi tình kinh tế thay đổi Không có một khoản lỗ hay lãi nào phátsinh từ việc ghi nhận và trình bày riêng từng phần
- Lãi cổ tức và lợi nhuận liên quan tới nghĩa vụ tài chính cần được báocáo trong báo cáo thu nhập như một khoản chi phí hoặc thu nhập Phần phânchia cho những người nắm giữ một quyết định phương pháp kế toán chonhững khoản mục nêu trên
- Một tài sản tài chính và một khoản nợ tài chính chỉ được bù trừ khi cóquyền thực thi theo pháp luật để tiến hành bù trừ và có ý định hoặc thanh toántheo phương pháp bù trừ hoặc chuyển tài sản thành viền đồng thời thanh toánkhoản nợ
Đối với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 “Các công cụ tài chính: Ghinhận và Đo lường” bắt đầu hình thành từ tháng 9 năm 1991 qua bản dự thảoE40 “Các công cụ tài chính” của IASB Đến ngày 1 tháng 1 năm 2001, IAS
39 chính thức có hiệu lực Từ đó đến nay, IAS 39 liên tục được điều chỉnh và
bổ sung để phù hợp hơn với yêu cầu thực tế về ghi nhận và đo lường công cụtài chính
Trang 40Mục tiêu của chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 nhằm thiết lập các nguyêntắc để ghi nhận và đo lường các tài sản tài chính, các khoản nợ tài chính vàmột số hợp đồng để mua hoặc bán các hàng hoá phi tài chính
Nội dung IAS 39:
hành công cụ tài chính
từng loại công cụ cụ thể Tài sản tài chính được chia làm 4 loại
(3) Tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý qua báo cáo kết quả kinhdoanh
(4) Tài sản tài chính sẵn sàng để bán trong đó tài sản tài chính thuộc nhóm(3) được ghi nhận theo giá trị hợp lý, sự thay đổi về giá trị hợp lý được ghinhận vào thu nhập hoặc chi phí trên báo cáo lãi, lỗ Tài sản tài chính được ghinhận theo giá trị hợp lý với sự biến động giá trị hợp lý được ghi nhận vào vốnchủ sở hữu
Và cuối cùng với Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 7 “Cáccông cụ tài chính: Thuyết minh” thì bản dự thảo được đưa ra để thảo luận vàongày 22 tháng 7 năm 2004 Đến ngày 18 tháng 8 năm 2005, IFRS 7 được banhành và thay thế IAS 30 “Công bố “ trong báo cáo tài chính của các ngânhàng và các tổ chức tài chính tương tự” và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm
2007 Từ năm 2007 đến nay chuẩn mực IFRS 7 liên tục được chỉnh sửa, bổsung nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng
Mục tiêu của chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 7 là yêu cầucác tổ chức trình bày trên báo cáo tài chính của họ để người sử dụng báo cáotài chính có khả năng đo lường: - Tầm quan trọng của các công cụ tài chínhđối với tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của tổ chức