Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế, xã hội. Đất không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp. Điều này càng quan trọng đối với Việt Nam với trên 70% dân số nông nghiệp. Trong 20 năm đổi mới nước ta có nhịp độ tăng trưởng khá vững vàng. Ngành nông nghiệp, nhất là ngành trồng trọt đã tăng trưởng một cách đáng kể và nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới.
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước phần lớn dân cư sống bằng canh tác nông nghiệp chiếm khoảng 70%, diện tích đất nông nghiệp đến thời điểm hiện nay là 9 triệu ha đất nông nghiệp trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng lúa
Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người chỉ còn một cách duy nhất là thâm canh để tăng sản lượng cây trồng [3]
Khi thâm canh cây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được là gây mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng gia tăng Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người phải đầu tư thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp hóa học được coi là quan trọng (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007) [16].
Trong những năm qua, ở nước ta việc sử dụng hóa chất BVTV đã góp phần đáng kể trong việc gia tăng sản lượng nông nghiệp, giải quyết nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng trong khi diện tích cây trồng ngày càng bị thu hẹp bởi sự xói mòn và quá trình đô thị hoá
Trang 2Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong bảo quản và sử dụng hóa chất BVTV của người dân đã gây tác động rất lớn đến môi trường Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện phương châm “phòng hơn chống” đã sử dụng thuốc trừ sâu theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu hại phát triển thành dịch và lượng thuốc trừ sâu được sử dụng càng tăng Nhiều năm qua, vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã được các nhà khoa học, nhà BVMT quan tâm Tuy nhiên, thực trạng này ngày càng trầm trọng và đã trở thành “vấn nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và chế tài cụ thể.
Bên cạnh ảnh hưởng của hóa chất BVTV tới môi trường, ô nhiễm do bao bì đóng gói các loại thuốc đó cũng đang là vấn đề nóng ở các vùng thuần nông Tiến bộ về KHCN ngày càng cao thì mẫu mã chủng loại của bao bì hóa chất BVTV càng đa dạng Phần lớn nông dân chưa ý thức được việc thải
bỏ những bao bì đó sao cho hợp vệ sinh, tránh gây nên những ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của bản thân, cộng đồng và môi trường Trong khi
đó, hiện ở nước ta chưa có văn bản pháp luật đề cập đến công tác quản
lý loại chất thải độc hại này Việc cung cấp cho nông dân giải pháp và kiến thức BVMT mới chỉ được tiến hành một cách sơ lược ở một số địa phương
Trang 3Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi chọn đề tài “Đánh giá thực tế ý
thức của người dân và ảnh hưởng của bao bì thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng của công tác xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng tới môi trường vùng nghiên cứu
- Đánh giá nguy cơ và ảnh hưởng của các loại bao bì thuốc BVTV trong nông nghiệp đến sức khoẻ của cộng đồng
- Trên cơ sở đó đề xuất ra các biện pháp nhằm nâng cao ý thức người dân địa phương cũng như hiệu quả công tác quản lý, xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng tại địa phương
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu, tài liệu thu thập phải chính xác
- Nắm chắc các quy định, quy trình và xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng
- Các giải pháp đưa ra phải có nghĩa thực tiễn và phù hợp với địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Khái quát được hiện trạng ô nhiễm bao bì thuốc BVTV ở xã Đông Trung để đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trường ở xã Đông Trung nói riêng và huyện Tiền Hải nói chung
Trang 4+ Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trưòng sau này.
+ Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao được phương pháp làm việc có khoa học có cơ sở, giúp sinh viên biết tổng hợp bố trí thời gian hợp lý trong công việc
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Đánh giá được hiện trạng ô nhiễm bao bì thuốc BVTV ở xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
+ Đưa ra được các tác động của bao bì thuốc BVTV đối với môi trường
+ Tạo cơ sở đề xuất được các biện pháp quản lý và xử lý bao bì thuốc BVTV một cách phù hợp
+ Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho nhân dân địa phương
Trang 5PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở pháp lý của đề tài
- Quyết định 145/2003/QĐ-BNN-BVTV về quy định thủ tục thẩm định sản xuất, gia công, đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán, lưu trữ, tiêu huỷ, nhãn thuốc, bao bì đúng gói, hội thảo, quảng cáo thuốc BVTV
- Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 về việc Ban hành
về quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật
- Quyết định 63/2007/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành theo Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT
- Nghị định 58 ban hành năm 2002 về “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh
về Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật”, trong đó có “Điều lệ Bảo vệ thực vật”.
- Nghị định số 26/2003/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực Bảo vệ và kiểm dịch thực vật”.
- Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2010 của Bộ NN&PTNT về việc quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật và Công văn số 1538/BVTV-QLT ngày 8/9/2010 hướng dẫn thi hành Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT
Trang 6- Thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam.
- Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/02/2012 Về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải nguy hại
2.2 Giới thiệu chung về thuốc BVTV
2.2.1 Khái niệm về thuốc BVTV
Thuốc BVTV là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …) (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006) [4]
Chủng loại hóa chất BVTV đang sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng Hiện nay, nhiều nhất vẫn là hợp chất lân hữu cơ, Chlor hữu cơ, nhóm độc từ Ia, Ib, đến II và III, sau đó là các nhóm carbamat và pyrethroid (Lê Huy Bá, 2008) [1]
Trong những năm gần đây, hóa chất BVTV được sử dụng tăng lên đáng kể, cả về số lượng lẫn chủng loại Theo báo cáo của Bộ thương mại thì hàng năm, mức tiêu thụ thuốc bảo vệ trong nước khoảng 1,5 triệu tấn, không
kể một số lượng không nhỏ được nhập cảng lậu qua đường biên giới mà
Trang 7chính quyền không thể kiểm soát được Theo thông tư
36/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì danh mục thuốc
bảo vệ thực vật được phép sử dụng có 1.201 hoạt chất với 3.107 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng có 16 hoạt chất với 29 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 29 hoạt chất khác nhau [2]
Việc phân loại hóa chất BVTV khá đa dạng, với nhiều cách phân loại khác nhau tủy theo mục đích nghiên cứu:
2.2.2 Phân loại thuốc BVTV
2.2.2.1 Phân loại theo tính độc
Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
Bảng 2.1 Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
(theo quy định của WHO)
Trang 8Trong đó:
- LD50 Liều chất độc cần thiết giết chết 50% chuột thực nghiệm, giá trị LD50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc đó càng mạnh
- Liều 5mg/kg thể trọng tương đương một số giọt uống hay nhỏ mắt
- Liều 5-50mg/kg thể trọng tương đương một thìa cà phê
- Liều 50-500mg/kg thể trọng tương đương hai thìa súp
Bảng 2.2 Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại
Nhóm độc Nguy hiểm
(I)
Báo động (II)
Cảnh báo (III)
Cảnh báo (IV)
LD50 qua miệng (mg/kg) < 50 50 – 500
500 – 5.000
> 5.000
LD50 qua da (mg/kg) < 200
200 – 2.000
2.000 -20.000
7 ngày
Đục màng sừng mắt
và gây ngứa niêm mạc 7 ngày
Gây ngứa niêm mạc
Không gây ngứa niêm mạc
Trang 9kéo dài 72 giờ
ngứa nhẹ
72 giờ
ứng nhẹ
72 giờ
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV) [16]
Bảng 2.3 Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các hiện
tượng về độ độc cần ghi trên nhãn
Vạch màu
LD50 đối với chuột (mg/kg)
Thể rắn
Thể lỏng
Thể rắn
Thể lỏng Nhóm
độc I
Rất độc
Đầu lâu xương chéo trong hình thoi vuông trắng
Vàng
> 50 - 500
> 200 – 2.000
> 100 – 1.000
> 400 – 4.000
Xanh nước biển
500 – 2.000
>2.000 – 3.000
> 1.000 > 4.000
Cẩn thận
Không biểu tương
Trang 102.2.2.2 Phân loại theo đối tượng phòng chống
Theo Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2006) [4] thì có rất nhiều cách phân loại khác nhau và được phân ra như sau:
Thuốc trừ sâu (insecticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có
tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hay ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người
Trong thuốc trừ sâu dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng người ta còn chia ra: Thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non
Thuốc trừ bệnh (Fungicide): Thuốc trừ bênh bao gồm các hợp chất
có nguồn gốc hóa học (vô cơ hoặc hữu cơ), sinh học, có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất… Thuốc trừ bệnh dùng để bảo
vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides)
Thuốc trừ chuột (Rodenticide): Là những hợp chất vô cơ, hữu cơ, hoặc
có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và các loài gậm nhấm Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi
Thuốc trừ nhện (Acricide): Những chất được dung chủ yếu để trừ
nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết các thuốc trừ nhện hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc
Trang 11Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): Các chất xông hơi và nội hấp
được dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây
Thuốc trừ cỏ (Herbicide): Các chất được dùng để trừ các loài thực vật
cản trở sự sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt… Và gồm cả các thuốc trừ rong rêu ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng thuốc trong nhóm này đặc biệt thận trọng
2.2.2.3 Dựa vào con đường xâm nhập (hay tác động của thuốc) đến dịch hại
Gồm có: Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp và thấm sâu
Bảng 2.4 Phân loại hóa chất theo đường xâm nhập
Trang 12trong đó một thời gian và gây chết cơ thể sinh vật.
Chất độc
thấm sâu
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ yếu theo chiều ngang, nó có tác dụng tiêu diệt dịch hại sống ẩn nấp trong tổ chức tế bào thực vật như: Wofatox…
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV) [16] 2.2.2.4 Dựa vào nguồn gốc hóa học
- Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây
cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc sinh học: Gồm các loài sinh vật, các sản phẩm
có nguồn gốc sinh vật có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc vô cơ: Bao gồm các hợp chất vô cơ có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại ( Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007) [16]
2.2.4 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 132.2.4.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Chỉ trong thời gian hơn nửa thế kỷ qua, nhất là những năm 1980 cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành KHCN, thuốc BVTV cũng được phát minh và sử dụng ngày càng nhiều và đã đem lại những lợi ích kinh tế to lớn Tới nay đã có hàng ngàn chất được sáng chế và
sử dụng làm thuốc BVTV Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới sử dụng lượng thuốc BVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm
1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm 1990 sử dụng trên 3 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV, trị giá khoảng 25 tỷ USD Trong đó thuốc trừ cỏ chiếm 46%, thuốc trừ sâu chiếm 31%, thuốc trừ bệnh 18%, và 5% là các thuốc khác Khoảng 80% thuốc BVTV sản xuất ra được sử dụng ở các nước phát triển Tuy vậy, tốc độ sử dụng thuốc BVTV ở các nước đang phát triển tăng 7-8%/năm, nhanh hơn các nước phát triển (2-4%/năm) Trong đó chủ yếu là các thuốc trừ sâu (chiếm 70%) (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006) [4]
2.2.4.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc BVTV sử dụng rộng rãi từ những năm 1950, đầu tiên là dùng DDT-666 để trừ sâu Tiếp đến là một số loại thuốc có chứa thủy ngân hữu cơ, sau đó là nhóm lân hữu cơ và carbonat
Trước năm 1975, nước ta có một số nhà máy sản xuất và gia công các bột 666 để phun đắp cho các loại cây, đa phần các hóa chất đều được nhập từ
Trang 14nước ngoài, các cơ sở tư nhân trong nước sẽ chế biến hóa chất dạng bột sang dạng thấm nước, dung dịch
Từ năm 1975-1989 các cơ sở tư nhân phát triển mạnh hơn, việc cung cấp thuốc BVTV tăng lên đáng kể cho nên mức độ sử dụng cũng tăng lên Theo ước tính từ năm 1976-1980 bình quân cả nước mỗi năm sử dụng 5.100 tấn thuốc BVTV, năm 1985 khoảng 22.000 tấn, năm 1998 trên 40.000 tấn Nếu như trước những năm 1990 sử dụng bình quân từ 0,3-0,4 kg thuốc BVTV/ha thì đến năm 1999 lượng thuốc BVTV bình quân tăng lên 1,05kg/ha (Nguyễn Thị Dư Loan, 2004) [8]
Việc lưu thông phân phối thuốc BVTV là vấn đề đáng lo ngại nhất Hiện nay, cả nước có 93 nhà máy, cơ sở sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV và 28.750 đại lý, cửa hàng kinh doanh buôn bán thuốc BVTV
Theo kết quả thanh tra, kiểm tra sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV (2007 – 2010) cho thấy: Số cơ sở, cửa hàng, đại lý được thanh tra, kiểm tra phát hiện có vi phạm chiếm khoảng 14 – 16 % (tổng số đơn vị thanh kiểm tra trung bình 14.000 lượt/năm), trong đó: Buôn bán thuốc cấm: 0,19 – 0,013 %; Buôn bán thuốc ngoài danh mục: 0,85 - 0,72% ; Buôn bán thuốc giả: 0,04 -0,2%; vi phạm về ghi nhãn hàng hóa: 3,12 - 2,44 % và vi phạm về điều kiện buôn bán: 14,4 - 16,46% Lấy mẫu kiểm tra chất lượng thuốc BVTV tại các
cơ sở sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói và lưu thông hàng năm cho thấy tỷ lệ mẫu không đạt chất lượng là 3 - 10,2% số mẫu kiểm tra
Trang 15Thực trạng sử dụng thuốc B VTV, theo số liệu kiểm tra từ năm 2007 -
2009, tỷ lệ số hộ vi phạm: 35 -17,8 %, trong đó: không đảm bảo thời gian cách ly: 2,0 – 8,43%; không đúng nồng độ và liều lượng: 10,24 - 14,34 %; sử dụng thuốc cấm: 0,19 – 0,0 % ; thuốc ngoài danh mục: 2,17 - 0,52 % (Vương Trường Giang và cs, 2011) [14]
Ở nước ta, thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, quyết định nhanh chóng dập các dịch bệnh trên diện rộng Nếu không
có thuốc BVTV, nhiều dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40 đến 60% năng suất trên diện rộng, có nơi có thể mất trắng Song cũng phải thấy hết những hệ lụy xấu cho môi trường, cho con người, nhất là khi quá lạm dụng nó Việc sử dụng thuốc BVTV đã tăng quá nhanh trong thời gian qua Theo số liệu Cục BVTV trong giai đoạn 1981 - 1986, số lượng thuốc sử dụng là 6.500 đến 9.000 tấn, tăng 20 đến 30 nghìn tấn giai đoạn 1991 - 2000 và từ 36 đến 75,8 nghìn tấn giai đoạn 2001 - 2007 Trong vòng 10 năm (2000 - 2011) số lượng thuốc BVTV được sử dụng tăng 2,5 lần; số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam gần 1.000 loại, còn các nước trong khu vực là 400 đến 600 loại (Nguyễn Quang Hiếu, 2012) [5]
Việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng nhiều, đồng thời với lợi ích mang lại cũng đã thể hiện những hậu quả xấu đối với con người và môi trường sinh thái, đi ngược lại nỗ lực nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững
Trang 16Theo thống kê của ngành nông nghiệp, mỗi năm, nông dân Thái Bình
sử dụng khoảng 180- 250 tấn thuốc BVTV, đây là nguồn ô nhiễm phát sinh
từ sản xuất nông nghiệp thải ra các sông nội đồng gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân và huỷ hoại môi trường sinh thái
Năm 2010 toàn tỉnh sử dụng khoảng trên 500 nghìn tấn phân bón hoá học hữu cơ, trên 200 nghìn tấn phân vô cơ và khoảng gần 250 tấn thuốc BVTV
Trang 17Bảng 2.5 Số lượng thuốc BVTV sử dụng trên một số cây trồng năm
2 vụ (ha)
Lượng thuốc BVTV
sử dụng
Tổng lượng thuốc BVTV
(Nguồn: Chi cục BVTV Thái Bình, 2010)
Trong những năm gần đây, nông nghiệp Thái Bình phát sinh nhiều loại sâu bệnh nguy hiểm như sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng,
sâu đục thân 2 chấm và đặc biệt là dịch lùn sọc đen trên cây lúa Vì lý do
này, lượng thuốc BVTV được sử dụng trên cánh đồng không có chiều hướng giảm sút, tình trạng sử dụng số lượng lớn thuốc BVTV phổ biến trên địa bàn toàn tỉnh
Bảng 2.6 Số lượng thuốc BVTV sử dụng trung bình năm tại các khu
vực trong tỉnh giai đoạn 2007 - 2010 Khu vực
(Huyện, Thành
phố)
Lượng thuốc BVTV sử dụng cho lúa (tấn)
Lượng thuốc BVTV sử dụng cho cây trồng
Tổng lượng thuốc BVTV
sử dụng trung
Trang 18(Nguồn: Chi cục BVTV Thái Bình, 2010)
Những số liệu ở trên cho thấy vấn đề lạm dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp tại Thái Bình đang là vấn đề đáng báo động Về kinh tế, không những gây thiệt hại trực tiếp cho người nông dân mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và giá bán của nông sản hơn nữa còn gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe con người (Phạm Tô Minh Hùng, 2010) [6]
2.5 Những hệ quả của thuốc BVTV gây ra cho sinh quần
2.5.1 Ưu điểm của biện pháp dùng thuốc hóa học trong BVTV
Muốn hay không ta cũng không thể phủ nhận sự cần thiết của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới Chúng ta đều rõ, thuốc BVTV nếu sử dụng đúng sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất như:
- Tiêu diệt dịch hại nhanh, triệt để và chắc chắn
Trang 19- Chặn đứng được dịch hại, nhất là những trường hợp dịch hại phát sinh thành dịch, đe dọa nghiêm trọng đến năng suất cây trồng mà các biện pháp khác không thể ngăn cản nổi.
- Trong một thời gian rất ngắn có thể sử dụng trên diện tích rộng với các phương tiện rải thuốc tiên tiến nhất
- Mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ năng suất, giá trị thẩm mĩ của nông sản
2.5.2 Nhược điểm của biện pháp dùng thuốc hóa học trong BVTV
Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp đã đem lại những lợi ích vô cùng to lớn mà không ai có thể phủ nhận được Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị lợi ích đó ta không thể không nhắc đến những hậu quả mà thuốc BVTV gây ra, có thể kể ra đây những hậu quả như sau:
- Gây ô nhiễm môi trường, đầu độc bầu khí quyển, ảnh hưởng đến mọi vật
- Dư lượng thuốc tồn đọng trong nông sản, thực phẩm, đất, nước, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người và các động vật khác
- Hình thành nên tính kháng thuốc của dịch hại, hoặc phát sinh những loài dịch hại mới… gây khó khăn cho công tác phòng trừ (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007)[16]
2.6 Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và sinh thái
Trang 20Trong quá trình sản xuất, vận chuyển, bảo quản và sử dụng, thuốc BVTV đã tác động đến môi trường bằng nhiều cách khác nhau, theo sơ đồ:
Hình 2.1 Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và
con đường mất đi của thuốc
Nước
Thực vật
Thực phẩm
Trang 21Khi phun cho cây trồng có tới 50% số thuốc bị rơi xuống đất Đó là chưa
kể đến biện pháp bón thuốc trực tiếp vào đất Người ta ước tính có tới 90% lượng thuốc sử dụng không tham gia diệt sâu bệnh mà gây ô nhiễm, độc cho đất, nước, không khí và cho nông sản (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006) [4]
Ở trong đất thuốc BVTV được keo đất và các chất hữu cơ giữ lại sau
đó sẽ được chuyển hóa theo nhiều con đường khác nhau
Hệ VSV sống trong đất (nấm, vi khuẩn, các loài côn trùng, ve bét, giun đất ) có khả năng phân giải xác, tàn dư động thực vật làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho cây phát triển tốt và duy trì độ màu mỡ của đất Các thuốc BVTV khi rơi xuống sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của VSV đất làm cho đất bị chai cứng, cây không hút được dinh dưỡng, do đó dẫn đến hiện tượng cây còi cọc, đất bị thoái hóa
2.6.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường nước
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường nước theo rất nhiều cách :
- Khi sử dụng cho đất chúng sẽ thấm vào nước thông qua môi trường đất
- Dùng trực tiếp thuốc để diệt côn trùng trong nước
- Nước chảy qua các vùng đất có sử dụng thuốc BVTV
- Do nước thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất thuốc BVTV
Theo ước tính hàng năm chúng ta có khoảng 213 tấn thuốc BVTV theo bụi và nước mưa đổ xuống Đại Tây Dương (Nguyễn Thị Dư Loan, 2004) [8]
Trang 22Thuốc BVTV vào nước gây ô nhiễm môi trường nước gồm cả nước mặt và nước ngầm, suy thoái chất lượng nguồn nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động sống của các sinh vật thủy sinh.
2.6.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường không khí
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí gây mùi khó chịu khiến cho không khí bị ô nhiễm Nhất là nhờ các tác nhân bên ngoài như gió
sẽ thúc đẩy quá trình khếch tán của thuốc làm ô nhiễm không khí cả một vùng rộng lớn Ô nhiễm không khí do thuốc BVTV sẽ tác động xấu đến sức khỏe con người và các động vật khác thông qua con đường hô hấp
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí theo nhiều nguồn khác nhau:
- Khi phun vãi thuốc sẽ xâm nhập vào không khí theo từng đợt dưới dạng bụi, hơi Tốc độ xâm nhập vào không khí tùy loại hóa chất, tùy theo cách sử dụng và tùy theo điều kiện thời tiết
- Do ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết như gió, bão, mưa bào mòn và tung các bụi đất có chứa thuốc BVTV vào không khí
- Do tai nạn hoặc do sự thiếu thận trọng gây rò rỉ hóa chất trong quá trình sản xuất, vận chuyển thuốc BVTV
2.6.4 Tác động của thuốc BVTV đến cây trồng
Thuốc BVTV được xâm nhập, dịch chuyển và tồn tại ở các bộ phận của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây như sau:
Trang 23-Thuốc làm cho năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất tăng.
- Rút ngắn thời gian sinh trưởng ra hoa sớm, quả chín sớm
- Tăng sức chống chịu với điều kiện bất thuận lợi như: chống rét, chống hạn, chống đổ, chống chịu bệnh
Bên cạnh đó dùng thuốc BVTV cũng có ảnh hưởng xấu đến cây trồng khi sử dụng thuốc không đúng:
- Làm giảm tỷ lệ nảy mầm, rễ không phát triển, cây còi cọc, màu lá biến đổi, cây chết non
- Lá bị cháy, bị thủng, lá non và ngọn cây bị biến dạng, hoa quả bị rụng nhiều, quả nhỏ, chín muộn
- Giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi
2.6.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với người và động vật máu nóng
Nhìn chung các loại thuốc BVTV đều độc với người và động vật máu nóng Thuốc có thể xâm nhập vào cơ thể người qua nhiều con đường khác nhau như: Tiếp xúc qua da, ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, môi trường bị ô nhiễm Mật độ gây độc cho cơ thể người và động vật máu nóng thể hiện ở 2 cấp độ khác nhau:
- Độ độc cấp tính: Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng lớn, phá hủy mạnh các chức năng sống, được thể hiện bằng các triệu chứng rõ ràng, gây nhiễm độc tức thời gọi là nhiễm độc cấp tính
Trang 24- Độ độc mãn tính: Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần, trong thời gian dài, được tích lũy lại trong cơ thể sinh vật (tích lũy hóa học hay chức năng), những triệu chứng thể hiện chậm, lâu dài, gây tốn thương cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinh vật bị ốm, yếu (ảnh hưởng đến sức khỏe của sinh vật, gây đột biến, ung thư, quái thai, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ sau) và có thể dẫn đến tử vong (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007) [16].
2.6.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với động vật sống trên cạn và dưới nước
Qua thức ăn, nguồn nước, thuốc BVTV có thể được tích lũy trực tiếp trong cơ thể động vật
Thuốc BVTV có thể gây ngộ độc mãn tính hay cấp tính cho động vật Khi ngộ độc nhẹ, động vật có thể ăn ít, sút cân, tăng trọng kém, đẻ ít, tỷ lệ trứng nở của gia cầm thấp
Thuốc BVTV có thể gây ra các chứng bệnh như: Đồng làm cho cừu mắc bệnh vàng da; DDT làm cho thỏ đẻ con có tỷ lệ đực thấp, giảm khả năng sinh sản và phát triển…
Thuốc BVTV, đặc biệt là các thuốc trừ sâu dễ gây hại cho ong mật, các sinh vật có ích, chim và động vật hoang dã
Trang 25Bên cạnh các tác hại trực tiếp, thuốc còn giết hay làm giảm nguồn thức ăn cho cá và các loài động vật, các loài ký sinh thiên địch (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007)[16].
2.6.7 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch
Thiên địch là danh từ để chỉ các loài kẻ thù tự nhiên của dịch hại, bao gồm các động vật, loài ký sinh, động vật bắt mồi ăn thịt (côn trùng, nhện, chim…) các VSV gây bệnh cho sâu, các VSV đối kháng với các VSV gây bệnh
VD: Trên ruộng lúa của Việt Nam có 38 loài sâu gây hại đã phát hiện
có khoảng 300 loài thiên địch Trong đó có 167 loài là côn trùng ăn thịt, khoảng 100 loài là côn trùng ký sinh, 29 loài là nhện bắt mồi ăn thịt… (Nguyễn Thị Dư Loan, 2004) [8]
Các loại thuốc trừ sâu đều độc hại với các loài thiên địch là côn trùng
và nhện, trong đó thuốc thuộc nhóm độc một và Pyrethroid độc mạnh nhất
Cụ thể: Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của viện BVTV cho thấy: Khi phun thuốc Azodrin, Monitor, Methylparathion sau 3 – 5 ngày mật độ bọ rùa và nhện giảm xuống 50 – 90% và rất chậm phục hồi
2.7 Hậu quả từ việc lạm dụng thuốc BVTV
Rau là thực phẩm được sử dụng nhiều thuốc BVTV nhất Thứ trưởng
Bộ NN&PTNT Bùi Bá Bổng cho rằng chỉ với thực tế 3% rau xanh có hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt tiêu chuẩn cho phép, tương ứng với hơn 2
Trang 26triệu người hàng ngày phải ăn rau không đảm bảo Thực tế, việc hàng ngày
ăn phải rau không đảm bảo tiêu chuẩn là mầm mống gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư, ngộ độc thần kinh, rối loạn chức năng thận Nếu ăn phải rau bị nhiễm kim loại nặng như kẽm, sẽ dẫn đến tích tụ kẽm trong gan
có thể gây ngộ độc hệ thần kinh, ung thư đột biến và một loạt các chứng bệnh nguy hiểm khác (Hạnh Vân, 2009) [12]
Chỉ trong năm 2009, trên cả nước đã có 5.000 người bị nhiễm độc thuốc BVTV, trong đó 138 người tử vong, đó là chưa kể số người bị mắc bệnh ung thư, bệnh lao phổi, bệnh về đường hô hấp…(Đoàn Nguyên, 2011) [10]
Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có thêm 200 nghìn -
250 nghìn ca bệnh nhân mới bị ung thư, tương đương với mỗi năm có 1 huyện mới ung thư và một nửa huyện người chết do bệnh ung thư cũ (từ 100 nghìn - 125 nghìn người) Con số này do kết quả tổng hợp từ nhiều nguyên nhân trong đó một phần trong số đó là lạm dụng hóa chất thuốc bảo vệ thực vật(Ngô Huyền, 2008) [7]
2.8 Hậu quả ô nhiễm môi trường do bao bì thuốc BVTV đem lại
Trên cánh đồng lúa, chúng ta thường nhìn thấy vô số vỏ chai, bao bì đựng thuốc BVTV được vứt bỏ khắp bờ ruộng, trên lối đi, dưới mương nước… Chính lượng thuốc BVTV còn sót lại trong các vỏ chai, bao bì chính
là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Hơn thế nữa những vỏ chai, bao bì này được làm bằng thủy tinh,
Trang 27nhựa hoặc chất dẻo tổng hợp không thể tự tiêu hủy ở ruộng đồng gây nguy hiểm cho việc đi lại sản xuất và cũng là tác nhân trực tiếp gây ô nhiễm môi trường.
Nước ta hiện còn lưu một khối lượng khá lớn hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) tích tụ tập trung hoặc phân tán gây ô nhiễm môi trường
Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 300 loại thuốc trừ sâu, 200 loại thuốc trừ bệnh, gần 150 loại thuốc trừ cỏ, 6 loại thuốc diệt chuột và 23 loại thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng Các hóa chất BVTV này nhiều về cả
số lượng và chủng loại, trong đó có một số loại thuộc danh mục cấm sử dụng, hạn chế sử dụng và tồn đọng hết hạn sử dụng Theo ông Hồ Kiên Trung, Trưởng phòng Cải thiện môi trường, Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, đến nay có 1.153 điểm ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu gồm 289 kho lưu giữ và 864 khu vực ô nhiễm
Đối với 289 kho đang lưu giữ khoảng 217 tấn hóa chất BVTV dạng bột, 37.000 lít hóa chất BVTV và 29 tấn vỏ bao bì, hầu hết là hóa chất BVTV độc hại, cấm sử dụng, kém phẩm chất Đối với 864 khu vực ô nhiễm hiện đang chôn lấp khoảng 23,27 tấn hóa chất BVTV bao gồm: DDT, Lindan, 666, Volphatoc, Vinizeb, Echo, Xibuta, Kayazinno, Hinossan, Viben-C và nhiều loại không nhãn mác khác, tập trung chủ yếu ở Nghệ An, Thái Nguyên, Tuyên Quang Trong số này, có tới 89 điểm đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tình trạng kho bãi xuống cấp và rò rỉ hóa chất
Trang 28Đây là những hợp chất hữu cơ độc đứng đầu bảng danh sách 12 loại độc chất nguy hiểm Các chất thải hữu cơ bền này luôn tiềm tàng trong không khí, thức ăn nước uống sinh hoạt hàng ngày, những hóa chất này không phân hủy
mà theo nước mưa ngấm sâu vào nguồn nước sinh hoạt, nếu chúng ta trực
tiếp sử dụng nguồn nước đó sẽ gây độc cho con người và gây ra các bệnh
nan y như ung thư Còn đối với cây lúa, nguồn thuốc BVTV còn sót lại nó sẽ
đi vào nguồn đất, nguồn nước nó sẽ gây ra hiện tượng cây trồng sẽ hấp thu vào hiện tại cây trồng nó sẽ làm tồn dư thuốc BVTV trong sản phẩm sẽ cao, ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Quang Phương, 2011) [11].
2.9 Thực trạng công tác xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng tại Việt Nam
Ở Việt Nam, theo quy định thì sau khi sử dụng bao bì thuốc BVTV sẽ được thu gom và vận chuyển đến nơi quy định rồi tiếp tục được xử lý bằng hai cách: Thiêu hủy hoặc chôn lấp Tuy nhiên công tác xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng theo đúng quy trình và đảm bảo vệ sinh môi trường chưa được áp dụng rộng rãi một phần là do ý thức của người dân chưa cao, phần khác do các chế tài, quy định của Nhà nước còn lỏng lẻo và chưa có tính răn
đe, chua có các điểm thu gom tập trung và xử lý rác thải vỏ thuốc BVTV đảm bảo đúng kỹ thuật, an toàn (Dương Liễu, 2010) [9]
Vì vậy mà việc thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV mới chỉ được thực hiện ở một số địa phương:
Trang 29Nhằm nâng cao kiến thức sử dụng an toàn, hiệu quả thuốc BVTV trên lúa, giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ gây độc trong quá trình sử dụng cũng như sau khi sử dụng được sự tài trợ của tổ chức CropLife Vietnam và CropLife Asia, Chi cục BVTV Kiên Giang phối hợp cùng Cục BVTV thực hiện chương trình: “ Toàn dân thu gom vỏ chai, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng để tiêu hủy” Vỏ chai sau khi thu gom được phân loại, đóng gói theo quy cách và vận chuyển đi tiêu hủy theo công nghệ đốt nhiệt
độ cao tại nhà máy xi măng của Holcim Việt Nam ở Hòn Chông, Kiên Giang (Nguyễn Trường Sơn, 2011) [15]
“Dự án xây dựng mô hình quản lý bao bì rác thải thuốc BVTV” do 5
cô sinh viên ngành Hóa học trường ĐH Cần Thơ thực hiện với mục đích là làm mất tác hại của thuốc BVTV bằng việc ngâm ba bì thuốc BVTV vào
nước pha tro Nước tro sẽ phân huỷ các độc tố còn sót lại trong bao bì Chờ một vài ngày sau, người nông dân mang số bao bì trên đến công ty thuốc BVTV đổi lấy quà (Tuyết Vân, 2010) [13]
Trung tâm Công nghệ Hóa học và môi trường (ECHEMTECH) - Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật VN, đã nghiên cứu một giải pháp mới, đó là tiêu hủy thuốc BVTV không đốt, chi phí xử lý rẻ hơn cách dùng lò đốt đến 50% -60%
Thuốc BVTV cần hủy
Pha vào nước sạch
Phân hủy hóa học Hấp thụ trên than
hoạt tính
Phân hủy sinh học
Trang 30Hình 2.2 Quy trình xử lý thuốc BVTV
Dựa trên đặc tính chung của các loại thuốc BVTV là tan được trong nước, GS-TSKH Trần Mạnh Trí dùng nước để pha loãng thuốc đến nồng độ cần thiết sau đó áp dụng kỹ thuật tích hợp các quá trình phân hủy sinh học và hóa học một cách chặt chẽ nhằm để các quá trình hỗ trợ lẫn nhau và tạo điều kiện cho quá trình tiếp sau xảy ra thuận lợi và triệt để Kết quả sẽ dẫn đến phân hủy hoàn toàn các chất hữu cơ độc hại, khó phân hủy thành các chất vô hại như CO2, H2O hoặc các axít vô cơ phân tử thấp Các quá trình trong hệ tích hợp này bao gồm: các quá trình phân hủy hóa học, dùng các nhân ôxy hóa mạnh để phân hủy hoàn toàn các hóa chất hữu cơ độc hại khó phân hủy nhất, các quá trình phân hủy sinh học sử dụng các giá thể có bề mặt lớn giúp tạo ra mật độ vi sinh cao, nâng cao hiệu quả quá trình phân hủy, tăng mức độ
đề kháng trước các chất độc hại Ngoài ra, còn có các quá trình hấp phụ vật
lý, hấp phụ tất cả các hợp chất hữu cơ còn sót lại trên than hoạt tính, giữ lại tất cả những gì còn sót lại trong nước sau xử lý để thu nước sạch hoàn toàn
Trang 31Riêng phần bao bì, sau khi lấy hết thuốc BVTV sẽ được rửa sạch Nước rửa này cho nhập chung quy trình nói trên để xử lý Bao bì là thủy tinh
sẽ chuyển về các công ty sản xuất thuốc BVTV để đóng gói thuốc mới hoặc chuyển về lò nấu thủy tinh để tái sinh Bao bì giấy và nhựa sẽ đưa vào lò đốt rác công nghiệp hai cấp nhiệt độ để tiêu hủy [17]
Trang 32PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ô nhiễm bao bì thuốc BVTV tại xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Hiện trạng ô nhiễm bao bì thuốc BVTV ở xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
+ Các giải pháp và kiến nghị cho công tác quản lý bao bì thuốc BVTV
ở xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu : Xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Thời gian thực hiện: từ 02/01/2012 đến 19/05/2012
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Trang 33- Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV dùng cho sản xuất nông nghiệp tại xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đánh giá tình hình xử lý bao bì thuốc BVTV của người dân sau sử dụng tại vùng nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, xử
lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng tại vùng nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã được công nhận liên quan đến đề tài mình đang thực hiện
3.4.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu để đánh giá
- Điều tra các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội theo phương pháp thu thập số liệu từ các nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường, UBND
xã Đông Trung, HTXDVNN xã Đông Trung
- Điều tra kết hợp theo dõi trực tiếp công tác xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng tại xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Phân tích, tổng hợp các kết quả thu được trong quá trình điều tra phỏng vấn ý kiến của người dân địa phương về xử lý bao bì thuốc BVTV sau
sử dụng và ý kiến của các chủ cửa hàng bán thuốc BVTV
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Trang 34- Tiến hành khảo sát trực tiếp bằng cách quan sát, chụp ảnh, ghi chép cách người dân địa phương sử dụng thuốc BVTV, xử lý bao bì sau sử dụng và
số lượng bao bì thuốc BVTV còn lại trên cánh đồng, đường làng, ngõ xóm của các thôn gồm: Thôn An Phụ, thôn Chỉ Trung, thôn Phong Lạc, thôn Mỹ Đức
Việc phỏng vấn đối với đối tượng người dân địa phương được tiến hành tại 4 thôn là: Thôn An Phụ, thôn Chỉ Trung, thôn Phong Lạc, thôn Mỹ Đức Tất cả gồm 50 phiếu phỏng vấn được chia cho 4 thôn như sau: Thôn Phong Lạc 11 phiếu, thôn An Phụ 9 phiếu, thôn Mỹ Đức và thôn Chỉ Trung mỗi thôn 15 phiếu Số phiếu của các thôn có sự chênh lệch nhau bới do số nhân khẩu của các thôn không đồng đều như thôn An Phụ chỉ có 705 nhân khẩu còn thôn Mỹ Đức có 1.612 nhân khẩu Những người phỏng vấn này có
độ tuổi khác nhau và gặp ngẫu nhiên trong quá trình khảo sát thực địa và họ đều là những người thường xuyên làm đồng
Câu hỏi phỏng vấn thường xoay quanh những vấn đề chính trong nội dung nghiên cứu
Trang 353.4.5 Phương pháp so sánh
Sử dụng để so sánh danh sách thuốc BVTV thực tế ngoài đồng ruộng, tại các cửa hàng kinh doanh và thu thập được do điều tra trực tiếp người dân với danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và cấm sử dụng So sánh các kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu để có thể đưa ra những nhận xét khách quan nhất
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Xã Đông Trung
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên [19]
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Đông Trung là một xã thuần nông của huyện Tiền Hải, cách trung tâm thị trấn 7Km về phía đông bắc:
- Phía Bắc giáp xã Đông Xuyên;
- Phía Nam giáp xã Đông Phong;
- Phía Đông giáp xã Đông Hoàng;
- Phía Tây giáp xã Đông Quý và Tây Ninh
Trang 36Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Tiền Hải
Đông Trung có tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã: 416.8028 ha, bao gồm có 4 thôn là: Thôn An Phụ, thôn Chỉ Trung, thôn Phong Lạc và thôn
Mỹ Đức Dân số toàn xã là: 5.039 người, phần lớn là người kinh
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, xã Đông Trung có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ dốc < 10 theo hướng Bắc – Đông Nam và bị chia cắt bởi hệ thống sông, ngòi, kênh, mương Độ cao bề mặt so với mực nước biển trung bình từ 0,70 m – 1,25 m
4.1.1.3 Khí tượng thuỷ văn
Xã Đông Trung
Trang 37* Đặc điểm khí hậu
Đông Trung nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang đặc trưng khí hậu của vùng duyên hải rất rõ rệt: Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều thường có bão Mùa đông lạnh, khô hanh nhưng không kéo dài liên tục mà xen kẽ những ngày nắng ấm hoặc mưa ẩm
Quanh năm bức xạ mặt trời lớn nên nền nhiệt độ cao Số giờ nắng trung bình từ 1600 – 1800 giờ/năm với tổng lượng nhiệt Q = 8.5000C
Nhiệt độ trung bình năm từ 230C – 240C, nhiệt độ lạnh nhất 50C – 90C vào tháng 1 tháng 2, nhiệt độ nóng nhất 380C – 390C vào tháng 6 tháng 8 Số giờ nắng trong năm từ 1600-1800 giờ Lượng mưa trung bình năm từ 1500mm-1900mm, cao nhất là 2528mm và thấp nhất là 1173mm Độ ẩm không khí dao động từ 82% - 94%
2 hướng gió chính: Gió Đông Bắc thổi vào mùa lạnh, từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau có những đợt rét đậm kéo dài; gió Đông Nam mang theo không khí nóng ẩm thổi vào mùa nóng với tốc độ trung bình 2 – 3m/s, vào các tháng 6, tháng 7 có xuất hiện vài đợt gió tây khô nóng
Ngoài ra, hàng năm xã còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của 2 – 3 cơn bão với sức gió và lượng mưa lớn gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân
* Đặc điểm thủy văn
Trang 38Là một xã thuộc châu thổ sông Hồng, Đông Trung có hệ thống sông ngòi, kênh mương chằng chịt Nguồn nước của xã tương đối dồi dào nhưng khó khăn trong khai thác cho việc thau chua, rửa mặn phát triển các loại cây trồng.
Nguồn nước tưới của xã chủ yếu lấy từ sông Cá chất lượng nước tốt, hàm lượng phù sa nhiều phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
- Đất nông nghiệp: 297,96 ha, chiếm 71,49% tổng diện tích tự nhiên;
- Đất phi nông nghiệp: 118,84 ha, chiếm 28,51% tổng diện tích tự nhiên;
Theo đánh giá thổ nhưỡng, đất sản xuất trên địa bàn xã có độ phì nhiêu khá cao nên ngoài việc trồng lúa có thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày và dài ngày Với diện tích đất ven sông, hệ thống tưới hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu nên UBND xã quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở những khu vực này từ mô hình trồng lúa nước sang mô hình lúa cá (mô hình nuôi trồng thủy sản) kết hợp với trồng cây lâu năm và chăn nuôi
* Tài nguyên nước
Trang 39khả năng khai thác và cung cấp đầy đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã.
Hiện nay nguồn nước tưới của xã chủ yếu lấy từ sông Cá chất lượng nước tốt, hàm lượng phù sa nhiều phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp
- Nguồn nước ngầm
Qua khoan khảo sát mực nước ngầm trên phạm vi toàn huyện cho thấy, nguồn nước ngầm của xã Đông Trung có thể khai thác được, nhưng thuộc dạng nghèo nước, mỗi giếng khoan chỉ có thể khai thác từ 40 – 60
m3/ngày đêm và nằm ở tầng nông trên 20 m, giá thành khai thác rẻ, song chất lượng khai thác không cao Ở tầng chứa nước từ 20 – 250 m đều mặn nên việc khai thác nước ngầm với quy mô lớn dùng cho sinh hoạt và sản xuất không có tính khả thi Đồng thời phải đề phòng nhiễm mặn từ phía biển một khi nguồn nước ngầm trong nội địa bị khai thác ở mức đáng kể
* Tài nguyên nhân văn
Hiện nay toàn xã có 5.046 người với 1.365 hộ, được phân thành 4 thôn Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, chính quyền xã Đông Trung, cán bộ nhân dân đoàn kết, xây dựng làng xóm quê hương
Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng canh tác nông nghiệp với nghề trồng lúa nước đã có từ lâu đời Một năm sản xuất hai vụ lúa với vụ mùa và
vụ xuân theo đó kết hợp trồng luân canh, xen canh các loại cây màu để phục
vụ đời sống sản xuất hàng ngày
Trang 404.1.1.5 Thực trạng môi trường
Với đặc điểm là xã thuần nông chủ yếu sống bằng canh tác nông nghiệp, đồng ruộng được phân bố bao quanh khu dân cư Vậy nên vấn đề môi trường ở đây là sự tác động qua lại giữa tập quán sinh hoạt của người dân và hoạt động sản xuất nông nghiệp Người dân ở đây tuy đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường, các hộ đã tham gia vào hoạt động thu gom
và xử lý rác thải sinh hoạt nhưng vẫn còn nhiều hộ chưa tham gia mà tự mang rác nhà mình ra ngoài cánh đồng, ao hồ kênh mương để vứt, kết hợp với đó là nước thải sinh hoạt của các hộ dân cũng thải ra ngoài ruộng, các con kênh mương nội đồng đã gây nên ô nhiễm môi trường nông nghiệp tạo sức ép một phần nào đó cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Trái lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng gây nên tác động tới khu dân cư Với đặc điểm đồng ruộng bao quanh khu dân cư, vào những ngày nông dân sử dụng hóa chất, thuốc BVTV để chăm sóc cho lúa sẽ gây nên mùi khó chịu, theo hướng gió các loại hóa chất này được đưa về khu dân cư gây ảnh hưởng đến môi trường không khí, việc dùng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp sẽ tích
tụ ngày càng nhiều trong môi trường đất , nước gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người dân Bao bì thuốc BVTV cũng còn rất tràn lan trên cánh đồng gây nên mất cảnh quan môi trường Xã chưa có hàng cây bao quanh làm ranh giới giữa khu vực dân cư và ruộng đồng để giảm các tác