Trong đó, việc xác lập chủ thể trần thuật trong truyện ngắn rất quan trọng khi cần thể hiện quan niệm, thái độ của nhà văn đối với cuộc sống, sự việc, con người trong một thời đại đầy bi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ những năm cuối thế kỷ
XIX và phát triển không ngừng trong những thập niên đầu thế kỷ XX Sau đó,
nó tiến tới hội nhập vào văn học cả nước và trở thành một bộ phận của nền
văn học Việt Nam hiện đại Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu được tuyển
chọn đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn trong nhà trường
Việc nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam Bộ cho đến nay, đã có nhiều
thành tựu Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề cần nghiên cứu bổ sung hoặc
nghiên cứu sâu hơn, nhất là khi việc dạy văn học địa phương Nam Bộ trong
nhà trường phổ thông hiện nay, chương trình đã được ban hành, song, tài liệu
dạy học ở nhiều địa phương lại chưa có Trong bối cảnh ấy, với chúng tôi,
việc nghiên cứu càng trở nên thiết thực hơn
1.2 Truyện ngắn trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn 1945 –
1975, cùng với tiểu thuyết, là một trong hai thể loại có đóng góp quan trọng,
đã được chú ý nghiên cứu nhiều, nhưng các bài viết, công trình nghiên cứu
chưa chú ý đến phương diện thi pháp thể loại, nhất là chưa chú ý nhiều đến
nghệ thuật trần thuật
Nghệ thuật viết tiểu thuyết, truyện ngắn, suy cho cùng là nghệ thuật kể
chuyện (hay nghệ thuật trần thuật) Bản sắc riêng của mỗi tác giả, giai đoạn,
thời kì, mỗi vùng miền – khu vực văn học, bộc lộ rất rõ trên phương diện này
Tuy vậy, cho đến nay vẫn còn rất ít công trình tập trung nghiên cứu kĩ truyện
ngắn (hay tiểu thuyết) quốc ngữ Nam Bộ một cách hệ thống, để chỉ ra những
đặc điểm riêng (sắc thái bản địa/thời đại,…) trong nghệ thuật trần thuật của
hai thể loại văn học này
Đó là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) để thực hiện luận án tiến sĩ.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu về văn học Nam Bộ có rất nhiều công trình với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Số lượng các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy giá trị, sức thu hút cũng như khả năng gợi mở nhiều đề tài nghiên cứu của mảng văn học này Riêng mảng truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), mặc dù
đã được nghiên cứu khá nhiều phương diện, kể cả phương diện nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ địa phương, nhưng thường theo cách nhìn truyền thống, hầu như chưa được nghiên cứu theo lý thuyết tự sự học Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), chúng tôi hi
vọng sẽ góp thêm một cách nhìn một cách có hệ thống về bức tranh chung của truyện ngắn Nam Bộ xuất phát từ góc nhìn tự sự học – một hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như nhan đề xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài này giới hạn trong phạm vi một thể loại (truyện ngắn) ở Nam Bộ và thời gian (1945 – 1975)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Vì truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) có khối lượng rất đồ sộ, nên người nghiên cứu sẽ tuyển chọn một số nhất định tác phẩm có dấu hiệu, đặc điểm nghệ thuật trần thuật tiêu biểu đáp ứng yêu cầu của đề tài (cụ thể là tuyển chọn khoảng 100 truyện ngắn) Ngoài ra, chúng tôi chọn thêm một số truyện ngắn Nam Bộ thập niên 20 đến 1945 để khảo sát nhằm thể hiện quá trình vận động và phát triển của nghệ thuật tự sự buổi đầu ở Nam Bộ; một số truyện ngắn Bắc Bộ cùng thời để so sánh, thấy được những nét đặc trưng
Trang 2trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Nam Bộ bên cạnh những yếu tố giao
thoa, tiếp xúc trong dòng chảy của nền văn học dân tộc
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), sẽ được xem xét từ hai góc nhìn
lịch đại và đồng đại, nhằm tìm ra các đặc điểm chính trong nghệ thuật trần
thuật của các nhà văn thuộc khu vực văn học này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu các vấn đề cơ bản: cơ sở lý luận về phương thức
trần thuật, chỉ ra các phương thức trần thuật; xác định, mô tả các phương thức
trần thuật xuất hiện trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975); phân tích ý
nghĩa, giá trị nghệ thuật của phương thức trần thuật trong tác phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Ứng dụng tự sự học và một số lý thuyết hiện đại liên quan trong nghiên
cứu văn học, đề tài sẽ vận dụng kết hợp các phương pháp: hệ thống, loại hình,
so sánh, nghiên cứu liên ngành; các thao tác thống kê, lựa chọn phân tích mẫu
sẽ được sử dụng phối hợp
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài mở ra một hướng tiếp cận mới cho văn học quốc ngữ Nam Bộ –
tiếp cận truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) ở góc độ trần thuật
- Góp phần khẳng định sắc thái bản địa/vùng miền của truyện ngắn Nam
Bộ (1945 – 1975)
- Góp phần xóa bỏ định kiến trước đây về chất lượng nghệ thuật của
truyện ngắn Nam Bộ
- Góp phần vào công tác giảng dạy Ngữ văn ở nhà trường, đáp ứng yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy học trong tình hình hiện nay
7 Kết cấu luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Đặc điểm truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) nhìn từ chủ thể
và điểm nhìn trần thuật
Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) nhìn từ thời
gian trần thuật
Chương 3: Đặc điểm truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) nhìn từ chất
liệu và cấu trúc diễn ngôn trần thuật
Chương 1: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 - 1975) NHÌN TỪ CHỦ THỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 1.1 Những nguồn ảnh hưởng đến sự hình thành hình thức chủ thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
1.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống
Trong văn xuôi truyền thống Nam Bộ, việc xử lí, lựa chọn ngôi kể thường khá đơn giản Tác phẩm chủ yếu được kể dưới dạng “vô nhân xưng” Chủ thể trần thuật ít để lại dấu vết riêng của mình trong văn bản, thậm chí, thường ẩn sau ngôi thứ ba – người kể chuyện ẩn mình, không danh tính Đặc điểm này có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân, song, không thể không nói đến sự chi phối của nhu cầu giao tiếp trực diện giữa người kể và người nghe trong sinh hoạt văn nghệ của giới bình dân Nam Bộ, nhu cầu chuẩn hóa các quan niệm và diễn ngôn về đạo lí/đạo đức truyền thống của nhân dân Sau
đó, có thể nói đến sự chi phối của mục đích giáo huấn, tải đạo và tinh thần phi ngã trong văn học trung đại ở Nam Bộ Những yếu tố này ảnh hưởng đến việc hình thành chủ thể và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ
1.1.2 Ảnh hưởng của tình hình lịch sử xã hội và sự giao lưu văn hóa
Trang 3Việc xác lập chủ thể và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ
(1945 – 1975) chịu sự tác động từ hai nhân tố cơ bản: thực tế hoàn cảnh lịch
sử, xã hội và sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa bên ngoài, đặc biệt là văn học
phương Tây Trong bối cảnh đó, hiện tượng có ba dòng văn học cùng tồn tại
trên đất Nam Bộ dưới tác động của các xu hướng tư tưởng khác nhau như: văn
học yêu nước – cách mạng, văn học yêu nước – về nguồn, và văn học ảnh
hưởng các trào lưu tư tưởng phương Tây hiện diện ở các đô thị lớn của miền
Nam suốt một chặng đường dài 1954 – 1975, trong đó có tư tưởng hiện sinh
Với tính chất là một thể loại đặc thù, truyện ngắn Nam Bộ hiện diện
trong các mảng chủ đề khác nhau đã khẳng định những nét riêng mới mẻ
trong nhiều bình diện cấu thành nó Trong đó, việc xác lập chủ thể trần thuật
trong truyện ngắn rất quan trọng khi cần thể hiện quan niệm, thái độ của nhà
văn đối với cuộc sống, sự việc, con người trong một thời đại đầy biến động
Vì vậy, nghệ thuật trần thuật với các hình thức đa dạng của chủ thể trần thuật,
dẫn tới sự phong phú của các kiểu chủ thể trần thuật (với tư cách là người kể,
tả, người phát ngôn của các miêu tả, các bình luận những vấn đề của lịch sử,
xã hội và con người giai đoạn 1945 – 1975) Cùng với chủ thể trần thuật, việc
tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt hơn trong khả năng hoán chuyển vị trí
cho nhau của các chủ thể trần thuật có khi cùng hiện diện trong một tác phẩm
1.1.3 Sự chi phối của đặc trưng thể loại
Việc xác lập chủ thể trần thuật, điểm nhìn trần thuật chịu chi phối chặt
chẽ của đặc trưng hình thức tự sự cỡ nhỏ này Trong giai đoạn 1945 – 1975,
truyện ngắn Nam Bộ đã hoàn thiện về phương diện thể loại qua một chặng
đường hiện đại hóa Điều này có nghĩa là bên cạnh những truyện kể có
phương thức truyền thống với một người trần thuật duy nhất, chỉ một điểm
nhìn đơn tuyến, đã xuất hiện các kiểu chuyện hiện đại hơn Việc tổ chức thời
gian trần thuật không theo trật tự thông thường với các thủ thuật co giãn thời gian kể chuyện như trì hoãn, tăng tốc,… để bảo đảm cho sự thể hiện trọn vẹn
ý đồ nghệ thuật và ý đồ tư tưởng của tác giả Và theo yêu cầu đó, hiện tượng nhường vai, chia sẻ điểm nhìn để phạm vi phản ánh đời sống của truyện ngắn Nam Bộ được mở rộng, gia tăng sức biểu hiện
1.2 Các hình thức chủ thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
1.2.1 Chủ thể trần thuật và vai trò của chủ thể trần thuật 1.2.1.1 Chủ thể trần thuật độc quyền
Chủ thể trần thuật độc quyền còn được gọi là người kể chuyện toàn tri, có quyền năng tuyệt đối, độc quyền tổ chức câu chuyện được kể, xây dựng văn bản tác phẩm với các phát ngôn kể, tả, bình Trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), ta thấy có sự kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại ngay tại hình tượng này Sự kết hợp ở mức độ, phương thức khác nhau, một mặt là sự lưu giữ trọn vẹn hình tượng người kể độc quyền ngôi thứ ba phát ngôn mang tinh thần thời đại; mặt khác, ngay tại hình tượng người kể độc quyền cũng có
sự cách tân qua ngôi thứ nhất lộ diện xưng “tôi”
Điều đáng ghi nhận là trong truyện ngắn Nam Bộ (1945-1975), hình tượng chủ thể trần thuật độc quyền chiếm tỉ lệ rất cao Thống kê trong 100 truyện ngắn được chọn khảo sát, kết hợp với thống kê một số tập truyện của các tác giả Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, Nguyễn Quang Sáng,
Vũ Hạnh, có hơn 80% truyện ngắn có chủ thể trần thuật độc quyền Việc chọn lựa xác lập chủ thể trần thuật toàn tri, độc quyền kể trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) có vai trò và ý nghĩa lịch sử nhất định
1.2.1.2 Chủ thể trần thuật quyền uy “tương đối”
Trang 4Nếu phương thức kể chuyện với chủ thể trần thuật có quyền uy “tối
thượng”, một người kể có quyền năng tuyệt đối, bằng quá trình kể chuyện đã
chi phối toàn bộ cấu trúc văn bản tự sự thì ngược lại, ở phương thức trần thuật
với chủ thể trần thuật quyền uy “tương đối”, cấu trúc truyện thường chịu ảnh
hưởng bởi hiện tượng chủ thể trần thuật “nhường vai” cho nhiều người, nhiều
nhân vật tham gia quá trình kể chuyện
Trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), mặc dù có nhiều hình tượng
chủ thể trần thuật chia sẻ quyền phát ngôn, chia sẻ điểm nhìn với những trải
nghiệm riêng, cách nhìn nhận về cuộc sống, con người riêng nhưng lại thống
nhất trong quan niệm, lập trường tư tưởng Nhìn tổng thể, đó là những mảnh
ghép của bức tranh hội tụ nhiều sắc thái tình cảm yêu nước, sự trân trọng giá
trị truyền thống con người Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử đầy biến động
1.2.1.3 Các mức độ của hiện tượng nhường vai trong quá trình trần
thuật
a) “Nhường vai” tương đối
Nhường vai trần thuật ở mức độ tương đối thường xảy ra trong quá trình
trần thuật khi có nhiều người kể chuyện xưng “tôi”, hoặc nhiều nhân vật thay
phiên nhau kể lại một sự kiện trong một phân đoạn nào đó của truyện
b) “Nhường vai” tuyệt đối
Nhường vai tuyệt đối trong quá trình trần thuật là hiện tượng nhân vật
được trao quyền trần thuật hoàn toàn Bên cạnh việc xác lập chủ thể trần thuật
độc quyền, để đáp ứng yêu cầu phản ánh thực tại thời đại, các nhà văn Nam
Bộ (1945 – 1975) xác lập thêm hình tượng chủ thể trần thuật chia sẻ quyền
phát ngôn với vị thế, vai trò khác nhau trong quá trình trần thuật Kiểu chủ thể
trần thuật này được các nhà văn tạo ra mang dấu ấn đặc thù của thời đại
1.2.2 Các dạng thức chủ thể trần thuật
1.2.2.1 Tác giả là người trần thuật
Hình thức tác giả hiển thị đóng vai trò chủ thể trần thuật xuất hiện trong
một số truyện ngắn thuộc nhiều nguồn cảm hứng khác nhau như Chuyện rừng tràm, Hết thời oanh liệt (Sơn Nam), Đất (Anh Đức), Cuôi ba dùm (Vũ Hạnh),
Mỹ Thơ (Trang Thế Hy), Sắc trời (Thanh Tâm Tuyền),… phương thức lựa
chọn tác giả làm chủ thể trần thuật để toàn quyền thể hiện mục tiêu tư tưởng, nghệ thuật khác nhau
1.2.2.2 Người trần thuật ẩn tàng (tác giả ẩn tàng)
Người trần thuật ẩn tàng (người trần thuật ngôi thứ ba) là kiểu chủ thể trần thuật không xưng tên mà ở phía sau nó là nhà văn – chủ thể trần thuật đích thực – nắm toàn quyền quyết định mọi vấn đề xung quanh quá trình kể
Các truyện ngắn có cảm hứng yêu nước, cảm hứng dân tộc như Bút máu (Vũ Hạnh), Sắc lụa Trữ La (Viễn Phương), Ông lão gác mõ (Việt Hà), Người tị nạn (Lê Vĩnh Hòa), Những đứa con thương của đất mẹ, Rừng mắm (Bình Nguyên Lộc), Giấc mơ ông lão vườn chim (Anh Đức), Quán rượu người câm
(Nguyễn Quang Sáng),… đều có chủ thể trần thuật là người thứ ba hàm ẩn, không xưng tên, thực hiện việc kể chuyện theo điểm nhìn của chính mình Câu chuyện diễn ra một cách “tự nhiên” theo lời kể của một người kể “vô hình” Với các truyện phi sử thi, phương thức sử dụng người trần thuật ngôi
thứ ba lại có các truyện về đề tài thế sự như Ba con cáo (Bình Nguyên Lộc), Lòng trần (Thụy Vũ), Thương hoài ngàn năm (Võ Phiến), Hang động mới (Phan Du), Tư (Thanh Tâm Tuyền),… hay có đề tài tìm về những giá trị cội nguồn dân tộc như Bà Mọi hú (Bình Nguyên Lộc), Hai cõi U Minh (Sơn Nam), Viên đội hầu (Nguyễn Văn Xuân),…
Trang 5Cách lập xác lập chủ thể trần thuật là người thứ ba hàm ẩn với quyền
năng tối thượng trong những truyện này nhằm bảo vệ sự đứng vững của chủ
đề như ý muốn của nhà văn đã được kí thác vào tác phẩm
1.2.2.3 Nhân vật là người trần thuật: có ba dạng:
- Dạng cố định, chỉ một nhân vật kể lại tất cả mọi việc, chủ thể của các
hành động kể, tả, bình, tiêu biểu là Con Tám Cù Lần, Tình thơ dại (Bình
Nguyên Lộc), Tiếng hò trong đêm vắng của Phi Vân, Áo lụa giồng, Thèm thơ
(Trang Thế Hy), Chiếc áo thiên thanh, Vòng hoa tang (Lê Vĩnh Hoà),…
- Dạng thức bất định với nhiều nhân vật trong truyện cùng tham gia vào
quá trình kể như trường hợp: Chuyện rừng tràm (Sơn Nam), Một chuyến đò
xuôi (Lê Vĩnh Hoà), Nợ nước mắt (Trang Thế Hy), Đất, Khói (Anh Đức),
- Dạng đa thức là hình thức có nhiều nhân vật cùng nhau kể một sự việc.
Đối với dạng trần thuật được thực hiện bởi nhiều nhân vật, mỗi người kể
chuyện là một chủ thể nhận thức mang điểm nhìn và quan niệm khác nhau về
hiện thực, tiêu biểu là Cành tre cũ cặp giò xưa (Phi Vân) Câu dầm (Bình
Nguyên Lộc),
1.2.2.4 Mối quan hệ giữa “Người kể” với “Người nghe”/“người đọc”
và ý thức hướng tới người tiếp nhận
Những tầng bậc giao tiếp giữa tác giả hư cấu (trong vai người kể chuyện)
với độc giả hư cấu (trong vai người nghe chuyện) đã tạo ra hai loại hình người
nghe chuyện trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) Đó là người nghe
chuyện “chức năng” – xuất hiện thoáng qua như một thủ pháp kĩ thuật – và
người nghe chuyện xuất hiện với tư cách là nhân vật trong truyện Việc nghiên
cứu người nghe chuyện ngoài việc giúp ta hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động
và ý nghĩa của tác phẩm tự sự Nó còn là một cánh cửa hé mở soi rọi thế giới
tâm hồn và khát vọng của con người trong cuộc tìm kiếm các mối tương giao tinh thần giữa người và người qua những chặng đường lịch sử
1.3 Điểm nhìn trần thuật và các dạng thức phổ biến của điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
1.3.1 Điểm nhìn theo xu hướng cá thể hóa
- Điểm nhìn cá thể hóa tuyệt đối của người kể chuyện dị sự thể hiện ở
việc người kể chọn vị trí, chỗ đứng riêng để quan sát và kể lại những điều mình nghe thấy, nhìn thấy với giọng kể khách quan không biểu cảm, tập trung nhiều ở những truyện ngắn có xu hướng phi sử thi với đề tài thế sự Người kể chuyện dị sự đề cập đến những vấn đề thế sự như tình yêu, đạo đức, các giá trị, cách ứng xử, sự tha hóa,… dưới góc nhìn đặt trên lập trường khách quan,
tiêu biểu cho điểm nhìn này là Trao thân con khỉ mốc (Phi Vân), Dọc đường (Thanh Tâm Tuyền), Lòng trần (Nguyễn Thị Thụy Vũ),…
- Điểm nhìn người kể chuyện dị sự có khi được xen kẽ với điểm nhìn nhân vật với nhiều mức độ là một hiện tượng đáng chú ý khác trong nghệ
thuật trần thuật Đó là hiện tượng điểm nhìn trần thuật được dịch chuyển từ chủ thể kể chuyện sang nhân vật, phổ biến trong những truyện ngắn có tính
chất suy nghiệm như Con đường ba bậc, Bút máu (Vũ Hạnh) Ba con cáo, Xe lửa Mỹ bung vành (Bình Nguyên Lộc), hay bi kịch của con người và cuộc sống miền Nam thời chiến như Di vật (Trần Hữu Lục), Hang động mới (Phan Du), Về làng (Nguyễn Văn Xuân),…
1.3.2 Điểm nhìn theo xu hướng đối thoại, chia sẻ quan niệm, chia sẻ quyền phát ngôn
Việc chia sẻ quyền phát ngôn thường liên quan đến sự phát biểu bình đẳng các quan niệm, các xu hướng tư tưởng, các nhận thức khác nhau về cùng một vấn đề, từ đó dẫn tới sự hình thành tính đa thanh, đa điểm nhìn trong việc
Trang 6trần thuật của một tác phẩm Hiện tượng này thường xảy ra với những truyện
có đề tài thế sự như Ngày xưa tháng Chạp (Sơn Nam), Nguồn cảm mới, Thèm
thơ, Nợ nước mắt (Trang Thế Hy), Con Tám Cù Lần, Tình thơ dại (Bình
Nguyên Lộc),…
1.3.3 Kĩ thuật di chuyển điểm nhìn trần thuật và hiệu quả của nó trong
truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
1.3.3.1 Từ điểm nhìn khách quan sang điểm nhìn nội quan hóa
Sự di chuyển điểm nhìn này được thực hiện trong tác phẩm với các thủ
thuật khác nhau để thực hiện các mục tiêu nghệ thuật khác nhau Phổ biến
nhất trong kĩ thuật di chuyển điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ
(1945 – 1975) là thủ thuật tạo thế đối thoại giữa các điểm nhìn Đây còn là
một biện pháp giúp nhà văn tránh được sự thô thiển một chiều trong nhận thức
về các vấn đề của con người và cuộc sống
1.3.3.2 Di chuyển điểm nhìn và sự thay đổi các thái độ, bình diện
phản ánh, nhận thức trong truyện ngắn
Trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), có nhiều trường hợp điểm
nhìn di chuyển gắn bó với sự thay đổi những bình diện phản ánh, nhận thức
của những người tham gia kể chuyện
Tiểu kết
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 - 1975)
NHÌN TỪ THỜI GIAN TRẦN THUẬT 2.1 Những nguồn ảnh hưởng đến sự lựa chọn thời gian trần thuật trong
truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
2.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống, yếu tố bản địa đối với sự
vận động phát triển của thời gian trần thuật
2.1.1.1 Đặc điểm thời gian trần thuật trong tự sự truyền thống, qua
truyện kể bình dân Nam Bộ
Phương thức truyền khẩu sơ khai với những yêu cầu cơ bản hướng về sự tiếp nhận dễ dàng những giá trị đã được khẳng định Những giá trị đó rất cần được truyền trao, lưu giữ, từ đó dẫn tới sự thiết lập câu chuyện với trật tự hiển nhiên và đơn giản Điều này đã tác động đến sự lựa chọn thời gian trần thuật
mà trong đó, việc kể chuyện đã lướt qua các khoảng cách phức tạp giữa thời gian xảy ra sự việc với thời gian sự việc được kể lại Mục đích là nhằm hướng tới việc thiết lập một “đường truyền” thông báo trực tiếp từ người kể đến người nghe, tuân thủ nguyên tắc là càng đơn giản càng tốt, thuận tiện nhất cho việc tiếp nhận và quan trọng nhất là tiếp tục kể lại cho nhiều thế hệ sau
2.1.1.2 Thời gian trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ còn gắn bó với kiểu tự sự truyền thống
Ý thức bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống vẫn còn rất mạnh mẽ khiến một bộ phận truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) vẫn giữ lại những xác tín về giá trị đạo đức, tư tưởng Điều này đòi hỏi phải có sự thuật kể rõ ràng về
sự việc, hiện tượng để tiến tới những kết thúc minh bạch, thỏa đáng với luật nhân quả, báo ứng mà quần chúng vẫn còn đặt nhiều niềm tin vào đó Cách kết thúc nhân quả, báo ứng cần được dựa trên kiểu cốt truyện thích hợp với kiểu trần thuật truyền thống - Trần thuật theo trật tự xảy ra của sự việc, hiện tượng dẫn đến sự thuyết phục của kết thúc nhân quả
2.1.2 Ảnh hưởng của yếu tố phi bản địa đối với sự vận động phát triển của thời gian trần thuật
Do hoàn cảnh sớm lâm vào tình trạng thuộc địa, Nam Bộ cũng là nơi tiếp xúc sớm nhất với các ảnh hưởng phương Tây mà cụ thể là văn học Pháp Tư duy nghệ thuật trong văn chương Nam Bộ đã liên tiếp đón nhận nhiều luồng
Trang 7ảnh hưởng Tây phương rồi được bản địa hóa nhuần nhuyễn qua hai giai đoạn
là buổi giao thời (nửa đầu thế kỷ XX và giai đoạn sau cách mạng tháng Tám
1945 đến 1975) Với tình hình lịch sử xã hội như đã nêu trên, truyện ngắn
Nam Bộ (1945 – 1975) không chỉ đáp ứng được yêu cầu kể lại những gì đã
xảy ra mà quan trọng hơn là những nhận thức, đánh giá, những nỗi buồn niềm
đau, khát vọng hay khắc khoải, và nhất là những niềm tin, lí tưởng và hành
động của con người Việt Nam ngay khi ấy,… Tất cả được chuyển tải một
phần qua sự vận dụng các thủ thuật xử lí thời gian trong truyện ngắn
2.1.3 Sự chi phối của đặc trưng thể loại
Từ sau năm 1945, thể loại truyện ngắn mang màu sắc hiện đại trở nên
phổ biến trong văn học quốc ngữ Nam Bộ với tư thế của một thể loại có vị trí
quan trọng trên văn đàn Nghệ thuật trần thuật mang một diện mạo mới mẻ
hơn Những biến tấu của nghệ thuật thời gian trong truyện ngắn Nam Bộ sau
1945 đã làm thay đổi trục thời gian tự sự đường thẳng, đơn tuyến trước đó
2.2 Đặc điểm cấu trúc thời gian trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ
(1945 – 1975)
2.2.1 Cấu trúc trần thuật theo thời gian đơn tuyến
Tìm hiểu các dạng thức thời gian đơn tuyến trong truyện ngắn Nam Bộ
(1945 – 1975), chúng tôi nhận thấy mô hình thời gian đơn – đẳng tuyến được
sử dụng trong truyện ngắn có ý nghĩa đặc biệt trong việc phản ánh những vấn
đề của thời đại Trong đó, việc lưu giữ yếu tố truyền thống thể hiện ở: trình tự
sắp xếp trước sau theo trật tự tuyến tính, không xáo trộn; câu chuyện kể có mở
đầu, kết thúc theo qui luật trước sau hoặc nhân quả Đồng thời, yếu tố hiện đại
cũng đan xen trong mô hình này như cách phá vỡ qui cách cổ điển nhằm
hướng tới hiện đại hóa câu chuyện, phản ánh những vấn đề mang tính thời sự
2.2.2 Cấu trúc trần thuật theo thời gian đa tuyến
Cấu trúc thời gian đa tuyến trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) được thực hiện khá đặc biệt với các thủ thuật xen phối các bình diện thời gian
trong quá trình trần thuật như: xen phối thời gian biến cố với thời gian lịch sử, tiêu biểu trong Rừng mắm (Bình Nguyên Lộc), Hai cõi U Minh (Sơn Nam); xen phối thời gian biến cố (biến cố cộng đồng và biến cố cá nhân) và thời gian số phận (số phận cộng đồng và số phận cá nhân), tiêu biểu là truyện Cây đước Cà Mau (Đoàn Giỏi), Tây đầu đỏ (Sơn Nam), Nước cạn (Lê Vĩnh Hòa), Thương hoài ngàn năm (Võ Phiến), Xe lửa Mĩ bung vành (Bình Nguyên Lộc); xen phối thời gian sự kiện thực tế và thời gian nội tâm, tiêu biểu là Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Lòng trần (Nguyễn Thị Thụy Vũ),…
2.2.3 Một số kĩ thuật xử lí thời gian trần thuật
Truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) phần nào đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao, càng hiện đại của cuộc sống với kĩ thuật xử lí thời gian
trần thuật hợp lí, linh hoạt, hiệu quả như kĩ thuật đảo thuật, dự thuật, tăng tốc, trì hoãn,… trong truyện ngắn
2.3 Ý nghĩa, hiệu quả nghệ thuật của việc xử lí thời gian trần thuật 2.3.1 Hiệu quả trong việc thể hiện sự nối kết giữa cảm thức thời gian
và cảm thức số phận đời người
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ có những thành tựu trong việc thể hiện sự nối kết giữa cảm thức thời gian và cảm thức số phận đời người Những nối kết ấy cho thấy thời gian là môi trường, là điều kiện của những biến cố Sự kiện của đời người đều xảy ra trong thời gian Thời gian và
sự kiện đi song trùng cùng biến cố Biến cố tồn tại trong thời gian, tạo nên mối quan hệ giữa cảm thức thời gian và cảm thức về số phận con người cho
dù tác phẩm có cảm hứng sử thi hay cảm hứng đời tư, cảm thức thế sự
Trang 82.3.2 Ý nghĩa hiện đại hóa và làm phong phú quan niệm về thời gian
nghệ thuật
Truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) có những bước phát triển vững vàng
về nghệ thuật xử lí thời gian trần thuật Đa phần các nhà văn đều có khả năng
làm chủ khá vững vàng các thủ thuật tái cấu trúc thời gian niên đại, thời gian
sự kiện, thời gian tâm lí,… cho dù họ sáng tác với các cảm hứng thế sự, cảm
hứng đời tư hay cảm hứng sử thi
Tiểu kết
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 - 1975)
NHÌN TỪ CẤU TRÚC VÀ CHẤT LIỆU DIỄN NGÔN TRẦN THUẬT
3.1 Những nguồn ảnh hưởng đến sự định hình diễn ngôn trần thuật
trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
3.1.1 Ảnh hưởng của các yếu tố nội sinh đối với sự hình thành và
phát triển của diễn ngôn trần thuật
3.1.1.1 Ảnh hưởng của văn học cổ điển vào phương diện diễn ngôn
trong truyện ngắn – Diễn ngôn kể với mục tiêu “tải đạo”
“Tải đạo” vẫn là một sứ mệnh thiêng liêng của văn chương, nhưng
nội dung của cái “đạo” phải tải trong truyện ngắn (1945 – 1975) đã có rất
nhiều thay đổi Hiện tượng dùng lớp từ Hán Việt vẫn tồn tại như một giải
pháp cho yêu cầu thể hiện những sự kiện, vấn đề của cuộc sống và con
người trong câu kể, câu tả hoặc câu bình Việc sử dụng từ Hán Việt trong
xu hướng “bình cũ rượu mới” phục vụ những mục tiêu nghệ thuật và tư tưởng
khác nhau, còn cho thấy thái độ tiếp cận khác nhau của nhà văn trước thực tại
không ngừng biến động
3.1.1.2 Ảnh hưởng văn hóa bản địa đối với sự hình thành diễn ngôn
trần thuật
Sinh hoạt văn hóa tinh thần bản địa là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc hình thành sắc thái đặc thù của diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) Nếu ngày xưa, sự gần gũi và yêu mến “tiếng thường” đã tạo nên một đồng cảm giữa người kể với người nghe trong văn hóa kể – nghe ở Nam Bộ, thì ngày nay, lớp “tiếng thường” với những mức độ gia công đáng kể đã đạt tới những thành tựu đáng ghi nhận Tính chất trong sáng, gãy gọn và nhất là hiệu quả nghệ thuật của nó đủ sức đảm đương vai trò
là phương tiện nối kết giữa người viết với độc giả qua trung gian là văn bản kể chuyện Các loại diễn ngôn của văn bản kể chuyện vừa đậm đà bản sắc vùng miền, vừa vững vàng tiến tới một ngôn ngữ văn chương hoàn thiện
3.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố phi bản địa đối với sự biến đổi của diễn ngôn trần thuật
Những năm đầu của thế kỷ XX đến trước năm 1945, trong các sáng tác bằng chữ quốc ngữ của nhà văn Nam Bộ, bên cạnh việc sử dụng “tiếng thường”, còn có sự xâm nhập của một lớp từ gốc Pháp (của thời kỳ1945 trở về trước), và gốc Mĩ (sau năm 1954) thâm nhập vào lời ăn tiếng nói Việt Nam, đôi khi được sử dụng trong lời kể, lời tả Các lớp từ này sau đó có khi được Việt hóa, có khi bị đào thải
Các từ ngữ mới của từng thời kỳ xã hội, lịch sử với những nguồn gốc bản địa hoặc ngoại nhập đã được sử dụng để làm giàu về phương diện chất liệu và làm mới về phương diện nghệ thuật thể hiện cho ngôn ngữ văn chương Các nguồn ảnh hưởng ấy đã dẫn đến sự thay đổi rất nhiều và rất nhanh của diện mạo câu văn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
3.1.3 Sự chi phối của đặc trưng thể loại
Quá trình vận động phát triển của truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) để thích ứng với yêu cầu phản ánh những thực tại đang biến đổi cũng là quá trình
Trang 9truyện ngắn không ngừng tiếp nhận, bổ sung vào đặc trưng thể loại Điều đó
được thể hiện qua nhiều phương diện của tác phẩm như cảm hứng, chủ đề,
nghệ thuật kể và ngôn ngữ kể Diện mạo mới của truyện ngắn Nam Bộ thời kỳ
này được hình thành từ sự mới mẻ của tất cả các yếu tố trên, trong đó có diễn
ngôn trần thuật không ngừng được làm mới bằng tư duy nghệ thuật mới trong
việc sáng tạo những sắc thái thời đại cho diễn ngôn trần thuật
3.2 Diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), nhìn
từ chất liệu
3.2.1 Dấu ấn và hiệu quả của việc vận dụng khẩu ngữ địa phương
(phương ngữ) trong truyện ngắn Nam Bộ
Từ thập niên 40 trở về sau, khi “tiếng thường” đã đánh bật được áp lực
của lớp từ Hán Việt nặng nề, và cả lớp tiếng Pháp xen vào câu văn thô ráp
buổi đầu, câu văn quốc ngữ Nam Bộ dần dần hoàn thiện trong sáng tác của
các nhà văn như Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Đoàn Giỏi, Trang Thế
Hy, Nguyễn Quang Sáng,… Trong đó, phương ngữ đóng một vai trò rất quan
trọng trong nhiệm vụ tăng tính biểu cảm, tính linh hoạt, tính đặc sắc cho diễn
ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) với các chức năng
định ngữ, trạng ngữ, tu từ,… làm cho lời kể, tả, bình trở nên sống động
Các tác giả viết truyện ngắn ở Nam Bộ (1945 – 1975) cho dù thuộc xu
hướng tư tưởng nào cũng không bỏ qua cơ hội làm tăng thêm sức sống của lời
kể khi nối kết nó với chất liệu ngôn ngữ bản địa của vùng đất phương Nam
3.2.2 Hiện tượng thâm nhập hòa phối các chất liệu ngôn ngữ trong
truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
Trong giai đoạn 1945 – 1975, nhiều nhà văn đến từ các vùng miền, địa
phương khác đã cùng sống, chiến đấu và sáng tác tại các khu kháng chiến ở
Nam Bộ Từ đó, truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) có dấu hiệu của sự hòa
nhập giữa ngôn ngữ nhiều vùng miền Hiện tượng này tuy không nhiều, nhưng
có sự hiện diện đan xen của các từ địa phương miền Bắc, miền Trung và miền Nam trong diễn ngôn trần thuật Các truyện ngắn của các nhà văn như Lê Vĩnh Hòa, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng của khu vực kháng chiến; Võ Phiến, Vũ Hạnh, Thanh Tâm Tuyền và nhiều tác giả khác trong truyện ngắn
đô thị miền Nam là một hiện tượng đáng chú ý trong sự vận động phát triển của ngôn ngữ truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
3.3 Diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), nhìn
từ cấu trúc 3.3.1 Cấu trúc diễn ngôn của người kể chuyện 3.3.1.1 Diễn ngôn kể trong trần thuật
a) Lời kể khách quan
Lời kể khách quan đã hiện diện trong các truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) mặc dù cố tình giữ lại hình thức, tính chất thuần thông báo như trong truyện kể xưa, nhưng nó không phải là thông báo đơn thuần, mà thường được thực hiện theo xu hướng tiến gần đến chủ quan hóa Trong đó, dấu ấn cá nhân, cảm nhận chủ quan trước sự vật, hiện tượng, con người dần dần được ưu tiên hơn Hiện tượng này cho thấy sự vận động đổi mới không ngừng của lời kể trong quá trình hiện đại hóa thể loại
b) Lời kể chủ quan, cá thể hóa
Lời kể chủ quan là lời kể mang dấu ấn cá nhân của người kể Dấu ấn cá nhân trong quá trình thuật kể sự việc trong các truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) được thực hiện bằng nhiều thủ thuật, chẳng hạn như: việc thiết lập nhiều kiểu cú pháp sinh động để lời kể mang màu sắc biểu cảm, thể hiện cảm nhận cá nhân trước sự việc; chọn hình ảnh, chi tiết khắc họa một sự kiện; sử dụng hàng loạt từ ngữ định tính rõ ràng, thể hiện thái độ đánh giá rất dứt
Trang 10khoát; sử dụng phương thức nhân vật độc thoại, tự kể,… Trong nhiều trường
hợp, tính cá thể hóa bộc lộ một cách sâu sắc, hướng đến mục đích tạo sự đồng
cảm giữa người sáng tác và người tiếp nhận
3.3.1.2 Diễn ngôn tả trong trần thuật
a) Vai trò tạo hình của lời tả
Lời tả tạo hình trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) có ý nghĩa đặc
biệt: nhằm khẳng định những giá trị vật chất, tinh thần trong truyền thống của
một vùng đất trù phú, giàu có một thời; có khi lời tả tạo hình nhân vật, mục
đích chính là để khẳng định giá trị của cái đẹp tâm hồn, nhân cách của con
người trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt; có khi là nét phác tạo hình có
thể dẫn tới những ấn tượng cần thiết mà nhà văn muốn dọn sẵn cho tâm thế
tiếp nhận của người đọc đối với ý đồ nghệ thuật hay tư tưởng của mình
b) Vai trò biểu cảm của lời tả
Với vai trò biểu cảm, lời tả có khi để phê phán, phủ nhận hoặc dự báo
Khi cảm quan cá nhân trong truyện ngắn hiện đại ngày càng được tôn trọng,
thái độ của nhà văn trước đối tượng có nhiều cơ hội để bộc lộ hơn Nhiều nhà
văn trong văn học thành thị miền Nam trực tiếp chứng kiến và chịu hưởng của
làn sóng thực dân mới có nguy cơ làm tha hóa con người Cho nên, trong
nhiều truyện ngắn của các tác giả Vũ Hạnh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam,
Trang Thế Hy,…và có khi là những tác giả không chuyên đã cho thấy tính
chất nghiêm trọng và bức xúc không thể làm ngơ của một vấn đề về con người
thời chiến tranh thực dân mới
c) Vai trò giảm tốc độ trần thuật của lời tả
Trong truyện ngắn, việc “tạm ngừng” kể để quan sát, miêu tả diện mạo
của sự vật, hiện tượng có ý nghĩa thuyết minh thêm ý nghĩa, vai trò của sự vật,
hiện tượng đang hoặc sắp được kể tiếp trong dòng tự sự Những “điểm ngừng”
này xuất hiện rất nhiều, với nhiều phương thức, lí do, và mục đích khác nhau trong truyện ngắn Nam Bộ (1945-1975)
3.3.1.3 Diễn ngôn bình trong trần thuật a) Lời bình hiển ngôn
Trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), lời bình hiển ngôn xuất hiện ở nhiều vị trí, có khi mở đầu, có khi giữa hoặc cuối truyện với mục đích khác nhau, tùy theo bối cảnh truyện kể Chẳng hạn, khi lời bình xuất hiện ở cuối tác phẩm nhằm khẳng định về giá trị cống hiến nhân lực của bao thế hệ người dân bình thường trong công cuộc khai phá đất phương Nam, ca ngợi mối tương giao sâu đậm giữa con người và thiên nhiên; có khi lời bình hiển ngôn xuất hiện ở vị trí bất kì trong chặng đường trần thuật nhằm thể hiện những suy tưởng, niềm khao khát bộc bạch của nhà văn,…
b) Lời bình hàm ngôn
Loại lời bình này trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) thường xuất hiện linh hoạt ở nhiều vị trí trong mọi chặng đường trần thuật, với nhiều biểu hiện khác nhau: có khi ở giữa chừng dòng trần thuật, lời bình là sự hé mở những bộc bạch về cuộc hành trình tìm đến với cái đẹp, cái cao thượng của một nhà văn; có khi ở đoạn kết, có thể mang ý nghĩa của lời bình về tình cảnh, tâm tư của nhân vật Lời bình hàm ngôn trong truyện ngắn nói chung rất linh hoạt về nghệ thuật thể hiện, có khi qua miêu tả, độc thoại, đối thoại,… ẩn chứa sự đánh giá, phê phán hay ca ngợi, khẳng định cần thiết mà tác giả muốn thể hiện trong tác phẩm
3.3.2 Cấu trúc diễn ngôn của nhân vật 3.3.2.1 Diễn ngôn đối thoại
Đối thoại vẫn là một phương thức lựa chọn để góp phần xây dựng diễn ngôn toàn truyện Trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), diễn ngôn đối