Năm 2006, sau thành công của Đại hội Đảng X, nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Kinh tế ngày càng phát triển với sự đóng góp của hàng nghìn dự án đầu tư lớn nhỏ. Sự ra đời của Luật Doanh Nghiệp và Luật Đầu tư đã làm cho môi trường đầu tư trở nên thông thoáng hơn. Các dự án xin vay vốn Ngân hàng ngày càng gia tăng về cả số lượng và quy mô. Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Để giảm nợ xấu đòi hỏi Ngân hàng phải nâng cao chất lượng thẩm định và đánh giá rủi ro của dự án. Có như vậy mới đảm bảo được hiệu quả sinh lời và an tòan vốn của ngân hàng. Nếu như quyết định cho vay của ngân hàng không dựa trên chất lượng thẩm định và đánh giá rủi ro được bảo đảm tốt thì nguy cơ mất vốn là rất cao.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006, sau thành công của Đại hội Đảng X, nền kinh tế nước ta ngày
càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Kinh tế ngày càng phát triển
với sự đóng góp của hàng nghìn dự án đầu tư lớn nhỏ Sự ra đời của Luật
Doanh Nghiệp và Luật Đầu tư đã làm cho môi trường đầu tư trở nên thông
thoáng hơn Các dự án xin vay vốn Ngân hàng ngày càng gia tăng về cả số
lượng và quy mô Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể
làm cho nợ xấu gia tăng khi môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết
các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối
mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Đểgiảm nợ xấu đòi hỏi Ngân hàng phải nâng cao chất lượng thẩm định và đánh
giá rủi ro của dự án Có như vậy mới đảm bảo được hiệu quả sinh lời và an
tòan vốn của ngân hàng Nếu như quyết định cho vay của ngân hàng không
dựa trên chất lượng thẩm định và đánh giá rủi ro được bảo đảm tốt thì nguy cơ
mất vốn là rất cao
Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, công tác thẩm định
và đánh giá rủi ro của dự án luôn được coi trọng Ban lãnh đạo cùng các cán
bộ Ngân hàng luôn quan tâm và có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng
thẩm định và đánh giá rủi ro dự án Tuy nhiên công tác đánh giá rủi ro của dự
án vẫn còn thiếu sót
Trang 2Với những lý do trên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu và đánh
giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây”
Kết cấu của chuyên đề gồm ba phần:
Chương I: Giới thiệu về Ngân hàng và công tác thẩm định dự án tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây
Chương II: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án
đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác
đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Tây
Qua chuyên đề tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Trần Mai;
Giám đốc NHĐT&PT Hà Tây cùng tòan thể các anh chị cán bộ phòng quan
hệ khách hàng 1 đã tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
1 NHĐT&PTV
N
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 4DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây 9
Bảng 1.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 12
Biểu đồ 1.1: Nguồn vốn huy động của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005- 2008 13 Bảng 1.2: Cơ cấu dư nợ tín dụng của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005- 2008 15
Biều đồ 2.1: Tổng dư nợ của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 16
Bảng 3.1: Kết quả thu dịch vụ của BIDV Hà Tây 2005-2008 18
Biều đồ 3.1: Tăng trưởng dịch vụ của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 18
Bảng 4.1: Kết quả kinh doanh của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 19
Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng kết quả kinh doanh của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005- 2008 20
Bảng 5.1: Số lượng và quy mô các dự án được thẩm định tại BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 21
Trang 5Bảng 6.1: Cơ cấu cho vay theo dự án phân theo ngành nghề của BIDV Hà
Tây giai đoạn 2005- 2008 21
Biểu đồ 5.1: Cơ cấu cho vay theo dự án phân theo ngành nghể của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 22
Sơ đồ 1.2: Vị trí của bước đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án tại BIDV Hà Tây 32 Sơ đồ 2.2: Quy trình cụ thể về đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án tại 33
Sơ đồ 3.2: Đánh giá tổng hợp rủi ro của dự án tại BIDV Hà Tây 36
Bảng1.2: Bảng phân tích độ nhạy 54
Bảng 2.2: Tình hình SXKD của Công ty Cổ phần Xây dựng số 9 62
Bảng 3.2: Cơ cấu Tài sản- Nguồn vốn Công ty Cổ phần xây dựng số 9 62
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu thanh toán của CTCP Xây dựng số 9 65
Bảng 5.2: Các chỉ tiêu về cơ cấu vốn Công ty Cổ phần xây dựng số 9 65
Bảng 6.2: Các chỉ tiêu khả năng hoạt động Công ty Cổ phần xây dựng 9 66
Bảng 7.2: Các chỉ tiêu khả năng sinh lợi Công ty Cổ phần xây dựng 9 66
Bảng 8.2: Tình hình quan hệ tín dụng của CTCP Xây dựng số 9 với TCTD 67
Bảng 9.2: Phân tích độ nhạy của dự án 69
Bảng 10.2: Giá trị tài sản đảm bảo của CTCP Xây dựng số 9 70
Bảng 11.2: Tình hình cho vay theo dự án đầu tư của BIDV Hà Tây 2005-2008 75 Biều đồ 1.2: Hoạt động cho vay đối với dự án đầu tư của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008 75
Trang 6Bảng 12.2: Tỷ lệ nợ quá hạn của các dự án đầu tư tại BIDV Hà Tây
giai đoạn 2005 - 2008 76
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn của các dự án đầu tư tại BIDV Hà Tây
giai đoạn 2005- 2008 76
Bảng 1.3: Kế hoạch kinh doanh năm 2009 của BIDV Hà Tây 83
Chương 1: Giới thiệu về Ngân hàng và công tác thẩm định dự án tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây
o Khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây
Quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh Hà Tây
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được thành lâp theo nghị
định số 177/TTg ngày 26/4/1957 của thủ tướng Chính Phủ, 52 năm qua ngân
hàng đã có những tên gọi:
- Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/4/1957
- Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam từ ngày 24/6/1981
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990
Ngân hàng ĐT&PTVN là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt,
được tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nước (tập đoàn) mang tính
thống nhất bao gồm hơn 112 chi nhánh và các Công ty trong toàn quốc, có 3
Trang 7đơn vị liên doanh với nước ngoài (2 ngân hàng và một công ty), hùn vốn với
5 tổ chức tín dụng
Trọng tâm hoạt động và là nghề nghiệp truyền thống của
NHĐT&PTVN là phục vụ đầu tư phát triển, các dự án thực hiện các chương
trình phát triển kinh tế then chốt của đất nước Thực hiện đầy đủ các mặt
nghiệp vụ của ngân hàng phục vụ các thành phần kinh tế, có quan hệ chặt
chẽ với các Doanh nghiệp, Tổng công ty NHĐT&PTVN không ngừng mở
rộng quan hệ đại lý với hơn 400 ngân hàng và quan hệ thanh toán với 50
ngân hàng trên thế giới
NHĐT&PTVN là một ngân hàng chủ lực thực thi chính sách tiền tệ
quốc gia và phục vụ đầu tư phát triển Quá trình 52 năm xây dựng và trưởng
thành và phát triển luôn gắn liền với từng giai đoạn lịch sử của đất nước
Qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần đắc
lực cùng toàn ngành Ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và phát
triển kinh tế xã hội của đất nước Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của
công nghệ và tri thức, với hành trang truyền thống 52 năm phát triển, Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tự tin hướng tới những mục tiêu và ước
vọng to lớn hơn trở thành một Tập đoàn Tài chính Ngân hàng có uy tín trong
nước, trong khu vực và vươn ra thế giới
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây là một chi nhánh của
NHĐT&PT Việt Nam, được thành lập vào ngày 1/6/1990 Trong hoạt động
Trang 8kinh doanh, NHĐT&PT Hà Tây luôn theo sát sự chỉ đạo của Hội đồng quản
trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cũng như những chủ trương,
chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và của ngành, đồng thời đặt mục
tiêu hiệu quả và an toàn trong kinh doanh, đáp ứng cao nhất nhu cầu của
khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ với chi phí thấp nhất từ đó phát triển
vững chắc chi nhánh, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ nhân
viên
Nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình, trong những năm
qua NHĐT&PT Hà Tây đã vượt qua những khó khăn thử thách để vươn lên
đứng vững, đổi mới, phát triển không ngừng Qua đó, niềm tin và uy tín của
NHĐT&PT Hà Tây ngày một tăng lên, số lượng khách hàng quan hệ với
ngân hàng ngày càng được mở rộng, vốn huy động luôn đáp ứng được nhu
cầu của các thành phần kinh tế trong sản xuất kinh doanh, nhiều dự án và
công trình do NHĐT&PT Hà Tây đầu tư và cho vay vốn đã đem lại hiệu quả
thiết thực góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Sự phát triển và đóng góp của NHĐT&PT Hà Tây đã được ghi nhận
bằng Huân chương lao động Hạng Ba và Huân Chương lao động Hạng Nhì
do Nhà nước trao tặng và nhiều bằng khen của Đảng, các Bộ, Ngành, Tỉnh
uỷ, UBND tỉnh Hà Tây
Trụ sở chính của NHĐT&PT Hà Tây đặt tại 197 Quang Trung –
Thành phố Hà Đông – tỉnh Hà Tây
Trang 9
1.1.2 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức bộ máy NHĐT&PT Hà Tây gồm: Bam giám đốc, 10
phòng nghiệp vụ và 2 Điểm giao dịch, 6 Quỹ Tiết kiệm với trên 100 cán bộ công
nhân viên
Trang 10Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây
Ban giám đốc: Chịu trách nhiệm với pháp luật và Hội sở chính về
toàn bộ hoạt động kinh doanh, trực tiếp điều hành mọi hoạt động của
NHĐT&PT Hà Tây
việc Giám đốc chi nhánh xây dựng kế hoạch, chương trình công tác, các biện
pháp, giải pháp triển khai nhiệm vụ thuộc chức năng nhiệm vụ được phân
giao, các văn bản hướng dẫn, pháp chế thuộc lĩnh vực nghiệp vụ được giao;
làm công tác tiếp thị, phát triển quan hệ khách hàng và tín dụng
hoạch phát triển quan hệ khách hàng doanh nghiệp, cá nhân, trực tiếp tiếp thị
BAN GIÁM ĐỐC
Khối tác nghiệp
Khối nội bộ
Trang 11và bán sản phẩm Chịu trách nhiệm đầy đủ về tìm kiếm khách hàng, phát
triển hoạt động tín dụng, nâng cao hoạt động của Chi nhánh, tối ưu hóa
doanh thu nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách và mức
độ chấp nhận rủi ro của Ngân hàng
Phòng quản lý rủi ro: Tham mưu đề xuất chính sách biện pháp phát
triển và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng Quản lý, giám sát phân tích
đánh giá rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục tín dụng của Chi nhánh, duy trì và
áp dụng hệ thống đánh giá xếp hạng tín dụng vào việc quản lý danh mục
Giám sát việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tổng hợp kết quả
phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro gửi phòng hành chính kế toán để
lập bảng cân đối kế toán theo quy định
Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp: Trực tiếp quản lý tài
khoản và giao dịch với khách hàng là doanh nghiệp: bán quản lý tài khoản
thu thập thông tin khách hàng và hạch toán kế toán các giao dịch với khách
hàng Thực hiện công tác phòng chống rửa tiền đối với các giao dịch phát
sinh theo quy định của nhà nước
Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân: Trực tiếp quản lý tài khoản và
giao dịch với khách hàng là cá nhân, thực hiện công tác phòng chống rửa
tiền đối với các giao dịch phát sinh theo quy định của nhà nước
Quỹ tiết kiệm: Trực tiếp giao dịch với khách hàng, huy động vốn,
chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn do BIDV uy quyền hoặnc phân cấp
cho chính quỹ tiết kiệm đó phát hành, cung cấp dịch vụ Ngân hàng
Trang 12Phòng giao dịch: Trực tiếp giao dịch với khách hàng, huy động vốn,
tín dụng, cho vay cầm cố bằng thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá do bidv phát
hành, trái phiếu chính phủ tín phiếu kho bạc Cho vay đối với khách hàng
theo quy định của pháp luật, của BIDV và trong hạn mức cho vay một khách
hàng bằng VNĐ hoặc ngoại tệ quy đổi tương đương
Phòng kế hoạch tổng hợp: Thu thập thông tin phục vụ công tác kế
hoạch tổng hợp Tham mưu xây dựng kế hoạch phát triển và kế hoạch kinh
doanh Giúp giám đốc quản lý đánh giá tổng thể hoạt động kinh doanh của
Chi nhánh
Phòng tổ chức hành chính: Đầu mối tham mưu, đề xuất giúp giám
đốc về triển khai thực hiện công tác tổ chức nhân sự và phát triển nguồn
nhân lực tại Chi nhánh Thực hiện công tác văn thư theo quy định: quản lý,
lưu trữ hồ sơ, tài liệu, công văn đi đến theo đúng quy trình, quy chế bảo mật
Thực hiện công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài sản cố định, cơ sở vật
chất, trang thiết bị, công cụ lao động phương tiện vận tải phục vụ hoạt động
kinh doanh của Chi nhánh
Phòng tài chính kế toán: Quản lý và thực hiện công tác hạch toán kế
toán chi tiết Thực hiện chế độc báo cáo kế toán, công tác quyết toán của Chi
nhánh theo đúng quy định của nhà nước và của BIDV Chịu trách nhiệm về
tính đúng đắn, chính xác, kịp thời hợp, trung thực của số liệu kế toán báo cáo
kế toán, báo cáo tài chính Phản ánh đúng hoạt động kinh doanh của Chi
nhánh theo đúng chuẩn mực kế toán và các quy định của nhà nước và của
Trang 13BIDV Đảm bảo an toàn tài sản tiền vốn của ngân hàng và khách hành thông
qua công tác hậu kiểm và kiểm tra thực hiện chế độ kế toán, chế độ tài chính
của đơn vị trong Chi nhánh
Phòng quản lý và dịch vụ kho quỹ: Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ về
quản lý kho và xuất/ nhập quỹ Chịu trách nhiệm đề xuất, tham mưu với
Giám đốc Chi nhánh về các biện pháp, điều kiện đảm bảo an toàn kho, quỹ
và an ninh tiền tệ; phát triển các dịch vụ về kho quỹ, thực hiện đúng quy chế,
quy trình quản lý kho quỹ Chịu trách nhiệm hoàn toàn về đảm bảo an toàn
kho quỹ và an ninh tiền tệ, bảo đảm an toàn tài sản xủa Chi nhánh/BIDV và
của khách hàng theo dõi, tổng hợp, lập các báo cáo tiền tệ, an toàn kho quỹ
theo quy định
Tình hình kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hà Tây trong giai đoạn 2005- 2008
Trong những năm qua, thị trường tài chính Việt Nam có rất nhiều biến
động Số lượng các Ngân hàng, chi nhánh văn phòng đại tăng lên làm cho
cuộc chạy đua trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ngày càng gay gắt, hay sự
biến động của thị trường vào cuối năm 2007, năm 2008 với tình hình lạm
phát khá nghiêm trọng Mặc dù gặp nhiều khó khăn từ thị trường cũng như
từ phía chủ quan NH, song BIDV Hà Tây vẫn bám sát mục tiêu kinh doanh,
phấn đấu không ngừng và đạt được kết quả kinh doanh như sau:
Trang 14Ban lãnh đạo NHĐT&PTVN Hà Tây luôn xác định công tác huy
động vốn là nhiệm vụ trọng tâm Chi nhánh thường xuyên nâng cao chất
lượng phục vụ khách hàng, đổi mới tác phong giao dịch Đồng thời,
NHĐT&PT Hà Tây cũng luôn bám sát lãi suất của thị trường để điều chỉnh
lãi suất linh hoạt, phù hợp Chi nhánh huy động vốn bằng nhiều hình thức
như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm lãi suất bậc thang, phát hành kỳ phiếu,
khuyến mại bằng hiện vật, tặng quà, tăng cường quảng cáo, tiếp thị trên các
phương tiện thông tin đại chúng Chi nhánh cũng đồng thời chủ động mở
rộng mạng lưới giao dịch Năm 2004 mở 1 điểm giao dịch tại phường Thanh
Xuân Bắc- quận Thanh Xuân Năm 2007 mở mới 1 điểm giao dịch tại khu
làng nghề Dương Nội – La Phù
Nhờ thực hiện các biện pháp trên, nguồn vốn huy động của
NHĐT&PT Hà Tây tăng trưởng đểu và ổn định
Bảng 1.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại BIDV Hà Tây
giai đoạn 2005-2008
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2005
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Số
tiề n
Tỷ trọn g
Số tiền
Tỷ trọn g
Số tiền
Tỷ trọn g
Số tiền
Tỷ trọn g Nguồn vốn huy động
114 0
100 1496 100
167 7
100 2476 100
Trang 15 Phân loại theo
tiền
114 0
100 1496 100
167 7
100 2476 100
80,2
61248
16,5
8197
11,7
5265
100 1496 100
167 7
100 2476 100
22,0
2456
30,4
8690
41,1
41224
38,6
4971
61,5
0861
51,3
41052
28,0
7376
22,4
2430
33,4
3485
28,9
2622
Trang 16Nguồn: Phòng Kế hoạch Tổng hợp chi nhánh BIDV Hà Tây
Biểu đồ 1.1: Nguồn vốn huy động của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005- 2008
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 17Qua bảng số liệu ta có thể thấy quy mô nguồn vốn huy động của
NHĐT&PT Hà Tây không ngừng tăng của các năm Tổng nguồn vốn cuối
kỳ tăng từ 1140 tỷ đồng năm 2005 lên 2476 tỷ đồng năm 2008 Trong tổng
nguồn vốn huy động phân theo thành phần kinh tế cả nguồn tiền gửi của dân
cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức tài chính đều tăng lên Nguồn tiền gửi
của các tổ chức kinh tế tăng từ 251 tỷ đồng năm 2005 lên 1224 tỷ đồng năm
2008; của dân cư là: 779 tỷ đồng năm 2005 lên 1052 tỷ đồng năm 2008, của
tổ chức xã hội và tài chính là: 110 tỷ đồng năm 2005 lên 200 tỷ đồng năm
2008 Tốc độ tăng trưởng về nguồn tiền gửi của TCKT tăng mạnh hơn so với
nguồn tiền gửi của dân cư và các tổ chức tài chính, cho thấy Chi nhánh đang
tích cực thu hút vốn từ các TCKT, tạo được uy tín để thu hút nhiều đơn vị
kinh tế giao dịch với Ngân hàng, góp phần tăng cường vào nguồn vốn của
Ngân hàng Tuy nhiên, tỷ trọng giữa nguồn tiền ngắn hạn và trung hạn có sự
khác nhau giữa các tổ chức kinh tế, dân cư, và tổ chức xã hội, tài chính Các
Trang 18tổ chức kinh tế có nguồn tiền gửi ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với
nguồn tiền gửi dài hạn, do tính chất kinh doanh của doanh nghiệp cần vốn
linh động khi cần thiết Cụ thể, qua 4 năm, tỷ lệ nguồn ngắn hạn so với tổng
nguồn tiền gửi của TCKT như sau: 19,82% năm 2005; 23,39% năm 2006;
38,64% năm 2007; 39,22% năm 2008 Còn đối với tiền gửi dân cư và các tổ
chức xã hội, tài chính, do có tính chất nhàn rỗi hơn, nên dân cư gửi dài hạn
nhiều để hưởng lãi suất tiết kiệm cao hơn Cụ thể, tỷ lệ nguồn tiền gửi ngắn
hạn so với tổng tiền gửi dân cư là: 23,77% năm 2005; 28,07% năm 2006;
22,42% năm 2007; 17,37% năm 2008, tỷ lệ nguồn tiền gửi dài hạn so với
tổng tiền gửi của tổ chức xã hội và tài chính là: 9,56% năm 2005; 8,02%
năm 2006; 7,25% năm 2007; 8,075% năm 2008
Trong tổng nguồn vốn phân theo loại tiền, ta thấy cả Việt Nam đồng
và ngoại tệ đều tăng Cụ thể nguồn tiền gửi Việt Nam đồng có sự gia tăng rõ
rệt từ 915 tỷ đồng năm 2005 lên 2211 năm 2008, của ngoại tệ là 225 tỷ đồng
năm 2005 lên 265 tỷ đồng năm 2008 Trong thời gian tới, Chi nhánh sẽ mở
rộng thêm việc huy động tiền gửi bằng ngoại tệ
Công tác huy động vốn của Ngân hàng có được những thành tựu trên
là do:
BIDV Hà Tây luôn củng cố, tăng cường và phát huy mối quan hệ
chặt chẽ với các đơn vị khách hàng truyền thống như bảo hiểm, quỹ hỗ trợ
phát triển, hệ thống kho bạc trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, Ngân hàng luôn
mở rộng quan hệ khách hàng mới
Trang 19 Chi nhánh đã phát huy tối đa vai trò của công cụ lãi suất, luôn nắm
bắt được sự biến động lãi suất trên thị trường, xây dựng biểu lãi suất một
cách linh hoạt, phù hợp trong phạm vi quyền hạn được phép để vừa có thể
thu hút được các khách hàng mới, vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh
Chi nhánh luôn có những kế hoạch tiếp thị, quảng cáo, mở rộng các
sản phẩm huy động vốn, đáp ứng nhu cầu khách hàng, tạo dựng hình ảnh và
nâng cao vị thế của Chi nhánh như triển khai chương trình tiết kiệm dự
thưởng, tặng quà khuyến mại, nạp tiền điện thoại qua ATM và SMS…
Chi nhánh còn chủ động mở rộng mạng lưới để có thể đáp ứng tối
đa nhu cầu của khách hàng, từng bước chiếm lĩnh thị trường kinh doanh,
nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ
Trong thời gian qua, chính sách tín dụng của Ngân hàng có nhiều thay
đổi:
- Ngân hàng xây dựng từng nhóm, từng đối tượng khách hàng đều được
thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, phân loại để có những chính sách,
định hướng quan hệ tín dụng phù hợp
Từ chỗ ưu tiên cho vay trung dài hạn, cho vay các doanh nghiệp lớn
thuộc thành phần kinh tế nhà nước, cho vay thi công xây lắp là chính, nay Ngân
hàng chuyển sang tập trung cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp thuộc
Trang 20các ngành nghề khác có hiệu quả cao và giảm dư nợ theo chỉ định kế hoạch của
nhà nước
Đẩy mạnh công tác tiếp thị, tiếp cận với những khách hàng có tiềm
năng tốt
Duy trì hệ thống lãi suất linh hoạt theo nguyên tắc lãi suất cho vay
được dự phòng rủi ro và có lãi
Nhờ có sự điều chỉnh về công tác tín dụng, Chi nhánh đã đạt được
Nă m 200 6
Năm 2007
Nă m 200 8
Chênh lệch 2006/200 5
Chênh lệch 2007/200 6
Chênh lệch 2008/200
7 Số
tiền
Số tiền
Số tiền
Số tiền
CL
TL (%)
CL
TL (%)
CL
TL (%)
110 4 1338
164 7
18 8
20,5 2
23 4
21,1 9
30 9
23,0 9
164 7
18 8
20,5 2
23 4
21,1 9
30 9
23,0 9
104
986
2
Trang 21164 7
18 8
20,5 2
23 4
21,1 9
30 9
23,0 9
164 7
18 8
20,5 2
23 4
21,1 9
30 9
23,0 9
Trang 22Biều đồ 2.1: Tổng dư nợ của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008
Đơn vị: tỷ
đồng
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng dư nợ tăng trưởng đều qua các năm
Tổng dư nợ của Chi nhánh trong thời gian qua tăng 916 tỷ đồng năm 2005
lên 1647 tỷ đồng năm 2008 Tốc độ tăng trưởng trong thời gian qua là
20,52% năm 2006; 21,2% năm 2007; 23;09% năm 2008 Có được sự tăng
trưởng trên là do tăng cả về doanh số cho vay và doanh số thu nợ Điều này
cho thấy tình hình tín dụng của Chi nhánh tương đối tốt
Trang 23Trong tổng dư nợ phân theo thời gian, ta thấy dư nợ ngắn hạn chiếm
tỷ trọng lớn hơn trong tổng dư nợ, cụ thể qua 4 năm: 54,80% năm 2005;
53,26 năm 2006%; 57,40% năm 2007; 63,69% năm 2008 Ngân hàng cho
vay ngắn hạn nhiều hơn cho vau dài hạn nhằm đảm bảo an toàn chính sách
tín dụng, tăng tốc độ quay vòng của vốn và giảm rủi ro
Trong tổng dư nợ phân theo loại tiền ta thấy cả Việt Nam đồng và
ngoại tệ đều tăng Cụ thể dư nợ tín dụng Việt Nam đồng tăng từ 809 tỷ đồng
năm 2005 lên 1536 tỷ đồng năm 2008, ngoại tệ tăng từ 107 tỷ đồng năm
2005 lên 111 tỷ đồng năm 2008
Trong tổng dư nợ phân theo thành phần kinh tế thì Ngân hàng đang
mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, dư nợ tín dụng
tăng dần qua các năm từ 156tỷ đồng năm 2005 lên 510 tỷ đồng năm 2008
Tuy nhiên cho vay quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ do
mối quan hệ từ trước sẵn có Mặc dù dư nợ quốc doanh tăng lên qua các năm
nhưng tốc độ tăng chậm dần Cụ thể năm 2006 tăng 22.63% so với năm 2005
nhưng năm 2007 chỉ tăng 1.5% so với năm 2006 và năm 2008 chỉ tăng
20,19% so với năm 2007 Đây là xu hướng tất yếu của Ngân hàng hiện nay
trong cạnh tranh khi mà Ngân hàng muốn đáp ứng tối đa nhu cầu của khách
hàng khi nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế
thế giới
Hoạt động dịch vụ
Trang 24Hoạt động dịch vụ của Chi nhánh chủ yếu là bảo lãnh, thanh toán và
một số dịch vụ khác như dịch vụ trả lương tự động, dịch vụ thấu chi, dịch vụ
chuyển tiền Wester Union Thu từ hoạt động dịch vụ hiện vẫn chiếm tỷ trọng
thấp trong tổng thu của Ngân hàng Tuy nhiên, Chi nhánh nhận thấy tầm
quan trọng của công tác phát triển dịch vụ và khơi tăng nguồn thu dịch vụ
(phấn đấu chiếm 20% trong tổng thu nhập) và dần theo hướng mô hình, cơ
cấu thu của một Ngân hàng hiện đại Trong những năm gần đây, nhiều giải
pháp và kế hoạch phát triển dịch vụ đã được triển khai như:
ngân hàng theo chỉ đạo của NH ĐT&PTVN, phù hợp với thực tế khách hàng
tại địa bàn
Ngân hàng, chú trọng phát triển các loại hình dịch vụ mới như thẻ, Phone
Banking, Home Banking, dịch vụ kiều hối… nhằm tăng doanh thu và thu hút
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi qua thanh toán
Ngân hàng để góp phần thúc đấy mở rộng các loại hình dịch vụ
Nhờ thực hiện các giải pháp trên, Chi nhánh đã thu được các kết quả
về dịch vụ như sau:
Trang 25Bảng 3.1: Kết quả thu dịch vụ của BIDV Hà Tây 2005-2008
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Nă m 200 5
Nă m 200 6
Nă m 200 7
Năm 2008
Chênh lệch 2006/2005
Chênh lệch 2007/2006
Chênh lệch 2008/2007 Số
tiền
Số tiền
Số tiền
Số tiền
CL
TL (%)
CL
TL (%)
CL
TL (%)
13,6
7
176,1
64,13
23,8
7
Cơ cấu thu
dịch vụ ròng
Trang 26Nguồn: Phòng Kế hoạch và Nguồn vốn Chi nhánh BIDV Hà Tây
Biều đồ 3.1: Tăng trưởng dịch vụ của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008
Trang 27Qua bảng số liệu trên ta thấy thu dịch vụ ròng của thu dịch vụ ròng
của Chi nhánh có sự gia tăng hàng năm, cụ thể từ 5,2 tỷ đồng năm 2005 lên
21,43 tỷ đồng năm 2008 Tuy năm 2006 sự tăng trưởng của dịch vụ nhỏ hơn
tốc độ tăng trưởng trong năm 2005, nhưng năm 2007 lại có sự tăng trưởng vượt
bậc, hơn gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng năm 2006
Về hoạt động phát hành thẻ, trong 2 năm 2005- 2006, Chi nhánh đã
lắp đặt mới 3 máy rút tiền tự động, phát hành được 9950 thẻ, vượt chỉ tiêu
được giao 232%, thu phí phát hành thẻ ATM là 153 triệu đồng Năm 2007
triển khai tiếp nhận và lắp thêm 3 máy ATM mới, nâng tổng số máy lên 6
máy ATM với số thẻ phát hành khoảng trên 12.000 thẻ và thu phí phát hành
được 78 triệu đồng
Về hoạt động kinh doanh ngoại tệ: tuân thủ đúng các quy định, đáp
ứng đầy đủ
nhu cầu mua bán ngoại tệ Kết quả năm 2005 doanh số mua bán ngoại tệ đạt
12.900.000 USD, thu lãi 434 triệu đồng, tăng 157% so với năm 2004 Năm
2006 doanh số mua bán ngoại tệ đạt 14.600.000 USD, thu lãi gần 523 triệu
đồng, tăng 110% so với năm 2006 Năm 2008 thu ngoại tệ đạt 2.268.000
USD
Kết quả hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của BIDV Hà Tây trong những năm qua đạt kết
quả tốt, thể hiện ở lợi nhuận của Chi nhánh năm sau cao hơn năm trước
Trang 28Bảng 4.1: Kết quả kinh doanh của BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008
Chỉ tiêu
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Trang 29Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng kết quả kinh doanh của BIDV Hà Tây
giai đoạn 2005- 2008
Qua báo cáo kết quả kinh doanh trên ta thấy kết quả kinh doanh của Chi
nhánh qua các năm đều có sự tăng gia tăng: năm 2005 tăng 17% so với năm
2004, năm 2006 tăng 46% so với năm 2005, năm 2007 tăng 37% so với năm
Trang 302006 và năm 2008 tăng 42% so với năm 2007 Năm 2006 có sự tăng trưởng vượt
bậc, trong hai năm 2007 và 2008 mặc dù vẫn có sự tăng trưởng nhưng tốc độ
chậm hơn so với năm 2007 là do sự cạnh tranh gay gắt, ngày càng có nhiều ngân
hàng và chi nhánh ra nhập thị trường, bên cạnh đó là do tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu Qua đây ta có thể thấy được sự nỗ lực, cùng các biện
pháp hợp lý của ban lãnh đạo Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh nhằm phát
triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh, đưa kết quả kinh doanh tăng rõ rệt qua
Trọng tâm hoạt động và là nghề nghiệp truyền thống của BIDV Hà
Tây là phục vụ đầu tư phát triển các dự án thực hiện các chương trình phát
triển kinh tế then chốt của đất nước Ngân hàng cũng đã thực hiện rất thành
công nghiệp vụ này Trong những năm gần đây, hoạt động cho vay theo dự
án tại Ngân hàng là một hoạt động mang lại nguồn lợi lớn của Ngân hàng
Bảng 5.1: Số lượng và quy mô các dự án được thẩm định tại
BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008
Trang 31Chỉ tiêu
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Qua bảng số liệu trên ta thấy số dự án thẩm định cũng như số dự án
được tài trợ và dư nợ cho vay theo dự án liên tục tăng mạnh qua các năm
Trong đó có nhiều dự án lớn như dự án đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật khu
đô thị Nam An Khánh với số vốn đầu tư lên đến 300 tỷ đồng, dự án xây
dựng nhà máy nước Nam Sách -Hải Dương với vốn đầu tư là 250 tỷ đồng
1.2.2 Đặc điểm các dự án
Trong số các dự án mà Ngân hàng thẩm định thì dự án trong lĩnh vực
xây lắp chiếm tỷ trọng lớn
Bảng 6.1: Cơ cấu cho vay theo dự án phân theo ngành nghề của
BIDV Hà Tây giai đoạn 2005- 2008
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 32Nguồn : Phòng Kế hoạch và Nguồn vốn Chi nhánh BIDV Hà Tây
Biểu đồ 5.1: Cơ cấu cho vay theo dự án phân theo ngành nghề tại BIDV Hà Tây giai đoạn 2005-2008
Trang 33Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy: hiện tại, khách hàng chủ yếu của
NHĐT&PT Hà Tây vẫn là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây
lắp Đây được xem là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao do các doanh nghiệp xây
lắp hoạt động trên những địa bàn đa dạng, đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời
gian sử dụng vốn dài; nhiều công trình thi công phức tạp cao về kỹ thuật, giá
cả nguyên vật liệu thường xuyên biến động…và đặc biệt khả năng thất thoát
vốn của lĩnh vực này cao Sự thất thoát còn nhiều nguyên nhân như: Hệ
thống chính sách pháp luật về đầu tư – xây dựng chưa đồng bộ; công tác
quản lý nhà nước thiếu chặt chẽ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng; công tác
thanh tra kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu Cơ chế đấu thầu thi công
chưa mang lại hiệu quả thực chất; trình độ, ý thức trách nhiệm của cán bộ
quản lý, kỹ sư, công nhân còn nhiều hạn chế Chính vì vậy mà công tác đánh
giá rủi ro trong thẩm định dự án là rất cần thiết
1.2.3 Sự cần thiết phải đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án
Ngân hàng thương mại (NHTM) là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ,
có những đặc thù riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính Cũng giống như
các doanh nghiệp phi tài chính, các NHTM luôn phải đối đầu với những
thách thức của thị trường cạnh tranh và đầy biến động
Trang 34NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác Vốn tự có của
NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc
kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải
chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất định Bởi vì trong hoạt động kinh
doanh hằng ngày của mình, NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu
thanh toán, chi trả như mọi loại hình doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm
bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng Từ đó cho thấy, việc phân
tích và đánh giá rủi ro trong mỗi quyết địnhh cho vay của ngân hàng là rất
cần thiết
Hơn nữa, hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Do
đó, tình hình tài chính của NHTM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động
kinh doanh của các DN, tâm lý của người dân, cũng như của cả nền kinh tế
Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá rủi ro của các NHTM không chỉ là
nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạt động quản lý của chính nhà quản trị ngân
hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt buộc của ngân hàng trung ương…
Phân tích rủi ro để từ đó có thể đưa ra quyết định phù hợp
Vòng đời của dự án đầu tư thường rất dài, có khi hàng chục năm Khi
đưa ra các quyết định đầu tư, doanh nghiệp thường dựa trên các số liệu giả
định Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào
cũng được ngân hàng đáp ứng, ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn
vốn vay được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp
Trang 35và ngân hàng Muốn vậy, ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp cho
ngân hàng dự án đầu tư Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác
ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án,và đánh giá các rủi ro
của dự án một cách khách quan hơn Việc thẩm định, và đánh giá rủi ro dự
án đầu tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thời gian cho vay,
mức thu nợ hợp lý, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện thuận lợi
cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong tương lai
Tóm lại, đối với ngân hàng, công tác thẩm định và đánh giá rủi ro của
dự án đầu tư là rất quan trọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ
vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư như thế nào? Mức độ bỏ vốn là
bao nhiêu? Điều này sẽ giúp ngân hàng đạt được những chỉ tiêu về an toàn
và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn và nợ khó đòi, hạn chế
những rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng
Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Tây hoạt động theo nguyên tắc tự
chủ về tài chính, đảm bảo an toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự
chịu rủi ro Ngân hàng luôn quan tâm đến công tác thẩm định và đánh giá rủi
ro của dự án bởi nó có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của Ngân
hàng, đặc biệt là khi số dự án xin vay vốn ngày càng tăng lên về cả số lượng
và quy mô vay vốn Nếu Ngân hàng đánh giá rủi ro chính xác, từ đó có được
quyết định cho vay chính xác, điều đó sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng không
ngừng phát triển và nâng cao vị thế trên thị trường Và ngược lại, nếu việc
Trang 36đánh giá rủi ro thiếu thận trọng sẽ ảnh hưởng tới khả năng thu hồi vốn, giảm
hiệu quả hoạt động kinh doanh và uy tín của Ngân hàng
Qua những lý do trên, ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của công tác
đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư đối với sự phát triển của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây, và khẳng định sự cần thiết phải tiến hành
công tác này
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án
Chất lượng đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư của ngân
hàng chính là việc đánh giá được những rủi ro tiềm ẩn của dự án có ảnh
hưởng đến khả năng sinh lời và trả nợ của dự án, làm căn cứ cho ngân hàng
ra quyết định cho vay hợp lý, góp phần hạn chế rủi ro của ngân hàng Các
chỉ tiêu phản ánh chất lượng đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án:
Thứ nhất: Tính đầy đủ, khoa học và chính xác của nội dung thẩm định
rủi ro Nội dung thẩm định rủi ro phải bao gồm đầy đủ từ việc nhận diện,
đánh giá rủi ro, lượng hóa rủi ro và đề ra các phương án kiểm soát rủi ro
Việc nhận diện và đánh giá rủi ro được thực hiện trên mọi khía cạnh của dự
án, việc lượng hóa rủi ro sẽ giúp cho ngân hàng đưa ra kết luận về khả năng
trả nợ của dự án, phương án kiểm soát rủi ro có tính thực tiễn sẽ giúp cho
ngân hàng hạn chế được rủi ro khi nó xảy ra Nếu như nội dung thẩm định
rủi ro không được thực hiện một cách đầy đủ và khoa học, các phương án
Trang 37kiểm soát rủi ro không có tính thực tiễn sẽ ảnh hưởng đến quyết định cho
vay của ngân hàng và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng
Thứ hai: Giá trị của kết quả thẩm định rủi ro Việc đánh giá rủi ro
trong thẩm định dự án đầu tư giúp cho ngân hàng đánh giá được mức độ rủi
ro mà ngân hàng phải đối diện khi quyết định cho dự án vay vốn Mức độ rủi
ro đó có tương xứng với mức thu nhập mà ngân hàng có được từ việc tài trợ
cho dự án hay không Việc đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án thực sự có
chất lượng nếu như kết quả thẩm định rủi ro có các căn cứ giúp cho ngân
hàng ra quyết định cho vay Ngoài ra, kết quả thẩm định rủi ro còn giúp ngân
hàng chủ động phòng ngừa rủi ro, có biện pháp xử lý kịp thời khi rủi ro xảy
ra đối với dự án Trong quá trình thực hiện dự án, nếu rủi ro xảy ra thì cũng
không nằm ngoài những tính toán thẩm định rủi ro của ngân hàng, và các
phương án kiểm soát rủi ro sẽ làm giảm thiểu giá trị tổn thất do rủi ro gây ra
Thứ ba: Mức độ xảy ra rủi ro khi cho vay theo dự án của ngân hàng.
Chỉ tiêu này được thể hiện qua các chỉ tiêu như nợ quá hạn, nợ xấu của ngân
hàng đối với việc cho vay theo dự án Nếu như tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của
ngân hàng ở mức cao cũng một phần thể hiện khả năng xảy ra rủi ro cao đối
với các dự án mà ngân hàng cho vay, từ đó cũng thể hiện chất lượng đánh
giá rủi ro trong thẩm định dự án của ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa
lường hết được các rủi ro của dự án
Trang 38Thứ tư: Thời gian và chi phí đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án.
Thời gian và chi phí là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đánh
giá rủi ro trong thẩm định dự án Trong quá trình thẩm định, nếu chi phí
đánh giá rủi ro trong thẩm định được quan tâm một cách đầy đủ sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin, mời chuyên gia hỗ trợ thêm cho
việc đánh giá rủi ro Nhưng việc chi phí đánh giá rủi ro trong thẩm định tăng
cũng chưa hẳn làm cho chất lượng đánh giá rủi ro trong thẩm định tăng bởi
nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: trình độ chuyên môn, kinh
nghiêm của đội ngũ cán bộ thẩm định, nhận thức về tầm quan trọng của công
tác thẩm định rủi ro của dự án… Và nếu thời gian đánh giá rủi ro trong thẩm
định quá dài cũng ảnh hưởng đến quy trình cho vay và tiến độ thực hiện dự
án Ngược lại, nếu thời gian và chi phí thẩm định rủi ro bị hạn chế cũng ảnh
hưởng đến chất lượng đánh giá rủi ro của ngân hàng Tóm lại, cần phải có sự
hài hòa giữa chi phí bỏ ra và lợi ích mang lại cho ngân hàng, nếu lợi ích tăng
thêm không tương xứng với chi phí tăng thêm thì chất lượng thẩm định rủi
ro cũng không được xem cao
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án
1.2.5.1 Nhóm nhân tố chủ quan
Đội ngũ cán bộ thẩm định
Trong công tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và đánh giá rủi ro
nói riêng đội ngũ cán bộ thẩm định là người chịu trách nhiệm chính và quyết
Trang 39định đến chất lượng thẩm định Việc thẩm định và đánh giá rủi ro của dự án
đầu tư không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi cán bộ thẩm định phải
có trình độ, có kiến thức cơ bản về kinh tế - xã hội, về kinh tế thị trường,
hoạt động tín dụng, tài chính doanh nghiệp, tài chính dự án, có khả năng tính
toán, phân tích các chỉ tiêu kinh tế tài chính và khả năng trả nợ của dự án;
am hiểu kiến thức, phương pháp thẩm định hiện đại để ứng dụng vào thực tế
các dự án cụ thể Bên cạnh đó, cán bộ thẩm định phải có khả năng đánh giá
tổng hợp và nhạy bén với các yêu cầu đòi hỏi của công tác thẩm định; có kỹ
năng ứng dụng các phần mềm hỗ trợ phục vụ cho công tác thẩm định dự án
đầu tư Sự hiểu biết và toàn bộ những kiến thức về khoa học, kinh tế, xã hội
mà người thẩm định có được đều phải thông qua đào tạo hay sự bồi dưỡng
kiến thức mà có; kinh nghiệm, kỹ năng là những gì tích luỹ được thông qua
hoạt động thực tiễn; năng lực là khả năng nắm bắt, xử lý công việc trên cơ sở
các tri thức, kiến thức đã được tích luỹ Bên cạnh đó cán bộ thẩm định phải
có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, có tinh thần trách nhiệm và
kỷ luật nghề nghiệp cao Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt của cán bộ
thẩm định là điều kiện để đảm bảo cho chất lượng thẩm định và ngược lại,
người thẩm định không có kỷ luật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc,
không đánh giá đúng được tính khả thi của dự án
Như vậy cán bộ thẩm định là một trong những nhân tố quyết định chất
lượng thẩm và đánh giá rủi rui của dự án đầu tư Lấy thông tin gì? Ở đâu?
Áp dụng chỉ tiêu nào để đánh giá đều được tiến hành bởi cán bộ thẩm định
Trang 40Do vậy muốn nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trước hết
bản thân trình độ kiến thức, năng lực đạo đức của cán bộ thẩm định phải
cao
Quy trình và phương pháp đánh giá rủi ro
Phương pháp đánh giá rủi ro là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án Với nguồn thông tin đã có
được, vấn đề đặt ra với ngân hàng là làm thế nào? Lựa chọn phương pháp
nào, chỉ tiêu nào để đánh giá rủi ro của dự án có hiệu quả tốt nhất Mỗi dự
án có một đặc trưng nhất định, không phải bất cứ dự án nào cũng cần phải áp
dụng và tính toán tất cả các chỉ tiêu trong hệ thống đánh giá rủi ro Việc sử
dụng phương pháp nào, chỉ tiêu nào để đánh giá rủi ro phụ thuộc vào quyết
định của mỗi ngân hàng Với mỗi dự án, phương pháp tốt nhất là phương
pháp phù hợp nhất nhưng chưa chắc chắn rằng phương pháp đấy là hiện đại
nhất Nhưng trong giai đoạn hiện nay, những phương pháp đánh giá rủi ro
của dự án hiện đại đã giúp cho việc phân tích, đánh giá rủi ro được toàn diện,
chính xác và hiệu quả hơn Song điều quan trọng là ngân hàng phải biết áp
dụng đồng bộ các chỉ tiêu đảm bảo tính toàn diện và cũng phải lựa chọn
những chỉ tiêu quan trọng nhất phù hợp với tình hình thực tế của ngành, dự
án cũng như khả năng điều kiện cụ thể của ngân hàng
Khi dùng một phương pháp, một chỉ tiêu để đánh giá rủi ro cán bộ
thẩm định phải hiểu rõ phương pháp ấy có những ưu nhược điểm gì, có phù
hợp để đánh giá rủi ro dự án không? Ví dụ như lạm phát là yếu tố bất định