Giáo sư Robert Mundell được xem là cha đẻ của lý thuyết bộ ba bất khả thi. Và “mô hình Mundell-Fleming
Trang 11 Lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.1 Ba nhân tố của lý thuyết và thước đo của lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Giáo sư Robert Mundell được xem là cha đẻ của lý thuyết bộ ba bất khả thi Và “mô hình Mundell-Fleming” được xem là điểm khởi đầu của bộ ba bất khả
thi, là kết quả nghiên cứu của Robert Mundell (1962, 1963) và J.M.Fleming (1962)
trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, một quốc gia không thể đồng thời đạt được cả ba
mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá cố định và tự do hoá dòng vốn ( hội nhập
tài chính hoàn toàn)
Chúng ta có thể hình dung giống như việc chúng ta không thể nào chặn ba góc của
một tấm vải bị gió tung lên chỉ bằng hai hòn đá Nghĩa chúng ta chỉ có thể chặn tối đa
hai góc của tấm vải ấy mà thôi, hoặc có thể là không thể chặn được vì gió quá mạnh
nền kinh tế như tấm vải ấy, ba góc của tấm vải như là ba yếu tố của bộ ba bất khả thi
Và hai viên đá chính là công cụ, chính sách của nhà nước, mà chỉ có thể dùng được
hai công cụ là tối đa để điều tiết hai trong ba yếu tố của bộ ba ấy và buộc phải thả
nổi yếu tố còn lại
Tại sao lại không thể tiến hành đồng thời cả ba yếu tố trên??
Giả sử một nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên đồng thời Khi kinh tế
tăng trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội
tệ Khi đó, ngân hàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện
chính sách tiền tệ nới lỏng, nhằm tăng lượng cung tiền, điều tiết tỉ lệ đồng ngoại tệ và
đồng VN Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến
tăng tốc lạm phát Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh
khoản đối ứng Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều
(Chính sách thanh khoản đối ứng, còn gọi theo cách khác là chính sách vô hiệu
hóa, là chính sách thu hồi bớt nội tệ từ lưu thông nhằm vô hiệu hóa hoặc giảm thiểu
ảnh hưởng tiêu cực của việc thu mua ngoại tệ tới giá trị nội tệ).
Trang 21.1.1 Chính sách tiền tệ độc lập
Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện
nhằm mục đích điều tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách đến tỉ
giá hay tăng giảm, hay các biến số vĩ mô khác
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính
sách tiền tệ để thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế Chẳng hạn nếu nền kinh tế
có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung tiền và
ngược lại Trong các trường hợp này chính phủ không quan tâm đến tỷ giá tăng hay
giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác Chính vì sự độc lập tiền tệ này mà nhiều nhà
kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn Tuy nhiên độc lập
tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ để chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược
tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn
Độc lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn định trong tăng trưởng và
tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao Đó là chưa kể độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm
cho chính phủ tiền tệ hóa chi tiêu chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho
thâm hụt ngân sách Hậu quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng lạm
phát
1.1.2 Ổn định tỷ giá
Ổn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện
pháp ổn định giá cả Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro của
nền kinh tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ Tất cả
giúp làm cho môi trường đầu tư tốt lên Tuy nhiên tỷ giá cố định hay ổn định quá mức
có mặt trái của nó Tỷ giá quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp
thụ các cú sốc bên trong và bên ngoài truyền dẫn vào nền kinh tế
Ví dụ lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần như cố định dễ dẫn đến nguy cơ
hàng hóa mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hậu quả là xuất khẩu giảm và
nhập khẩu tăng lên Ngoài ra tính quá cứng nhắc của tỷ giá còn ngăn cản không cho
những nhà làm chính sách sử dụng công cụ chính sách phù hợp với thực tế diễn biến
Trang 3cả nền kinh tế, nhất là khi đang có dấu hiệu bong bóng tài sản Ví dụ vào những tháng
đầu năm 2008 kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng lạm phát tăng tốc 2 con số Lúc bấy
giờ tỷ giá dao động mức 1 USD=16.500 VND Nhiều nhà kinh tế lúc bấy giờ đưa ra
đề xuất để cho tỷ giá giảm xuống mức 1 USD = 15.500 VND để nhập khẩu lạm phát
thấp ở nước ngoài về.Tỷ giá giảm làm cho giá hàng nhập khẩu giảm đi Kết quả của
việc giảm tỷ giá, tức để cho đồng nội tệ lên giá, kéo theo giá hàng nhập khẩu giảm đi
(nếu các yếu tố khác không đổi) Vào thời điểm này do dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Việt Nam quá nhiều nên tỷ giá có lúc đã giảm xuống khoảng 1 USD = 15.500 VND
Vấn đề là thay vì nhập khẩu các vật tư cần thiết cho sản xuất giúp hạ nhiệt lạm phát
thì các doanh nghiệp Việt Nam lại nhập khẩu quá nhiều ô tô Nhìn chung tỷ giá quá
cứng nhắc chẳng những có khả năng dẫn đến bất ổn trong tăng trưởng, rủi ro lạm
phát cao mà còn dẫn đến phân bổ sai nguồn lực và tăng trưởng không bền vững.
1.1.3 Hội nhập tài chính (tự do hóa dòng vốn )
Hội nhập tài chính hợp tác giữa các nền kinh tế, hay có thể nói là sự luân chuyển
dòng vốn giữa các nền kinh tế.
Lợi ích :
+ Hữu hình :
quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn
giúp nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư
+ Vô hình : Tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị
tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập
Lợi ích lớn nhất-lợi ích vô hình-mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động lực
giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp những
thay đổi từ hội nhập Trên thực tế chính nhờ vào quá trình tự do hóa tài chính cuối
những thập niên 1990, nhất là sau trở thành thành viên WTO 2007 mà chính phủ
Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách sâu rộng, trong đó có cải cách thủ tục hành
chính và chất lượng thể chế
Trang 4Mặt trái: Hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh tế
những năm gần đây Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn
và mang tính đầu cơ
Mặc dù vậy hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh
tế những năm gần đây Các cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1990 và cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu cũng có nguyên nhân từ hội nhập tài chính nhưng thiếu quy
tắc điều tiết kèm theo Tình trạng bong bóng chứng khoán và bất động sản ở Việt
Nam giai đoạn 2005-2008 dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ mô một phần cũng do tự
do hóa tài chính nhưng thiếu cơ chế giám sát tương thích Dòng vốn gián tiếp chảy
vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang tính đầu cơ
1.1.4 Sự kết hợp bộ ba bất khả thi
+ Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế
độ tỷ giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ Điều này có nghĩa chính phủ đã
mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài
+ Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế
độ tỷ giá thả nỗi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá Với lựa chọn này, chính
phủ (NHTW) được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành
theo những nguyên tắc của thị trường
+ Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị
trường vốn đóng Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn Khi
có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ
1.2 Thước đo bộ ba bất khả thi
Tỷ giá, yếu tố đầu tiên của bộ ba, dễ đo lường nhất Độ ổn định tỷ giá được đo
lường dựa vào chế độ tỷ giá trên thực tế thay vì chế độ tỷ giá như cam kết của một
quốc gia với IMF
Yếu tố thứ hai của bộ ba là độc lập tiền tệ Rose (1996) có đề xuất đo lường độc
lập tiền tệ bằng cách xem phản ứng của tỷ giá đối với những thay đổi trong sản
lượng, lãi suất và cung tiền Tuy nhiên đối với cung tiền, phương pháp này có nhược
Trang 5điểm là khó thể nào phân biệt được trong thực tế đâu là một cú sốc cung và cú sốc cầu
tiền tệ, đó là chưa kể phải giả định tốc độ lưu thông tiền tệ là không đổi
Khác với Rose, Obstfeld, Jay C Shambaugh và Taylor (2005) đề xuất cách
tiếp cận khác để đo lường độc lập tiền tệ bằng cách không dựa trên số lượng mà dựa
trên lãi suất danh nghĩa ngắn hạn Phương pháp này gây tranh cãi vì chỉ dựa chủ yếu
vào trực giác khi cho rằng điều hành chính sách tiền tệ chủ yếu dựa vào mức lãi suất
mục tiêu hơn là dựa trên số lượng tiền tệ Yếu tố khó đo lường nhất của bộ ba là hội
nhập tài chính Thường thì các nhà kinh tế dựa vào phương thức kiểm soát vốn của
mỗi quốc gia theo phân loại của IMF để xem xét chỉ số độ mở của tài khoản vốn.Tuy
nhiên điều mà các nhà kinh tế thực sự quan tâm là mức độ hội nhập tài chính trên thực
tế Có thể một quốc gia tuy tuyên bố kiểm soát chặt các giao dịch vốn nhưng trên thực
tế các chính sách lại khá thông thoáng
Chinn và Ito đã phát triển ba thước đo để đánh giá mức độ độc lập tiền tệ (MI),
ổn định tỷ giá ( ERS) và hội nhập tài chính ( KAOPEN).
Độc lập tiền tệ MI Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường bằng hàm đảo nghịch
của mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc
gia cơ sở Chỉ số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng:
MI = 1
-Trong đó: i: quốc gia sở tại, j: quốc gia cơ sở Với công thức như trên, giá
trị tối đa, tối thiểu tương ứng là 1 và 0 Gía trị càng tiến về 1 có nghĩa là chính sách
tiền tệ càng độc lập hơn VÍ dụ nếu chúng ta muốn đo lường mức độ độc lập tiền tệ
của Việt Nam, quốc gia sở tại là Việt Nam và quốc gia cơ sở là Mỹ ( nếu chúng ta
muốn xem xét thay đổi lãi suất VNĐ với lãi suất USD)
Ổn định tỷ giá (ERS) Độ ổn định tỷ giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá,
được tính theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá mỗi tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia
cơ sở.Độ ổn định tỷ giá nằm giữa giá trị 1 và 0, càng tiến về 1 tỷ giá càng ổn định
Trang 6
ERS =
Cách thức đo lường độ ổn định tỷ giá như trên có ưu điểm là giúp chúng ta xác định
được chính sách tỷ giá trên thực tế mà một quốc gia đang áp dụng chứ không phải dựa
trên những gì mà quốc gia đó tuyên bố
Hội nhập tài chính (KAOPEN) Trong các chỉ số đo lường bộ ba bất khả
thi,khó nhất là đo lường mức độ hội nhập tài chính Muốn đánh giá mức độ hội nhập
tài chính, chúng ta phải đo lường mức độ mà một quốc gia tiến hành kiểm soát vốn
Tuy nhiên việc đo lường mức độ kiểm soát vốn rất phức tạp vì rất khó để phản ánh hết
những phức tạp trong thực tế Chẳng hạn có quốc gia tuy tuyên bố mở cửa thị trường
vốn bằng những chính sách khá thông thoáng nhưng trong thực tế lại kiểm soát vốn
bằng những biện pháp hành chính của các cơ quan chức năng Chinn và Ito (2006 ,
2008) đưa ra đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường mức độ hội
nhập tài chính
Lưu ý : chỉ số KAOPEN chỉ cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý dựa trên
các báo cáo của chính phủ cho IMF, WB các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan đến kiểm
soát vốn và ngoại hối
1.3 Chứng minh bộ ba bất khả thi
1.3.1 Dùng mô hình tam giác đều
Hình 1 là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi Mỗi cạnh
thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định
của tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu)
là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh
kiểm soát vốn; mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn; mục tiêu
chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳ cặp mục tiêu nào
cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa Ví dụ,mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và
tỷ giá ổn định đạt được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn Mục tiêu chính sách tiền tệ
độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thả nổi hoàn toàn
Trang 7Cuối cùng, mục tiêu tỷ giá ổn định và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh
tiền tệ Hoàn toàn không khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu
Luân chuyển vốn tăng
Hội nhập TC hoàn toàn
Hình 1 3.1 Tam giác bộ ba bất khả thi
Bảng 1 Tóm tắc nguyên lý hoạt động của bộ ba bất khả thi
Nguyên lý của bộ ba bất khả thi
Dòng vốn lưu động hoàn toàn
Chính sách tiền
tệ độc lập
Hệ thống tỷ giá cố định
Ví dụ:
Kiểm soát
vốn
cải cải cách tháng 7/2005
Liên minh
tiền tệ
Kiểm soát vốn
Trang 8Dựa vào bảng tóm tắt ta có thể thấy rằng một quốc gia không thể thực hiện đồng thời
ba mục tiêu Nếu đạt được mục tiêu dòng vốn lưu động hoàn toàn và hệ thống tỉ giá
cố định thì nhà nước phải thực hiện kế hoạch kiểm soát vốn, và như vậy thì dòng vốn
không thể chảy vào nền kinh tế một cách tự do được, nghĩa là không thực hiện được
mục tiêu dòng vốn lưu động tự do Tương tự, một khi thực hiện được mục tiêu hệ
thống tỉ giá cố định và dòng vốn lưu động vào nền kinh tế tự do thì không thể thực
hiện được mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập vì phải thực hiện liên minh tiền tệ ( liên
minh tiền tệ có thể được hình dung giống như việc các quốc gia lien minh các chính
sách tiền tệ giống như khối EU hiện nay) Và còn lại, để có được mục tiêu chính sách
tiền tệ độc lập, và tự do hóa dòng vốn thì phải hi sinh hệ thống tỉ giá cố định Và khi
đó thì phải thực hiện biện pháp để tỉ giá thả nổi
1.3.2 Dùng đồ thị (R, Y)
Trên mỗi hình vẻ với kí hiệu các đường như sau:
BP: Tập hợp các tổ hợp giữa sản lượng và lãi suất mà tại đó có sự cân bằng cán cân
thanh toán
LM: Đường LM biểu diễn một tập hợp các điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ L và
M là các chữ cái viết tắt của các từ tiếng Anh Liquidity Preference và Money Supply
nghĩa là nhu cầu giữ tiền mặt của cá nhân và cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ của
nhà nước Đường LM được dùng trong phân tích IS-LM
r : Lãi suất
Y : Đường tổng cầu.
IS: Đường IS biểu thị tập hợp các mức lãi suất và thu nhập cân bằng thị trường hàng
hóa vĩ mô IS là kết hợp hai chữ cái viết tắt của Investment và Saving trong tiếng Anh,
nghĩa là đầu tư và tiết kiệm Đường IS được sử dụng trong phân tích IS-LM
Trang 9Hình 1.3.2 Bộ ba bất khả thi 1.3.2.1 Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ
Hình 1.3.3 Thị trường vốn đóng
Xuất phát từ A thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm dịch chuyển LM đến LM1
LM1 cắt IS tại B thì có R thấp hơn, có Y1 >Yo làm cho xuất khẩu ròng NX giảm làm
mất cân bằng tỷ giá Nếu nhà nước cho hội nhập tài chính làm cho áp lực càng lớn
đối với cố định tỷ giá => hội nhập tài chính sẽ không tồn tại
A B
LM
LM1 BP
IS
r r1
Hội nhập tài chính
Ổn định tỷ giá Độc lập tiền tệ
Thị trường vốn đóng
Tỷ giá cố định
Tỷ giá thả nỗi
Trang 101.3.2.2 Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính
Xét tại điểm A nếu nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì đường LM dịch
chuyển xuống thành LM1 Đường LM1 cắt IS tại B có r thấp làm dòng vốn dịch
chuyển ra nước ngoài và tại đó có mức sản lượng Y1 lớn hơn mức sản lượng Yo làm
cho xuất khẩu ròng giảm => cung ngoại tệ giảm cầu ngoại tệ tăng => không thể ổn
định tỷ giá
Hình 1.3.4 Tỷ giá thả nỗi 1.3.2.3 Ổn định tỷ giá và hội nhâp tài chính
Xét tại điểm A thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ đường LM dịch chuyển LM1 ,
LM1 cắt IS tại B lúc này tại B có r thấp , xuất khẩu ròng giảm (NX) làm tỷ giá biến
đổi Nhà nước phải bù đắp khoản khoản ngoại tệ này bằng cách bơm ngoại tệ vào thị
trường => làm LM1 dịch chuyển LM => chính sách tiền tệ vô tác dụng
A
BP
Y
r
Y0 Y1
B
LM
LM1 BP
IS
r r1
A
BP r
B
LM
LM1 BP
IS r
r1