1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn khách sạn du lịch ĐỀ ÁN KINH TẾ DU LỊCH VỀ ĐỀN HÙNG

36 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 698 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Du lịch lễ hội, đinh nghĩa du lịch văn hóa Trước tiên khi nghiên cứu về Đền Hùng chúng ta phải làm rõ kháiniệm: du lịch lễ hội là gì?. L

Trang 1

Mục Lục

A.LỜI MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG

1.1.Giới thiệu lễ hội Khái niệm du lịch văn hóa 4

1.1.2 Khái niệm du lịch văn hóa 3

Chương 2: TÌM HIỂU ĐỀN HÙNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT

2.3 Thực trạng phát triển của khu di tích 22

Trang 2

Vậy khi nghe đến câu “ dù ai đi ngược về xuôi nhớ ngày giỗ Tổ 10-3”.

Thì không thể không ai là chưa từng nghe đến câu nói truyền miệng này và

nó đã khắc sâu vào tâm trí mỗi người trong suốt cuộc đời vì nó là nơi cộinguồn của dân tộc Vâng địa danh mà câu truyền miệng nhắc đến chính làĐền Hùng Đây chính là một lợi thế so sánh rất lớn của khu di tích lịch sửĐền Hùng so với các địa điểm du lịch khác Đồng thời đây chính là một tàinguyên du lịch mang gía trị nhân văn tầm vóc quốc gia rất có tiềm năng đểphát triển du lịch bởi vì đặc tính của dân tộc ta sống rất tâm linh Tuy rằng

Trang 3

ở nơi đây vẫn còn rất nhiều vấn đề để bàn tới Điển hình là tính nguyên sơcủa khu di tích đang bị xâm phạm và mất dần theo thời gian.Vì vậy mụcđích của em khi nghiên cứu đề tài này là để góp một phần nào đó vào việcgìn giữ và phát triển khu du lịch mang đầy giá trị nhân văn này Đúng theophương châm của Bác Hồ khi về thăm khu di tích lịch sử Đền Hùng bác đã

nói: “các Vua Hùng đã có công dựng nước bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” nếu chúng ta giữ gìn được nơi đây thì thế hệ mai sau mới

có thể tự hào với văn minh một thời của dân tộc ta.

Vì vậy để đề tài này đi đến được thành công thì em rất mong được

sự giúp đỡ của Tiến sỹ Nguyễn Đình Hòa

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

B NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Du lịch lễ hội, đinh nghĩa du lịch văn hóa

Trước tiên khi nghiên cứu về Đền Hùng chúng ta phải làm rõ kháiniệm: du lịch lễ hội là gì? Lễ hội nó gắn liền với các yếu tố văn hóa, mangnhững giá trị nhân văn sâu sắc từ xa xưa…

Người ta gọi là du lịch văn hóa khi hoạt động du lịch diễn ra chủ yếutrong môi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai tháctài nguyên du lịch nhân văn Vì vậy khi nghiên cứu về du lịch văn hóachính là chúng ta đang nghiên cứu về du lịch nhân văn Theo định nghĩa về

du lịch văn hóa của tiến sĩ Trần Thị Minh hòa được viết trong cuốn kinh tế

du lịch về du lịch văn hóa như sau: “du lịch văn hóa mục đích chính lànhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiếntrúc, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục,tập quán của đất nước du lịch” (1)

Các đối tượng văn hóa được coi là các tài nguyên du lịch đặc biệt hấpdẫn Nếu như tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ,độc đáo và hiếm hoi của nó, thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút kháchbởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tínhđịa phương của nó Các đối tượng văn hóa-tài nguyên du lịch nhân văn- là

cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú

Ta phải lưu ý rằng tài nguyên du lịch nhân văn là tất cả những gì do xãhội cộng đồng tạo ra có sức thuyết phục hấp dẫn du khách cũng như nhữngthành tố khác được đưa vào phục vụ phát triển du lịch Như vậy tài nguyên

Trang 5

lễ hội, phong tục tập quán… Vì vậy để khai thác chúng một cách hiệuquả đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược thật cụ thể để song song vớiviệc khai thác tối đa tiềm năng của khu du lịch chúng ta còn có thể bảo tồnđược vẻ tôn nghiêm của các khu di tích Đó chính là điều kiện tối cần thiết

để có thể phát triển khu du lịch nhân văn 1 cách bền vững

Để hiểu rõ về điều kiện tự nhiên cũng như những tiềm năng của tỉnh phúthọ nói chung và của khu di tích lịch sử Đền Hùng chúng ta hãy cùng nhautìm hiểu hiểu sơ qua đôi nét về đặc điểm của Phú Thọ

1.2 Giới thiệu đôi nét về Phú Thọ

1.2.1:Vị trí địa lý

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Bắc giáp tỉnh

Tuyên Quang và Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Namgiáp tỉnh Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình

Thành phố Việt Trì là trung tâm hành chính của tỉnh, cách thủ đô Hà Nội 80

km và sân bay quốc tế Nội Bài 50 km về phía Tây

Phú Thọ bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 10 huyện:

Huyện Thanh Thuỷ

Trang 6

 Huyện Yên Lập

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 3.519 km² Có 3 con sông lớn chảyqua: sông Hồng (sông Thao), sông Lô và sông Đà

Theo thống kê năm 2003, Phú Thọ có 1.302.700 người với mật độ dân

số 370 người/km².Trong đó Nông thôn chiếm 85% thành phố chiếm 15% Năm 2001, thu nhập bình quân GDP/người đạt 384 USD/người (bằngkhoảng 5.698.000 VND/người)

Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam Nơi đây các

vua Hùng đã dựng nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của Việt Nam, thủ

đô là Phong Châu Tỉnh Phú Thọ nguyên là tỉnh Hưng Hóa, sau khi đã táchdần đất để lập thêm các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái Ngày 5tháng 5 năm 1903, tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hóa chuyển từ làng lên làng PhúThọ gần đường xe lửa hơn Do đó tỉnh Hưng Hóa cũng đổi tên thành tỉnhPhú Thọ Khi đó tỉnh Phú Thọ gồm có 2 phủ (Đoan Hùng, Lâm Thao), 8huyện (Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê,

Hạ Hòa, Hạc Trì) và 2 châu (Thanh Sơn, Yên Lập) (2).

Thị xã Phú Thọ và thị xã Việt Trì được thành lập năm 1907, thị xã PhúThọ được chọn là tỉnh lỵ của Phú Thọ Đến năm 1962, thành phố Việt Trìđược thành lập theo Quyết định số 65 của Hội đồng Chính phủ

Tháng 1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504 tiếnhành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thànhphố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú Đến kỳ họp thứ 10 Quốc hội

IX (tháng 11/1996) đã thông qua Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa

Trang 7

Phú Thọ Tỉnh Phú Thọ chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từngày 1-1-1997, ngay năm sau Phú Thọ được công nhận là tỉnh miền núiPhú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời Những di chỉ khảo cổ văn hoáSơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm còn lại quanhvùng núi Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn hoácủa dân tộc Di tích lịch sử quan trọng là đền quốc mẫu Âu Cơ, khu di tích

đền Hùng Đây là vùng đất có nhiều lễ hội, đáng kể nhất là lễ hội Giỗ tổHùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch) Các dân tộc ít người cũng cónhững đặc trưng văn hoá riêng của mình: Người Mường có nhiều truyệnthơ, ca dao, tục ngữ, hát xéc bùa, hát ví, hát đúm Người Việt có hát xoan,

 Hội chọi trâu Phù Ninh

 Hội Chu Hoá

Trang 8

2.1 Giới thiệu về lễ hội Đền Hùng

Trong những lễ hội chính đó nổi bật lên hàng đầu chính là lễ hội đềnHùng Là một nơi mà đang được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước

và cũng là nét tiêu biểu cho đặc trưng văn hóa của dân tộc ta là cái nôi của dântộc trong những ngày đầu lập nước.Một dân tộc thật tự hào vì biết mình cómột ông Tổ sinh ra cả giống nòi đất Việt Đã bao đời nay con cháu hướng về

mộ Tổ để tri ân công đức tổ tiên đã dày công gây dựng một cơ đồ cho hôm

nay và mãi mãi về sau Cứ đến tháng ba âm lịch hàng năm: “Dù ai đi ngược

về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba” thì con cháu lại tụ hội về

quanh núi Nghĩa Lĩnh để thắp hương tưởng niệm các vua Hùng Đất văn vậthàng nghìn năm tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay đã và đang ngàycàng thay da đổi thịt Diện mạo của Khu di tích lịch sử Đền Hùng ngày càngkhang trang, to đẹp hơn nhiều so với thời chúng ta còn chịu dưới sự thống trịcủa ngoại bang và kể cả trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lượcPháp và Mỹ Có được điều đó, chính vì Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quantâm xây dựng Đền Hùng để xứng tầm với một khu di tích đặc biệt của quốcgia và rồi đây sẽ trở thành trọng điểm du lịch của cả nước

Vì vậy để có thể khai thác triệt để những giá trị về nhân văn cũng như về

Trang 9

chính là những tài liệu vô cùng quý giá mà chúng ta có thể để lại cho mai saubiết về lịch sử hàng ngàn năm của đất nước Việt Nam.

Người xưa nói:

Núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình uốn khúc thành dãynúi Trọc, núi Vặn, núi Pheo ở phía sau

- Phía bên phải, quả đồi Khang Phụ (Chu Hóa) là hình một con hổ phục

- Phía bên trái, quả đồi An Thái (Phượng Lâu) hình vị tướng quân bắn nỏ

- Làng Cổ Tích bên chân núi nằm trên lưng một con ngựa ghi cương

Trang 10

- Dãy đồi từ Phú Lộc đến Thậm Thình là 99 con voi chầu về đất Tổ.

Xa xa phía tây dòng sông Thao nước đỏ, phía đông dòng sông Lô nướcxanh như hai dải lụa màu viền làm ranh giới của cố đô xưa Đặc biệt khôngkhí trên núi rất thông thoáng, mát dịu và quanh năm thoang thoảng hươngthơm

Tương quyền Vua Hùng đi khắp trong nước, cuối cùng mới chọn đượcvùng sơn thủy hữu tình này làm đất đóng đô

2.22 Thờ Tự

Khu di tích Đền Hùng có 4 đền, 1 chùa và lăng vua Hùng, phân bố nhưsau:

* Đền thượng và lăng trên đỉnh núi:

Nơi đây các vua Hùng lập miếu thờ Trời "Kính thiên lĩnh điện", thờ 3 ngọnnúi thiêng là Đột Ngột Cao Sơn (núi Hùng), Aáp Sơn (núi Trọc), Viễn Sơn(núi Vặn), thờ Thần lúa (có mảnh vỏ trấu bằng chiếc thuyền thúng mới mấttrong kháng chiến chống Pháp), thờ Thánh Gióng là tướng Nhà Trời giúpđuổi giặc Ân

Giữa thế kỷ 3 trước công nguyên, Thục Phán được Vua Hùng 18 nhườngngôi, mới lập hai cột đá thề trên đỉnh núi và làm đền thờ 18 vua Hùng Lạimời dòng tộc nhà vua đến ở chân núi giao cho việc thờ cúng

Sau đời An Dương Vương, nhân dân địa phương vẫn tiếp tục thực hiện cáctín ngưỡng trên qua suốt thời Bắc thuộc; đến thời phong kiến tự chủ các

Trang 11

Vua Hùng được tôn lên là Tổ tiên của dân tộc và việc thờ tự dần dần mangtính chất của cả nước.

Hiện nay còn thờ danh hiệu 18 đời Vua Hùng và 3 vị thần núi: "Hùng đồthập bát thế Thánh Vương thánh vị", "Đột ngột Cao Sơn", "Aáp Sơn",

Sau thời Hùng Vương nhân dân lập miếu thờ các vua Hùng "Hùng Vương

tổ miếu"

* Đền Hạ và chùa:

Theo truyền thuyết, bãi bằng lưng chừng núi này là nơi tổ mẫu Âu Cơchuyển dạ sinh ra bọc trăm trứng nở thành trăm con trai Do sự tích này mànhân dân lập ra đền Hạ để thờ các vua Hùng Bên phải là chùa Sơn cảnhthừa long tự (còn gọi Thiên quan thiền tự) Phía trước chùa là gác chuông.Phía trước đền là nhà bia công đức

* Đền giếng:

Trang 12

Ơở đây có giếng Ngọc của hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con vuaHùng 18 Tương truyền giếng này hai nàng dùng rửa mặt chải tóc chítkhăn Đền thờ hai công chúa làm chùm lên giếng.

Ngọc phả đền Hùng viết sớm nhất là triều Tiền Lê (vào năm Thiên Phúcnguyên niên, tức 890 tây lịch) Viết lại và sao trì triều nào cũng làm, nhưngphong sắc thì không triều nào dám phong, vì là Tổ tiên

Bản ngọc phả soạn thời Trần (thế kỷ 13), năm Hồng Đức thứ nhất hậu Lê(1470) san nhuận lại viết " Từ nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đếntriều đại ta bây giờ là Hồng Đức hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôiđền ở làng Trung Nghĩa (đền Hùng - VKB) Những ruộng đất sưu thuế từxưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi Ở đây nhân dân toànquốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công ơn gầy dựng nước nhà của các đấngthánh tổ ngày xưa "

2.2.3 Kiến Thiết

Về kiến trúc đền chùa, qua khảo sát thực địa thì thấy: Đền miếu các thờiđại xa xăm đã bị hư hoại hết Chỉ còn những di vật nói lên tình hình kiếnthiết cũ mà thôi Tìm thấy 13 hiện vật thời Hùng Vương (rìu, giáo đồng),mẫu tháp đất nung, mảnh bát đĩa gốm sứ có niên đại Lý Trần trở về trước,

3 cột đá cổ, lỗ xà bị bào mòn lớn chứng tỏ rất lâu đời (một chiếc dựng trên

bệ trước cửa đền Thượng)

Kiến trúc hiện còn lại là của thời Hậu Lê và Nguyễn Bản ngọc phả saonăm Hoằng Định thứ nhất (1600) nói trên núi Hùng có đền Thượng, mộvua Hùng thứ 6, hai cột đá thề của Phục Phán, đền Trung, đền Hạ và chùa

Trang 13

Đền Giếng chưa thấy nói đến Có lẽ sau đó đền Giống mới làm Qua nhiềulần trùng tu kiến trúc Hậu Lê chỉ còn đền Trung, đền Hạ và gác Chuông.Trong dịp đại trùng tu 6 năm liền 1917 - 1922, nhân dân 18 tỉnh Bắc Bộcung tiến được 6000 đồng (tiền Đông Dương) xây lại đền Thượng, Lăng vàđền Giếng Nhà tư sản Nghĩa Lợi cung tiến 1000 đồng xây 539 bậc ximăng (cổng lên đền Thượng 496 bậc, đền Hạ xuống đền Giếng 44 bậc).Nhà tư sản Đồng Thuận cung tiến tiền xây cổng chính (biển đề: Cao Sơncảnh hành bằng núi cao đường rộng).

Năm 1962 tổ chức xổ số được 24.000 đồng xây khu nhà Công Quán trưngbày hiện vật và tiếp khách Năm 1973 UBND tỉnh Vĩnh Phú quyết địnhkhoanh 1.562 ha làm khu bảo vệ Đền Hùng, trong đó khu trung tâm bấtkhả xâm phạm gồm: Núi Nghĩa Lĩnh, núi Trọc lớn, núi Trọc con, núi Vặn,núi Yên Ngựa, núi Nỏn, đồi Cò Kè, đồi Cao Phầy, đồi Phân Đậu và đồiCông Quán Năm 1976 đắp đập hồ Đa Vao Năm 1980 xây nhà khách và

mở tuyến đường nhựa Năm 1983 khởi khảo kế hoạch xây dựng nhà Bảotàng trên đồi Công Quán Năm 1995 hoàn thành Nguồn kinh phí dựa vàoNhà nước cấp và nhân dân cung tiến, tổng cộng trên 3000 triệu đồng Bênkhu đền làm thâm sân Lăng và tuyến đường phụ từ Lăng xuống đền Giếng

Như vậy là bên cạnh khu di tích lịch sử trên núi Nghĩa Lĩnh, còn có khuphục vụ ở đồi Công Quán Khu phục vụ gồm có nhà bảo tàng, nhà khách

và sân giữ xe, được trang điểm bởi các hoa cây cảnh

2.2.4.Vài nét về bảo tàng

Nhà bảo tàng tuy trưng bày làm nhiều phòng, nhưng chung quy có thể hiểutổng quát là, tại đây trưng bày 5 loại hiện vật

Trang 14

 Hiện vật tìm thấy tại Đền Hùng, gồm 13 hiện vật có từ thời HùngVương và nhiều hiện vật có sau thời Hùng Vương Những hiện vật

đó cho biết từ thời Vua Hùng con người đã lên núi này khá đông đúc

và bỏ sót lại đồ dùng Những mẫu đá, gốm xây dựng và đồ thờ cóniên đại từ sau công nguyên đến các thời Lý, Trần, Hậu Lê cho thấykhu vực này được thờ tự liên tục ngày từ khi triều đại Hùng Vươngkết thúc đến bây giờ

 Hiện vật lấy ở các di chỉ khảo cổ thuộc thời Vua Hùng hoặc có liênquan tới thời Vua Hùng, ở nhiều nơi tập hợp về Những hiện vật nàygiống như hiện vật ở mọi bảo tàng

 Những cuối sách sử, những mẫu trích từ các sách cổ của ngườiTrung Quốc và nước ta nói về thời Hùng Vương Những hiện vậtnày cũng giống như ở mọi bảo tàng, nghĩa là muốn nói rằng thờiHùng Vương là có thật

 Hiện vật phản ánh các hình thức tín ngưỡng Vua Hùng của nhândân, ở trong cũng như ở ngoài khu vực Đền Hùng Đó là các bảnngọc phả, đồ thờ tự, tranh vẽ và ảnh chụp các đình đền, các lễ hội

 Hiện vật lưu niệm đồng bào về thăm mộ Tổ Đó là những quà tặng,những ảnh chụp các nhà lãnh đạo, các đoàn đại biểu và nhân dân tớithăm Đền Hùng

2.2.5 Lễ hội cổ truyền

Thời phong kiến định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (còn gọi là hội chính)vào những năm chẵn (ví dụ 1900 - 1905), còn hàng năm thì giao cho dânTrưởng tạo lệ (con trưởng) sửa lễ cúng Tổ vào ngày 12-3 âm lịch (ngày giỗ

Trang 15

Kinh Dương Vương) Đầu thế kỷ 20 này nhà Nguyễn ấn định lấy ngày

10-3 làm chuẩn (xem phụ lục)

Dân trưởng tạo lệ là dân Hy Cương, họ được miễn sưu thuế phu phen đểtrông nom đền miếu và làm giỗ Tổ

Nhà vua phong cho vị trưởng lão của dân Trưởng tạo lệ chức quan gọi là

"lệnh đồng trà" Ông này cứ đến ngày giỗ Tổ, tới kinh đô nhận 3 gạo nếpthơm của vua đưa cho, về thổi xôi cúng trên Đền

Năm hội chính người ta treo lá cờ thần trên đỉnh núi Nỏn báo cho đồng bào

từ rất sớm Ngoài việc quan triều đình và quan hàng tỉnh đứng tế, các làng

xã có đình thờ Vua Hùng, vợ con vua hoặc tướng lĩnh thời Hùng Vươngcòn rước kiệu đến chầu Trên địa bàn Vĩnh Phú có hơn 600 nơi thờ nhưngchỉ hơn 40 làng quanh đền là có điều kiện rước chầu

- Rước kiệu là một hoạt động tín ngưỡng hết sức nghiêm trang và vui vẻ.Hầu kiệu có những người che lọng, vác cờ, bát bửu, tấu nhạc bát âm, đánhchiêng trống, phường chèo đóng đường (vừa đi vừa diễn) Làng ở xa phảirước hai ba ngày mới tới đền

- Trò chơi: Thường có các mục đu tiên, ném còn, kéo co, chọi gà, đánh vật,bắn nỏ thi, kéo lửa nấu cơm thi, bịt mắt bắt dê

- Văn nghệ: ban ngày có hát sẩm, hát ví, hát trống quân, cò lả, sa mạc Sẩm là nghệ sĩ dân gian hát lấy tiền thưởng, còn các điệu hát khác do thanhniên nam nữ các làng tự biên tự diễn hát đối đáp nhau cho vui Đêm đến cóhát xoan cửa đền do phường An Thái, Kim Đơn phục vụ, hát chèo, tuồng ởngoài các bãi rộng chân núi

Trang 16

- Một số sinh hoạt ngày nay cấm đoán nhưng xưa rất thịnh hành là đồngbóng, bói toán, cờ bạc.

Năm 1946 giỗ Tổ đầu tiên dưới chính quyền cách mạng, cụ Huỳnh ThúcKháng Phó Chủ tịch nước lên làm lễ dâng hương (mặc áo the, đội khănxếp, khấn vái theo lễ tục cổ truyền) Dịp này cụ Huỳnh còn dâng lên bànthờ Tổ tấm bản đồ Việt Nam và thanh kiếm, là hai vật báu nói lên ý chíbảo vệ đất nước của Chính phủ và nhân dân ta trước họa xâm lăng đang đedọa Trong kháng chiến chống Pháp việc đèn hương tuần tiết do nhân dânquanh đền làm với tư cách cá nhân

Sau năm 1952, Nhà nước bắt đầu chịu trách nhiệm tổ chức giỗ Tổ hàngnăm, thường là tỉnh đứng làm Thành phần Ban tổ chức có UBND, Vănhóa, Thể thao, Y tế, Công an, Thương nghiệp v.v Nghi thức chính là biểu

lễ dâng hương hoa của đoàn đại biểu Quân Dân Chính tỉnh, huyện và xã sởtại

Hội đền Hùng có chiều hướng ngày càng đông và kéo dài Vào những năm

60 ước độ 10 vạn người về dự hội; những năm 70 ước độ 20 vạn; nhữngnăm 80 ước độ 30 vạn; những năm tới có thể lên đến 40-50 vạn Nhữngngày đấy đứng trên đỉnh núi nhìn xuống xung quanh sẽ thấy từ mọi conđường tới đền Hùng, người ta đổ về dự hội như những dòng sông đổ vềbiển cả Đứng từ xa nhìn lên núi sẽ thấy muôn vàn chấm động đủ màu sắchòa lẫn cây xanh như một rừng hoa tươi thắm trước gió xuân

Mọi người già, trẻ, gái, trai náo nức lúc đi, hân hoan lúc đến, lưu luyến lúc

ra về, cảnh trí tình người thân thương tha thiết vô cùng Thật là một dịp hội

Trang 17

nhau sum họp trên đất Tổ quê hương, bộc lộ những tình cảm thiêng liêng

* Phù Đổng Thiên Vương: (Tháng Gióng)

Về thời Hùng Vương thứ 16, nước Văn Lang bị giặc Ân xâm lược Vuacho sứ giả đi rao người tài ra giúp nước Ơở làng Phù Đổng bộ Vũ Ninh cómột cậu bé 3 tuổi nghe tiếng sứ giả bèn vươn người thành cao lớn, xin vuarèn ngựa sắt, nón sắt, roi để đánh giặc Đuổi xong giặc Ân chàng cưỡi ngựabay lên trời Vua Hùng phong là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ trênđỉnh Nghĩa Lĩnh

* Bánh dày bánh chưng:

Trang 18

Vua Hùng thứ 6 muốn chọn con hiền cho nối ngôi, mới ban lệnh thi cỗ.Các hoàng tử ra sức tìm kiếm sơn hào hải vị bày biện Riêng Lang Liêu mẹmới mất không đi xa được, chàng nghĩ cách dùng gạo nếp thơm chế rabánh dày, bánh chưng Vua thấy Lang Liêu hiếu thảo siêng năng, sáng chế

ra hai bánh quý bèn truyền ngôi cho làm Hùng Vương thứ 7

* Dưa hấu:

An Tiêm là con nuôi Vua Hùng, nói năng kiêu ngạo, bị đày ra đảo hoang

Vợ chồng An Tiêm chỉ được mang theo một số lương thực và con daophát Chàng thấy đàn quạ đến đảo ăn thứ quả da xanh lòng đỏ, dây bò trênmặt đất An Tiêm lấy một quả ăn thử thấy ngon ngọt khỏe người, bèn trỉađất rắc hạt trồng khắp đảo Đến vụ thu hoạch chàng gọi thuyền buôn vàobán Vua biết tin liền cho đón về

* Chử Đồng Tử:

Công chúa Tiên Dung con Vua Hùng 18 thích du chơi phóng khoáng.Nàng cưỡi thuyền xuôi sông Cái, đến bãi Tự Nhiên sai căng màn tắm.Không ngờ dội lớp cát trôi lộ ta chàng đánh cá trần truồng vùi mình trong

hố, tên là Chử Đồng Tử Tiên Dung cho rằng duyên trời xe, bèn lấy chànglàm chống Vua cha biết tin giận sai quân đến bắt, thì toàn bộ khu vực củaChử Đồng Tử tách khỏi đất bay lên trời

* Sơn Tinh - Thủy Tinh:

Sơn Tinh và Thủy Tinh đều đến cầu hôn công chúa Ngọc Hoa con VuaHùng 18 Nhà vua hẹn ai đem lễ vật đến trước sẽ được lấy công chúa, Sơn

Ngày đăng: 24/05/2015, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w