1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra

36 693 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
Tác giả PGS.TS. Nguyễn Trường Đào, Thị Mùi
Trường học Đại Học VietinBank
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 646,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia.

Trang 1

Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra

Trường Đào tạo PTNNL VietinBank

Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia Diễn biến của TGHĐ giữa USD với Euro, giữa USD/JPY cũng như sự biến động tỷ giá giữa USD/VND trong thời gian qua cho thấy, tỷ giá luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm Ở Việt Nam, TGHĐ không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng Khi TGHĐ biến động theo chiều hướng không thuận, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện nhiều giải pháp như: nới rộng biên độ +/-5% (3/2009); hạ biên độ xuống +/- 3% (2/2010), đồng thời với việc điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng 3,36% ; 4/2010 NHNN yêu cầu các Tổng công ty, Tập đoàn có thu ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và kiểm kiểm soát chặt chẽ các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các địa điểm mua bán ngoại tệ Gần đây nhất vào ngày 18/8/2010, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng lên hơn 2% (từ 18.544VND/USD lên 18.932 VND/USD) và giữa nguyên biên độ Với những giải pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước bình

ổn, tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh hóa các giao dịch vốn trong xã hội.

Trong thời gian tới, TGHĐ biến động theo hướng nào, quả thật không dễ dự đoán Sự biến động của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động như: nhập siêu còn lớn không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP); giá vàng trong nước và thế giới luôn tăng mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia Châu Âu, châu Mỹ); nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng cuối năm sẽ tăng cao do khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng; do nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước của các nhà đầu tư nước ngoài; do kinh tế ngầm vẫn phát triển rất mạnh, khó có khả năng ngăn chặn, nên đôla hóa nền kinh tế còn ở mức cao; do thực hiện chính sách đồng tiền mạnh/ hay yếu của một số quốc gia trong khu vực… Như vậy sẽ có vài vấn đề đặt ra đối với TGHĐ:

Một là, có thể điều chỉnh TGHĐ theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trong bối cảnh một số nước Châu

Âu đang rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công, còn Trung quốc lại nâng giá đồng nhân dân tệ?

Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công từ một số nước Châu Âu đang có chiều hướng lan rộng.Trong 7 tháng đầu năm 2010, Euro đã giảm giá 15,7% so với USD, giảm 8,5% so với đồng GBP và thậm chí giảm 20% so với đồng JPY.i Trung quốc nâng giá Nhân dân tệ, ít nhiều tác động đến quan hệ ngoại thương giữa hai nuớc, tuy không lớn.

Tỷ giá USD/EUR từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2010

Như vậy TGHĐ sẽ phải điều chỉnh thế nào và khi nào để không gây ra những cú sốc và không tạo

kỳ vọng mất giá đồng Việt Nam TGHĐ là giá cả đối ngoại của đồng tiền, theo tín hiệu thị trường tỷ

Trang 2

giá lúc lên, lúc xuống phải được xem là việc bình thường của nền kinh tế Còn khi tỷ giá diễn biến theo chiều hướng bất lợi, thì bất cứ Quốc gia nào cũng cần can thiệp tỷ giá Điểm khác nhau ở chỗ: thời điểm can thiệp; công cụ can thiệp, mức độ can thiệp và sự giám sát của quá trình can thiệp Kinh nghiệm của nhiều Quốc gia trong điều hành chính sách tỷ giá cho thấy, việc chọn thời điểm điều chỉnh với “liều lượng” hợp lý là yếu tố quan trọng, thậm chí quyết định cho việc ổn định

tỷ giá và khắc phục áp lực cộng hưởng lên tỷ giá và thị trường Với kinh nghiệm này, khi tỷ giá đang dần ở thế ổn định, NHTW sẽ chủ động (tính toán một cách cụ thể) điều chỉnh tăng/giảm nếu

dự báo trong thời gian tới là cần thiết, không nên để diễn biến tỷ giá ở mức “nóng” mới điều chỉnh, bởi điều chỉnh thời điểm này dễ gây hiệu ứng bất ổn từ tỷ giá sang các chỉ tiêu vĩ mô khác.

Hai là, Để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, thì xử lý TGHĐ có phải là biện pháp hữu

hiệu?

Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu ii đã cho rằng: các đợt phá giá tiền vừa qua, không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại”, vì thế nếu cứ coi TGHĐ là một trong những rào cản cho xuất khẩu, để “lập luận” cần phải giảm giá VND, để cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam sẽ

là chưa ổn? Do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có nhiều bất cập, 70 -80% đầu vào của mặt hàng xuất khẩu là nhập khẩu, trong khi xuất khẩu lại lệ thuộc vào biến động trên thị trường quốc tế về điều kiện thương mại cũng như biến động giá cả Ở khía cạnh nhập khẩu, TGHĐ có thực sự hạn hạn chế nhập khẩu, để thông qua đó hạn chế nhập siêu? Điều này cũng không hẳn như vậy Do xuất khẩu nhiều, nhưng hầu hết ở dạng thô, giá trị gia tăng trên từng đơn vị xuất khẩu không cao, trong khi nhập siêu rất lớn, chủ yếu từ Trung Quốc (chiếm đến 80-90%/tổng kim ngạch nhập khẩu) Như vậy sự phụ thuộc của giá cả trong nước vào giá cả thị trường quốc tế khá lớn

Do đó, các ý kiến cho rằng cần xử lý tỷ giá theo hướng tăng để khuyến khích xuất khẩu, chủ động nhập khẩu là trực tiếp hoặc gián tiếp thu hẹp vai trò của tỷ giá iii, trong khi TGHĐ còn liên quan đến hàng loạt vấn đề như cán cân thanh toán, nợ quốc gia, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và bất động sản Chỉ xét riêng mối quan hệ giữa tỷ giá với nợ quốc gia cũng cho thấy cần rất thận trọng trong việc nâng hay giảm giá của tiền đồng Nợ quốc gia của Việt Nam chủ yếu là nợ nước ngoài (khoảng 40% GDP), nếu giảm giá tiền tệ thì ảnh hưởng không nhỏ đến nợ quốc gia Với cơ cấu nợ công iv của Việt Nam nghiêng về nợ nước ngoài, thì khi tỷ giá điều chỉnh tăng lên,

sẽ dẫn đến rủi ro nợ công do lãi suất biến động theo xu hướng tăng Như vậy sẽ dẫn đến chênh lệch lãi suất quá lớn giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, sẽ làm gia tăng mức độ đôla hóa và tiếp tục tạo áp lực lên TGHĐ Vì vậy, khi cần điều chỉnh tỷ giá không chỉ đặt nó trong mối quan hệ với xuất, nhập khẩu, mà còn phải xem nó trong mối quan hệ với đầu tư, lãi suất và vay

nợ nước ngoài v.v… trong chiến lược chung là nâng cao uy tín và vị thế của VND, hướng đến một đồng tiền tự do chuyển đổi trong khu vực.

Ba là, có khắc phục được yếu tố kỳ vọng VND mất giá?

Khi người dân và doanh nghiệp luôn kỳ vọng VND mất giá, sẽ làm giảm niềm tin của người dân vào điều hành chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ, NHNN, tiếp tục gây ra những bất ổn trên thị trường Điều này đã và đang xảy ra trong dân chúng Khi tỷ giá trên thị trường tự do biến động tăng, người dân nghĩ ngay đến việc NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá theo hướng VND giảm giá Khi giảm giá VND thì giá một số hàng hóa dịch vụ tăng, lãi suất cho vay và huy động cũng bị đẩy lên cao, các giao dịch ngắn hạn trở lên phổ biến hơn lúc nào hết (gửi tiền cũng chỉ chấp nhận kỳ hạn ngắn từ tuần, đến tháng; nếu có gửi kỳ hạn 6 tháng hay 1 năm thì các NHTM lại phải áp dụng theo kiểu “rút ra trước hạn ở thời điểm nào sẽ được hưởng lãi suất ở kỳ hạn đó” Nếu vẫn cứ tiếp cách hành xử này, VND luôn đặt trong xu thế điều chỉnh giảm Điều này là rất bất ổn trong trung hạn Vậy có khắc phục được vấn đề này không? Theo chúng tôi có thể khắc phục được bằng cách trong ngắn hạn cần chấp nhận một tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn hiện tại (trên dưới 5%), duy trì một

tỷ lệ lạm phát thấp (trên dưới 6%), đồng thời với nó là dùng các biện pháp để nâng giá tiền đồng, tạo một sự thay đổi từ nhận thức của người dân Việc làm này sẽ tạo yếu tố tâm lý rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh niềm tin của người dân bị suy giảm về sự không ổn định sức mua của tiền

Trang 3

đồng, họ có tiền nhàn rỗi sẽ nhanh chóng chuyển sang vàng và ngoại tệ nắm giữ v.

Khi VND lên giá, có thể sẽ làm tăng thêm tình trạng nhập siêu, xuất khẩu có thể giảm đi Nhưng như đã phân tích trên, yếu tố tỷ giá có tác động đến xuất nhập khẩu nhưng không hẳn là yếu tố quyết định Vì vậy hướng đến sự ổn định tỷ giá trong trung hạn, rất cần thiết có cách nhìn mới về vấn đề này./.

-i Tính toán theo số l -iệu từ RatesFX

ii Đề tài nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Quy: ở Việt Nam, tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại không rõ ràng Cuộc phá giá VND giai đoạn 1998 - 2001 không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại do năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu kém, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là những mặt hàng ít nhạy cảm vào thay đổi tỷ giá, chính sách thương mại có xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước; VND được định giá cao so với giá trị thực của nó Ý kiến của Ông Trương Đình Tuyển – nguyên Bộ trưởng BTM cũng khẳng định: “TGHĐ có tác động không lớn đến xuất khẩu ở Việt Nam”.

iii Tham khảo thêm bài của TS Vũ Đình Ánh “Xác định lại vai trò và quan điểm điều hành tỷ giá hối đoái” – Kỷ yếu HTKH VietinBank tháng 6 năm 2010.

iv Thống kê chính thức, nợ của Việt Nam hiện nay là 44,7% GDP năm 2009, đứng thứ 44/129 quốc gia, còn theo số liệu của WB, con số này là 47,5% GDP năm 2009 Nguồn số liệu thống kê

và WB.

v Có thể tham khảo bài viết của TS Nguyễn Đức Độ: “Kỳ vọng VND mất giá & những tác động chủ yếu đến nền kinh tế” – Kỷ yếu HTKH, VietinBank tháng 6 năm 2010.

Tỷ giá và chính sách tỷ giá ở Việt Nam hiện nay

A.Mở Đầu :tính cấp thiết của đề tài

Lời mở đầu

Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều

mặt hoạt động của nền kinh tế Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương và quay

trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại cán cân

thanh toán của mỗi quốc gia Xây dựng thành công một chính sách điều

hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp Nghiên cứu

vấn đề này là một đề tài mang tính cấp thiết trong thời gian gần đây

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình toàn

cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ

yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Những tiến bộ nhanh chóng về

khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc

gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá cao độ Trong bối cảnh

đó, việc quản lý nền kinh tế của một nước không thể quyết định một cách

biệt lập, và Việt Nam không phải một ngoại lệ

Thực trạng điều hành tỷ giá ở Việt Nam thời gian qua là một nội dung

quan trọng Khái quát sự đổi mới hệ thống tài chính trên lĩnh vực tỷ giá

Trang 4

nhằm làm sáng tỏ những ưu nhược điểm để từ đó có những điều chỉnh thích hợp

Góp phần vào những nghiên cứu, phân tích, trong bài tiểu luận này

chúng em cũng xin được trình bày về một vấn đề đa dạng, phức tạp và cũng

vô cùng quan trọng này thông qua đề tài: “Tỷ giá và chính sách tỷ giá ở Việt Nam hiện nay “ Với kiến thức còn nhiều thiếu sót, cơ sở số liệu thống

kê không đầy đủ và tính phức tạp của đề tài nên trong bài viết không tránh khỏi khiếm khuyết rất mong được sự góp ý của thầy giáo và các bạn

b.Biểu diễn và niêm yết tỷ giá: Trong tỷ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng kia đóng vai trò là đồng định giá Đồng tiền yết giá là đồng tiền có số đơn vị cố đinh và bằng 1 đơn vị

Đồng tiền định giá là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối Ví dụ 1USD =19000 VND thì USD là đồng tiền yết giá và VND là đồng tiền định giá

Theo tập quán kinh doanh ngoại tệ, tỷ giá thường được yết giá theo hai phương pháp:

+ phương pháp yết tỷ giá trực tiếp: Là khi nhìn vào tỷ giá biết ngay được giá trị 1 đơn vị đồng nội tệ bằng bao nhiêu số lượng ngoại tệ Ví dụ tại Anh: 1GBP = 1,5000 USD

+ phương pháp yết giá gián tiếp: khi nhìn vào tỷ giá chưa biết được ngay 1 đơn vị nội tệ so với ngoại tệ là bao nhiêu, ngoại tệ làm đơn vị so sánh với số lượng nội tệ Vi dụ Tại ngân hàng sacombank: 1USD= 19000 VND

c Phân loại tỷ giá: Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ giá là tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế

Tỷ giá danh nghĩa :là mức giá thị trường của môt đồng tiền tính bằng đồng tiền khác vào một thời điểm nhất định Tỷ giá này thường được công bố hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, do ngân hàng nhà nước công bố Tỷ giá danh nghĩa không phản ánh tương quan thực sự giữa các đồng tiền do sự tác động của giá cả, lạm phát và các nhân tố khác

Tỷ giá thực tế: là tỷ giá phản ánh tương quan sức mua giữa hai đồng tiền,

là tỷ giá danh nghĩa có tính đến yếu tố lạm phát

2 Các nhân tố ảnh hưởng và tác động của tỷ giá:

a Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá:

* Nhân tố tác động động ngắn hạn: 1 Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước

Lãi xuất là giá của tiền tệ; lãi xuất tăng, đồng tiền lên giá (tỷ giá có thể giảm), lãi xuất giảm,đồng tiền xuống giá (tỷ giá có thể tăng) Nước nào có

Trang 5

lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, làm cho tỷ giá sẽ giảm xuống.

Khi lựa chọn nắm giữ đồng tiền nội tệ và đồng ngoại tệ (cụ thể là USD), người ta sẽ xem xét mức lãi suất thực tế của 2 đồng tiền này

Khi lãi suất của VND cao hơn lãi suất của USD (lãi suất thực), người ta sẽ

có xu hướng chuyển từ nắm giữ USD sang nắm giữ VND Điều này làm cho nhu cầu VND tăng lên, cầu về USD giảm đi, từ đó giá USD sẽ giảm đi so với VND, hay tỷ giá giảm tới một mức tỷ giá mới mà cung cầu USD-VND trở nên cân bằng Khi đó, lãi suất thực tế của VND và USD tương đương nhau

Khi có ảnh hưởng của lạm phát, mặc dù lãi suất danh nghĩa tăng, nhưng lãi suất thực tế giảm, lúc này ngược lai- VND sẽ giảm giá so với USD, dẫn tới tỷ giá tăng

Ngược lại, khi đồng USD tăng giá, để tạo cân bằng trên thị trường ngoại hối, NHTW sẽ chủ động tăng lãi suất đồng nội tệ(VND) thông qua đẩy mạnh lượng cung ngoại tệ ra nền kinh tế đồng thời hút bớt đồng nội tệ về Điều này làm cho cung cầu ngoại hối trở nên cân bằng

2 Các nhà kinh doanh cần dự đoán chính xác về các biến kinh tế nhằm

có những bước đi đúng đắn Vậy việc dự đoán như vậy có ảnh hưởng gì tới

tỷ giá không?

Nếu một nhân tố nào đó làm cho tỷ giá tương lai dự tính của nội tệ(VND) sụt xuống thì làm cho mức tăng giá dự tính của VND giảm xuống và như vậy làm cho mức tămg giá dự tính của đôla tăng lên Kết quả là một khoản lợi tức dự tính cao hơn về tiền gửi đôla, và dẫn tới việc giảm xuống của tỷ giá Ngựơc lại, một sự tăng lên của tỷ giá tương lai dự tính sẽ làm cho đồng nội tệ tăng giá

Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lạm phát tăng trong khi lãi suất thực tế không đổi thì mức tăng giá dự tính của VND giảm xuống (mức tăng giá của USD cao hơn) Kết quả là, với một tỷ giá đã cho bất kỳ lợi tức dự tính về tiền gửi nước ngoài tăng nhiều hơn lợi tức dự tính trong nước, như vậy tỷ giá

sẽ giảm

Nếu lãi suất danh nghĩa dự tính tăng do lãi suất thực tế tăng trong khi lạm phát dự tính không đổi thì đồng nội tệ sẽ tăng

3 Ảnh hưởng của những cú sốc về kinh tế, chính trị

Kinh tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau Nếu như trong nước xảy ra khủng hoảng chính trị thì sẽ làm đồng nội tệ sụt gía do người dân mất niềm tin vào chính phủ Nếu nền kinh tế bị suy thoái thì cung ngoại tệ giảm dẫn tới sự thiếu hụt đồng ngoại tệ và điều tất yếu là đồng ngoại tệ lên giá( hay đồng nội tệ mất giá) Trong trường hợp nền kinh

tế tăng trưởng cũng tác động tương tự tới tỷ giá, khi đó chi tiêu của thi

trường trong nước tăng lên, cung ngoại tệ tăng lên và điều này làm đồng nội

tệ tụt giá

Trang 6

Khi xảy ra thiên tai, hạn hán bão lũ, mất mùa, chiến tranh…thì nhu cầu

về ngoại ngoại hối bất thường tăng lên làm cung làm đòng ngoại tệ tăng giá

4 Thị trường ngoại hối cũng giống như nhiều thị trường khác, ngân hàng Trung Ương có thể và đã can thiệp vào thường xuyên vào thị trường Các NHTW cố gắng ảnh hưởng đến tỷ giá của nước mình bằng cách mua và bán các đồng tiền

Nếu NHTW làm thay đổi cơ số tiền: bán đồng tiền trong nước mua tài

sản nước ngoài làm cung tiền tệ tăng dẫn đến mức giả cả trong nước cao hơn

và tỷ giá tương lai dự tính thấp hơn Ngược lại, nếu NHTW bán tài sản nước ngoài mua nội tệ thì đồng tiền trong nước tăng

Phương pháp lãi suất chiết khấu: Đây là phương pháp thường được sử

dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị rường Với phương pháp này, khi

tỷ giá hối đoái đạt đến mức "báo động" cần phải can thiệp thì ngân hàng trungương nâng cao lãi suất chiết khấu Do lãi suất chiết khấu tăng, lãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng lên kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi cao hơn Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, tỷ giá hối đoái không có cơ hội để tăng nữa Các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái như là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái Nguồn vốn để hình thành quỹ thường là:

+ Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia

+ Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái Theo phương

pháp này, khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân thanh toán

Phá giá đồng tiền là việc nâng cao hoặc làm hạ thấp sức mua của đồng tiền đối với các ngoại tệ Kết quả của phá giá đồng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Trên thế giới, việc phá giá đồng tiền thường được sử dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế dồi dào, nhưng phải đối đầu với suy thoái kinh tế đi đôi với lạm phát trầm trọng

*Nhân tố tác động trong dài hạn:

Những nhân tố tác động đến cán cân vãng lai qua đó tác động đến xu hướng biến động của tỷ giá trong dài hạn chính là cán cân bộ phận thuộc

CA(current account).Các nhân tố chính ảnh hưởng đến từng cán cân bộ phận, qua tác động đến tỷ giá trong dài hạn bao gồm:

+) Cán cân thương mại và dịch vụ: Với các nhân tố khác không đổi, cán cân thương mại và cán cân dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi: tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền , thu nhập của người cư trú và người không cư trú, thuế quan và hạn ngạch, tâm lý của người dân

Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền :Nếu như mức độ lạm phát

giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, dẫn đến giá cả của hai nước sẽ có những biến động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền bị phá vỡ, khi đó sẽ làm thay đổi tỷ giá Vì tỷ lệ lạm phát thường ít thay đổi trong ngắn hạn, chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn, vì

Trang 7

vậy tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn

Thu nhập của người cư trú và người không cư trú: nếu thu nhập

của người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú, kích thích tăng nhập khẩu dòng, làm tăng cầu nội tệ khiến tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá Nếu thu nhập của người không cư trú tăng tương đối so với người cư trú, kích thích tăng xuất khẩu dòng,làm tăng cung ngoại tệ, khiến tỷ giá giảm Thuế quan và hạn ngạch:

Nếu là trong nước : một quốc gia tăng thuế quan hoặc áp dụng

hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giảm cầu ngoại tệ , tác dụng làm tỷ giá giảm Nếu quốc gia đó giảm mức thếu quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu , tăng cầu ngoại tệ tỷ giá tăng

Nếu là ở nước ngoài : Phía nước ngoài tăng mức thuế quan

hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giả cung ngoại tệ, làm cho tỷ giá tăng Nếu phía nước ngoài giảm mức thuế quan và dỡ vỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu làm tăng cung ngoại tệ làm ho tỷ giá giảm Tâm lý ưa thích hàng ngoại: Chừng nào người dân một nước còn ưa

thích hàng ngoại hơn hàng nôi thì vẫn sẽ kích thích nhập khẩu làm tăng cầu ngoại tệ khiến tỷ giá tăng

+) Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều : Các nhân tố ảnh hưởng đến như mối quan hệ, lòng từ thiện…Các khoản thu chuyển giao vãng lai một chiều từ người không cư trú được ghi (+) và các khoản chi cho người không

cư trú đực ghi (-) Nếu cán cân chuyển giao dòng dương(thu>chi) làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, làm cho tỷ giá giảm, Ngược lại cán cân mà âm làm tăng cầu ngoại tệ và tỷ giá tăng

+) Cán cân thu nhập: Nhân tố quyết định đến thu nhập từ người lao động ở nước ngoài đó là số lượng mức lương và tỷ lệ tiết kiệm của họ Nhân tố quyết định đến thu ngập từ đầu tư nước ngoài là giá trị đầu tư ở nước ngoài trước đó và tỷ lệ sinh lời của đầu tư Nếu cán cân thu nhập dòng dương, làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối,làm tỷ giá giảm.ngược lại cán cân thu nhập dòng âm làm tăng cầu về ngoại tệ làm tỷ giá tăng

b.Tác động của tỷ giá:

Đối với từng quốc gia hay nhóm quốc gia (nếu có sự liên kết

và có đồng tiền chung) thì tỷ giá hối đoái mà họ quan tâm

hàng đầu chính là tỷ giá giữa đồng tiền của chính quốc gia

đó ,hay nhóm các quốc gia đó (đòng nội tệ) với các đồng tiền

của các quốc gia khác ( các đồng ngoại tệ) Tỷ giá giữ vai trò

quan trọng đối với mọi nền kinh tế Sự vận động của nó có

tác động sâu sắc mạnh mẽ tới mục tiêu,chính sách kinh tế vĩ

mô của mỗi quốc gia thể hiện trên hai điểm cơ bản sau:

Thứ nhất - TGHĐ và ngoại thương: Tỷ giá giữa đồng nội tệ

và ngoại tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên

nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của

Trang 8

chính quốc gia đó Khi đồng tiền của một quốc

gia tăng giá (Tăng trị giá so với đồng tiền khác)thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn.Ngược lại khi đồng tiền một nước sụt giá,hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn(các yếu tố khác không đổi) Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế,gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân

Thứ hai - TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát:

Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương, mà thông qua đó tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp…

Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994 thấp hơn mức 1USD = 13500VND của năm 1998, tức tiền Việ Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành tiền Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự và trong đó có cả

nguyên vật liệu ,máy móc cho sản xuất Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi,thì điều này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên Nếu tỷ giá hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm (đồng nội tệ Việt Nam liên tục mất giá) có nghĩa lạm phát đã tăng Nhưng bên cạnh đó, đối với lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước, thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúp phát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên Ngược lại, nếu các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm, khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực trong nước cũng có xu

hướng giảm, sản lượng quốc gia có thể giảm, thất nghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên… nếu tỷ gá hối đoái giảm xuống (USD giảm giá hay VND tăng giá)

Khi tỷ giá giảm, tức giá trị đồng nội tệ giảm nên giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bằng tiền nước ngoài giảm , sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường thế giới sẽ tăng lên có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Đồng thời với việc

tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tăng lên dẫn đến hạn chế nhập khẩu Ngược lại khi tỷ giá tăng, nghĩa là giá trị đồng nội tệ tăng thì có tác động giảm xuất khẩu và

Trang 9

tăng nhập khẩu hàng hoá

Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư

bản (vốn) từ

quốc gia này sang quốc gia khác Việc di chuyển tư bản trên

thế giới nhằm mục đích kiếm lời nhuận và tránh rủi ro Do

đó, nếu tỷ giá giảm trong

trường hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa

thì tư bản nhập

khẩu sẽ gia tăng và tư bản xuất khẩu sẽ giảm

Ngoài các nhân tố khác, vật giá trong một quốc gia còn chịu

sự tác động

của tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá giảm ,giá tư liệu sản xuất và tư

liệu tiêu dùng nhập khẩu tăng lên kéo theo giá cả các mặt

hàng trong nước có liên quan cũng tăng theo Đồng thời do

tác động giảm nhập khẩu nên cầu về các hàng hoá nhập

khẩu cũng sẽ gia tăng, tất điều đó làm cho giá cả chung

trong nền kinh tế cũng gia tăng Ngược lại, khi tỷ giá tăng sẽ

có tác động làm cho mức giá chung giảm

II Thực trạng tỷ giá ở Việt Nam trong thời gian qua:

ra từ đầu năm tới nay, cho thấy thị trường ngoại hối luôn căng

thẳng(theo dõi biểu đồ dưới)

Trang 10

Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ 2008-2009

Biểu đồ cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD thương mại thì thiếu Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần

do NHNN quy định Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng

Trang 11

nhập khẩu tăng mạnh

Để thấy rõ sự biến động của chúng thi so sánh ở ba góc độ của thị trường là thị trường liên ngân hàng, thị trường tự do, tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong 4 giai đoạn

tháng 1 - tháng 3;

tháng 4 - tháng 9;

tháng 10 - ngày 24/11

và từ 25/11 đến hết năm 2009

Đầu tiên, xét trên thị trường liên ngân hàng

Ở giai đoạn 1, tỷ giá dao động trong khoảng 17.450 đồng - 17.700 đồng, cách giá trần khoảng từ 0 - 200 điểm (một điểm tương đương một đồng), lúc

đó tính thanh khoản thị trường kém, nguồn cung khan hiếm, ngoại trừ thời điểm thị trường được bổ sung từ doanh thu xuất khẩu vàng

Giai đoạn 2, tỷ giá liên ngân hàng sát giá trần của Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nhà nước) trong khoảng 10 ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng biên độ tỷ giá (từ +/- 3% lên +/- 5% vào ngày 23/3/2009) Tuy nhiên đến 9/4, tỷ giá liên ngân hàng tăng mạnh và duy trì biên độ 200 - 600 điểm

Giai đoạn 4, tỷ giá giao dịch liên ngân hàng giảm từ mức cao 19.800 đồng xuống

Ở thị trường tự do, tỷ giá biến động dữ dội hơn rất nhiều

Giai đoạn 1, chúng dao động trong khoảng 17.450 đồng - 17.800 đồng, cao hơn tỷ giá trên liên ngân hàng trên 100 điểm

Giai đoạn 2, từ 18.180 đồng - 18.250 đồng nhưng từ nửa cuối tháng 6/2009, tăng lên mức 18.450 đồng - 18.500 đồng

Sang giai đoạn 3, tỷ giá thị trường tự do tăng rất nhanh, đạt đỉnh 20.000 đồng rồi giảm nhanh về 18.700 đồng trước khi tăng trở lại và duy trì ở mức 19.000 đồng - 19.300 đồng

Đến giai đoạn 4, tỷ giá thị trường này giảm mạnh

Trang 12

Nếu như tỷ giá hai thị trường trên biến động mạnh thì biến động của tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ

sở cho tỷ giá thị trường biến động rất ít ở giai đoạn 1, chúng biến động nhỏ và xoay quanh mức 16.980 đồng Giai đoạn 2, sau khi nới biên độ, tỷ giá giảm từ 16.980 đồng xuống 16.935 đồng (- 0,26%) và duy trì đến hết tháng 5/2009 Từ tháng 6/2009, mặc dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng dần nhưng mức tăng thấp Giai đoạn 3, nhịp độ tăng của tỷ giá bình

cán cân thương mại là số liệu ước tính lấy từ bản tin hàng tháng của tổng cục Thống kê)

2.HAN CHE VA NGUYEN NHAN

2.1 han che

Trong cơ chế hai tỷ giá này Nhà nước sẽ mất một khoản thu thuế do sự chênh lệch tiền mua bán ngoài hóa đơn này DN mua USD bị thiệt do chỉ được xuất hóa đơn với tỷ giá thấp hơn thực tế phải trả Cái thiệt lớn nhất là sự mất cân đối trong cung cấu ngọai tệ của nền kinh tế, vô tình cổ vũ cho thị trường USD tự do mặt sức tung hòanh Sự khan hiếm USD vô tình được thổi phồng quá mức, mà trước hết là do sự chênh lệch quá lớn giữa tỷ giá USD giữa hai thị trường

Theo các chuyên gia kinh tế, cách điều hành tỷ giá, chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước hơi bảo thủ, cứng nhắc; việc minh bạch thông tin cũng không được thực hiện

- Về cách điều hành bảo thủ, cứng nhắc:

Công cụ duy nhất để điều hòa thị trường ngoại tệ là tung ngoại hối ra và nới lỏng biên độ hoặc sử dụng các biện pháp kỹ thuật về tiền tệ Có thể nói, NHNN chỉ sử dụng các công cụ trực tiếp để thực hiện chính sách tỷ giá Ngân hàng còn đề ra mức khống chế lượng bán ra trong ngày đối với từng chi nhánh tùy theo quy mô của chi nhánh đó

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng chính phủ có văn bản số 2578/TTg-

KTTH yêu cầu 7 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước bán ngay số ngoại tệ dưới dạng tiền gửi và các nguồn thu vãng lai cho các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối 7 tập đoàn, tổng công ty này bao gồm: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Lương thực miền Nam, Tổng công ty Lương thực miền Bắc, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam, Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam và Tổng công ty Hóa chất Việt Nam

Bên cạnh đó, chúng ta thiếu công cụ phòng ngừa rủi ro dẫn đến quản

lý thị trường ngoại hối cũng có những hạn chế nhất định trong việc chuyển đổi tiền tệ, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn

- Về việc thiếu minh bạch thông tin:

Nguyên nhân đầu tiên khiến việc điều hành tỷ giá “méo mó” như thời

gian qua là do sự cam kết của NHNN Ngân hàng càng cam kết thì thị

trường càng không tin, đầu tiên là hệ thống NHTM NHNN cam kết nhưng lại thiếu minh bạch thông tin (về dự trữ, cán cân thanh toán quốc tế…) người dân, doanh nghiệp cần những thông tin này nhưng mỗi người nói một câu, người thì đưa ra thông tin lượng kiều hối giảm, người thì đưa ra FDI giảm…

mà không có thông tin tổng thể

Trang 13

Ngày 25/11/2009 Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu đã ra quyết

giảm biên độ dao động tỷ giá từ mức ±5% xuống còn ±3%, trong khi trước

đó cam kết biên độ dao động sẽ giữ nguyên ở mức ±5% cho đến hết năm

2009 Qua đó, có thể thấy rõ tình trạng không thống nhất trong điều hành chính sách tỷ giá

2.2 Nguyên nhân của tình trạng căng thẳng tỷ giá

1.Mặc dù ngân hàng quá dồi dào nguồn ngoại tệ cho vay tới hàng tỷ USD, khiến lãi suất giảm thấp (dĩ nhiên, lãi suất USD giảm ở Việt Nam còn có một nguyên nhân khác là đồng USD xuống giá so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác) nhưng nguồn để kinh doanh (bán ra) thì thiếu

Khi thiếu, một mặt ngân hàng không có nguồn bán cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp tăng cường “vét” trên thị trường tự do, đẩy tỷ giá ở thị trường này tăng chóng mặt; mặt khác, họ hối thúc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra Thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã hành động theo hướng này và mỗi lần thực hiện “bơm” ra, thị trường bình ổn trở lại nhưng khi hết đợt, tỷ giá lại tăng

Có những thời điểm, Ngân hàng Nhà nước bán ra bao nhiêu, hết bấy nhiêu, hệt như đổ vào “hố đen” không đáy

2 ở một quốc gia bị “Đô la hóa” từ lâu như Việt Nam, khi Chính phủ có chủ trương hỗ trợ lãi suất đã làm cho lãi suất cho vay của đồng Việt Nam giảm xuống Tuy nhiên, vì Chính phủ không song song hỗ trợ lãi suất đồng USD nên đã làm cho khoảng cách của chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND

bị thu hẹp lại Khi khoảng cách này càng gần thì nghiễm nhiên, VND trở nên mất giá và đồng USD bị tăng giá cục bộ ở Việt Nam một cách giả tạo

Từ đó, một lượng lớn ngoại tệ bị rút khỏi lưu thông, nằm dưới dạng “tài sản

để dành”, “găm giữ” của doanh nghiệp và dân chúng trên tài khoản hoặc ở két sắt, chờ tỷ giá tăng để săn tìm lợi nhuận

Dĩ nhiên, tác động phụ này sẽ không xảy ra nếu Chính phủ đồng thời làm hai việc vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng nội tệ, vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng ngoại tệ, nhằm phản ánh đúng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam so với tỷ lệ lạm phát của Mỹ cũng Bên cạnh đó, chúng ta thiếu công cụ phòng ngừa rủi

ro dẫn đến quản lý thị trường ngoại hối cũng có những hạn chế nhất định trong việc chuyển đổi tiền tệ, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn.như uy tín của VND so với USD

3.Tac dong của chính sách tỷ giá

Chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã dẫn đến một số hệ lụy quan trọng Việc định giá VND cao so với USD trong một thời gian dài đã góp phần làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đồng thời khuyến khích nhập khẩu Điều này được chứng minh bằng một thực tế là nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh liên tục trong mấy năm trở lại đây, từ 2,8 tỷ USD trong năm 2006 lên 8,2 tỷ USD năm 2007 và 17,5 tỷ USD trong năm 2008,năm

2009 là 12 tỷ

Nhập siêu tăng nhanh trở lại trong khi các nguồn thu ngoại tệ chính như xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, kiều hối và du lịch đều giảm sút mạnh so với năm

Trang 14

2008; và cùng với việc doanh nghiệp và người dân chuyển sang nắm USD

và vàng đã làm cho cán cân thanh toán của Việt Nam thâm hụt nặng Khiến

dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm một cách tương ứng (từ khoảng 23 tỷ USD vào cuối năm 2008 xuống còn hơn 17 tỷ USD vào quý 3/2009), mặt khác khiến áp lực giảm giá VND tiếp tục được duy trì

Thị trường ngoại hối luôn căng thẳng, hoạt động trở nên kém hiệu quả.tình trạng khan hiếm khiến nhiều doanh nghiệp không thể mua được ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.điều này làm cho thị trường ngầm càng sôi động Tác động tới DN:Công ty Xi măng Tam Điệp (29,281 tỉ đồng), nhưng sau khi đánh giá lại các khoản nợ có gốc ngoại tệ thì lợi nhuận của 2 công ty này lại bằng không Trong lúc đó, Công ty Xi măng Hoàng Thạch lãi 457,4 tỉ đồng, nhưng do chênh lệch tỷ giá khiến thực tế công ty này chỉ còn lãi 330 tỉ đồng

III GIẢI PHÁP

Để thực hiện chính sách tỷ giá thúc đẩy cho xuất khẩu, có một số ý kiến đề nghị Chính phủ và NHNN Việt Nam phá giá đồng tiền Việt Nam; hoặc đề nghị nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá, nên về bản chất chỉ khác là “phá giá

có giới hạn” Cả hai giải pháp này nhìn bề ngoài thì có thể kỳ vọng tác động phần nào đến xuất khẩu nhưng phân tích bản chất thì tăng trưởng xuất khẩu bền vững không thể trông chờ vào yếu tố tỷ giá được Hơn nữa, việc phá giá đồng tiền Việt Nam sẽ có tác động nhiều chiều, có khi tác động ngược lại còn lớn hơn là mặt tích cực

Theo tính toán của cơ quan chức năng, nếu đồng Việt Nam mất giá 5% thôi thì mỗi năm Ngân sách Nhà nước sẽ chi thêm 26.000 tỷ đồng để trả nợ nước ngoài, các doanh nghiệp cũng phải trả nợ thêm 13.000 tỷ đồng Một tính toán khác đã được công bố cho hay, chỉ tính riêng Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại số nợ nước ngoài phải trả tính ra nội tệ đã tăng thêm tới 800 tỷ đồng Nói cách khác, phá giá đồng Việt Nam, hay để ngoại tệ tăng giá so với VND thì sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp

Và một tác động đặc biệt quan trọng khác là tạo tâm lý đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và chuyển đổi từ VND sang USD, làm gia tăng thêm tình trạng đô

la hoá nền kinh tế

Qua việc tìm hiểu về chính sách tỷ giá trong thời gian qua, nhóm chúng tôi

đề xuất một số giải pháp như sau:

1 Chấm dứt hỗ trợ lãi suất 4% vì bên cạnh tác động thắt chặt tín

dụng, nó còn khuyến khích các doanh nghiệp có USD chuyển một phần dự trữ USD sang VND để đáp ứng các nhu cầu vốn lưu động, nhờ đó giảm áp lực cho thị trường ngoại hối

2 Thực hiện chính sách đa ngoại tệ: Hiện nay trên thị trường ngoại tệ,

mặc dù USD có vị thế mạnh hơn hẳn các ngoại tệ khác, song nếu trong quan

hệ tỷ giá chỉ áp dụng một loại ngoại tệ trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng buộc vào ngoại tệ đó, cụ thể là USD Khi có sự biến động về giá cả USD trên thế giới, lập tức sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ giá của USD đến VND mà thông thường là những ảnh hưởng rất bất lợi

Trang 15

Chúng ta nên lựa chọn những ngoại tệ mạnh để thanh toán và dự trữ,

bao gồm một số đồng tiền của những nước mà chúng ta có quan hệ thanh toán, thương mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất để làm cơ sở cho việc điều chỉnh tỷ giá của VND ví dụ như đồng EURO, yên Nhật vì hiện nay

EU, Nhật là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Chế độ tỷ giá gắn với một rổ ngoại tệ như vậy sẽ làm tăng tính ổn định của TGHĐ danh nghĩa

3.Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để tác động đến tỷ giá: Chính phủ phải tiến hành từng bước tự do hóa lãi suất, làm cho lãi suất thực sự là một loại giá cả được quyết định bởi chính sự cân bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong thị trường chứ không phải bởi những quyết định can thiệp hành chính của Chính phủ

Đặc biệtxoá bỏ thói quen tiêu dùng bằng ngoại tệ cũng như tâm lý sung bái ngoại tệ của người tiêu dùng Việt Nam

+ không nhận tiền gửi bằng ngoại tệ

+ niêm yết giá cả hàng hoá bằng nội tệ

Kết luận

Năm 2009 có thể coi là năm “tiền tệ” tại Việt Nam Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhập siêu cao, lạm phát đứng trước áp lực tăng trở lại vào năm 2010, khan hiếm cục bộ USD, giá vàng sốt nóng, lãi suất ngân hàng lên kịch

trần… trong khi trên thị trường thế giới giá USD giảm mạnh thì trên thị trường Việt Nam tỷ giá ngày càng có xu hướng tăng mạnh Điều này là nghịch lí cho thấy thị trường ngoại tệ Việt Nam còn hoạt động có nhiều yếu kém, tính thanh khoản thấp, không minh bạch.các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro còn chưa phát huy tác dụng

Các chính sách thực hiện còn mang tính hánh chính cướng ép Các chính sách không thực hiện đồng nhất, kém hiệu quả, không dựa trên biến động thực tế của thị trường mà còn mang tính cảm tính của các nhà thực hiện chính sách Nếu không thay đổi chính sách hợp lí thì có thể đánh giá xu hướng của chính sách tỷ giá trong thời gian tới sẽ là tăng tỷ giá và tăng biên

độ dao động điều này có thể có tác động tích cực tới xuất khẩu trong thời gian ngắn nhưng về dài hạn thì có nhiều tiêu cực hơn vì hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu phải nhập khẩu nguyên liệu ví dụ như ngành giầy da, may mặc…

Do đó Việt nam cần chú trọng tới diễn biễn tình hình kinh tế Quốc tế đặc biệt sau thời kì khủng hoảng này để thực hiện các chính sách một cách hợp lí

để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Danh mục tài liệu:

Vn.economy.vn

Giáo trình Tài chính Quốc tế PGS.TS NGUYỄN VĂN TIẾN

Giáo trình kinh tế Quốc tế

Chính sách tỷ giá của Trung Quốc

Trang 16

Trong thời gian qua, mâu thuẫn về vấn đề tiền tệ giữa các trụ cột kinh tế thế giới là Mỹ,

EU, Nhật Bản và Trung Quốc ngày càng trở nên rõ nét do các nước buộc tội lẫn nhau về sự sụt giảm nhu cầu toàn cầu hơn là đánh giá đúng bản chất của thương mại quốc tế trên tinh thần hợp tác để thúc đẩy tăng trưởng

Cũng như nhiều nền kinh tế mới nổi khác, phía Trung Quốc cho rằng, chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng sẽ tạo thặng dư tăng trưởng cho kinh tế toàn cầu vì nó khuyến khích nhà đầu tư đổ vốn nhiều hơn vào các nền kinh tế mới nổi nhằm đạt lợi nhuận cao Trong đó, biện pháp được các nước sử dụng là phong tỏa dòng vốn vào để tăng dự trữ ngoại hối và kiềm chế lạm phát Sau khủng hoảng 1997, một số nước châu Á đã áp dụng biện pháp bất thường này rồi từ từ bãi bỏ Tuy nhiên, Trung Quốc lại duy trì chính sách này quá lâu (kiểm soát dòng vốn vào đồng thời với việc gắn NDT vào USD), và đây là lý do cơ bản để

Mỹ, EU, Nhật Bản hối thúc Trung Quốc phải đẩy nhanh tốc độ tăng giá NDT Trung Quốc

đã phản ứng và khẳng định là chỉ tăng giá NDT theo lộ trình từng bước, NDT tăng 20-40%

sẽ ảnh hưởng đến việc làm của người lao động và các vấn đề xã hội

Nhờ kiểm soát ngoại hối và nhà nước giữ lại ngoại tệ, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng mạnh và chiếm khoảng 30% dự trữ ngoại hối toàn cầu Theo thông tin của

Bloomberg, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng 100 tỷ USD trong tháng 9 lên 2.650 tỷ USD, nhưng lạm phát tăng cao nhất trong 22 tháng qua lên 3,5% vào tháng 8 Để kiểm soát lạm phát, một phần ngoại tệ lại bị đóng băng chứ không bơm vào nền kinh tế, làm gia tăng lượng tiền trong lưu thông và NDT không thể lên giá Mặt khác, tình trạng mất cân bằng ngoại thương cũng được điều chỉnh tự động do Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài Trong 30 năm qua, Trung Quốc đã đạt được tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng cường sản xuất hàng xuất khẩu, nền kinh tế này cần tăng ít nhất 8%/năm để tạo việc làm cho người lao động và ổn định các vấn đề xã hội

Một nghiên cứu của Fed cho thấy, nếu NDT tăng giá khoảng 10% kể từ giữa năm 2005, giá trị xuất khẩu của Trung Quốc có thể giảm 30% so với hiện nay Tuy nhiên, NDT mạnh sẽ cho phép người dân trong nước phải trả ít hơn đối với những nguyên liệu nhập khẩu như xăng dầu, khoáng sản và hàng tư liệu sản xuất, điều này làm lợi cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước Nếu nâng giá NDT một cách nhanh chóng sẽ giảm đáng kể thặng dư thương mại của Trung Quốc, và điều này giúp giảm thâm hụt mậu dịch của Mỹ, những yếu tố khác của tăng trưởng có thể bù cho sự sụt giảm của xuất khẩu Năm ngoái, xuất khẩu thấp đã kéo GDP của Trung Quốc giảm một chút nhưng vẫn tăng 8,7%, trong đó

tỷ trọng đầu tư đã chiếm 92% tăng trưởng GDP và tiêu thụ nội địa nhiều hơn 50%

Từ đầu tháng 9 cho đến giữa tháng 10, USD đã mất giá 7% so với những ngoại tệ khác Do kinh tế Mỹ chưa phục hồi và Fed dự kiến phải bơm tiền vào nền kinh tế, và biện pháp này

sẽ gây ra một chuỗi biến động ngoại hối trên các thị trường quốc tế khiến nhiều người e ngại về một cuộc chiến tiền tệ, châm ngòi cho cuộc chiến thương mại khi các nước đều đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Sở dĩ như vậy là vì, khi NDT được neo vào USD với tỷ giá thấp thì chính USD lại tuột giá nặng, làm cho đồng tiền của những nước khác tăng giá và các chính phủ phải can thiệp vào thị trường ngoại hối Kể từ ngày 21/7/2010, Fed đã nhiều lần phát tín hiệu về đợt nới lỏng tiền tệ mới, khiến đồng USD giảm giá mạnh

so với euro, yên Nhật, frank Thụy Sĩ và các đồng tiền mới nổi Đồng USD yếu tạo ra những luồng “tín dụng nóng” đầu cơ ngắn hạn chảy vào thị trường chứng khoán tại các

Trang 17

nước đang phát triển, nơi hứa hẹn tỷ lệ sinh lợi cao, kênh tín dụng này là một yếu tố đẩy giá hàng hoá tăng cao.

Sự phụ thuộc vào USD mang lại một số lợi thế như ổn định thị trường tiền tệ và NHTW không thể in thêm tiền trong trường hợp thâm hụt ngân sách, vì điều này càng làm cho đồng bản tệ bị mất giá và gây áp lực lạm phát Tuy nhiên, tình trạng phụ thuộc vào USD sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát tiền cung ứng và điều hành tỷ giá, thậm chí NHTW không thể làm gì để giảm bớt lượng tiền dôi ra để kiềm chế lạm phát

Sau khi phát hành tiền để kiềm chế tăng giá NDT, PBC phải bán nợ và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để kiềm chế lạm phát, cho dù NDT lên giá Trong 9 tháng qua, PBC đã bán ròng 209,7 tỷ NDT (32 tỷ USD) trái phiếu sau khi mua ròng 579,5 tỷ NDT trong năm 2009 Đầu tháng 10, PBC đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với 4 NHTM lớn nhất thêm 0,5 điểm phần trăm, động thái này có thể cắt giảm cho vay nền kinh tế khoảng 170 tỷ NDT

Tuy nhiên, những biện pháp thắt chặt tiền tệ trên đây của Trung Quốc đang bị bão hòa bởi tin đồn Mỹ sẽ tung ra thêm 500 tỷ USD trong chiến dịch nới lỏng tiền tệ đợt hai Nước cờ này của Fed, trong khi chưa thấy mang lại ích lợi cho người lao động Mỹ, đã gây tác động tiêu cực tới Trung Quốc và Ấn Độ: đẩy giá hàng hóa tăng cao và buộc NHTW phải thắt chặt CSTT Dường như PBC đã nhìn thấy sự cần thiết phải thả NDT lên giá nhanh hơn so với đồng USD để có thể khống chế giá cả hàng hóa nhập khẩu trong tầm kiểm soát

Ngày 19/10/2010, PBC đã bất ngờ tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25%, đưa lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm lên 2,5% và lãi suất cho vay kỳ hạn 1 năm lên 5,56%, lần đầu tiên trong gần 3 năm trở lại đây Đây là biện pháp bắt buộc, mặc dù PBC biết rằng tăng lãi suất hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc chỉ có thể làm tăng dòng vốn vào ngắn hạn do kỳ vọng NDT phải lên giá Giới phân tích cho rằng, động thái này phản ánh những lo ngại về sự leo thang của giá tài sản và

có thể mở màn cho một thời kỳ CSTT thắt chặt hơn tại nền kinh tế này, góp phần giảm nhẹ

lo ngại về một cuộc chiến tiền tệ trước Hội nghị thượng đỉnh G20 sắp tới Bằng cách nâng lãi suất, Trung Quốc hy vọng là không cần tăng giá NDT mà vẫn duy trì được sự cân bằng trong nền kinh tế

Như vậy, việc kiềm chế NDT ở mức quá thấp so với giá trị thực tuy mang lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc nhưng cũng gây khó khăn cho việc điều hành CSTT

Hoàng Thế Thỏa

SBV

Chính sách tỷ giá hậu WTO

TCKT cập nhật: 06/05/2007

Trang 18

Khi mà quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên sâu rộng và thực chất, hội nhập về tỷ giá là điều hầu như không thể tránh khỏi Phải chăng các biến động bất thường của tỷ giá trong thời gian qua là phần khai cuộc cho ván cờ chính sách tỷ giá trong giai đoạn hậu WTO?

Bài viết này không đi vào lý luận phức tạp về tỷ giá mà chỉ tập trung làm rõ diễn biến bất ổn của tỷ giá USD/VND trong thời gian qua và cũng chỉ giới hạn thông qua giải mã các phát biểu từ các quan chức NHNN và từ nghiên cứu báo cáo của World Bank cũng như các nghiên cứu của bản thân tác giả Phần cuối cùng trong bài viết là các dự báo của tác giả về chính sách tỷ giá trong giai đoạn hậu WTO

Tỷ giá đi đâu về đâu?

Theo như đăng ký với IMF và phát biểu của chính Thống đốc NHNN, cơ chế tỷ giá hiện nay là “thả nổi có quản lý”

Để có thể dự báo tỷ giá, cần thiết phải giải mã những “tín hiệu” mà Chính phủ muốn gửi gắm – một cách kín đáo – đến thị trường Theo quan sát của tác giả trong nhiều năm gần đây, tỷ giá thực (real exchange rate) có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giải mã bài toán tỷ giá

Tỷ giá danh nghĩa, ví dụ hôm nay 1 USD bằng 16.000 đồng, là mức tỷ giá mà các ngân hàng công bố cho các giao dịch tiền tệ trên thị trường Trong khi đó, tỷ giá thực là một chỉ số cho thấy tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát trong nước và lạm phát nước ngoài

Tỷ giá thực luôn được xác lập trong mối quan hệ với hàng loạt các đối tác mà VN có quan hệ mậu dịch, còn được gọi là tỷ giá thực có hiệu lực (real effective exchange rate) – gọi ngắn gọn trong bài này là tỷ giá thực

Do có tác động lớn đến giá cả hàng hóa xuất khẩu (và cả nhập khẩu), tỷ giá thực là căn cứ vô cùng quan trọng để NHTW các nước lấy đó làm một trong mức chuẩn để xác lập tỷ giá mục tiêu cho nền kinh tế

Nếu các yếu tố khác như chất lượng hàng hóa là không đổi, khi tỷ giá danh nghĩa tương thích với chênh lệch lạm phát trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp xuất khẩu không phải lo lắng gì nhiều đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu

Việc Trung Quốc luôn duy trì chính sách về một đồng nội tệ yếu theo kiểu tỷ giá danh nghĩa không tương thích với chênh lệch lạm phát trong nước và thế giới để làm tràn ngập hàng hóa của mình trên thị trường quốc tế là điển hình về cách thức dự báo đồng nhân dân tệ đi đâu về đâu

Đồng VN đang được định giá cao hay thấp?

Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả lấy năm 1999 là kỳ gốc để xác lập tỷ giá thực Sở dĩ như thế là do năm 1999 là thời điểm diễn ra sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997, đồng tiền của các nước trong khu vực và VND đều đã có

sự điều chỉnh lại để hướng đến ngang giá chung Các đối tác thương mại tham gia vào tính toán tỷ giá thực đại diện cho hầu hết các quốc gia chủ yếu mà VN có quan hệ mậu dịch, gồm có 7 đối tác lớn: Singapore, Nhật, Mỹ,

Ngày đăng: 08/04/2013, 16:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Theo World Economy- Prenceton Encyclopedia, 2009: Chế độ tỷ giá BBC dựa trên một rổ tiền tệ (Basket) chứ không phải một đồng tiền nhất định, có biên độ dao động rộng (Band) quanh tỷ giá trung tâm, có thể là 5, 10 và 15% nhưng NHTW sẽ can thiệp ngăn cho tỷ giá thị trường không vượt ra ngoài biên độ. Tỷ giá trung tâm sẽ bò trườn (Crawl) theo từng bước nhỏ và có chu kỳ hơn là thay đổi đột ngột Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo World Economy- Prenceton Encyclopedia
Năm: 2009
1. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến: Giáo trình tài chính quốc tế. Xuất bản lần thứ 3, NXB Thống kê, năm 2009 Khác
2. ThS. Phạm Thị Hoàng Anh: Chế độ tỷ giá của Singapore và Trung Quốc – Lý thuyết, thực tế và những gợi ý cho Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng số 9/2009 Khác
3. ThS. Nguyễn Thị Kim Thanh: Chính sách tỷ giá với vấn đề tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Tạp chí ngân hàng tháng 10/2008 Khác
4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cân bằng cán cân thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập. Đề tài NCKH, Trường Đại học ngoại thương.* Tài liệu tiếng Anh Khác
(2) Chế độ tỷ giá của Singapore và Trung Quốc – lý thuyết, thực tế và những gợi ý cho Việt Nam – ThS. Phạm Thị Hoàng Anh Khác
(4) Mặc dù tỷ lệ lạm phát của những năm này nhỏ, thậm chí là giảm phát. Tỷ lệ lạm phát của các năm 2000-2005 tương ứng như sau: -1,6%; -0,4%, 4%, 3,2%, 7,8% và 8,4%. Đặc biệt, năm 2004, do tỷ giá thực tăng chậm lại và tỷ lệ lạm phát đột ngột tăng đã làm cho thâm hụt cán cân thương mại càng nặng nề Khác
(6) Ưu điểm của chế độ tỷ giá BBC là: thứ nhất, chế độ tỷ giá này giúp tỷ giá đa phương ổn định hơn. Thứ hai là bằng việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa đi theo một hướng nhất Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc  2002-2007 - Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
Bảng 1 Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc 2002-2007 (Trang 23)
Bảng 2: Tỷ giá và cán cân thương mại của Thái Lan từ năm 1996-2007 - Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
Bảng 2 Tỷ giá và cán cân thương mại của Thái Lan từ năm 1996-2007 (Trang 25)
Đồ thị 2 : Mối quan hệ giữa RER và cán cân thương mại - Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
th ị 2 : Mối quan hệ giữa RER và cán cân thương mại (Trang 28)
Đồ thị 3 : Mối quan hệ giữa REER và cán cân thương mại - Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
th ị 3 : Mối quan hệ giữa REER và cán cân thương mại (Trang 30)
Sơ đồ 2: Bộ ba bất khả thi - Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
Sơ đồ 2 Bộ ba bất khả thi (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w